Chương 5.
Khai mở trí
giác
Bồ
tát Quan Âm Tara
hiện
thân cho thiện hạnh của chư Phật
A.
Tâm nguyện
Tâm
nguyện cao nhất là tâm bồ đề: nguyện thành Phật để cứu
độ chúng sinh. Kế tiếp là tâm nguyện cầu giải thoát luân
hồi. Thứ ba là tâm nguyện xả bỏ ràng buộc trong kiếp sống
hiện tại để nhắm đến lợi ích an lạc của những kiếp
về sau.
Ðể
phát tâm cho đúng, ta nên nhìn lại sự việc trong đời, nhìn
những gì ta trân quí. Tất cả đều trôi nhanh. Nếu chuyện
trong đời còn hoài không mất, bám vào đó hãy còn có chút
ý nghĩa. Nhưng đời sống này chỉ được trăm năm, hiếm
hoi lắm mới có người sống tới một trăm hai chục năm,
một trăm ba chục năm, con người bình thường không thể sống
lâu hơn vậy. Phải luôn nhớ nghĩ đến vô thường.
Ai
cũng biết rằng khi chết, tiền tài danh vọng hay quyền lợi
trong đời tất cả đều không thể giúp được gì. Ðời
sống tự nó là một hiện tượng biến chuyển liên tục.
Nếu chỉ quan tâm đến đời sống hiện tại mà quên đi mọi
kiếp về sau, làm như vậy dễ sanh tâm mê đắm hưởng thụ
kiếp này, càng lúc càng nhiều chấp vọng, càng thêm tham đắm.
Rốt cuộc lại phải đối diện với nhiều vấn đề hơn.
Ngay từ đầu, thái độ trong cuộc sống cần phải quân bình
thoải mái. Ðến khi gặp khó khăn, tâm thức mới không quá
chao động.
Rất
nên đọc tiểu sử của những vị có nhiều kinh nghiệm sống
hơn mình. Phải thấy rằng lo lắng thái quá cho kiếp sống
hiện tiền sẽ đưa đến đủ loại vấn đề nan giải. Ngược
lại, nếu nhìn đời sống bằng cặp mắt thực tế hơn, vấn
đề sẽ ít hẳn đi.
Cũng
có người thắc mắc đời sau có hay không. Câu hỏi này rất
quan trọng. Thời nay cũng hãy còn nhiều người nhớ được
kiếp quá khứ của họ.
Căn
bản luận lý thiết lập thuyết tái sinh nằm ở nguyên nhân
phát sinh ra hai loại hiện tượng tâm lý và vật lý. Cả hai
loại hiện tượng này đều do nhân duyên mà có, điều này
chứng tỏ cả hai đều là những hiện tượng biến chuyển.
Nguyên
nhân phát sinh ra hiện tượng có hai loại: nguyên nhân chính,
và nguyên nhân phụ. Nguyên nhân chính phát sinh ra vật thể
phải đồng nhất và liên tục với vật thể, vì vậy cũng
phải là vật thể. Tương tự như vậy, nguyên nhân chính phát
sinh ra tâm thức cũng phải là tâm thức. Tâm thức thời điểm
trước phát sinh ra tâm thức của thời điểm sau.
B.
Tâm thức
Tâm
thức nói chung có hai loại: liên quan đến giác quan và liên
quan đến ý thức. Tâm thức liên quan đến giác quan, ví dụ
như nhãn thức, phát sinh từ nhiều nguyên nhân bên ngoài và
bên trong. Nguyên nhân bên trong gọi là tăng thượng duyên,
[nguyên nhân bên ngoài gọi là sở duyên].
Với
hai loại nguyên nhân này, nhãn thức còn cần thêm một nguyên
nhân thứ ba để phát khởi, đó là tâm thức của thời điểm
đi trước [gọi là vô gián duyên].
Thử
lấy ví dụ của đóa hoa và nhãn thức nhìn vào đóa hoa. Nguyên
nhân khách quan bên ngoài trong trường hợp này là đóa hoa.
Chức năng của đóa hoa là phát khởi nhãn thức mang sắc tướng
của đóa hoa. Tông phái Tì bà sa bộ không công nhận sự vật
có sắc tướng, mà cho rằng nhãn thức tiếp xúc trực tiếp
với vật thể. Ðiều này thật khó chấp nhận. Những tông
phái khác trong Phật giáo đều cho rằng sự vật có sắc tướng,
nhờ sắc tướng này mà nhãn thức nhận thức được vật
thể.
Khoa
học hiện đại có đưa ra thuyết mới, công nhận vật thể
có sắc tướng, nhờ đó tâm thức có thể tiếp cận với
vật thể, thuyết này có vẻ phù hợp với quan điểm Phật
giáo.
Nhãn
nhức thấy được hình sắc, nhưng không nghe được tiếng
động. Ðó là vì nhãn thức tùy thuộc vào nhãn căn. Nhãn
thức này cũng được sinh ra nhờ vào tâm thức của thời
điểm ngay trước đó.
Mặc
dù tâm thức thô lậu sinh ra và biến đi, nhưng tâm thức vi
tế vẫn liên tục không gián đoạn. Ba nguyên nhân nói trên
nếu thiếu một, ví dụ thiếu mất tâm thức của thời điểm
đi trước [vô gián duyên], thì dù nhãn căn có gặp đối cảnh
cũng không thể phát sinh ra nhãn thức nhận biết đối cảnh.
Ý
thức lại khác. Ý căn với ý thức đều nhận thức đối
cảnh theo một cách đặc biệt. Vì ý căn vượt khái niệm,
nên có khả năng đồng loạt nhận diện mọi tính chất, mọi
đặc điểm của vật thể. Tuy vậy ý thức nói chung lại
thuộc lãnh vực khái niệm, nên ý thức chủ yếu chỉ toàn
là khái niệm. Ý thức nhận thức đối tượng qua hình ảnh,
và nhận diện vật thể bằng cách loại bỏ tất cả những
gì không phải là vật thể ấy.
Ta
cần suy nghiệm sâu xa, xem tâm thức có phải được sinh ra
từ những hiện tượng hóa học trong não bộ con người hay
không. Mấy năm gần đây, tôi thường có dịp trao đổi với
nhiều nhà khoa học, chuyên gia về nguyên tử học, thần kinh
học, và tâm lý học. Rất hay. Chúng ta có thể học được
nhiều điều từ những khám phá mới nhất của họ. Họ có
vẻ rất quan tâm đến quan điểm của Phật giáo về lãnh
vực của tâm và tâm thức.
