Chương 4.
Tổng quan Phật
giáo
Bồ
tát Kim Cang Thủ
hiện
thân cho năng lực của chư Phật
A.
Tôn giáo và đời sống
Ðời
nay việc nhẫn tâm tàn bạo càng lúc càng xảy ra nhiều hơn,
vì vậy lời dạy của Phật về tâm bất hại trở nên đặc
biệt quan trọng.
Cũng
như Thánh Gandhi, tôi tin rằng lời Phật dạy cùng lời dạy
của nhiều bậc thầy Ấn độ thời xưa phải được mang
ra áp dụng vào đời sống hàng ngày. Tốt nhất là nắm lấy
phần tinh túy rồi áp dụng vào đời sống gia đình xã hội.
Bằng không, nếu để tôn giáo tách lìa khỏi đời sống con
người, vậy có tôn giáo cũng như không. Còn nếu cứ sống
đời sống hàng ngày không lý gì đến tôn giáo, làm như vậy
cũng không nên.
Tôi
cảm thấy song song với nền phát triển khoa học kỹ thuật,
Ấn độ nên duy trì kho tàng văn hóa của mình. Nếu trong tương
lai con người trên toàn thế giới sống hòa đồng, nhân loại
chân thành tự nguyện thành người một nhà, xóa hết mọi
sai biệt tranh chấp, khi ấy nền văn hóa riêng của từng dân
tộc sẽ không quan trọng nữa, không cần phải bảo tồn.
Nếu một ngày hoàng kim như vậy có xảy ra, mỗi dân tộc
đều có thể xả bỏ sắc thái riêng của mình.
Trong
lúc chờ đợi, tôi tin rằng mỗi dân tộc cần duy trì nền
văn hóa riêng. Ðiều này lại càng đúng cho nền văn hóa Ấn
độ cổ. Nền văn hóa này có liên hệ chặc chẽ với tiến
bộ tâm linh. Tiến bộ vật chất cần đi chung với văn hóa,
và văn hóa lại rất gần với tiến bộ tâm linh.
Như
đã nói, đây chỉ là một buổi nói chuyện thân mật, chúng
ta cùng gặp nhau để trao đổi kinh nghiệm, bàn luận về một
số vấn đề liên quan đến khổ đau và hạnh phúc, xem bằng
cách nào có thể giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, tăng
thêm niềm an lạc. Tâm an lạc thì không khí gia đình sẽ yên
ấm, nhờ vậy các thế hệ con cháu về sau cũng đều được
hạnh phúc.
B.
Tứ đế và duyên khởi
Mỗi
khi gặp khó khăn trong cuộc sống, có một phương pháp đối
phó rất đơn giản là quên đi tất cả. Bao giờ tinh thần
mỏi mệt, tâm trí nặng nề, ta có thể vất hết sau lưng,
đi nghỉ mát vài ngày, một tuần. Nhưng phương pháp này dù
sao vẫn rất tạm bợ. Vấn đề còn nguyên chưa được giải
quyết.
Còn
một cách đối phó khác là nhìn thẳng vào vấn đề, phân
tích tìm hiểu nguyên do. Vấn đề nào cũng vậy, đứng gần
mà nhìn sẽ thấy vĩ đại, cơ hồ không thể kham. Nhưng cũng
cùng một vấn đề mà đứng từ xa nhìn lại sẽ thấy thật
ra không có gì đáng nói. Vì vậy đối trước mọi vấn đề
chúng ta nên phân tích mổ xẻ, suy nghĩ cho tường tận.
Trước
khi lên đường tìm đạo, Phật nhìn ra nỗi thống khổ của
kiếp làm người, biết rằng khổ đau là điều không ai mong
cầu, vì vậy Phật đi tìm con đường diệt khổ. Khi chưa
giác ngộ, còn bước trên đường tìm đạo, Phật có lần
chọn tu lối khổ hạnh. Sáu năm khổ tu, gần như không ăn
uống. Ðiều này mang nhiều ý nghĩa, qua đó chúng ta có thể
thấy tu hành đòi hỏi nhiều can đảm, nhiều quyết tâm, phải
sẵn sàng chịu khó nhọc. Cuộc đời của nhiều vị thầy
từ nhiều tôn giáo khác cũng tương tự vậy, thường phải
hy sinh rất nhiều để thanh tịnh sám hối.
Sau
khi giác ngộ, giáo pháp đầu tiên Phật dạy là Tứ đế,
[Tứ diệu đế - bốn chân lý nhiệm mầu]. Tứ đế được
giải thích trên căn bản của luật nhân quả.
Cái
được gọi là luân hồi, còn gọi là cõi ta-bà, thật ra chỉ
là quá trình luân chuyển từ nhân - là hành động sai quấy
- đến quả - là khổ đau. Niết bàn giải thoát là kết quả
của sự vượt thoát quá trình luân chuyển nói trên.
Trong
Tứ đế, hai chân lý đầu tiên là Khổ đế [chân lý về
khổ] và Tập đế [chân lý về nguyên nhân của khổ]. Phật
dạy hai chân lý này là để giải thích về luân hồi và về
động lực ràng buộc chúng sinh trong luân hồi. Sau đó Phật
dạy tiếp hai chân lý sau: Diệt đế là niết bàn giải thoát,
nghĩa là trạng thái an lạc tận diệt khổ đau, và Ðạo đế
là con đường dẫn đến sự tận diệt khổ đau nói trên.
Vì vậy Phật vạch rõ Tứ đế như sau: “Đây là chân lý
về khổ; đây là chân lý về nguyên nhân của khổ; đây là
chân lý của sự diệt khổ; và đây là chân lý về con đường
diệt khổ”.
