Chương 2.
Thực chất
đường tu
Bồ
tát Quan Tự Tại
hiện
thân cho lòng Từ Bi của chư Phật
A.
Nhị đế
Giải
thích về thế giới hiện tượng rồi, bây giờ tôi xin giải
thích về các giai đoạn tu chứng.
Chúng
ta ai cũng muốn hạnh phúc, lánh khổ đau. Phật giáo nói con
người ai cũng có quyền thực hiện hai mục tiêu này trong
cuộc sống. Hạnh phúc và khổ đau có nhiều loại, nói chung
có thể qui nạp thành hai: thể xác và tinh thần. Kinh nghiệm
tinh thần luôn quan trọng hơn kinh nghiệm thể xác.
Phật
dạy có nhiều cách diệt bỏ khổ đau tinh thần, thành tựu
an lạc. Phương pháp diệt khổ được Phật nói trong Diệt
đế, là chân lý thứ ba của Tứ Diệu Ðế.
Diệt
đế là chân lý về sự tận diệt của khổ đau, còn được
gọi là giải thoát, là niết bàn. Ðây là trạng thái tâm
thức hoàn toàn tách lìa mọi hư vọng phiền não.
Tâm
vốn có khả năng tách lìa hư vọng phiền não. Muốn hiểu
được điều này, cần hiểu về hai chân lý là Chân đế
và Tục đế, nói cách khác, là chân lý rốt ráo và chân lý
qui ước (khác với Tứ Diệu Ðế). Tôi sẽ giải thích dưới
đây về Chân đế và Tục đế dựa theo quan điểm của tông
phái Trung quán Cụ duyên [Prasangika-Madhyamika].
Phật
giáo có bốn tông phái: hai tông phái tiểu thừa là Tì bà
sa luận bộ và Kinh lượng bộ; hai tông phái đại thừa là
Duy thức và Trung quán(1) . Bốn tông phái này xuất phát từ
lời giáo huấn của Phật, nhưng lại không đồng quan điểm
với nhau về Nhị đế, mặc dù tông phái nào cũng đều căn
cứ luận điểm của mình lên chính lời Phật dạy.
Làm
sao có thể biết kiến giải nào đúng hơn? Chính đức Phật
có đề nghị một phương pháp tiếp cận như sau:
Này
các tỷ kheo, các bậc hiền giả / xin các vị đừng vì kính
ngưỡng Thế tôn mà tin lời Thế tôn nói / hãy phân tích tỉ
mỉ như thợ kim hoàn thử vàng / rồi mới nên tin lời Thế
tôn.
Cụ
thể hơn, Phật giáo có nói về tứ pháp y, nghĩa là bốn nơi
đáng tin cậy, đó là: 1. dựa theo giáo pháp, không theo cá
nhân người nói pháp; 2. dựa theo ý nghĩa, không theo ngôn từ;
3. dựa theo ý nghĩa rốt ráo, không theo ý nghĩa giai đoạn;
4. dựa theo kinh nghiệm thực chứng, không theo kiến thức .
Vậy chính đức Phật khuyến khích Phật tử phân tích mổ
xẻ lời Phật dạy. Phải dùng trí tuệ phán xét quan điểm
nào chính xác chứ không thể chỉ trích dẫn lời dạy của
Phật.
Hai
tông phái đại thừa (Duy thức và Trung quán) công nhận tánh
Không của sự vật [pháp vô ngã], còn hai tông phái tiểu thừa
(Tì bà sa luận bộ và Kinh lượng bộ), chỉ công nhận tánh
Không của con người [nhân vô ngã], không công nhận tánh Không
của sự vật.
Tì
bà sa luận bộ và Kinh lượng bộ khẳng định sự vật có
tự tánh. Duy thức cho rằng sự vật sinh ra từ ấn tượng
của tâm thức. Trung quán chia thành hai hệ phái: Trung quán
Y tự khởi(2) nói rằng tất cả mọi hiện tượng chỉ
đơn thuần là tên gọi và khái niệm; Trung quán Cụ duyên
nói rằng mọi hiện tượng tuy vô ngã, nhưng vẫn thực sự
hiện hữu trên lãnh vực qui ước.
Dựa
theo lý luận mà nói, dùng tâm phân tích để truy tầm chân
tướng của thực tại thì biết được Chân đế [chân lý
rốt ráo], còn dùng trực giác để truy tầm thực tại thì
biết được Tục đế [chân lý qui ước].