Tôi
có nói về đề tài này với rất nhiều người nhưng chưa
từng tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Nếu chúng ta cho rằng
tâm thức chỉ do tác động của những thành phần nguyên tử
trong não bộ mà có, vậy phải kết luận rằng thức nào cũng
do những thành phần nguyên tử trong não bộ sinh ra. Nếu là
như vậy, hãy thử nói về đóa hoa này. Ví dụ có người
nghĩ rằng hoa này là hoa nhựa: nhận thức này sai lầm. Rồi
người ấy lại nghĩ, có khi lại không phải là hoa giả: từ
nhận thức sai lầm bây giờ biến thành hoài nghi. Rồi người
ấy phỏng đoán có lẽ đóa hoa này là hoa thật. Tuy đúng,
nhưng vẫn chỉ là đoán mò. Cuối cùng, người ấy đến gần
đóa hoa, cầm lên, ngửi mùi hương, thấy rõ hoa này là hoa
thật.
Qua
tất cả những giai đoạn chuyển biến tâm thức nói trên,
đối cảnh chỉ có một, là đóa hoa, nhưng tâm thức lại
chuyển từ nhận thức sai lầm sang hoài nghi, từ hoài nghi
thành đoán biết, từ đoán biết thành hiểu biết đúng đắn,
từ hiểu biết đúng đắn thành nhận thức đúng đắn. Rõ
ràng tâm thức của người ấy trải qua nhiều giai đoạn.
Làm sao giải thích sự biến chuyển của các thành phần hóa
học trong não bộ trên quá trình biến chuyển này?
Lấy
một ví dụ khác: chúng ta gặp một người và tưởng người
ấy là bạn của mình, nhưng thật ra không phải, chúng ta lầm.
Khi mới nhìn thì nhìn lầm, nhưng khi biết không phải, nhận
thức sai lầm chuyển thành nhận thức đúng đắn.
Lại
còn vấn đề của những bậc đại hành giả. Những vị này
khi nhập định, hơi thở gián đoạn, tim ngừng đập. Tôi
có vài người bạn có khả năng dứt hơi thở và nhịp tim
trong một thời gian khá lâu. Nếu trạng thái này kéo dài vài
tiếng đồng hồ, trong thời gian này hoạt động của não
bộ ra sao?
Nói
như vậy để chứng minh rằng có một hiện tượng gọi là
tâm thức, hoàn toàn biệt lập với những tế bào trong bộ
óc. Mức độ thô lậu của tâm thức gắn liền với con người
vật lý, tùy thuộc vào não bộ. Nhưng chân tánh của tâm thức
lại khác. Tâm thức càng vi tế lại càng tách khỏi các thành
phần vật lý.
Ðó
là lý do vì sao khi nhập định, mọi hoạt động của thân
vật lý đều gián đoạn nhưng tâm thức vẫn hoạt động.
Khi ấy, vì những thành phần vật lý đều đã ngừng hoạt
động nên các tầng tâm thức thô lậu cũng không còn, chỉ
còn tầng tâm thức vi tế nhất, hiển hiện rõ ràng.
Tâm
thức có rất nhiều loại, tâm thức khi thức, khi ngủ,
khi ngủ say, và trạng thái vô thức, ví dụ như khi ngất xỉu.
Theo Mật tông Tối thượng Du già, quá trình chết bao gồm
tám giai đoạn tan rã. Có sự tan rã của năm thành phần đất,
nước, lửa, gió và không gian. Sau đó là ba giai đoạn tan
rã gọi là "trắng hiện", "đỏ tăng trưởng", "đen cận thành
tựu" và "ánh sáng chân như" của cái chết.
Có
nhiều người đi qua vài giai đoạn tan rã rồi sống lại.
Tôi gặp vài người trải qua kinh nghiệm này, họ cực kỳ
ngạc nhiên, đến gặp tôi nhờ giải thích. Xét theo Mật tông
Tối thượng Du già, tôi nghĩ họ đi vào một tầng tâm thức
vi tế nào đó, rồi trở ra.
Sau
khi thấy ánh sáng chân như, người chết bước qua giai đoạn
tái sinh. Nếu tái sinh vào nơi có cõi trung ấm [bardo] thì người
chết phải bước qua cõi trung ấm trước. Ví dụ nếu tái
sinh làm người, người chết sẽ phải bước qua cõi trung
ấm trước khi nhập thai mẹ. Vì vậy đời sống bắt đầu
và kết thúc với ánh sáng chân như.
Phủ
nhận sự liên tục của tâm thức thì sẽ không thể nào giải
thích được sự tiến hóa của vạn vật. Nếu chấp nhận
thuyết Bùng nổ là đúng, vậy cái gì là nguyên nhân phát
sinh ra sự Bùng nổ? Nếu cho rằng sự vật có thể hiện hữu
không cần nguyên nhân, điều này sẽ đưa đến nhiều nghịch
lý. Còn nếu nói rằng có một đấng sáng tạo toàn năng,
cũng sẽ dẫn đến rất nhiều nghịch lý.
Theo
quan điểm Phật giáo, có chúng sinh hữu tình sống trong môi
trường vật lý thiên nhiên, và toàn vũ trụ không ngừng biến
hóa. Phật giáo nói tâm thức không có khởi điểm mà biến
chuyển liên tục. Thuyết này tuy không nhiều nghịch lý, nhưng
vẫn đưa đến một vài câu hỏi. Ví dụ vì sao tâm thức
vi tế lại không bắt đầu không kết thúc? Khi giác ngộ thành
Phật, tâm vi tế của Phật vẫn còn chứ không mất, tại
sao?
Luận
cứ chính của thuyết tái sinh là tâm thức trong thời điểm
hiện tại bắt buộc phải khởi sinh từ tâm thức trong thời
điểm đi trước. Cứ như vậy truy ngược dòng liên tục của
tâm thức, về lại thời điểm nhập thai, rồi tiếp tục
truy ngược về kiếp quá khứ. Theo đó suy ra không lý do gì
dòng tâm thức liên tục không khởi điểm này lại kết thúc
ở cuối kiếp sống hiện tại.
Vì
vậy mà phải quan tâm đến những kiếp tương lai. Kiếp sau
là hạnh phúc hay bất hạnh, đều tùy ở việc làm trong hiện
tại. Dù đời sống hàng ngày có bận rộn đến đâu, chúng
ta vẫn không thể bỏ bê không lo tới những kiếp tái sinh
về sau của mình.
C.
Vô minh chấp ngã
Khổ
đau có nhiều lý do, nhưng đáng kể nhất vẫn là lòng quyến
luyến tham đắm. Vì vậy trong mười hai duyên khởi, lòng tham
được nhấn mạnh ở hai chi thứ tám và thứ chín, là ái
và thủ.