Nhận
diện Tứ đế rồi, Phật đưa ra phương pháp cụ thể giúp
Phật tử hiểu về Tứ đế. Ðể hiểu Tứ đế và áp dụng
Tứ đế vào công phu tu tập hàng ngày, Phật dạy chúng ta
phải biết nhận diện khổ đau để buông bỏ mọi nguyên
nhân tạo khổ. Nếu không biết khổ đau tai hại như thế
nào sẽ không thể ra sức tận diệt khổ đau. Vậy trước
tiên phải thấy rằng chính sự hiện diện của luân hồi
là khổ đau. Nếu hiểu rằng luân hồi, nguyên nhân tạo khổ,
là điều cần buông bỏ và sự tận diệt của khổ đau là
điều cần thành tựu, vậy sẽ tận lực bước theo con đường
diệt khổ. Tu theo như vậy mới có thể chấm dứt khổ đau.
Khi
quán chiếu về khổ, chúng ta sẽ gặp một số mâu thuẫn
mặt ngoài, ví dụ Phật có nói: “Cần nhận diện khổ đau
nhưng không có khổ đau để nhận diện; cần xả bỏ nguyên
nhân tạo khổ, nhưng không có gì để xả bỏ; cần thành
tựu sự tận diệt [của khổ đau], nhưng không có gì để
thành tựu; cần tu theo con đường giải thoát, nhưng không
có đường nào để tu”.
Mâu
thuẫn như vậy là vì khi quán niệm về khổ đau, sẽ thấy
không có khổ đau nào có chủ thể khách quan hiện hữu độc
lập. Ngược lại, cả khổ đau luân hồi lẫn an lạc niết
bàn đều chỉ do nhân duyên kết hợp mà thành. Không có gì
hiện hữu độc lập, tất cả đều tùy thuộc nhân duyên.
Tiếp
theo Phật dạy thuyết mười hai duyên khởi [thập nhị nhân
duyên] để giải thích rõ hơn về khổ, về nguyên nhân tạo
khổ, về quán trình hình thành của khổ. Duyên khởi có mười
hai chi, đó là 1. vô minh [mù quáng]; 2. hành [hoạt động];
3. thức [nghiệp thức]; 4. danh sắc [tập hợp tâm lý vật
lý]; 5. lục nhập [sáu giác quan sinh hoạt với sáu đối tượng];
6. xúc [giao tiếp]; 7. thọ [cảm giác]; 8. ái [lưu luyến]; 9.
thủ [bám víu]; 10. hữu [hiện hữu]; 11. sanh [chào đời];
12. lão tử [già, chết] (1).
Thuyết
duyên khởi nói rằng mười hai chi duyên khởi cứ theo thứ
tự, chi trước sinh ra chi sau, nếu chi trước không có thì
chi sau cũng không có. Vậy muốn chấm dứt già và chết thì
phải dẹp bỏ thủ phạm sinh ra sự già và chết, dẹp bỏ
cái gốc mà mình không muốn, đó chính là sự tái sinh trong
luân hồi do nghiệp và phiền não tác động. Muốn đừng tái
sinh trong luân hồi, phải chấm dứt vô minh. Một khi chi duyên
khởi đầu tiên là vô minh bị phá vỡ, mười một chi còn
lại cũng sẽ tự tan biến.
Khổ
phát sinh như thế nào? Một vị cao tăng Ấn độ tên Vô Trước
[Asangha] có giải thích về vấn đề này qua thuyết "ba duyên
tố"(2) . Duyên tố thứ nhất là bất động(3) . Bất động
có nghĩa là khổ đau sinh ra từ ý(4) chứ không phải
từ một đấng sáng tạo vạn năng. Khổ đau có, là vì có
nhân duyên tạo khổ đau. Duyên tố thứ hai là vô thường.
Vô thường có nghĩa là mặc dù khổ đau sinh ra từ nhân duyên
tạo khổ, nhưng nhân duyên tạo khổ này tự nó cũng phải
là một hiện tượng vô thường, vì hiện tượng thường
hằng không có khả năng tạo tác dụng. Duyên tố thứ ba được
gọi là nhân quả tương ứng. Nói nhân duyên là vô thường
vẫn chưa đủ, cần nói thêm rằng nhân nào sinh quả nấy
chứ không phải nhân nào sinh quả nào cũng được.
Phật
nhận diện nguyên nhân của khổ là vô minh.
Phật
giáo không công nhận có đấng sáng tạo, mà nói chính tâm
là tạo hóa. Tâm ô nhiễm sinh quả ô nhiễm. Tâm thanh tịnh
thì ô nhiễm dứt, sinh quả trong sáng tốt lành.
Tôi
thường hay nói Phật giáo là đạo của con người, không dính
gì đến Chúa trời, hay Thánh, Thần. Phật giáo dạy cách hành
xử và chuyển hóa tâm. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là
Phật giáo không công nhận có những đấng phi phàm. Nếu nói
về kinh nghiệm giác ngộ của những đấng phi phàm, không
những Phật giáo cũng có Thần, Thánh, Trời, mà còn có rất
nhiều, có hàng triệu vị. Ðiều này Phật giáo công nhận
là có. Nhất là trong Phật giáo mật tông, có rất nhiều vị
hung thần, thiện thần. Tất cả những bậc Hộ Phật, thánh,
thần, thiên tử, thiên nữ, đều là hiện thân của cùng một
vị, hay cũng có khi chỉ từ tâm của chính mình mà ra.
Nhưng
đối với Phật tử thì quan trọng nhất vẫn là đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, đấng đại đạo sư toàn hảo, đầy từ bi
trí tuệ, đã dựa vào kinh nghiệm cá nhân mà vạch đường
chỉ phương tiện cho chúng ta biết cách thanh tịnh tâm thức.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giác ngộ được là nhờ khổ công
tu hành.
Phật
đích thân giải thích quá trình luân chuyển của mười hai
chi duyên khởi, từ vô minh cho đến lão tử, và Phật cũng
dạy cho phương pháp phá vỡ vòng xoay này.
