Chương 3.
Hai pháp tu
trọng yếu
Bồ
tát Văn Thù Sư Lợi
hiện
thân cho Trí tuệ của chư Phật
Ngang
đây tôi xin dựa trên hai bài tụng đơn giản để tiếp tục
trình bày về Phật giáo.
Bài
thứ nhất là Tám Bài Kệ Chuyển Hóa Tâm, nói về việc làm
và tác phong của Bồ tát. Bài tụng này được viết từ nhiều
thế kỷ về trước [xin đọc Phụ Lục 2].
Bài
thứ hai là Pháp Thiền Mật Tông Đơn Giản dành cho Phật Tử
Nhập Môn, do tôi soạn vài năm về trước [xin đọc Phụ Lục
1].
A.
Tám Bài Kệ Chuyển Hóa Tâm
Giáo
pháp này tôi được thầy tôi là Rinpoche Kyabje Trijang(1)
trực tiếp truyền thừa. Từ đó đến nay đã hơn ba mươi
lăm năm, tôi vẫn hàng ngày trì tụng quán niệm tám bài kệ
này. Tác giả là vị thầy dòng Kadampa tên Geshe Langri Thangpa.
Vị thầy này luôn xem công phu phát tâm bồ đề là quan trọng
nhất trong suốt cuộc đời hành đạo của mình, nhất là
phương pháp Hoán Chuyển Ngã Tha.
Bây
giờ tôi xin giải thích sơ lược về Tám Bài Kệ Chuyển Hóa
Tâm.
1.
Với quyết tâm thành tựu
Lợi
lạc lớn lao nhất
Nhờ
tất cả chúng sinh,
Tôi
nguyện luôn giữ gìn
Chúng
sinh trong đáy tim,
Vì
chúng sinh quí hơn
Cả
bảo châu như ý.
Chúng
sinh không những giúp chúng ta hoàn thành mục tiêu cao nhất
là thành Phật, mà còn mang lại cho chúng ta hạnh phúc trước
mắt. Vì vậy mà nói chúng sinh quí hơn ngọc như ý. Và cũng
vì vậy mà phát nguyện gìn giữ chúng sinh.
2.
Khi gặp gỡ tiếp xúc
Với
bất kỳ một ai,
Nguyện
tôi luôn thấy mình
Là
kẻ thấp kém nhất,
Từ
đáy lòng chân thật
Luôn
tôn kính mọi người
Như
kính bậc tối cao.
Với
người khác, chúng ta không nên tự cao thấy mình hơn người,
từ trên nhìn xuống, mà phải luôn thấy mình khiêm nhượng
thấp kém hơn tất cả. Cần kính trọng người khác, vì người
khác có khả năng tương đương với hành động của Phật
đà, đó là khả năng mang đến cho chúng ta nguồn hạnh phúc
giác ngộ.
3.
Nguyện trong từng hành động
Tôi
luôn tự xét mình,
Phiền
não vừa dấy lên,
Ðe
dọa mình và người,
Nguyện
tức thì nhận diện,
Và
tức thì dẹp tan.
Trên
bước đường tu, thỉnh thoảng chúng ta gặp trở ngại. Trở
ngại không đến từ bên ngoài mà phát sinh ngay từ bên trong,
do vọng tâm mà có. Kẻ thù chân chính phá hủy hạnh phúc
của chúng ta là kẻ thù nội tại.
Nếu
cố gắng tu tập sẽ có được khả năng tự chế, được
vậy mới gọi là tự tại bình an thật sự. Vì vậy Phật
dạy: “Các con là thầy của chính mình”. Mọi sự đều
phải trông cậy vào chính mình.
Khi
tu phát tâm bồ đề chúng ta cần dẹp hết phiền não, tuy
vậy, cái cần diệt bỏ trước nhất vẫn là tâm giận dữ.
Ðã giận dữ thì không thể hạnh phúc, trong khi tham dục có
khi vẫn mang lại niềm vui.
Tục
ngữ Tây tạng có câu “bao giờ nổi cơn giận dữ, hãy tự
cắn đốt ngón tay”. Câu nói này có nghĩa là nếu lỡ nổi
giận thì đừng phát ra ngoài mà chỉ nên tự nói với mình
“thôi bỏ đi”.
4.
Khi gặp người hiểm ác
Vì
bị tâm phiền não
Và
ác nghiệp tác động,
Nguyện
tôi quí người ấy
Như
vừa tìm ra được
Kho
tàng trân quí nhất.
Có
nhiều người khi thấy người khác bị khổ đau khống chế,
bị vô minh phiền não bức bách, thường hay gắng tránh né
để khỏi liên lụy tới mình. Bồ tát thay vì tránh né, luôn
can đảm đến gần, vì đây là cơ hội quí giá để mang hạnh
phúc lại cho kẻ khác.
5.
Khi gặp người vì lòng
Ganh
ghen và đố kỵ
Miệt
thị phỉ báng tôi,
Nguyện
tôi nhận phần thua,
Nhường
đi mọi phần thắng.
Khi
người khác, nhất là những người oán ghét mình, vì ganh
ghen mà gây hại cho ta, ta không được từ bỏ họ mà phải
giữ gìn, thương yêu, chăm sóc họ với lòng đại bi.
Vì
vậy mà nói Phật tử phải nhận phần “thua” và tặng phần
“thắng” cho người.
Tâm
bồ đề thì phải biết nhận thua tặng thắng. Làm như vậy
không phải để tự thấy mình đạo đức hơn người, mà
chỉ giản dị vì muốn lợi ích chúng sinh. Còn nếu nhận
thua tặng thắng mà gây tổn hại đến cho người khác thì
đương nhiên không nên làm như vậy. Phật tử đại thừa
gặp trường hợp này cần nương theo lòng vị tha, khởi tâm
mong mỏi lợi ích chúng sinh để hành động ngược lại.
Hãy
suy nghĩ như vầy: gặp việc không vừa ý mà nổi giận mới
thật là thua, vì cơn giận sẽ tức khắc phá hủy niềm an
lạc trong tâm, về lâu về dài sẽ mang lại kết quả tai hại.
Ngược lại nếu bị xâm phạm mà vẫn không nổi nóng, đó
mới là chiến thắng thật sự.