Gốc
rễ của tham là vô minh. Vô minh có nhiều loại, nhưng ở đây
vô minh chủ yếu là nhận thức sai lầm về chân tánh của
thực tại.
Vô
minh dù vững mạnh đến đâu cũng vẫn không có căn cứ. Vô
minh nói ở đây bao gồm hai mặt, là nhận thức sai lầm về
cái tôi có tự tánh [chấp nhân ngã], và nhận thức sai lầm
về sự vật có tự tánh [chấp pháp ngã].
Nói
về khổ đau và vui sướng, thế giới hiện tượng có thể
chia thành hai thành phần: yếu tố tạo khổ và bản thân người
chịu khổ. Nhìn bản thân người chịu khổ mà tin là có tự
tánh, đó là chấp nhân ngã. Nhìn vào yếu tố tạo khổ mà
tin là có tự tánh, đó là chấp pháp ngã.
Bây
giờ thử nhìn lại chính mình. Thử nhớ lại kinh nghiệm vui
buồn sướng khổ mình đã trải qua trong quá khứ. Khi tâm
dấy lên ý tưởng :" Lúc ấy sao tôi vui quá", hay là "Khi ấy
sao tôi khổ quá", hãy tự hỏi "cái tôi đang vui đang buồn
đó, vui buồn đến nỗi mãi đến bây giờ vẫn còn cảm nhận
tràn đầy, cái tôi đó, thật ra là gì?" Xét cho tận tường
xem mình đang lấy thân thể của mình làm cái tôi, hay đang
lấy tâm thức của mình làm cái tôi.
Xét
theo quan điểm Phật giáo, khi nhớ lại chuyện vui buồn quá
khứ, mang cảm giác sâu đậm là "tôi" đã trải qua tất cả
những kinh nghiệm đó, ngay lúc ấy, cái "tôi" sừng sững hiện
ra trong trí giống như một ông chủ, còn những tập hợp thân
tâm lại giống như đám đầy tớ. Cái tôi có vẻ như có
quyền sử dụng thân tâm. Tuy vậy, cảm giác này hoàn toàn
sai lầm. Cái tôi có thật, độc lập, giống như một ông
chủ, thật ra không từng có.
Phật
giáo nói thuyết vô ngã. Vô ngã không có nghĩa là không có
cái tôi nào cả, thật sự cái tôi qui ước vẫn có đó, vẫn
hành động, tích nghiệp và chịu quả. Nhưng Phật giáo phủ
nhận khái niệm sai lầm về một cái tôi chủ thể độc lập.
Tương
tự như vậy, nếu dùng luận lý phân tích năm hợp thể [ngũ
uẩn] tạo thành một con người, bao gồm sắc, thọ, tưởng,
hành và thức [hình sắc, cảm giác, ấn tượng, diễn biến
tâm lý vật lý, và chủ thức tác động những thành phần
trên], phân tích cách nào cũng không thể tìm ra năm hợp thể
thật sự là gì. Khi ta nói "thân của tôi", đây lại
là tập hợp của đầu, mình, tay, chân v.v... Ðó là cái ta
gọi là thân. Nhưng nếu phân tích coi đầu có phải là thân,
tay có phải là thân, sẽ thấy từng bộ phận cơ thể không
phải là thân mà chỉ là những thành phần tập hợp của
cái thường được gọi là thân. Tương tự như vậy, bàn
tay là tập hợp của ngón tay, móng tay v.v... Nhưng nếu phân
tích xem thật sự bàn tay là cái gì, sẽ không thể tìm ra.
Cứ như vậy, cho đến từng phân tử cực vi. Rồi phân tử
cực vi này tuy không thể chia thành những thành phần vật
lý nhỏ hơn, nhưng vẫn có những thành phần phương hướng
trong không gian, vẫn có sắc tướng.
Lãnh
vực tâm thức cũng tương tự như vậy. Tâm thức không có
hình sắc, không có thành phần phương hướng trong không gian,
nhưng lại có thứ tự trong thời gian.
Ta
thường nói "ý tưởng của tôi ngày hôm nay", cái gọi là
ý tưởng đó, thật ra là tập hợp của dòng tâm thức liên
tục trải qua trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Ngay cả
khái niệm về tâm thức cũng chỉ là một cái tên, dùng để
chỉ tổ hợp của nhiều thời điểm tâm thức nối liền
liên tục.
Khi
nói tới "tâm của tôi" một cách hời hợt, cái gọi là "tâm
của tôi" hiện ra trong tâm thức như một vật thể hoàn toàn
độc lập, có tự tánh. Tương tự như khi nói về "cái tôi",
một cái tôi hiện ra trong trí chúng ta sừng sững như một
ông chủ. Nhìn ra ngoại cảnh cũng vậy, mỗi hiện tượng
đều hiện ra trong trí chúng ta như một thực thể độc lập.
Nhưng sự thật không phải vậy.
Thử
lấy ví dụ khác, như "chính phủ". Chúng ta có thể nói "chính
phủ nói cái này", "chính phủ làm cái kia". Nói vậy nghe thuận
tai, nhưng nếu suy nghĩ cho kỹ, xem chính phủ có cái miệng
hay cái lưỡi nào để nói hay không, chắc chắn khi ấy sẽ
cảm thấy bối rối lắm.
Hay
thử lấy ví dụ "người thợ may". Có thể thấy ngay rằng
danh từ này đến từ một chức năng, một hành động, là
may áo. Nếu không có việc may áo, làm sao có thể nói đến
thợ may? Nhưng nếu không có người thợ may thì làm sao có
được hành động may áo? Hai khái niệm này phải đi chung
với nhau, lệ thuộc lẫn nhau. Mọi sự đều tương tự như
vậy. Khi phân tích, sẽ không thể tìm thấy. Chúng ta nên để
yên mọi sự, đơn giản chấp nhận sự việc là như vậy.
Ví
dụ như tánh Không. Tánh Không là một chức năng, Vì vậy
phải có cái gì thể hiện chức năng ấy. Nếu phân tích xem
tánh Không là gì, chúng ta có thể mơ hồ nói tánh Không là
sự vắng mặt của những hiện tượng có tự tánh. Nếu phân
tích tường tận hơn, tánh Không này, tánh Không kia, ngay đến
tánh Không là chân tánh của thực tại, nếu áp dụng cùng
một biện pháp phân tích truy tìm, cũng sẽ không thể tìm
ra cái gì thật sự là tánh Không. Chúng ta sẽ thấy rằng
khi nói đến tánh Không, hãy còn tùy là tánh Không như thế
nào, tánh Không của cái gì. Vậy duyên khởi nghĩa là gì?