Sau
khi dạy xong quá trình luân chuyển trong luân hồi và quá trình
tận diệt luân hồi nhờ Tứ đế, Phật lại giảng về cái
gọi là Nhị đế [hai Chân lý].
Phật
nói “phải nhận diện khổ đau nhưng không có khổ đau để
nhận diện”, câu nói này thật ra là nói về Nhị đế. Sự
vật có thể được nhìn từ hai khía cạnh, một là khía cạnh
qui ước của Tục đế, hai là khía cạnh rốt ráo của Chân
đế.
Ví
dụ như khi nhìn đóa hoa đẹp, chúng ta sẽ thấy hoa này thay
đổi luôn luôn. Khi nằm dưới ánh mặt trời lại càng chóng
thay đổi. Yếu tố bên ngoài như nóng hay lạnh đều có thể
tạo tác dụng lên đóa hoa, đây là điều dễ nhận thấy.
Có
người thấy: “Đóa hồng này đẹp lắm! Ðẹp màu, đẹp
sắc, đẹp hương”. Có người lại thấy: “Hoa hồng thật
dễ sợ. Coi đẹp vậy mà gai nhọn nhiều quá, đụng tới
là bị đâm ngay”. Ðóa hoa chỉ có một, nhưng ý kiến lại
rất nhiều. Kẻ thấy hay, người thấy dở, lại có người
hoàn toàn dửng dưng. Ðó là vì tính chất của đóa hoa vốn
tuơng đối, ai muốn thấy sao cũng được. Ðiều này cho thấy
đóa hoa lệ thuộc vào nhân duyên bên ngoài. Nếu một vật
tự nó là đẹp hay xấu thì bất kể nhìn từ góc cạnh nào
cũng sẽ chỉ thấy đẹp hoặc thấy xấu. Sự vật nếu không
tùy thuộc nhân duyên thì khi đẹp sẽ luôn là đẹp, khi xấu
sẽ mãi là xấu, sẽ hoàn toàn độc lập như vậy. Nhưng đẹp
hay xấu thật ra chỉ là khái niệm tương đối. Quan sát một
vật thông thường như đóa hoa, rồi quan sát những khái niệm
về đóa hoa, sẽ thấy ngay từ đóa hoa phải có một điều
gì đó cho phép phát sinh nhiều khái niệm về nó như vậy.
"Ðiều gì đó" của đóa hoa, chính là sự không có tự tánh.
Bàn
trống thì có thể bỏ đồ lên trên. Bàn đầy sẽ không còn
chỗ cho cái gì khác. Chân tánh của sự vật là nền tảng,
nhờ đó sự vật có khả năng chở mang đủ loại tính năng
khác nhau. Ðiều này cho thấy sự vật hiện hữu dưới hai
mức độ. Ở một mức độ, mọi sắc thái khác nhau đều
có thể đồng loạt hiện hành trên cùng một nền tảng. Nền
tảng này không thể trực tiếp nhìn thấy, nhưng nếu chiêm
nghiệm sâu xa sẽ cảm thấy phải có một điều gì đó cho
phép tất cả mọi sắc thái khác nhau có thể đồng loạt
hiện hữu.
Hai
chân lý Chân đế và Tục đế [chân lý rốt ráo và chân lý
qui ước] là hai hiện tượng khác nhau. Hiểu về Chân đế
và Tục đế sẽ giúp chúng ta hiểu về Tứ đế.
Khổ
đế - chân lý về khổ - được giải thích qua cái gọi là
hai nguyên nhân: một là phiền não và hai là nghiệp do phiền
não tác động. Phật nói phiền não là kết quả của trạng
thái vô kỷ luật thiếu thuần hóa của tâm. Trạng thái vô
kỷ luật này không phải tự nhiên có, mà sinh ra từ nhân
duyên. Vì tùy nhân duyên mà có, nên tâm có thể được chuyển
hóa, phiền não có thể diệt. Biết có thể tận diệt được
khổ đau phiền não là hiểu được Diệt đế. Vì vậy mà
nói phải hiểu Chân đế và Tục đế rồi mới có thể hiểu
được tận tường về Tứ đế.
Tứ
đế là chung cho tiểu thừa và đại thừa, nhưng chỉ đại
thừa mới giải thích sâu xa về Chân đế và Tục đế. Nhờ
Chân đế và Tục đế mà hiểu được Tứ đế; và nhờ Tứ
đế mà hiểu được Tam Bảo - Phật, Pháp, và Tăng.
Người
đạt đến địa vị trong sáng nhất, mọi nghiệp chướng
đều thanh tịnh, mọi vọng niệm đều đoạn diệt, thì gọi
là Phật. Người đang bước trên con đường thanh tịnh nghiệp
chướng thì gọi là Tăng. Tất cả mọi đức tánh tốt lành
của Tâm, đó chính là Pháp.
C.
Tiểu thừa, đại thừa, mật thừa
Phương
pháp diệt khổ Phật dạy là Giới Ðịnh Tuệ, ba môn vô lậu
học này có trong giáo pháp tiểu thừa.
Môn
đầu tiên là Tuệ. Ðây là vũ khí phá vỡ vô minh. Người
tu có đủ khả năng sử dụng vũ khí này một cách mãnh liệt
và hữu hiệu hay không, hãy còn tùy tâm có được tập trung
định tĩnh hay không, vì vậy Phật dạy tu Ðịnh. Và vì không
có Giới thì không thể Ðịnh, nên Phật dạy tu Giới.
Theo
Phật giáo đại thừa, phương pháp hay nhất để tu Giới Ðịnh
Tuệ là phát tâm bồ đề. Tâm bồ đề có nghĩa là vì nặng
lòng thương xót chúng sinh mà nguyện thành Phật, nguyện tu
theo sáu hạnh toàn hảo là Thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Ðịnh,
Tuệ.