Khi
tâm mất kiên nhẫn, nổi cơn giận dữ, trí óc sẽ mất hết
sáng suốt, không còn khả năng nhìn rõ sự việc. Nổi điên
lên vì giận sẽ làm mất hết khả năng phán xét. Giữ tâm
bình thản mới có thể sáng suốt quan sát tình hình, bao giờ
cần phản ứng quyết liệt thì phản ứng. Vậy mới là ý
nghĩa chân chính của thắng bại.
6.
Khi gặp người mà tôi
Giúp
đỡ, đặt kỳ vọng,
Lại
vong ân bội nghĩa
Gây
tổn hại cho tôi,
Nguyện
tôi xem người ấy
Là
một đấng tôn sư.
Khi
gặp người phụ ơn, ta thường cảm thấy chán nản không
muốn giúp. Gặp trường hợp này thật khó mà bỏ qua không
trách. Vì đây chính là trở ngại lớn cho lòng vị tha, nên
câu kệ này dạy ta cần đặc biệt quan tâm chăm sóc những
kẻ phụ ơn.
Kẻ
gây hại không những cần được quan tâm giúp đỡ, mà thật
sự còn là vị thầy dẫn dắt chúng ta trên đường tu. Phật
tử sẽ thấy kẻ thù mới đích thật là vị thầy cao quí
nhất của mình.
7.
Tóm lại tôi xin nguyện
Trực
tiếp và gián tiếp
Trao
tặng mọi lợi lạc
Cho
tất cả chúng sinh
Ðều
là mẹ của tôi
Từ
vô lượng kiếp trước.
Nguyện
[không đợi ai cầu
Vẫn]
âm thầm gánh chịu
Mọi
ác nghiệp khổ não
Thay
thế cho chúng sinh.
Người
khác nhiều vô tận, mà tôi chỉ có một, vì vậy dù tôi có
quan trọng đến đâu, người khác vẫn quí hơn. Có chút phán
đoán sẽ thấy hy sinh một để cứu vô lượng là việc rất
đáng làm, ngược lại hy sinh vô lượng chúng sinh chỉ vì
cá nhân một người là điều thật vô lý.
Ở
đây có một cách quán tưởng rất hữu hiệu. Hãy tưởng
tượng mình là một người rất ích kỷ, trước mặt có nhiều
người khác đang chịu khổ. Tưởng tượng chúng sinh đang
trải qua đủ loại khổ đau, trong khi đó kẻ ích kỷ kia vẫn
dửng dưng không quan tâm. Tưởng tượng vậy rồi thử nhìn
lại xem mình nghiên về bên nào hơn. Thái độ ích kỷ rất
khó dẹp bỏ, nhất là khi mới tu. Nhưng nếu kiên trì cố
gắng, chắc chắn sẽ thành công.
Người
nào đã biết chân thành nhận lãnh khổ đau và khuyết điểm
của chúng sinh về phần mình thì cũng nên tập cách tặng
cho chúng sinh tất cả mọi đức tính tốt lành cũng như mọi
hạnh phúc mình đang có.
Bảy
câu kệ trên dạy phương pháp tu hạnh bồ đề thuộc lãnh
vực qui ước, đó là phần phương tiện. Câu kệ thứ tám
nói về tâm bồ đề cứu cánh, là phần trí tuệ. Tu hạnh
bồ đề qui ước thì tích tập được phước đức tư
lương, còn tu hạnh bồ đề cứu cánh thì tích tập được
trí tuệ tư lương. Hai nguồn năng lực tư lương phước trí
này sẽ giúp ta thành tựu Sắc thân [Rupakaya] và Pháp thân
[Dharmakaya].
8.
Nguyện những điều nói trên
Không
bị vướng ô nhiễm
Bởi
tám ngọn gió chướng.
Nguyện
tôi thấy mọi sự
Hiện
ra trong cõi đời
Ðều
chỉ như huyễn mộng
Cho
tâm thôi chấp bám
Thoát
ràng buộc luân hồi.
Tu
để được sống lâu, tăng sức khỏe hay để được an vui
thành đạt trong cuộc sống là không đúng. Tu để người
khác thấy mình là đại hành giả cũng không đúng. Tu và thấy
đối tượng của lòng từ bi của mình có tự tánh, cũng không
đúng.
Phải
tu và hiểu rằng mọi sự đều như huyễn mộng. Thấy được
mọi sự như huyễn mộng là vì đã phủ nhận tự tánh của
sự vật, bỏ lại phía sau tất cả những gì là giả danh,
là danh từ và khái niệm. Ðó là chứng ngộ trong Phật giáo.
Chúng
ta có nói qua về tri kiến và hành động trong Phật giáo. Tri
kiến Phật giáo được gọi là duyên khởi. Duyên khởi tuy
có nhiều ý nghĩa, nhưng ý nghĩa vi tế nhất của duyên khởi
rất gần với tuệ giác tánh Không.
Duyên
khởi nói rằng không có điều gì thật sự có tự tánh. Hiểu
được duyên khởi là có được lòng tin chắc chắn về luật
biến hóa của thế giới hiện tượng qui ước. Từ đó mà
tu hạnh bồ đề để tích tập phước đức, và thiền quán
tánh Không, quán sự vật không có tự tánh, để tích tập
trí tuệ.
Phát
tâm bồ đề rồi dựa vào tâm ấy để tu sáu hạnh toàn hảo:
Thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Ðịnh và Tuệ. Sáu hạnh toàn hảo
còn có thể qui nạp thành ba môn vô lậu học: Giới, Ðịnh,
Tuệ.
Giới
là tự chế ngự, không làm việc bất thiện. Có tất cả
ba bộ giới, một là giới Ba la đề mộc xoa [Pratimoksha hay
Vinaya], còn gọi là “giải thoát cá nhân”; hai là giới Bồ
tát; ba là giới Kim cang.
Giới
Ba la đề mộc xoa có hai loại, dành cho người xuất gia và
dành cho cư sĩ. Cư sĩ có thể nhận hai loại giới, hoặc giới
nhận một ngày, hoặc giới nhận một đời.
Căn
bản của mọi giới là tránh phạm mười ác nghiệp, trong
đó có ba việc của thân: sát sinh, trộm cắp, tà dâm; bốn
việc của miệng: nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô
ác, không cần mà nói; ba việc của ý: tham lam, ác ý, tà kiến.
Tà
kiến nói ở đây chủ yếu là đoạn kiến, nghĩa là quan niệm
sai lầm cho rằng tất cả mọi sự rỗng rang không thật. Ngoài
ra còn những loại tà kiến khác như là tin có đấng sáng
tạo vạn năng.