Nói rốt lại thì duyên khởi chỉ là sản phẩm của trí phân
biệt. Làm sao lại có thể là sản phẩm của trí phân biệt?
Lại sinh ra nhiều câu hỏi như vậy.
Vì
vậy Phật giáo nói rằng khi phân tích truy tìm, sẽ không có
câu trả lời. Nói như vậy không có nghĩa là sự vật không
hiện hữu, mà là sự vật tùy duyên mà hiện hữu. Nói cách
khác, sự vật hiện hữu tùy thuộc vào những yếu tố bên
ngoài.
Khi
chúng ta vì giận dữ hay vì luyến tham mà tâm chao động, đó
là vì chúng ta nghĩ có cái này tốt, cái kia xấu. Có cảm
giác cái này tốt cái kia xấu, là vì chúng ta tin rằng sự
vật vốn có tính chất tốt hay xấu. Tin rằng sự vật vốn
có tính chất tốt hay xấu, là vì chúng ta tin rằng thật sự
có cái xấu, cái tốt trong đời.
Phật
giáo nói rằng những trạng thái chao động của tâm thức
luôn bắt nguồn từ vô minh chấp sự vật có tự tánh. Tuệ
giác tánh Không, là tuệ giác thấy sự vật vốn không có
tự tánh, có thể được sử dụng làm liều thuốc hóa giải
nhận thức sai lầm về thực tại. Vì vậy mà nói tâm chấp
ngã là một trạng thái tâm thức có thể hủy diệt được.
Tư
duy suy nghĩ tận tường về tánh Không của chính mình và của
ngoại cảnh, rồi hãy thử đứng giữa đám đông mà im lặng
quan sát. Sẽ thấy mình vẫn nhận ra từng người, nhưng nhận
thức đã thay đổi một cách vi tế.
Dùng
tuệ giác tánh Không hóa giải vô minh chấp có tự tánh, đó
là giải thoát chân chính, là thành tựu niết bàn. Vì chúng
ta ai cũng có khả năng thành tựu niết bàn, giải thoát luân
hồi, nên phải biết phát tâm cho mãnh liệt, phải quyết chí
tận dụng mọi tiềm năng ưu điểm của mình.
D.
Quán tưởng qui y Tam bảo
Tiếp
theo, bài tụng nói về tầm quan trọng của tâm bồ đề, là
sự phát tâm thành Phật, vì tất cả chúng sinh chứ không
chỉ vì riêng mình.
Phải
lấy tâm bồ đề rộng lớn như vậy để qui y Tam bảo. Qui
y Tam bảo có nghĩa là về nương dựa nơi Phật, nơi Pháp,
và nơi Tăng.
Muốn
qui y Tam Bảo, hãy quán tưởng quanh mình là toàn thể chúng
sinh. Rồi ở khoảng không trước mặt, cách khoảng một thước,
ngang tầm mắt, hãy quán tưởng đối tượng qui y, toàn là
ánh sáng. Quán thân Phật phát ánh sáng rực rỡ sẽ giúp tâm
khỏi bị hôn trầm trì trệ. Ngược lại, quán thân Phật
nặng và đầy sẽ giúp tâm khỏi bị trạo cử kích thích.
Bên
phải đức Phật là Bồ tát Quan Tự Tại, thân sắc trắng,
thể hiện sự thanh tịnh trong sáng. Bên trái đức Phật là
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, thân sắc vàng, thể hiện sự tăng
trưởng. Ðức Văn Thù Sư Lợi là hiện thân của sự tăng
trưởng của trí tuệ. Thiền quán về ngài Quan Tự Tại sẽ
làm tăng năng lực từ bi. Thiền quán về ngài Văn Thù Sư
Lợi sẽ làm tăng năng lực trí tuệ.
Tiếp
theo, quán tưởng đức Kim Cang Thủ đứng trước mặt Phật.
Kim Cang Thủ mang tướng phẫn nộ. Nếu người tu gặp chướng
ngại vô hình cản trở bước đường tu, tụng chú của ngài
Kim Cang Thủ sẽ giúp dẹp tan loại chướng ngại này.
Cuối
cùng là đức Quan Âm Tara đứng sau lưng Phật. Thiền quán
về ngài Quan Âm Tara sẽ giúp người tu được trường thọ.
Nói
về chúng sinh vây quanh, nên quán tưởng phía bên trái của
mình là tất cả thân quyến phái nam, đứng đầu là người
cha đời này, và phía bên phải của mình là tất cả thân
quyến phái nữ, đứng đầu là người mẹ đời này. Sau lưng
là tất cả mọi chúng sinh khác. Kẻ thù để phía trước
mặt. Tất cả mọi chúng sinh đều mang thân người, đang chịu
mọi khổ não tái sinh trong mọi nẻo luân hồi.
Quán
tưởng vậy rồi, hãy nghĩ rằng ta muốn vui người khác cũng
muốn vui, ta sợ khổ người khác cũng sợ khổ. Nhất là những
kẻ mà ta gọi là kẻ thù, hay những kẻ mà ta cho rằng chỉ
đang chực chờ phá rối ta, hay luôn làm ta nổi giận, khiến
ta vô cùng bực bội khi gặp mặt, cứ quán tưởng họ đứng
ở trước mặt mình, rồi nghĩ rằng: "Họ cũng là chúng sinh
như mình. Họ cũng muốn vui, không muốn khổ. Nhìn trên phương
diện này, họ không khác gì mình, đều cùng chung một hoàn
cảnh. Chẳng cần phải cảm thấy giận dữ hay bực bội đối
với họ. Dù có giận dữ bực bội cách mấy, cũng chẳng
làm gì được ai. Phải chi có thể gây ảnh hưởng đến cho
kẻ thù thì nuôi tâm thù hận hãy còn có chút ý nghĩa, đàng
này giận dữ bực bội thật ra chỉ khiến chính mình thêm
phiền não mà thôi.
Ví
dụ như tôi, là Ðạt-lai Lạt-ma của xứ Tây tạng, dù có
giận dữ hận thù người Trung quốc cũng chẳng làm gì được
họ. Họ cũng sẽ chỉ thấy thoải mái thôi, đúng không? Nhưng
chính tôi lại mất hết tự tại an nhiên. Cảm giác hận thù
thật ra mang đầy tính chất tự hủy hoại.