Phương
pháp tu mật tông phức tạp hơn. Ðể mau chóng bước đến
quả vị Phật, người tu vận dụng một số phương pháp hành
thiền đặc biệt, không cho tâm hiện tướng chúng sinh mà
chỉ hiện tướng Phật, an định trong sắc tướng nhiệm mầu
này để hành thiền. Phương pháp tu mật là như vậy.
Trong
mật tông có Mật tông Tối thượng Du già. Cốt lõi của Mật
tông Tối thượng Du già nằm ở pháp tu hợp nhất phương
tiện và trí tuệ. Phương tiện và trí tuệ có rất nhiều
nghĩa. Ở đây, trí tuệ là tuệ giác chứng ngộ tánh Không;
phương tiện là đại nguyện muốn thành Phật để cứu độ
chúng sinh. Muốn tu phương tiện trí tuệ, người tu phải nhập
định quán tưởng.
Tu
theo phương pháp này không nhất thiết phải quán tưởng thân
Phật và cảnh Phật, nhưng nếu lấy thân Phật làm đề mục
chỉ quán, sẽ được nhiều thuận tiện hơn. Vì vậy ở đây
tôi xin hướng dẫn phương pháp quán tưởng năm vị Phật
và Bồ tát (xin xem phần B, chương ba).
Phương
pháp tu này có khi đòi hỏi phải tụng chú, nhưng việc chính
vẫn là nhập định quán tưởng. Bao giờ ngồi thiền mệt,
thay vì bắt tâm tiếp tục làm việc, người tu có thể bắt
cái miệng làm thay, bằng cách tụng chú.
D.
Môi trường thích hợp
Phần
đầu bài tụng chỉ cách xếp dọn chỗ ngồi thiền.
Chỗ
ngồi thiền rất quan trọng đối với người mới bắt đầu
tu. Bao giờ có chút kinh nghiệm thiền định rồi, yếu tố
bên ngoài sẽ không còn gây nhiều ảnh hưởng. Nhưng nói chung,
chỗ ngồi thiền phải là nơi thanh tịnh.
Nếu
là tu thiền chỉ để định tâm, ta cần chọn một chỗ cách
ly, không tiếng động. Ðây là điều rất quan trọng. Ngoài
ra ngồi chỗ cao cũng rất tốt. Hay nhất là ngồi thiền trên
núi cao.
Cũng
có những nơi chốn khi xưa đã từng có những bậc đại hành
giả ngồi thiền, nhờ vậy tích tụ được nhiều năng lực
gia trì. Người đời sau đến ngồi thiền sẽ nhận được
làn sóng gia trì còn lưu lại. Trước có bậc đại hành giả
chứng ngộ cao, truyền năng lực gia trì cho chốn ngồi thiền,
rồi chốn ngồi thiền truyền năng lực này lại cho người
đời sau.
Khi
quét dọn chỗ ngồi thiền, đừng nghĩ mình đang quét dọn
chỗ ngồi, mà phải nghĩ mình đang thu xếp tâm trí cho ngăn
nắp. Chúng ta sắp sửa quán tưởng thân Phật, cúng dường,
tụng chú, vậy cũng như đón Phật vào nhà. Nhà có khách quí,
chủ nhà phải lo quét dọn sạch sẽ. Không ai đón khách quí
vào nơi dơ bẩn lộn xộn. Vậy trước khi thiền, phải quét
dọn chỗ ngồi cho thật sạch. Quét với tâm trong sáng, đừng
để vướng thái độ tham đắm, giận dữ hay phiền não.
Tương
truyền có một vị đại hành giả ở Tây tạng, một hôm
tự dưng nổi hứng bày biện phẩm vật cúng dường thật
đẹp đẽ trang nghiêm. Bày biện xong, ông ta ngạc nhiên tự
hỏi tại sao hôm nay mình lại làm như vậy. Nghĩ lại mới
thấy chỉ vì hôm nay có nhiều thí chủ đến thăm, ông ta
muốn họ hâm mộ bàn thờ của mình. Thấy ra động cơ thiếu
trong sáng này, ông ta hốt một nắm bụi, rãi lên trên cúng
phẩm.
Vị
đại hành giả này khi xưa từng sống bằng nghề ăn trộm.
Về sau thỉnh thoảng ông ta vẫn còn giữ thói quen muốn ăn
cắp. Có lần ông ta đến thăm nhà người bạn, tay phải tự
động đưa ra nắm một món đồ đẹp đẽ, tay trái bèn chụp
lại, miệng la lên: “Có trộm, có trộm!”, rồi tự nắm
tay mình mà lôi đi. Ðây là một phương pháp tu rất hay, nhờ
vậy từng phút từng giây đều có thể tự giữ mình ngay
thẳng.
Chúng
ta nên quét dọn chỗ ngồi thiền với thái độ tương tự
như vậy, cần giữ tâm nguyện cho thật trong sáng. Phải cố
gắng loại bỏ tất cả mọi động cơ thế tục.
Tiếp
theo, bài tụng giải thích phương pháp xếp dọn bàn thờ.
Nếu đủ khả năng, nên bày tượng Phật như chỉ dẫn. Nếu
không đủ khả năng thì cũng không sao. Vị đại hành giả
Tây tạng Milarepa tựu trung chỉ có vài tấm cẩm nang ghi lời
hướng dẫn của sư phụ Marpa treo quanh động đá. Ngoài ra
không có gì khác. Một hôm có tên trộm chui vào động. Milarepa
cười: “Ở đây ban ngày trống trơn, ban đêm anh lẻn vào,
định trộm cái gì đây?” Thường nói hành giả chân chính
khi tu không cần tới ngoại vật.
E.
Biểu tượng qui y
Ðầu
tiên là lời giải thích về tượng Phật.
Trong
tiếng Phạn, chữ Phật dùng để chỉ người có tâm thanh
tịnh, thành tựu viên mãn. Phật còn được gọi là Như lai
(Tathagatha), là người đã thâm nhập thật tánh chân như, và
trở lại từ đó.