Nói
về giới Bồ tát, quan trọng nhất phải biết dứt lòng vị
kỷ, đừng xem mình quan trọng hơn người khác, được như
vậy thì giữ được giới Bồ tát.
Riêng
nói về mật tông, mật tông có bốn bộ. Muốn hành trì hai
bộ mật tông cao nhất, phải thọ trì một số giới luật
gọi là giới Kim cang. Muốn giữ giới Kim cang, quan trọng nhất
phải biết tự chế không để tâm hiện tướng thế tục,
cũng không để tâm chấp bám vào sắc tướng cõi thế tục.
Nói
về ba môn vô lậu học Giới Ðịnh Tuệ, Giới là nền tảng
của Ðịnh, và Ðịnh là nền tảng của Tuệ. Một khi Giới
đã vững, phải tu Ðịnh và Tuệ.
Mặc
dù đại thừa hiển tông có hướng dẫn phương pháp tu Ðịnh
và Tuệ, nhưng Phật tử Tây tạng tin rằng trên lãnh vực
này pháp tu đại thừa mật tông thâm diệu hơn.
B.
Một pháp thiền Tây tạng
Vài
ba năm trước, tôi có soạn một tập sách nhỏ mang tựa đề
Pháp Thiền Mật Tông Đơn Giản dành cho Phật Tử Nhập Môn
[xin đọc phụ lục 1 trước khi đọc tiếp bài giảng này],
dành cho những người quan tâm đến Phật giáo mật tông Tây
tạng nhưng chưa có cơ hội nhận pháp quán đảnh(2) .
Ở
đây xin miễn giải thích mấy câu mở đầu tập sách. Hãy
bắt đầu từ đoạn “Quán tưởng”, với câu “Ngay khoảng
không trước mặt hiện ra trong quán tưởng...” v.v., hướng
dẫn phương pháp quán tưởng năm vị Hộ Phật(3) : Phật Thích
Ca ở giữa, xung quanh có bốn vị đại Bồ tát: Quan tự
tại, Kim Cang Thủ, Văn Thù Sư Lợi, và Quan Âm Tara [Quan Âm
Độ Mẫu].
Ở
đây xin nói thêm, mặc dù Phật giáo phủ nhận thuyết hữu
thần, không công nhận có đấng sáng tạo vạn năng, nhưng
trong Phật giáo, nhất là Phật giáo mật tông, có nói đến
mạn đà la và các vị thần. Lý do là vì bậc giác ngộ có
khả năng hóa hiện nhiều sắc tướng khác nhau. Phật Thích
Ca vẫn thường hóa hiện nhiều thân khác nhau để tạo lợi
lạc cho chúng sinh, để chúng sinh có cơ hội thấy được
thân Phật. Tướng, sắc và dạng của hóa thân Phật đều
tùy khả năng khuynh hướng của mỗi chúng sinh mà hoạt hiện.
Mặc
dù hóa thân Phật đều hiện khởi từ trí toàn giác của
Phật, nhưng vì hoàn cảnh và căn cơ của chúng sinh khác nhau
nên hóa thân Phật cũng mang nhiều sắc tướng khác nhau. Ngược
lại, Pháp thân không hình sắc nên ngoài chư Phật ra, không
ai có thể nhìn thấy. Mật pháp Kalachakra [Luân Thời] có hơn
bảy trăm vị thần nằm trong mạn đà la Kalachakra, thật ra
đều từ trí Phật hiện ra, đều là diệu dụng của trí
Phật.(4)
Ở
đây, đức Quan Tự Tại là hiện thân của lòng từ bi Phật;
đức Văn Thù Sư Lợi là hiện thân của trí tuệ Phật; đức
Kim Cang Thủ là hiện thân của năng lực, hay hành động của
chư Phật; và đức Quan Âm Tara, thân nữ của đức Quan Tự
Tại, là hiện thân của thiện hạnh của chư Phật.
Theo
Mật tông Tối thượng Du già, hai vị đại đệ tử của Phật
là tôn giả Mục Kiền Liên và tôn giả Xá Lợi Phất cũng
đều là Bồ tát. Nhưng nói chung hai ngài không phải là hiện
thân của thiện đức của Phật.
Nói
gọn lại thì “cảnh nhiệm mầu trong quán tưởng” là như
sau : Phật ngồi ở tòa sen chính giữa, chân xếp theo tư thế
kiết già, tay phải bắt ấn “mời đất chứng giám”, tay
trái cầm bình bát ngang bụng ; hai bên đức Phật, hơi thiên
về phía trước, là tôn giả Xá Lợi Phất và tôn giả Mục
Kiền Liên. Pháp là từ bỏ trọn vẹn cả hai chướng ngại,
phiền não chướng và sở tri chướng, vì vậy Pháp đi liền
với tâm thức, không hình sắc. Trong hình ảnh quán tưởng,
Pháp được thể hiện qua những cuốn kinh, đặt trên bàn
phía bên phải của đức Phật. Sau đó, quán tưởng trí toàn
giác vô sắc tướng của đức Phật qua dạng bảo tháp, đặt
ở phía bên trái của đức Phật. Kinh sách bên phải đức
Phật (là Diệt đế và Ðạo đế nơi Phật), và bảo tháp
bên trái đức Phật (là trí toàn giác của Phật), tất cả
đều thuộc về Pháp bảo.
Vậy
cảnh nhiệm mầu này hội đủ ba nẻo qui y, Phật bảo là
Phật ngồi chính giữa, Tăng bảo là chư Bồ tát và hai đại
đệ tử hai bên, và Pháp bảo và kinh sách và bảo tháp. Trong
ba nẻo qui y này, nẻo qui y chân chính là Pháp bảo, vì từ
trong tâm thức hễ thành tựu được Pháp là giải thoát được
toàn diện khổ não. Vì vậy Pháp chính là nơi chở che chân
chính.
Ðể
tâm đạt được kinh nghiệm thành tựu của Pháp, chúng ta
cần một vị thầy dẫn dắt. Ðó là Phật, là đấng đại
đạo sư. Ta cũng cần những người bạn đồng hành, cùng
tu trên con đường thoát khổ, cần những tấm gương sáng
để noi theo. Ðó là Tăng.
Công
phu qui y Tam bảo đi đôi với công phu phát tâm bồ đề, vì
vậy cần khởi lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh. Ðể
khởi lòng từ bi, hãy quán tưởng quanh mình là tất cả chúng
sinh. Kẻ thù ngồi trước mặt, vì họ là những người cần
được giữ gìn trân quí chứ không phải vì sợ họ chạy
trốn nếu để ngồi ở sau lưng.