Vì
vậy mà phải quán tưởng kẻ thù phía trước mặt. Rồi đọc
câu qui y 21 lần, hay càng nhiều lần càng tốt,
Nam
mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
[Namo
Buddhaya, namo Dharmaya, namo Sanghaya]
Nếu
có thì giờ và nếu muốn, trong khi đọc câu qui y với tâm
từ bi và lòng quả quyết, quí vị có thể đồng thời quán
tưởng ánh sáng lớn tỏa ra từ Tam bảo, tan vào thân mình
cùng toàn thể chúng sinh vây quanh. Quán tưởng tất cả mọi
tâm lý bất thiện như tham ái, vô minh, giận dữ, của mình
và của chúng sinh, đều nhờ luồng ánh sáng lớn này mà tan
biến hết.
E.
Phát tâm bồ đề
Muốn
phát tâm bồ đề, cần nhớ rằng tất cả mọi loài chúng
sinh đều giống như mình, đều có khuynh hướng cầu an lạc,
lánh khổ đau. Sự khác biệt duy nhất, tôi thì chỉ có một,
mà chúng sinh lại nhiều không kể xiết. Nói cách khác, tôi
là thiểu số, kẻ khác chiếm đa số.
Nhớ
rằng tôi muốn hạnh phúc, kẻ khác cũng vậy. Tôi không muốn
khổ, kẻ khác cũng vậy. Kẻ khác và tôi rõ ràng có mối
liên hệ lớn lao. Tôi lệ thuộc vào kẻ khác. Không có kẻ
khác, tôi chắc chắn không thể nào có được niềm an lạc,
quá khứ không thể, hiện tại không thể, tương lai cũng không
thể. Nếu nghĩ nhiều đến kẻ khác, quan tâm tới sự an nguy
của
kẻ khác, cuối cùng người được hưởng phước lại chính
là tôi.
Nghĩ
như vậy để thấy rằng so sánh bản thân với người khác
thì người khác chắc chắn là quan trọng hơn. Từ đó kết
luận rằng vui buồn sướng khổ của bản thân dù gì cũng
chỉ là của một người. Nếu một mình tôi chịu khổ để
toàn thể chúng sinh được hạnh phúc thì khổ như vậy rất
xứng đáng. Ngược lại, nếu vì hạnh phúc của riêng mình
mà gây khổ cho bao nhiêu người, rõ ràng là có sự không ổn
trong cách nhìn như vậy.
Muốn
phát tâm bồ đề, phát đại nguyện thành Phật để cứu
độ chúng sinh, trước hết phải có được tâm địa bình
đẳng. Bình đẳng nói ở đây, chính là tâm xả, là trạng
thái tâm thức an nhiên bình đẳng đối với tất cả chúng
sinh, không cảm thấy thân thiết với bạn bè, thù hận với
kẻ thù hay dửng dưng với người lạ. Phải cố sao cho tâm
không chao động trước người xa kẻ gần.
Phương
pháp luyện tâm bình đẳng như sau: quán tưởng trước mặt
mình có ba người ngồi, một là người dưng, hai là người
bạn thân nhất, ba là kẻ thù ác liệt nhất. Rồi quan sát
phản ứng của tâm. Sẽ thấy đối với ba người này tâm
mình phát sinh ba loại phản ứng hoàn toàn khác nhau. Tại sao
như vậy?
Người
này đối xử với tôi rất tốt, nên tôi gọi là bạn. Nhưng
có gì bảo đảm người ấy sẽ mãi tốt như vậy? Có thể
biết chắc bạn sẽ mãi là bạn hay không? Ðương nhiên là
không thể. Ngay trong đời này, đang là bạn thân sống chết
có nhau, thoắt một cái đã thành hờ hững xa lạ. Sự đời
rất chóng đổi thay. Thực tế là như vậy. Do đó chẳng cần
phải lưu luyến đến như vậy. Cảm giác thân thiết tuy rất
tốt, nhưng lưu luyến một cách mù quáng là điều không nên.
Bây
giờ hãy thử nhìn sang phía kẻ thù. Người này hôm nay đối
xử với tôi rất tệ. Nhưng ở đây cũng không thể biết
chắc họ sẽ tệ như vậy bao lâu, bao đời. Nghĩ vậy tâm
tự nhiên sẽ lắng xuống. Người này là bạn, người kia
là thù, tuy thật đúng như vậy, nhưng tâm không cần phải
chao động. Ðó là bước thứ nhất.
Bước
thứ hai, phải thấy tất cả chúng sinh đều đã từng là
mẹ của mình trong một kiếp quá khứ nào đó. Nói chung, sự
sinh ra có tất cả bốn loại, sinh từ thai, từ trứng, từ
hơi nóng và từ thần thông. Nếu là sinh từ thai hay từ trứng
thì cần phải có mẹ. Ví dụ như ngày hôm nay, có thể nói
rằng người mẹ đời này của tôi tuy đã vắng bóng vài
năm trước, nhưng trong những kiếp quá khứ, tất cả mọi
người đều đã từng là mẹ của tôi, tôi có thể cảm nhận
được điều này rất rõ ràng. Xét theo lý lẽ có khi không
thể biết chắc được, nhưng vẫn có thể có được cảm
giác mọi người đều đã từng là mẹ của mình.
Từ
căn bản này, thử suy nghiệm về tình yêu thương đã nhận
được từ người mẹ trong quá khứ. Tương tự như vậy,
thấy ai cũng đã từng là cha, là người thân, là bạn bè
của mình trong một kiếp quá khứ nào đó.
Nếu
thật là như vậy, phải nhớ lòng yêu thương chăm sóc vô
hạn của họ dành cho chúng ta. Vì mỗi người trong chúng ta
ai cũng đã từng tái sinh vô lượng lần, nên chắc chắn ai
cũng đã từng là con của mỗi chúng sinh trong cõi luân hồi
này. Ðó là bước thứ ba.
Bước
thứ tư là nhớ lại tình thương yêu trìu mến mà mình đã
nhận được, không chỉ từ người thân của mình, mà từ
tất cả chúng sinh. Sự sống còn của chúng ta hoàn toàn tùy
thuộc vào người khác. Ví dụ chiếc áo ta đang mặc đây,
nếu dệt bằng gòn thì gòn ấy đến từ cây, cây do người
trồng và đã phải trồng như vậy từ nhiều thế hệ. Lại
ví dụ căn nhà này, căn phòng này. Hôm nay trời hơi nóng chứ
bình thường ở đây rất thoải mái. Sự thoải mái này đến
từ công khó của nhiều người thợ, đổ mồ hôi làm việc
cho đến khi tay mỏi, lưng cong.
Chúng
ta có sống được đến hôm nay cũng là nhờ thực phẩm. Trong
trường hợp của riêng tôi, nếu gom hết số bánh mì tôi
đã tiêu thụ trong quá khứ ra xếp chồng lại, chắc đã cao
bằng trái núi. Gom lại số lượng sữa tôi đã uống, chắc
thành sông thành hồ. Người không ăn chay tiêu thụ cả núi
thịt. Người ăn chay tiêu thụ cả núi trái cây rau quả. Tất
cả không từ trời rơi xuống, không từ thinh không hiện ra,
mà có được là nhờ công lao khó nhọc của nhiều người.