Thế
nào là thâm nhập thật tánh chân như và trở lại từ đó,
muốn giải thích điều này, cần phải nói đến ba thân Phật.
Ðó là Pháp thân (Dharmakaya), Báo thân (Sam-bhogakaya), và Hóa
thân (Nirmana-kaya). Kinh sách đại thừa có nhiều nơi giải
thích về Tam Thân Phật.
Theo
thuyết này, Phật xuất thế làm đức Thích Ca Mâu Ni, đó
là từ Pháp thân mà hoạt hiện thành Hóa thân. Tất cả mọi
việc xảy ra trong cuộc đời của đức Phật, khởi từ lúc
vào thai cho đến khi nhập đại niết bàn, tất cả đều là
thiện hạnh của đấng Phật đà.
Phật
còn được gọi là Thiện thệ (Sugata), là người đã đi vào
an lạc, bước trên con đường an lạc để đạt đến kết
quả an lạc. Danh hiệu này của Phật bao gồm toàn bộ mọi
thành tựu an lạc, mọi buông xả, mọi tận diệt, bao gồm
cả Phật tánh, là chân tánh của Phật, vốn sẵn có trong
mọi chúng sinh.
Nói
chung, thân miệng ý của chư Phật có thể hóa hiện thành
nhiều sắc tướng: thân Phật hóa thành Quan Tự Tại, miệng
Phật hóa thành Văn Thù Sư Lợi, ý Phật hóa thành Kim Cang
Thủ. Nhưng trong bài nhật tụng này, ba vị Bồ tát Quan Tự
Tại, Văn Thù Sư Lợi và Kim Cang Thủ được giải thích là
hiện thân của lòng từ bi, trí tuệ, và năng lực của chư
Phật.
Bồ
tát Quan Tự Tại và Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hiện tướng
an lạc, còn Bồ tát Kim Cang Thủ hiện tướng hơi phẫn nộ.
Nói chung, hễ tâm chứa nhiều năng lực thì sẽ đủ khả
năng làm những việc quả quyết mạnh mẽ, đó là lý do có
thân Phật phẫn nộ. Xét theo Mật tông Tối thượng Du già,
phương pháp này gọi là “chuyển hóa tham và sân để hành
đạo”.
Ngài
Quan Âm Tara hiện tướng an lạc, ngài là hiện thân trong sáng
của khí lực trong cơ thể. Tất cả mọi thiện đức của
Phật, kể cả từ bi, trí tuệ và năng lực [dũng], chỉ có
thể phát huy được nhờ lực chuyển, gọi là khí.
Quan
Âm Tara là vị Bồ tát hộ pháp mang thân nữ. Tương truyền
đức Quan Âm Tara khi tu hạnh bồ đề đã phát đại nguyện
sẽ mang thân nữ mà thành Phật.
Kinh
Phật xếp trên bàn thờ tượng trưng cho miệng Phật. Tốt
nhất là có được một bộ trong hệ kinh Bát Nhã Ba La Mật
(Pranaparamita sutra). "Bát Nhã Ba La Mật" dịch nghĩa là "Tuệ
Giác Toàn Hảo". Tuệ giác có nhiều loại, liên quan đến nền
tảng, đạo và quả. Tất cả những loại tuệ giác khác nhau
đều được giải thích cặn kẽ trong hệ kinh Bát nhã.
Hệ
kinh Bát nhã là tinh túy của Phật giáo đại thừa. Kho kinh
dịch sang tiếng Tây tạng có khoảng hai chục quyển thuộc
hệ Bát nhã, gồm hơn hai mươi bộ kinh. Bộ kinh dài nhất
dài trên một trăm ngàn câu, tiếp theo là hai mươi lăm ngàn
câu, và tám ngàn câu v.v... Bộ kinh ngắn nhất chỉ vỏn vẹn
một chữ AH, được gọi là Nhất Tự Bát Nhã Ba La Mật Kinh.
Tiếng Phạn lấy chữ AH để chỉ nghĩa phủ định, vì chân
như hay là chân tánh, như đã nói, là sự vắng mặt của tự
tánh; là một hiện tượng phủ định.
Bảo
tháp tượng trưng cho ý Phật. Bảo tháp có tám loại khác
nhau, ví dụ như bảo tháp chiến thắng tà ma, bảo tháp giác
ngộ, bảo tháp đại niết bàn, v.v.... Tôi nghĩ nhiều loại
bảo tháp như vậy là để nhắc nhở chúng ta.
Tiếp
theo cần bày biện phẩm vật cúng dường, mang nước, hoa,
hương, đèn, trái cây xếp trên bàn thờ. Ðây là phong tục
tiếp khách của người Ấn độ cổ. Nếu đức Phật dạy
Phật pháp ở Tây tạng, có lẽ phẩm vật cúng dường sẽ
là bơ và bánh bột [tsampa].
F.
Tư thế ngồi và phương pháp thở
Bây
giờ tôi xin giải thích về tư thế ngồi thiền. Tọa cụ
ngồi thiền phía sau phải cao hơn phía trước một chút để
tư thế ngồi khỏi bị căng thẳng. Chiếc ghế tôi đang ngồi
đây có nệm, phía trước cao hơn phía sau, hoàn toàn ngược
với tư thế ngồi thiền.
Ngồi
kiết già (5) rất khó, nếu ngồi được thì đây là tư thế
đúng nhất. Bằng không, ráng ngồi theo thế bán kiết già
(đức Ðạt-lai Lạt-ma ngồi thử cho mọi người xem một tư
thế xếp bằng)(6) , hay ngồi theo thế Quan Âm Tara, rất thoải
mái (đức Ðạt-lai Lạt-ma lại ngồi thử cho mọi người
xem một tư thế khác)(7) .