Ngang
đây, Phật tử hãy suy nghĩ cho thật sâu về lòng vị tha,
quán niệm về cảnh bất an thiếu hạnh phúc của chúng sinh,
về nỗi khổ bén nhọn họ đang phải gánh chịu.
Khi
nghĩ về chúng sinh, không nên nghĩ một cách chung chung tổng
quát, mà phải nghĩ đến người thân gần như gia đình, bà
con, hàng xóm. Bằng không, nói tới đối tượng của lòng
từ bi lại giống như nói tới đối tượng của sự tranh
chấp.
Bây
giờ hãy nghĩ rằng muốn giải thoát khỏi khổ đau và nguyên
nhân của khổ đau, ta phải tin chắc rằng điều mà chúng
sinh thật sự cần, là thấy được chân tướng của thực
tại, thấy được nẻo qui y chân chính sẵn có trong tâm. Với
tâm nguyện như vậy, đọc câu qui y sau đây:
Nam
mô Phật, [Namo Buddhaya]
Nam
mô Pháp, [Namo Dharmaya]
Nam
mô Tăng [ Namo Sanghaya]
Ðọc
như vậy ba lần, hai mươi mốt lần, hay càng nhiều càng tốt.
Giọng đọc ra sao không quan trọng bằng động cơ và lòng
quyết tâm. Hãy phát khởi tâm nguyện trong sáng, khởi chí
quyết tâm, rồi đọc những dòng qui y nói trên.
Qui
y Tam bảo xong, Phật tử cúng dường bảy hạnh nguyện Phổ
hiền, như đã giải thích trong bài tụng.
Sau
đó, chú tâm nơi Phật và cảnh nhiệm mầu trong quán tưởng.
Bao giờ hình ảnh hiện ra rõ ràng, hãy quán tưởng có đài
ánh sáng nằm nơi tim của từng vị. Trên mỗi đài ánh sáng
là chủng tự: MUM của Phật, HRIH của ngài Quan Tự Tại;
DHIH của ngài Văn Thù Sư Lợi; HUM của ngài Kim Cang Thủ; và
TAM của ngài Quan Âm Tara. Mỗi chủng tự được bao bọc bằng
minh chú của từng vị.
Ngang
đây, tôi xin truyền lại năm bộ minh chú. Xin đọc theo tôi
ba lần:
Om
muni muni maha muniye svaha
[ôm
mu-ni mu-ni ma-ha mâu-ni-dê soa-ha]
(Minh
chú Phật)
Om
mani padme hum [ôm ma-ni pê-mê hùm]
(Minh
chú bồ tát Quan Tự Tại)
Om
wagi shvari mum [ôm wa-ghi soa-ri mâm]
(Minh
chú bồ tát Văn Thù Sư Lợi)
Om
vajra pani hum [ôm vai-ra pa-ni hùm]
(Minh
chú bồ tát Kim Cang Thủ)
Om
tara tuttare ture svaha [ôm ta-ra tu-ta-rê tu-rê soa-ha]
(Minh
chú bồ tát Quan Âm Tara).
Ðọc
năm câu minh chú này càng thường xuyên càng tốt. Trong khi
tụng chú phải quán về lòng vị tha, về từ bi, về ơn nặng
của chúng sinh đối với mình.
Cứ
như vậy, hướng về ba nẻo qui y mở tâm khát khao mãnh liệt.
Quán tưởng ánh sáng phóng ra từ chư Phật chư Bồ tát trong
quán tưởng.
Chú
của Phật Thích Ca là chính. OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SVAHA,
nghĩa là nắm vững giác ngộ.
Ðức
Quan Tự Tại hiện thân cho tâm đại bi của mười phương
Phật, nên Phật tử nào cố gắng phát tâm đại bi nên chuyên
tâm tụng chú OM MANI PADME HUM. Chú này cũng có thể tụng cho
người quá vãng.
Ðức
Văn Thù Sư Lợi hiện thân cho trí giác và trí tuệ của mười
phương Phật đà. Vì vậy tụng chú OM WAGI SHVARI MUM của Văn
Thù Sư Lợi rất tốt cho sinh viên học sinh đang đi học. Nếu
có người cần kiện tụng tranh cãi, tụng chú này cũng giúp
trí óc bén nhọn hơn.
Ðức
Kim Cang Thủ hiện thân cho năng lực và hành động của mười
phương Phật đà. Tụng chú OM VAJRA PANI HUM rất tốt khi cần
phá tan chướng ngại. Phật tử tu theo chánh pháp không được
mê tín dị đoan, tuy vậy có vài trường hợp thật sự bị
tà ma cõi khác quấy nhiễu, chú này có thể giúp phá tan loại
chướng ngại này.
Ðức
Quan Âm Tara hiện thân cho phần nội khí trong sáng thanh tịnh
nhất, là loại năng lực trong cơ thể, chuyên chở tâm thức
đến với đối cảnh, tác động thành hành động. Khí này
là một loại năng lực đặc biệt, rất vi tế. Muốn được
an lạc, tăng sức khỏe, tăng mạng sống, hay tăng tài sản,
nên tụng chú OM TARA TUTTARE TURE SVAHA, rất hữu hiệu.
Phật
tử nào đang muốn tu định, ngang đây nên chú tâm thiền chỉ.
Ðề mục thiền chỉ có rất nhiều loại. Hoặc chú tâm vào
đối tượng bên ngoài, hoặc chú tâm vào đối tượng bên
trong, hoặc chú tâm vào chính tâm mình, hay vào tánh Không.
Khi ngồi thiền chỉ, Phật tử cần cảnh giác nhận diện
năm loại chướng ngại cản trở không cho tâm an định, áp
dụng tám món hóa giải. Lại có nhiều điều phải biết về
chín giai đoạn phát triển, sáu lực, bốn chánh niệm, v.v....
Những điều này có thể đọc được trong sách khác(5) .
Tóm
lại, yếu tố quan trọng nhất cần có khi chỉ quán là tâm
phải nhập định nhanh và vững, đề mục phải tuyệt đối
rõ ràng, tâm quán sát phải thật trong sáng bén nhạy.