Ngay
cả danh vọng trong đời cũng vậy. Tiếng tăm không đến từ
mình mà từ người khác. Nếu trên đời chỉ có một người
thì lấy gì để nổi danh? Không có người khác, không làm
sao có thể có danh vọng.
Thực
phẩm, áo quần, nhà cửa, tất cả đều nhờ vào người khác.
Chúng ta có thể nghĩ rằng "Nhưng mà tôi trả tiền, tôi đưa
họ tiền để đổi lấy những thứ này. Không có tiền, tôi
sẽ chẳng có được gì cả." Nhưng tiền cũng vậy, không
thể từ một mình mình mà có được. Muốn có tiền, cũng
phải nhờ tới người khác. Ðời sống của chúng ta, hiện
hữu của chúng ta, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác.
Ngang
đây quí vị có thể nghĩ rằng: "Nói vậy cũng được đi,
nhưng đâu phải họ cố ý giúp tôi. Họ làm như vậy cũng
chỉ vì bản thân của họ mà thôi." Nói rất đúng. Nhưng
chúng ta vẫn thường trân quí rất nhiều thứ vốn chẳng
hề quan tâm đến chúng ta. Nếu đồng hồ trên tay tôi rớt
xuống vỡ nát, tôi sẽ cảm thấy có chút mất mát. Ðâu phải
vì đồng hồ cố ý cư xử tốt lành gì với tôi đâu. Tôi
quí nó, chỉ vì nó hữu dụng.
Tương
tự như vậy, chúng sinh có thể không cố ý cư xử tốt lành
với ta, nhưng dù vô tình hay cố ý, công khó của họ vẫn
giúp đỡ ta nhiều, vì vậy phải biết quí. Cần phải ý thức
rằng cho dù người khác không cố ý giúp, nhưng thiếu họ
thì chúng ta không thể sống còn.
Quán
về ơn của chúng sinh là một công phu sâu rộng, đòi hỏi
nhiều kiên nhẫn.
Tâm
đại bi, đại từ và lòng vị tha là những điều cực kỳ
tốt lành. Nhiều khi tôi thật sự kinh ngạc trước năng lực
của con người. Trái tim con người có khả năng phát khởi
tâm vị tha, quí người hơn cả bản thân. Ðó là điều cực
kỳ hiếm hoi quí giá. Nhưng nếu không có kẻ khác thì đại
bi, đại từ hay vị tha đều không thể nói tới. Yếu tố
quan trọng nhất để có thể phát tâm đại từ đại bi là
có chúng sinh hữu tình. Không có kẻ khác, lấy gì để luyện
tâm đại bi? không có kẻ khác, lấy gì để luyện tâm yêu
thương? lấy gì luyện lòng vị tha chân chính? lấy gì để
khởi tâm bồ đề ?
Chắc
chắn là không thể. Chúng ta kính ngưỡng Phật, Bồ tát và
thánh giả, nhưng để luyện năng lực từ bi vị tha, chúng
sinh quan trọng hơn cả Phật. Theo đó, sự sống còn của chúng
ta phụ thuộc vào lòng tốt của kẻ khác, và cả mọi thành
tựu trên con đường tu cũng phụ thuộc vào kẻ khác.
Lại
lấy ví dụ khác: muốn luyện tâm từ bi, chúng ta cần biết
độ lượng. Thiếu độ lượng sẽ không sao có thể tu. Tâm
thù hận giận dữ là chướng ngại lớn nhất của lòng từ
bi. Ðộ lượng là chìa khóa hóa giải tâm giận dữ thù hận.
Muốn tu tâm độ lượng, chúng ta cần một kẻ thù. Kẻ thù
đương nhiên không muốn giúp chúng ta, nhưng việc làm của
kẻ thù lại có khả năng giúp chúng ta tu tâm độ lượng.
Lúc
phải đối diện với kẻ thù là cơ hội ngàn vàng để tu.
Tất cả chúng sinh, nhất là kẻ thù, đều quan trọng cho quá
trình chuyển hóa tâm thức. Con đường tu tập của chúng ta
hoàn toàn lệ thuộc vào kẻ khác, và cả sự sống còn của
chúng ta cũng lệ thuộc vào kẻ khác. Nhìn như vậy, sẽ thấy
tất cả chúng sinh đều cực kỳ quí giá chứ không phải
chỉ bạn bè thân thiết mới đáng quí. Ðó là bước thứ
tư của phương pháp thiền quán này.
Bước
thứ năm là phát huy nguyện vọng muốn đền trả ơn nặng
của chúng sinh.
Bước
thứ sáu là thấy mình và người hoàn toàn bình đẳng. Bình
đẳng ở đây có nghĩa là ta muốn an lạc, thoát khổ đau,
thì người khác cũng vậy. Hiểu như vậy thì có được tâm
bình đẳng giữa mình và người. Phải thấy người khác cũng
tựa như thân thể của chính mình. Khi gặp việc nguy hiểm,
ta luôn cố gắng bảo vệ toàn thân không bỏ sót bộ phận
thân thể nào. Ðối với chúng sinh, cần có thái độ thấy
chúng sinh là "của mình". Chúng sinh đau đớn thì mình đau
đớn. Khi cảm giác như vậy bao trùm khắp cả chúng sinh thì
mỗi chúng sinh sẽ là một thành viên trong đại gia đình.
Bất cứ ai đau, ta cũng đau. Ðó là bước thứ sáu.
Bước
thứ bảy là suy nghĩ về khuyết điểm của lòng vị kỷ.
Tôi thường nói với mọi người rằng hành động vị kỷ
dù trên căn bản là nhắm tới lợi ích bản thân, nhưng thật
ra chỉ đem lại vấn đề mà thôi. Sát sinh, trộm cắp, dối
láo, đều là việc bất thiện, không những đối với tôn
giáo, mà pháp luật cũng không chấp nhận. Tất cả những
hành động này đều phát sinh từ lòng vị kỷ.
Làm
người, mọi tranh chấp giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái, hàng
xóm, quốc gia, đều sinh ra từ nỗi xáo trộn mê muội trong
tâm con người. Tất cả những việc làm đáng tiếc này đều
phát sinh từ lòng vị kỷ.
Ngược
lại, tâm vị tha là chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc. Nếu
luôn hết lòng vì người khác, mở rộng tâm mình, thành thật
với người, như vậy chính mình cũng sẽ được lợi. Sẽ
rất dễ có nhiều bạn tốt, nói ví dụ vậy.