Hai
bàn tay bắt ấn thiền định: mu bàn tay phải đặt trong lòng
bàn tay trái, hai đầu ngón cái đưa lên chạm nhau, thành hình
tam giác. Hình tam giác này có ý nghĩa đặc biệt trong mật
tông, tượng trưng cho pháp giới (dharmadhatu), nguồn gốc của
thực tại và cũng là luồng nội nhiệt nằm ở vùng bụng.
Hai
cánh tay đừng ép sát vào thân mình. Ðầu hơi nghiêng về
phía trước, chót lưỡi chạm chân răng hàm trên để tránh
khát nước khô miệng khi nhập định. Môi và răng giữ trong
tư thế tự nhiên, mắt nhìn xuôi theo chót mũi. Thật ra nếu
mũi to thì nhìn như vậy không sao, nhưng nếu mũi nhỏ, nhìn
một lúc sẽ thấy nhức mắt (cười). Thành ra còn tùy mũi
to hay mũi nhỏ.
Nói
về đôi mắt, lúc đầu nếu nhắm mắt, hình trong quán tưởng
dễ hiện ra hơn, nhưng về lâu về dài làm như vậy sẽ gây
trở ngại. Quí vị không nên nhắm mắt khi ngồi thiền. Hình
trong quán tưởng là ảnh hiện trong tâm thức, không cần dùng
giác quan. Vậy nếu quen mở mắt khi thiền, gặp lúc đối
cảnh hiện trước mắt, hình ảnh trong quán tưởng cũng sẽ
không mất. Ngược lại nếu quen nhắm mắt khi thiền, hễ
mở mắt ra là hình trong quán tưởng sẽ tan biến.
Lúc
ngồi thiền phải hô hấp tự nhiên. Không nên thở quá mạnh
hay quá nhẹ. Nếu đang hành trì công phu vận nội khí trong
mật tông (ví dụ như công phu chín vòng hô hấp) thì lại
là chuyện khác.
Gặp
lúc tâm đang chao động, như đang giận dữ nóng nảy, thì
nên an định bằng cách chú tâm vào hơi thở. Giản dị ngồi
đếm hơi thở, quên đi cơn giận. Chú tâm vào hơi thở rồi
đếm một, hai, ba, cho đến hai mươi. Thu nhiếp hết tâm trí
vào trong hơi thở, mỗi lần hơi thở đi vào đi ra, tâm sẽ
giảm bớt một phần chao động. Từ từ tâm trí sẽ sáng
suốt rõ ràng hơn.
Tất
cả mọi hành động, kể cả thiền định, đều tùy vào năng
lực của đại nguyện, của động cơ tác động, nên trước
khi ngồi thiền, quan trọng nhất là phải giữ tâm nguyện
cho thật đúng đắn. Ở đây chúng ta hành trì theo phương
pháp tu thiền mật tông, vì vậy tâm nguyện đúng đắn phải
là không quan tâm đến chuyện của kiếp này, cũng không để
tâm chạy theo những cảnh an vui thuộc cõi luân hồi.
Tâm
nguyện đúng đắn nhất cho phương pháp hành trì đang nói
ở đây phải là tâm nguyện vị tha. Phải là tâm bồ đề.
G.
Hỏi đáp
Hỏi.
Có thể nào trực tiếp quán Tâm, khỏi cần quán tưởng phức
tạp về thân Phật ?
Ðáp.
Một trong những tánh chất của Tâm là không sắc, không màu.
Ðồng thời Tâm lại có khả năng chiếu hiện tất cả mọi
điều thuộc lãnh vực phân biệt đối đãi.
Tâm
nằm ngoài tầm nghĩ bàn, không thể nắm được bóng hình
của Tâm, cũng không thể tưởng tượng mà thấy được. Cũng
như gương soi vật thể, vật thể mất là hình sắc phản
chiếu trong gương tự nhiên cũng mất. Tâm cũng tương tự
như vậy, phản chiếu sự vật. Ðó là một trong những chức
năng của Tâm.
Quán
niệm về Tâm như vậy, không cần phải có tín ngưỡng. Chỉ
cần hàng ngày chú tâm quán niệm, chắc chắn sẽ tiến bộ.
Nhưng
ở đây, chúng ta đang nói về bồ đề tâm, là một loại
tâm vị tha rất đặc biệt, đi đôi với tuệ giác tánh Không.
Ðây cũng là căn bản nhập môn của pháp tu Hộ Phật Du Già
[deity yoga]. Sau khi nhận pháp quán đảnh, pháp tu mật tông
chính yếu chính là pháp quán tưởng Hộ Phật Du Già. Người
tu quán tưởng mình mang thân Phật, lấy đó làm nền tảng
tu hành.
Muốn
đạt tới cảnh giới quán tưởng chân chính, lúc ban đầu
người tu phải trải qua một thời gian tưởng tượng. Phật
nói những giai đoạn tưởng tượng này ví như chiếc thuyền,
nhờ đó mà vượt qua bờ bên kia. Bước lên thuyền không
phải chỉ để vui thú chuyện ngồi thuyền, mà là để qua
tới bờ bên kia. Qua bờ rồi, thuyền phải vất lại phía
sau. Lên được bến bờ của cảnh giới quán tưởng chân
chính, tất cả những trạng thái do tâm thức tự tạo đều
phải vất bỏ.
Có
vị thầy Tây tạng dạy rằng trước sau gì cũng phải vất
thuyền, nhưng chỉ nên vất thuyền khi đã sang đến bờ bên
kia, chứ không ai lại vất thuyền khi còn kẹt ở bờ bên
này.
Dựa
theo Phật giáo Tây tạng mà nói, tôi nghĩ nếu không áp dụng
phương pháp quán tưởng Hộ Phật Du Già mà trực tiếp quán
Tâm để tìm kinh nghiệm trực chứng chân tâm trong sáng, chắc
chắn sẽ phải dùng tới khái niệm để quán Tâm. Phương
pháp tu như vậy rất giới hạn.