Có
hai điều khiến tâm không an định, một là trạo cử [kích
thích], hai là hôn trầm [trì trệ]. Khi ngồi thiền mà tâm
lăng xăng không chuyên chú, đó là trạo cử. Nên nghĩ đến
cảnh khổ có thể giảm bớt tình trạng kích thích này. Còn
khi ngồi thiền mà tâm rút vào quá sâu phía trong, trở nên
nặng nề, trì trệ, có khi biến thành chán ngán u sầu, đó
là hôn trầm. Trong trường hợp này, phải ráng nâng tâm lên
bằng cách nghĩ đến những điều vui vẻ, hay xả thiền, bước
ra trời rộng, hít thở khí trời, ở trong ánh sáng mà ngắm
phong cảnh thoáng rộng. Ðó là một vài phương pháp chữa
chứng trạo cử và hôn trầm.
Trong
lúc ngồi thiền có khi vướng phải trạng thái vi tế của
trạo cử và hôn trầm. Ðề mục không còn rõ nét, tâm giảm
độ chuyên chú. Gặp trường hợp này không cần phải kết
thúc buổi thiền, chỉ cần ráng quân bình tâm lại là được.
Còn nếu tâm dễ xao lãng thì nên ngồi thiền trong phòng tối,
đối mặt với bức tường.
Phật
tử nào muốn nghiêm chỉnh tu định, phải tổ chức chia một
ngày thành nhiều buổi ngồi thiền, có thể lên đến hai mươi
buổi, mỗi buổi kéo dài khoảng mười phút. Phải cố gắng
liên tục, như cố giữ một hòn than sao cho luôn đỏ hồng,
không để tắt.
Nếu
ngồi thiền quá lâu, tâm dễ rơi vào trạng thái hôn trầm
vi tế, đề mục không rõ nét, ngồi thêm chỉ phí thì giờ.
Lúc mới tập thiền tốt nhất là đừng ngồi quá lâu. Có
nhiều người ngồi trong tư thế rất đẹp nhưng thật ra chỉ
đang chìm đắm trong trạng thái hôn trầm, tâm trì trệ mờ
mịt. Hôn trầm nhiều sẽ khiến tâm càng lúc càng tối.
Chịu
khó ngồi thiền cho thật đúng cách, sẽ có lúc tâm đủ khả
năng chuyên chú vào một đề mục suốt bốn tiếng đồng
hồ, hoàn toàn không vướng hôn trầm hay trạo cử, được
như vậy là tiến bộ rõ rệt. Khi ngồi thiền đúng cách,
hệ thống hô hấp có khi sẽ ngừng trong một thời gian.
Tiếp
theo là thiền quán về tánh Không, về chân tánh của Phật.
Mọi sự vốn không có tự tánh, nên đức Phật mà chúng ta
về qui y nương dựa cũng không có tự tánh. Trước đây chúng
ta có đã suy nghĩ truy tìm về cái tôi, xem tôi là thân hay
là tâm, bây giờ hãy theo cùng một phương pháp để phân tích
thực tánh của Phật.
Nếu
tự hỏi Phật là thân Phật, hay là tâm Phật, sẽ không thấy
Phật ở đâu cả. Đức Phật tuy có thật, nhưng khi tìm xem
thực chất của đức Phật là gì, sẽ không thể tìm thấy
có gì là Phật, dù ở trong hay ở ngoài thân tâm. Từ đó
đi đến kết luận đức Phật chỉ là một cái tên gán lên
trên hợp thể của các thành phần thân tâm.
Tiếp
theo, thử nhớ lại xem đức Phật hiện ra trong trí mình như
thế nào. Sẽ thấy cũng tương tự như cái tôi hiện ra rõ
ràng chắc thật như một thực thể tuyệt đối, đức Phật
cũng vậy, cũng hiện ra trong trí chúng ta như một thực thể
tuyệt đối. Lại suy nghĩ rằng nếu đức Phật thật sự
là một thực thể tuyệt đối, vậy khi tìm xem danh từ Phật
ứng vào cái gì, lẽ ra phải tìm thấy. Nhưng thật sự là
không thể tìm thấy. Vì vậy có thể kết luận cái mà chúng
ta thấy về đức Phật thật ra không phải là chân tướng
của Phật.
chữ MUM, chủng tự của Phật
Ðể
biểu hiện tất cả thế giới hiện tượng khách quan bên
ngoài đều là Không, hãy quán tưởng như sau:
Ðức
Quan Tự Tại tan nhập vào đầu Phật. Ðức Văn Thù Sư Lợi
tan nhập vào yết hầu Phật (cuống họng). Ðức Kim Cang Thủ
tan nhập vào ngực Phật. Ðức Quan Âm Tara tan nhập vào rốn
Phật. Hai vị đại đệ tử tan vào hai bên thân hình Phật.
Giữ
lại hình ảnh một mình đức Phật cho thật rõ ràng, an định
nơi đó càng lâu càng tốt. Rồi đức Phật dần tan thành
ánh sáng, từ trên tan xuống và từ dưới tan lên, nhập vào
đài ánh sáng tròn giữa trái tim.
Đài
ánh sáng tan vào chuỗi minh chú. Chuỗi minh chú tan vào chữ
MUM ở giữa. Rồi chữ MUM cũng tan thành ánh sáng, chỉ còn
lại chóp nhọn trên đầu chữ MUM tiếng Tây tạng [xem hình
phía trên]. Rồi chóp nhọn cũng tan vào tánh Không. An trú một
lúc trong tánh Không của thế giới hiện tượng.
Khi
thu nhiếp sắc tướng của Phật về lại tánh Không, đừng
nghĩ rằng Phật không có thật, mà phải hiểu là Phật không
có tự tánh.
Bây
giờ từ giữa chân Không, đức Phật cùng chư Bồ tát lại
hiện ra. Giữ hình ảnh quán tưởng này trước mặt, rồi
hồi hướng công đức, chấm dứt buổi thiền.
C.
Hỏi đáp
Hỏi.
Khi
đạt đến trình độ nhập định của các bậc thánh giả,
có cần phải quán tưởng Phật và các vị Bồ tát với đầy
đủ mọi tánh đức như vậy hay không? Người tu khi đã đạt
đến trình độ cao có thể đến thẳng với Phật mà không
cần xuyên qua quá trình quán tưởng hay không?
Ðáp.
Theo cách tu mật tông này, có nhiều phương pháp giúp người
tu thâm nhập từng tánh đức của Phật, vì vậy mà có lời
giải thích về phương pháp quán tưởng như trên.