Tôi
hay nghĩ rằng người tị nạn Tây tạng sống lưu vong, chỉ
cần thành thật và lương thiện, có một nụ cười trên môi,
là có được rất nhiều bạn. Cho dù có đi lạc đến xứ
Liên xô chăng nữa, cũng sẽ có nhiều bạn tốt. Nhưng nếu
ích kỷ tự cao, khinh miệt người khác, thì dù ở đâu cũng
không thể có bạn.
Phải
nuôi tâm vị tha, lo cho người khác hơn cả cho bản thân, cứ
như vậy sẽ gặt hái nhiều lợi lạc. Mọi phát triển tâm
linh, mọi thành tựu trên đường tu, mọi kiếp tái sinh tốt
lành về sau, thậm chí thành tựu giải thoát, vô thượng bồ
đề, tất cả đều dựa vào tâm địa vị tha.
Vì
lòng vị kỷ mà sát sinh, kết quả sẽ là khổ đau mệnh yểu.
Vì lòng vị tha mà bảo vệ sự sống, kết quả sẽ là được
kiếp tái sinh tốt lành và đời sống dài lâu. Quả của nghiệp
trộm cắp là bần cùng. Quả của nghiệp bố thí là sung túc.
Quả của dối láo là tâm mê mờ, và quả của lời nói thật
là tâm trong sáng. Bất cứ hành động vị kỷ nào cũng mang
lại khổ đau, bất cứ hành động vị tha nào cũng mang lại
lợi lạc. Dù xét từ kinh nghiệm hàng ngày hay xét từ kinh
nghiệm thiền định, vẫn sẽ thấy sự tương ứng giữa quả
ác với hành động vị kỷ, giữa quả thiện với hành động
vị tha.
Bước
thứ chín là thật sự hoán chuyển vị trí giữa mình và người.
Trạng thái tâm thức này thành thục được nhờ tám bước
chuyển hóa trước. Ngang đây, một cách rất tự nhiên, trong
lòng chúng ta luôn thôi thúc mong mỏi lợi lạc cho tất cả
chúng sinh. Đến đây có thể bắt đầu thiền theo phương
pháp "cho và nhận". Quán tưởng mình nhận vào tất cả mọi
khổ nạn của kẻ khác - đó là đại bi. Rồi lại quán tưởng
mình cho đi tất cả mọi an lạc và hạt giống tạo an lạc
- đó là đại từ.
Bước
thứ mười là cái thường được gọi là "tâm nguyện phi
thường". Ðây là tâm nguyện mãnh liệt muốn gánh lấy trách
nhiệm đối với chúng sinh. Tâm nguyện này thành thục được
nhờ chín bước tu trước.
Rồi
tâm nguyện phi thường sẽ chuyển thành tâm bồ đề, nghĩa
là cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh. Ðây là bước
thứ mười một và cũng là bước cuối cùng của phương pháp
phát tâm bồ đề này. Phương pháp này kết hợp hai phương
pháp phát bồ đề tâm của ngài Vô Trước(1) và của
ngài Tịch Thiên(2) .
Với
tâm bồ đề như vậy, đọc những dòng sau đây:
Con
xin về nương dựa
nơi
Phật Pháp và Tăng
cho
đến khi giác ngộ.
Nương
theo lực tu hành
của
sáu hạnh toàn hảo
nguyện
trọn thành Phật đạo
vì
lợi ích chúng sinh.
Lặp
lại những dòng trên với tấm lòng vị tha mạnh mẽ trong
sáng. Từng chữ đọc lên, như lấy dầu châm cho ngọn lửa
cháy bừng phía bên trong.
Câu
này nên đọc ba lần hay nhiều hơn. Ðọc tiếng Anh hay đọc
theo ngôn ngữ mẹ đẻ đều được.
F.
Hỏi đáp
Hỏi.
Thưa ngài, nói việc thăng trầm trong đời có là do nghiệp
gieo trong quá khứ, như vậy sẽ khiến người ta dễ chấp
nhận chuyện đời hơn; nói gieo nghiệp xấu sẽ gặt quả
xấu sẽ giúp con người tự chế ngự không làm điều bất
thiện; những điều này tôi có thể hiểu được.
Tuy
vậy, xin hỏi muốn sống một cuộc sống đàng hoàng ngay thẳng,
có nhất thiết phải tin có kiếp trước kiếp sau hay không?
Ðáp.
Chắc chắn là không. Tôi thường nói cho dù quí vị có tin
Phật giáo hay không, vẫn nên sống với trái tim nhân hậu.
Ðiều này không đòi hỏi phải tin vào kiếp trước kiếp
sau, cũng không cần tin vào thuyết nhân quả của Phật giáo.
Sống nhân hậu tự nó đã là một tôn giáo rồi.
Tôi
thật sự tin rằng những người vô thần chống đối tôn
giáo vẫn có thể là những con người nhân hậu. Tôi đã từng
gặp vài người như vậy, họ sống theo lương tri, hy sinh trọn
đời cho quần chúng. Có nhiều người rất tốt, tuy không
tin vào thuyết tái sinh của Phật giáo.
Tôi
thường nói lòng yêu thương nhân ái là tôn giáo chung của
nhân loại. Vì hôm nay chúng ta nói về Phật giáo, nên tôi
trình bày lòng nhân ái qua tầm nhìn của Phật giáo. Người
không có tinh thần Phật giáo vẫn có thể cố gắng sống
nhân hậu, điều này đương nhiên là có thể được.
Tuy
vậy, nếu không tin có giác ngộ viên mãn thì vấn đề phát
tâm bồ đề đương nhiên không cần đặt ra, vì tâm bồ đề
chính là tâm nguyện muốn đạt giác ngộ viên mãn.
Hỏi.
Thưa ngài, khi ngài nói về phần tâm thức vi tế, có sự khác
biệt nào không giữa tâm thức, tâm thức của cái gì, và
tâm thức cho cái gì?
Ðáp.
Nói chung khó lòng nói đến tâm thức mà không nói đến đối
cảnh của tâm thức, vì ngay chính chữ tâm thức đã có nghĩa
là nhận thức đối cảnh.
Xét
trên phương diện hành động, tôi nghĩ chữ tâm thức tương
ứng với phần thô lậu của tâm. Còn phần tâm thức vi tế
chỉ hiển lộ trong tâm người bình thường ở trạng thái
vô thức, ví dụ khi ngất xỉu.