Phương
pháp đúng nhất là phải lấy chân tâm tách lìa phiền não
để trực chứng thực tại. Ðiều này rất khó thực hiện.
Nói "quán trực tiếp" nghe thì rất hay, nhưng muốn có kinh
nghiệm trực tiếp thật không phải chuyện dễ.
Tôi
có vài người bạn, đến nay vẫn còn tại thế, thỉnh thoảng
họ có được loại kinh nghiệm trực tiếp này. Trong những
phút giây cực kỳ mãnh liệt trong sáng ấy, họ có thể nhớ
lại quá khứ, không phải chỉ kiếp trước, mà hàng trăm
kiếp đã qua. Khi ấy, tâm thức vi tế hiển lộ. Những người
này thật sự có được một thoáng kinh nghiệm về tầng tâm
thức vi tế nhất, có thể nhớ lại được nhiều kiếp quá
khứ.
Cũng
có khi trạng thái tâm thức này xảy ra sau một thời gian dài
kính ngưỡng Tam bảo, ví dụ sau nhiều năm quì lạy một trăm
ngàn lạy, cúng dường một trăm ngàn mạn đà la, hay trì tụng
một trăm ngàn lần bách tự chú. Toàn là những công phu rất
khó khăn, đòi hỏi nhiều kiên trì, kỷ luật. Nhưng làm như
vậy đôi khi mang đến chút kinh nghiệm trực chứng.
Hỏi.
Thưa ngài, tôi xin bắt đầu bằng lời ngài nói, rằng Phật
giáo là kho tàng xuất phát từ Ấn độ, được duy trì bảo
tồn ở Tây tạng. Tôi nghĩ người Ấn chúng tôi thật bất
hạnh, đã đánh mất kho tàng trân quí này.
Trước
hết, tôi tin rằng tâm phải sẵn sàng mới có thể nhận được
kho tàng này. Ðó là điều tôi muốn thưa rõ.
Ðiều
thứ nhì, thưa đức Ðạt-lai Lạt-ma, ngài có đề cập đến
mười hai giai đoạn chuyển tiếp, đi từ vô minh, v.v.... Khi
đạt được niết bàn, khổ đau tận diệt, không còn trở
lại. Chỉ một vài người đạt đến thành tựu này. Còn
hàng triệu người tầm thường như chúng tôi, sống trong luân
hồi, có gia đình, phải đi làm kiếm sống, dù có ráng tu
một vài đức tính tối thiểu nhưng rồi vẫn phải va chạm
với đủ hạng người, đủ hoàn cảnh, đôi khi có thể tự
chủ, lắm lúc không. Xin ngài một lời khuyên cho người sống
trong cảnh sống gia đình bình thường như chúng tôi.
Ðáp.
Tôi
hiểu lời bạn nói, vì tôi cũng vậy, và nhiều người bạn
khác của tôi cũng phải trải qua những hoàn cảnh khó khăn
tương tự.
Chúng
ta hiểu được tánh chất của luân hồi và niết bàn, cùng
với khả năng và phương pháp thành tựu niết bàn. Tuy hiểu,
nhưng có khi lại không thể ứng dụng vào đời sống hiện
tại. Như trường hợp của tôi, có nhiều công phu không sao
thực hiện được, ví dụ như thiền chỉ. Tu thiền chỉ cần
rút vào một nơi hoàn toàn yên tịnh, ít nhất vài ba năm không
được gặp ai. Nếu không rất khó đạt kết quả. Hoàn cảnh
hiện nay của Ðạt-lai Lạt-ma không thể làm như vậy được.
Nhưng
dù sao hiểu về luân hồi và hiểu về tính chất của đời
sống vẫn luôn hữu ích. Khi phải đụng chạm nhiều vấn
đề trong cuộc sống, với chính mình hay với người khác,
chúng ta có thể hiểu những khó khăn này xảy ra chỉ là vì
đời sống luân hồi vốn là như vậy. Sống trong luân hồi
gặp phải vấn đề, đó là chuyện đương nhiên.
Bất
cứ hành động nào, dù tốt dù xấu, đều do tâm tác động.
Ta thường gặp nhiều hoàn cảnh dễ khiến nổi giận, khiến
bức xúc, nhưng nếu hiểu về luân hồi, dù gặp cảnh như
vậy cũng vẫn biết tự chủ, hay ít ra cũng không để phiền
não tác động thái quá, nhờ đó tâm không mất bình tĩnh,
giữ được niềm an lạc.
Nếu
có được hiểu biết chính xác về đường tu, về thành tựu
nhắm đến, về phương pháp dẫn đến thành tựu, thì dù
chưa thể áp dụng phương pháp tu hành vào đời sống hàng
ngày, hiểu biết này vẫn giúp ta có được năng lực tự
tại, không dễ bị khuynh đảo bởi cảnh khó khăn trong cuộc
sống.
Cư
sĩ sống với gia đình, so với người xuất gia đương nhiên
bận rộn hơn nhiều. Phải lo cho vợ chồng con cái. Khi có
cháu nội cháu ngoại lại càng nhiều người để lo hơn. Trong
hoàn cảnh như vậy, động cơ hành động là điều quan trọng
nhất. Sống trong đời sống hàng ngày có khi quí vị phải
nói lời nặng nhẹ khó nghe, hoặc có khi phải tỏ thái độ
quyết liệt để bảo vệ cho gia đình thân nhân. Tâm nguyện,
động cơ, là điều quan trọng nhất. Hành động làm với
động cơ tốt, với lòng chân thành, sẽ là hành động tốt
và chân thành.