Trên
đường tu nói chung, đúng là không cần phải quán tưởng
Phật. Người tu có thể quán về tánh Không, hay về tâm Bồ
đề, không cần phải quán tưởng thân Phật. Quán tánh Không
là tu hạnh trí tuệ, còn quán tâm bồ đề là tu hạnh phương
tiện.
Mật
tông Tây tạng phần lớn đòi hỏi người tu phải quán tưởng,
là vì phương pháp này cho phép người tu đồng loạt thành
tựu sắc thân và pháp thân. Thành Phật là để cứu độ
chúng sinh. Cái có khả năng cứu độ chúng sinh là sắc thân
chứ không phải pháp thân. Vì vậy Bồ tát vì tâm bồ đề
mà phải cố gắng thành tựu sắc thân.
Muốn
thành tựu sắc thân, cần thuận theo nhân quả, tích tụ đầy
đủ nhân duyên dẫn đến sắc thân. Nhân quả chi phối toàn
bộ mọi hiện tượng vô thường, kể cả quả vị Phật,
vì vậy cần gom đủ nhân tố và duyên tố để thành tựu
sắc thân. Nhân tố này không thể có nhờ tu hạnh trí tuệ
mà chỉ có thể có nhờ tu hạnh phương tiện. Phước là nhân,
thành tựu sắc thân là quả.
Ðại
thừa hiển tông dạy sáu hạnh ba la mật. Tuy sáu hạnh này
cũng có thể làm nhân duyên thành tựu sắc thân Phật, nhưng
nhân tố chánh yếu vẫn nằm trong mật pháp Tây tạng. Đó
là một loại năng lực đặc biệt, gọi là khí. Còn tuệ
giác tánh Không là nhân tố chính yếu giúp thành tựu pháp
thân.
Vì
thân Phật có hai, nên nhân duyên thành tựu quả vị Phật
cũng có hai. Nếu phần năng lượng đặc biệt gọi là khí
không được phát khởi cùng lúc với tuệ giác tánh Không,
sẽ không thể có cái gọi là kết hợp phương tiện và trí
tuệ. Vì vậy người tu cần phát khởi một loại tâm thức
có đủ hai tính chất trí tuệ và phương tiện, nhờ đó đồng
loại thành tựu sắc thân và pháp thân.
Nếu
hỏi sắc thân của Phật ra sao, đương nhiên là không có câu
trả lời. Không thể nói sắc thân của Phật trông giống
như pho tượng. Nhưng ít ra chúng ta có thể có chút khái niệm
về hình ảnh của Phật mà con người trong thế giới này
có thể tưởng tượng ra được. Phải lấy hình ảnh đó,
hình ảnh của vị Hộ Phật với những sắc tướng tương
tự như sắc thân của Phật, rồi chú tâm vào đó, quán về
tánh Không của hình ảnh này.
Ở
đây người tu thấy được ảnh hiện của vị Hộ Phật,
đồng thời hiểu được tánh Không của hình ảnh ấy. Vậy
tâm này có đủ hai tính chất, quán hình dáng của vị Hộ
Phật, và hiểu về tánh Không. Hạnh phương tiện và hạnh
trí tuệ đều gói trọn đầy đủ trong cùng một tâm.
Vì
lý do này cần phải quán tưởng về đức Phật cùng chư Bồ
tát trong mạn đà la.
Hỏi.
Kính thưa đức Ðạt-lai Lạt-ma, tôi thường thấy trong chùa
hay treo trên tường dòng chữ sau đây:
Mọi
sự như bóng nước
Trong
sáng, thanh tịnh, không loạn động
Không
thể chấp bám, ngoài tầm nghĩ bàn
Không
tự tánh, không nơi chốn, thành lập hoàn toàn trong nhân quả.
Xin
ngài cho một lời giải thích về những dòng này.
Ðáp.
Câu thứ nhất nói rằng, nếu lấy tâm của người bình thường
như chúng ta đây mà xét, tất cả mọi hiện tượng đều
như ảnh hiện trên mặt nước. Mặc dù hiện ra như vậy,
nhưng chân tướng lại khác. Nhìn tựa như có tự tánh, nhưng
thật sự không phải là một thực thể tuyệt đối. Vì vậy
có sự mâu thuẫn ở đây. Cũng giống như khuôn mặt hiện
ra trên mặt nước trông giống khuôn mặt thật, nhưng thật
ra không phải.
Câu
thứ nhì nêu ra ba yếu tố: trong sáng, thanh tịnh, không loạn
động. Câu này nói về ba loại chướng ngại cần phải buông
xả, đó là chướng ngại đến từ phiền não [phiền não
chướng], chướng ngại án ngữ trí tuệ [sở tri chướng],
và chướng ngại ngăn cản tâm an định. Câu này nói rằng
nhờ thấu triệt tánh Không mà người tu thoát khỏi ba loại
chướng ngại này.
Câu
thứ ba nói về sự "không thể chấp bám, ngoài tầm nghĩ bàn",
có nghĩa là không thể dùng tâm phân biệt của kẻ phàm phu
như chúng ta đây mà đạt đến kinh nghiệm giác ngộ. Kinh
nghiệm giác ngộ này cũng không thể dùng khái niệm để mà
giải thích.
Câu
chót nói "không tự tánh, không nơi chốn, thành lập hoàn toàn
trong nhân quả", đây chính là ba cánh cửa giải thoát [Tam
giải thoát môn].
Hỏi.
Nếu sự vật chỉ do tâm thức đặt tên, vậy có phải tất
cả chỉ có trong trí tưởng tượng?
Ðáp.
Mặc
dù đích thật mọi sự đều chỉ là giả danh, ngoài danh từ
và khái niệm ra hoàn toàn không có thực thể nào cả. Tuy
vậy, khái niệm mà tâm thức gán đặt lên trên một vật
vẫn không thể biến thành chính vật đó. Tâm thức không
thể tùy tiện thao túng thế giới hiện tượng như vậy được.
Bằng không, nhận thức đúng đắn và nhận thức sai lầm
sẽ không khác gì nhau, đúng sai sẽ hoàn toàn đồng nhất.
Sự
vật tuy có thật, nhưng khi phân tách lại thấy không phải
là một thực thể tuyệt đối, vì vậy mà nói sự vật chỉ
là giả danh. Nói như vậy không có nghĩa là gán đặt khái
niệm nào lên cái gì thì cái ấy sẽ biến thành chính khái
niệm ấy.