Nói
về tám giai đoạn tan rã của quá trình chết, giai đoạn thứ
bảy là giai đoạn đen cận tử. Giai đoạn này có hai: một
là vẫn còn giữ lại phần ký ức vi tế, hai là mất tất
cả mọi ký ức. Ở đây, kinh nghiệm ánh sáng chân như này
có được là do nghiệp lực.
Cũng
giống như quá trình tan rã tự nhiên của năm hợp thể. Năm
hợp thể có được cũng do nghiệp lực. Quá trình tan rã như
vậy xảy ra một cách tự nhiên.
Ngoài
ra cũng có trường hợp nhờ thiền định, vận dụng khí vi
tế v.v., mà người tu có được kinh nghiệm ánh sáng chân
như. Trong trường hợp này, người tu dựa vào khả năng thành
tựu của mình để có được kinh nghiệm ánh sáng chân như
trong thiền định. Người tu bước vào tầng vi tế của tâm
thức, an định trong đó, hoàn toàn tỉnh thức, không lúc nào
mất đi sự tự chủ. Rồi vận dụng loại kinh nghiệm thiền
định này để quán về tánh Không của thực tại.
Hỏi.
Nếu chết là trạng thái cuối cùng của tâm thức, vậy ma
là gì? Ngài có đã từng gặp ma chưa?
Ðáp.
Tôi nhớ lúc bé tôi rất sợ ma.
Theo
Phật giáo, thế giới này có sáu đường tái sinh, tương đương
với nhiều mức độ khổ đau an lạc khác nhau trong cõi sống.
Còn nếu nói về mức độ thô lậu vi tế của hình sắc,
cảm giác và ý tưởng, thì chúng sinh được chia thành ba cõi:
dục giới, sắc giới, và vô sắc giới.
Ma
thuộc về bất cứ cõi nào trong ba cõi nói trên. Cũng giống
như người, ma cũng có tốt, có xấu, có thiện, có ác. Như
vậy đó.
Hỏi.
Thưa ngài, có thể nào chứng được duyên sinh mà không cần
phải tích tụ công đức, thanh tịnh nghiệp chướng?
Ðáp.
Tâm người bình thường vẫn có thể thấy được duyên sinh,
không cần phải diệt trừ tất cả mọi nghiệp chướng. Dựa
trên thuyết duyên sinh này để chiêm nghiệm về tánh Không,
rồi sẽ có lúc hiểu được tánh Không. Dùng lý trí suy nghĩ,
quán niệm, từ từ sẽ cảm nhận được tánh Không.
Ở
đây cần phải phân biệt hai loại tâm thức khác nhau, đó
là tâm trực chứng duyên sinh, và tâm hiểu về duyên sinh.
Muốn có kinh nghiệm trực chứng tánh Không, hay duyên sinh,
cần phải giảm bớt năng lực của phiền não ô nhiễm. Sau
đó, mỗi khi thiền quán về tánh Không lại càng làm nghiệp
chướng mỏng hơn.
Rồi
quí vị sẽ thấy trực chứng tánh Không thật ra không phải
là khó khăn gì cho lắm.
Hỏi.
Thưa ngài, ngài nói "cái tôi" giống như ông chủ. Tôi không
hiểu rõ lắm nói như vậy nghĩa là sao. Có phải có cái gì
trong người, khiến chúng ta suy nghĩ hành động? Cái ngã chăng?
Ðáp.
Chúng ta không thể phủ nhận hiện hữu của "cái tôi". Không
ai có thể kiếm ra cái tôi là gì cả, nhưng cái tôi thật
sự có đó. Cái tôi có đó, vì cái tôi là kết quả của
sự giả danh. Ngã, hay "cái tôi", không thể tự sinh, tuy vậy
có rất nhiều tôn giáo cổ không thuộc Phật giáo giải thích
rằng có một cái tôi tự có, tự đủ, hoàn toàn nằm ngoài
hợp thể thân tâm của con người. Thuyết này nói rằng thân
thể tuy thay đổi, nhưng bản ngã vẫn trường tồn, duy nhất.
Loại ngã này Phật giáo không chấp nhận. Ngã như vậy gọi
là atma, chính chữ atma đã tượng trưng cho một hiện hữu
chắc thật và độc lập.
Rõ
ràng là khi tâm thay đổi, cái tôi cũng tự nhiên thay đổi.
Khi đau ốm, chúng ta có thể nói "tôi bịnh", "tôi đau". Tuy
không phải là "cái tôi", nhưng qua đó chúng ta có thể nói
về mình.
Hỏi.
Thưa ngài, ngài nói với chúng tôi rằng thế giới này không
khởi điểm, không kết thúc. Chúng tôi lại được nghe rằng
khúc giữa, cái gọi là thế giới hiện tượng, cũng không
có nốt. Không đầu, không đuôi, không khúc giữa. Vậy chúng
ta đang đứng ở đâu?
Ðáp.
Chính đức Phật cũng nói như lời tôi vừa giải thích. Ngài
nói rằng "điều gì sinh ra từ nhân duyên là vô sinh". Câu
này có nghĩa là các hiện tượng vừa được sinh ra, vừa
không được sinh ra. Phật giáo chấp nhận tâm thức không
bắt đầu, không kết thúc, là vì thấy được tâm thức có
nhiều chức năng và nhiều tầng lớp. Một khi đã chấp nhận
quan điểm này, cứ xét theo lẽ hợp lý là có thể giải thích
và tin chắc được rằng tất cả mọi biến hóa đều khởi
từ nền tảng vô thủy vô chung của tâm thức.
Sự
vật có nhiều chức năng khác nhau, vì vậy ta có thể thấy
được rằng không thể có điều gì có tự tánh, tự sinh,
tự tồn, mà lại không bị những chức năng khác nhau đó
tác động, vì vậy chân tánh của sự vật bắt buộc phải
là tánh Không. Trên nền tảng của tánh Không, tất cả mọi
chức năng mâu thuẫn đều có thể hiện hữu, vì vậy mà
nói sự vật như huyễn mộng.
Tánh
Không trong nghĩa Shunyata phải là tánh Không của một vật
hiện hữu, nằm trong thực tại. Tính chất của mỗi hiện
tượng đều là tánh Không, là sự không có tự tánh.
Tánh
Không là một đặc tính, là chân tánh của sự vật. Sự vật
sinh ra từ nhân duyên có tính chất chuyển biến liên tục.
Ngoài ra, nhờ đâu sự vật lại có thể chuyển biến liên
tục? Nhờ tính chất của sự vật vốn là Không. Ðã nói
tính chất thì phải là tính chất của một cái gì đó. Nếu
không có gì hiện hữu cả thì cũng chẳng có tính chất nào
để mà nói tới.
(1)
Asangha.
(2)
Shantideva.