Ví
dụ có hai người sắp bị kẻ thù hãm hại. Cả hai đều
chống trả quyết liệt để tự bảo vệ. Phản ứng của
hai người giống như nhau, hành động như nhau, nhưng một người
làm với tâm vị kỷ, không nghĩ đến kẻ thù, chỉ lấy tâm
thù oán để chống trả. Người kia cũng làm cùng một hành
động, nhưng lại nghĩ rằng "nếu để người này muốn làm
gì thì làm, muốn giết ai thì giết, về sau chính người ấy
sẽ chịu quả tàn khốc, sẽ trầm luân khổ não". Kẻ thù
ngay lúc ấy có thể sẽ cảm thấy thỏa mãn, nhưng về lâu
về dài chắc chắn sẽ chịu khổ, đúng không? Ngăn chận
hành động của kẻ thù vì tránh không để kẻ thù tạo ác
nghiệp, động cơ này so với động cơ của người trước
khác nhau xa, vì vậy hành động tuy nhìn bề mặt giống nhau
nhưng thật sự không giống.
[…]
Hỏi.
Về trạng thái siêu việt của tâm thức trong Phật giáo đại
thừa, tôi có khi nghe nói đến thực tại qui ước và thực
tại chân thật. Hai thực tại này có phải chỉ là một?
Ðáp.
Hai
Chân lý [Nhị đế] là hai khía cạnh của cùng một sự vật.
Vì là cùng một sự vật, nên hai Chân lý thật ra chỉ là
một, nhưng đồng thời vẫn trái ngược nhau.
Ví
dụ có người rất tài giỏi, nhưng lại rất xảo quyệt.
Chúng ta muốn dùng người này, tuy vậy vẫn không thể tin
tưởng, vẫn phải cực kỳ thận trọng. Mặc dù cùng một
người, nhưng tính tình lại có hai khía cạnh mâu thuẫn, một
tốt, một xấu.
Hai
Chân lý tuy không có tốt xấu, nhưng lại tương tự ở điểm
có hai sự thật nơi cùng một vật. Lấy ví dụ đóa hoa này.
Hoa có một thực tại tương đối, ở đó hình thành đủ
loại qui ước như màu sắc, hương thơm v.v.... Ngoài ra, hoa
này lại còn có một thực tại sâu hơn, thuộc về chân cảnh
giới.
Ðiều
này tương tự như nhìn sự vật từ hai góc độ. Vì mọi
hiện tượng là duyên sinh [tùy duyên mà có], nên không có
tự tánh. Vì không có tự tánh, không tự sinh, nên là duyên
sinh. Ý nghĩa của hai Chân lý tuy khác nhau, nhưng bổ xung lệ
thuộc lẫn nhau. Tách lìa ra sẽ không thể hiểu được.
Vì
Phật tử có nhiều động cơ, tầm vóc rộng hẹp khác nhau,
nên Phật giáo có hai cỗ xe lớn nhỏ khác nhau. Tâm nguyện
của người theo đại thừa lớn rộng, nên quả vị thành
tựu cũng lớn rộng.
Khế
kinh có nói chúng sinh khi còn lưu lạc sinh tử đều là những
sinh vật cách biệt, tách lìa, nhưng khi giác ngộ sẽ thành
một với biển trí tuệ bao la. Nước từ nhiều nhánh sông
đổ về biển cả, tuy màu sắc mùi vị và độ chảy khác
nhau, nhưng về tới biển rồi lại cùng chung một vị.
Tuy
nhiên, nói vậy không có nghĩa là thành tựu quả vị Phật
rồi, chúng ta mất hết cá tính riêng. Không phải vậy. Thành
tựu quả vị Phật rồi thì đồng đẳng với chư Phật, nhưng
những nét riêng vẫn còn.
Hỏi.
Thưa ngài, khi ngài nói về kinh sách, cuốn kinh ngắn nhất
chỉ có một chữ AH, là từ phủ định. Vậy có phải trước
hết có chữ phủ định, rồi từ đó biến hóa thành tất
cả mọi phạm trù đối kháng?
Ðáp.
Khi tôi nói chữ AH có nghĩa là tánh Không, đây không phải
tôi muốn nói rằng tánh Không thiêng liêng, mà thật ra chính
chữ AH mới là thiêng liêng.
Tánh
Không tự nó chỉ là một hiện tượng phủ định. Gọi là
hiện tượng phủ định, vì nếu muốn nhận thức về nó,
phải nhận thức xuyên qua tất cả những yếu tố không phải
nó. Loại hiện tượng như vậy được gọi là hiện tượng
phủ định.
Như
khi nói "không có voi". Muốn nhận thức được sự "không có
voi", trước hết phải biết voi là cái gì. Phải có khả năng
nhận diện được đối tượng phủ định, là con voi, sau
đó mới có khả năng khẳng định sự "không có voi".
Hiện
tượng nói chung được chia thành hai loại: hiện tượng phủ
định và hiện tượng khẳng định. Hiện tượng phủ định
lại có hai: phủ định có khẳng định, và phủ định không
khẳng định.
Hoa
này là hoa hồng hay là uất kim hương? "Không phải uất kim
hương". Tuy câu trả lời là phủ định, nhưng đồng thời
cũng khẳng định điều gì khác. Còn khi nói "không có voi",
câu phủ định này hoàn toàn không mang nghĩa khẳng định
nào cả.
Tánh
Không cũng vậy, là một hiện tượng phủ định: phủ định
tự tánh. Chữ AH biểu tượng cho tánh Không, là vì AH là từ
phủ định.
Cũng
có thể nói, vì sự vật không có tự tánh nên những chức
năng khác mới có thể hình thành. Vì vậy mà nói thực tại
qui ước phát sinh từ tánh Không.
(1)
[Lời giải thích để trong ngoặc vuông là mượn chữ của
HT Thích Trí Quang]
(2)
anh: the three conditions.
(3)
anh: immovability.
(4)
anh: intention.
(5)
ngồi xếp bằng, hai bàn chân ngửa lên.
(6)
ngồi xếp bằng, một bàn chân đặt trên vế, một bàn chân
để dưới vế.
(7)
ngồi một chân trong, một chân ngoài. Xem hình Quan Âm Tara đầu
chương 5.