Trong
Trung Quán Luận, ngài Long Thọ phủ nhận quan điểm cho rằng
Phật không phải là bậc toàn giác vì có khi hỏi mà Phật
không trả lời. Ngài Long Thọ nói rằng sự im lặng này mới
chính là bằng chứng của trí toàn giác của Phật.
Nói
như vậy có nghĩa là nếu biết nói ra không giúp được gì
thì nên im lặng. Một khi đã nói, lời nói phải mang lại
lợi ích. Trong mười ác nghiệp, có nghiệp gọi là nói lời
chia rẽ. Nếu nói để chia rẽ bạn bè thì dù nói thật cũng
vẫn không phải là điều hay, cần phải tránh. Khi lời nói
mang lại lợi ích thì dù nói không đúng sự thật cũng vẫn
là thiện nghiệp. Tất cả đều tùy lời nói có mang lại
lợi ích gì hay không.
Trong
một số giáo pháp, Phật dạy rằng ngũ uẩn như gánh nặng,
mình là kẻ khuân vác. Ở đây, Phật giải thích cái tôi như
một chủ thể tuyệt đối. Ðiều này mâu thuẫn với giáo
thuyết rốt ráo của Phật. Phật nói vậy là để tạo lợi
ích cho những người tin tưởng quá sâu vào cái tôi. Nếu
nói thẳng rằng cái tôi không có thật, những người này
sẽ đi đến kết luận sai lầm rằng chẳng có cái gì thật
sự quan trọng.
Hỏi.
Thưa đức Ðạt-lai Lạt-ma, lý luận có phải luôn có giá
trị tuyệt đối hay không?
Ðáp.
Có vài loại hiện tượng có thể dùng trí thông minh bình
thường để mà hiểu được. Lại có loại hiện tượng không
thể nhận thức, tiếp cận, trừ phi tâm thức đạt đến
trình độ cao siêu hơn. Nhưng ngay cả những trạng thái tâm
thức cao siêu cũng phải thuận theo lý luận.
Phật
giáo đại thừa có câu khẳng định rằng giáo pháp của Phật
có hai loại: loại mang nghĩa rốt ráo và loại mang nghĩa giai
đoạn(6) . Một số giáo pháp của Phật có thể hiểu theo
nghĩa đen, một số khác không thể.
Vậy
làm sao có thể phân biệt đâu là ý nghĩa rốt ráo, đâu là
ý nghĩa giai đoạn? Chỉ nhờ vào lý luận. Vì Phật luôn tùy
hoàn cảnh mà đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau. Ðể
tránh tình trạng đoán mò, cần phán xét dựa trên nền tảng
của lý luận. Luận điểm nào không thể dùng lý luận để
bát bỏ, luận điểm ấy mang nghĩa rốt ráo của lời Phật
dạy.
Hỏi.
Thưa ngài, trong mật giáo chúng ta cần quán tưởng kẻ thù
đứng trước mặt. Kẻ thù chân chính thật ra là tâm hư vọng,
vậy có cần phải giữ tâm hư vọng đứng ở trước mặt
như vậy hay không?
Ðáp.
Chúng ta cần phải đồng ý với nhau rằng, nói theo lẽ thông
thường, có nhiều loại người được xem là bạn hay là thù.
Mặc dù có những trường hợp chúng ta tưởng lầm bạn là
thù vì không hiểu được động cơ hành động của người
ấy, nhưng nói chung, vẫn có thể đồng ý với nhau rằng có
người được chúng ta gọi là bạn, lại có người bị chúng
ta xem là thù.
Nếu
có thứ kẻ thù từ đầu chí cuối vẫn luôn là thù thì kẻ
thù ấy chỉ có thể là tâm hư vọng của chính mình. Nhưng
điều này không có nghĩa là chúng ta không có kẻ thù bằng
xương bằng thịt phía bên ngoài.
Nếu
có người cố tình hại ta, người này cần được xem là
đối tượng của lòng kiên nhẫn: nhờ người ấy, ta có thể
thực hành hạnh nhẫn. Còn nếu chú tâm vào vọng tâm của
mình để tu hạnh nhẫn thì chẳng được lợi ích gì. Mục
đích của phương pháp tu này là để loại bỏ tâm lý thù
hận và thương yêu thường vẫn dấy lên trước người được
xem là thù hay bạn, để cố gắng chận đứng những xáo trộn
tình cảm đến từ phiền não.
Trong
trận chiến chống kẻ thù bên trong, Phật giáo dạy bước
đầu tiên phải là phòng thủ. Bước thứ nhì mới là tấn
công. Khi mới bước vào đường tu, chúng ta không có khả
năng chiến thắng phiền não, vì vậy phải cố gắng phòng
thủ để tâm khỏi rơi vào tầm khống chế của phiền não.
Ðiều người cư sĩ có thể làm ngay tức khắc là tự chế
không để thân miệng ý phạm mười ác nghiệp, như sát sinh,
trộm cắp v.v... Ðây là phương pháp có thể tu liền tức
thì.
Nói
chung, ai cũng thấy sát sinh là tội ác. Phần lớn pháp luật
quốc gia đều trừng phạt tội giết người. Và ai cũng công
nhận trộm cắp là không tốt. Là Phật tử, tu hành theo Phật
pháp, cho dù có cảnh sát đứng một bên hay không, cũng vẫn
phải giữ gìn hành vi của mình cho thật trong sáng. Tránh sát
sinh, tránh trộm cắp. Phật tử có riêng một đại đội cảnh
sát nằm ngay trong tâm. Bao giờ cũng cảnh giác, luôn xem xét
hành động lời nói ý nghĩ của chính mình, luôn cẩn thận
nhìn xem động cơ hành động của mình có trong sáng hay không.
Có
một phương pháp rất hữu hiệu, là mỗi sáng thức dậy tự
nói với mình như sau: "Từ giờ cho đến khi chết sẽ luôn
như vậy, nhưng đặc biệt ngày hôm nay, tôi sẽ ráng sống
trong chánh đạo. Phải cố gắng giúp đỡ người khác, ít
ra là không gây hại cho ai". Dù là thương gia, kỹ sư, nhà
giáo, hay làm bất cứ nghề nào, cũng phải nên sống theo như
vậy. Ngay cả trong chiến tranh cũng cần giữ giới. Dù có
phải giết người cũng phải hành động trong tinh thần giữ
giới, đừng đánh mất tính người. Chỉ làm vì không thể
khác hơn được.
Chiến
tranh thời nay sử dụng quá nhiều vũ khí máy móc nên mất
hết tính người. Máy móc đương nhiên không có lòng thương
cảm, vì vậy chiến tranh thời nay rất tàn khốc. Ðàn bà
trẻ em bị giết chỉ vì bom đạn không có ý thức, không
biết phân biệt.
Tôi
thật sự nghĩ rằng chúng ta đang dựa vào máy móc quá nhiều.
Trong lãnh vực xây dựng, máy móc rất hữu ích, nhưng không
phải ở lãnh vực nào cũng vậy. Ðời sống hàng ngày của
con người cần được đặt trên nền tảng của luân lý.
Ðội
ngũ cảnh sát, cơ quan tình báo, tòa thẩm phán, tất cả phải
nằm ở bên trong. Chúng ta nên tự làm cảnh sát và quan tòa
cho chính mình. Nếu làm điều gì sai, cần nhận diện, tự
trách phạt, không phải trách phạt thể xác mà trách phạt
tinh thần. Phải biết hối hận nhận lỗi.
Rồi
buổi tối trước khi đi ngủ, đừng đếm lời lỗ tiền bạc
mà hãy soát lại hành vi tâm thức của mình trong ngày. Tự
hỏi xem tâm mình đã làm được bao nhiêu việc tốt lành,
đã phạm bao nhiêu điều bất thiện.
Cố
gắng để ý như vậy, dần dần sẽ tiến bộ. Người dễ
nổi giận sẽ ôn hòa hơn. Ðó là bước đầu tiên trên đường
tu. Từ từ sức mạnh nội tại tăng, tâm có khả năng tự
chế không phạm điều bất thiện, chúng ta trở thành người
chân thành, với trái tim nhân hậu, không hại người khác,
giàu lòng từ bi, nhiều quan tâm đến kẻ khác. Những đức
tính này càng tăng, tâm càng an định tự tại. Người tu sẽ
thấy mình giàu can đảm giàu nghị lực hơn, ý chí cũng mạnh
hơn. Ðó là những đức tính tốt của con người.
Tôi
thường nói từ bi nhân hậu là giá trị chung của mọi tôn
giáo, dù tin tái sinh hay không, tin đấng Tạo hóa hay không,
tin Phật hay không. Sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ chết. Nếu
đợi đến khi chết mới nhìn lại quá khứ để hối hận
thì đã quá muộn, đúng không ? Ngay bây giờ phải biết sống
từng ngày cho thật có ích. Ðừng hại kẻ khác, gắng sức
giúp đỡ mọi người. Ðến phút cuối cùng, quí vị sẽ thấy
hài lòng với đời sống của mình. Dù bạn bè người thân
vẫn sẽ khóc, nhưng quí vị không có gì để hối tiếc. Là
Phật tử, quí vị cấy trồng những hạt giống tốt lành
trong đời này, vì vậy có thể tin chắc rằng kiếp sau sẽ
tốt đẹp hơn.
Cứ
tu như vậy, đến một lúc nào đó ta sẽ phải bắt đầu
nghĩ đến tánh Không. Ðây là điểm khởi đầu của giai đoạn
tu thứ hai, là giai đoạn tấn công kẻ thù phiền não. Ở
đây cũng vậy, yếu tố chính vẫn là động cơ, là tâm nguyện
của mình. Nếu tôi nhớ không lầm, cựu thủ tướng Morarji
Desai có lần nói với tôi về tinh thần bất bạo động, cho
rằng phương pháp hành động mới là điều đáng nói. Dù
động cơ và kết quả có tốt lành chăng nữa, nếu dùng phương
pháp bạo động thì vẫn không phải là điều hay. Ðó là
quan điểm của cựu thủ tướng.
Trong
quan điểm Phật giáo, động cơ và kết quả luôn quan trọng
hơn phương pháp hành động. Nếu động cơ tốt mà kết quả
xấu thì động cơ quan trọng hơn. Dù không thành công, nếu
tâm nguyện chân thành thì vẫn tốt hơn.
Tây
tạng có một câu chuyện như sau: một hôm trời đổ mưa lớn,
bên đường có pho tượng Phật đẫm nước mưa. Có người
đi ngang thấy vậy nghĩ rằng: "Không thể để Phật ướt".
Anh ta nhìn quanh, thấy có đôi giày cũ vất bên đường, bèn
nhặt để lên đầu tượng Phật để che mưa.
Một
người khác đi ngang, thấy vậy nghĩ rằng: "Ai lại để giày
trên đầu tượng Phật?" Anh ta bèn lượm giày vất đi. Cả
hai đều có tâm tốt lành đối với tượng Phật, vì vậy
hành động tuy trái ngược nhưng đều gieo thiện nghiệp như
nhau.
Như
vậy chúng ta vừa nói xong về phương pháp điều phục, thanh
tịnh và chuyển hóa tâm thức. Ðây là những vấn đề rất
quan trọng, rất khó tu trong bước khởi đầu. Nhưng với thời
gian, nếu quí vị chịu khó kiên trì cố gắng, nhất định
sẽ có tiến bộ.
(1)
Rinpoche nghĩa đen là quí giá, thường dùng gọi các bậc chân
tu thật chứng.
(2)
Thông thường muốn tu theo mật pháp phải trực tiếp thọ
pháp từ một vị đạo sư. Ở đây đức Đạt-lai Lạt-ma
đặc biệt soạn ra nghi thức hành trì mật tông này dành cho
Phật tử không có cơ hội tìm gặp đạo sư, có thể theo
sách mà hành trì.
(3)
Sát nghĩa tiếng Anh phải dịch là "năm vị thần". Xem chú
giải trang sau.
(4)
"Thần" (deity) vừa là chữ dùng để gọi thần linh cõi thế
tục, vừa dùng để gọi thân chư Phật, chư Bồ tát hoạt
hiện trong mạn đà la. Vì vậy mà có lời giải thích trên
của đức Ðạt-lai Lạt-ma. Ở đây vì chữ Thần ứng vào
Phật và bốn vị đại Bồ tát nên bản tiếng Việt dịch
thành năm đấng Hộ Phật.
(5)
Tham khảo thêm về phương pháp tu thiền chỉ: Gen Lamrimpa, Calming
the Mind: Tibetan Buddhists Teachings on the Cultivation of Meditative
Quiescence [Ðịnh Tâm: Pháp tu Thiền Chỉ trong Phật Giáo Tây
Tạng]. Ithaca: 1995, Snow Lion Publications.
(6)
liễu nghĩa và bất liễu nghĩa.