Xét
trên Tục đế, một cuốn sách, ví dụ vậy, nhìn giống như
một thực thể độc lập, cố định, có tự tánh. Sách là
một món đồ có thể cầm lên, lật từng trang, đọc từng
chữ. Vì vậy chúng ta mặc nhiên nghĩ món đồ này có chủ
thể và gọi chủ thể ấy là "sách". Nhưng nếu truy tìm sâu
xa hơn, sẽ thấy cái gọi là "sách" thật ra chỉ là tập hợp
của nhiều thành phần. Toàn bộ cuốn sách là tổng hợp của
tất cả hình dáng, màu sắc, chức năng, ví dụ như ý nghĩa
tư tưởng có trong sách, hay sách này có thể dùng để chặn
giấy. Mỗi thành phần của cuốn sách đều có thể phân thành
nhiều phần nhỏ hơn, ví dụ như mực, giấy... những thành
phần này lại có thể phân thành nhiều phần nhỏ hơn nữa,
cứ như vậy phân chia mãi, không giới hạn. Rốt lại, cái
có thể tìm thấy chỉ là tổ hợp của nhiều thành phần,
được gọi chung là “sách”, còn chính cuốn sách thật sự
là gì, càng tìm càng không thể kiếm ra.
Mọi
sự vật khác đều tương tự như vậy, tuy có thật, nhưng
chỉ có trên lãnh vực qui ước của Tục đế. Xét theo Chân
đế, sự vật chỉ có thể hiện hữu nhờ mối tương quan
giữa các yếu tố bên ngoài.
Tất
cả mọi sự đều hiện hữu trong một môi trường gọi là
duyên sinh. Gắng tìm cho ra một điều gì, sẽ chỉ gặp cái
tên do khái niệm gán đặt lên tổ hợp của nhiều thành phần,
ví dụ như danh từ “sách” vừa nói trên đây. Hơn nữa,
chính ý thức phân biệt chủ động đặt tên kia cũng lệ
thuộc vào dòng tâm thức: điểm tâm thức trước sinh ra điểm
tâm thức sau, liên tục không khởi đầu. Hoàn toàn không có
một thực thể nguyên thủy nào có tự tánh có thể đặt
làm nền tảng chắc thật cho cái tên.
Thử
lấy một ví dụ trừu tượng hơn. “Dài” và “ngắn", thật
ra có nghĩa gì? Nhìn lại bàn tay, ngón đeo nhẫn dài hơn ngón
út, nhưng lại ngắn hơn ngón giữa. Muốn nói ngón đeo nhẫn
dài hay ngắn hãy còn tùy vào hai ngón hai bên, chứ ngón tay
tự nó không có tính chất ngắn dài.
Suy
nghiệm như trên sẽ thấy mọi hiện tượng đều không có
tính chất độc lập, chỉ dựa vào nhau mà có. Áp dụng lý
luận này vào bản thân, sẽ dẫn đến hai loại vô ngã: vô
ngã ứng vào con người và vô ngã ứng vào đối cảnh. Hai
loại vô ngã này được gọi là nhân vô ngã, và pháp vô ngã.
B.
Ngã
Có
nhiều hệ thống khẳng định có cái tôi trên lãnh vực qui
ước [Tục đế]. Theo một số kinh sách không phải Phật giáo,
cái tôi – hay ngã – được định nghĩa là một hiện tượng
thường hằng, bao trùm, không thay đổi hủy diệt, nằm ngoài
thân tâm con người. Phật giáo không công nhận có cái ngã
như vậy.
Theo
kinh điển Phật giáo, ngã có liên hệ mật thiết với thân
tâm chứ không biệt lập bên ngoài.
Năm
hợp thể tạo thành một người [ngũ uẩn] được chia thành
hai thành phần chính: vật lý và tâm lý, còn gọi là thân
và tâm. Từ bẩm sinh, con người tự nhiên cho rằng thân này
thuộc về tôi. Lại cũng có cảm giác rất tự nhiên cho rằng
tâm cũng vậy, cũng thuộc về tôi. Vì vậy mà thấy cái tôi
với thân tâm không phải là một. Tuy đây là cảm giác bẩm
sinh, nhưng nếu dùng lý trí phân tích thì lại thấy cái tôi
thật ra không thể nằm ngoài thân tâm.
Mặt
khác, nếu cái tôi hoàn toàn không có, vậy sẽ chẳng làm
sao có được con người. Theo đó mà nói, tuy cái tôi có thật,
nhưng lại không thể tìm thấy khi phân tích truy tìm, điều
này cho thấy cái tôi thật ra không hiện hữu độc lập.
Theo
Trung Quán, đây chính là ý nghĩa của chữ giả danh, chỉ là
cái tên, không có nền tảng chắc thật. Nên hiểu rằng tuy
chúng ta thấy sự vật độc lập có tự tánh, nhưng cái thấy
này lại không phù hợp với kết quả tìm thấy qua sự phân
tích.
Vì
sao những gì tìm thấy qua sự phân tích lại đáng tin cậy
hơn? Vì cái thấy thông thường của chúng ta luôn dẫn đến
sự chấp bám có tự tánh, từ đó phát sinh nhiều phiền não
như tham ái, cố chấp. Phủ nhận tự tánh, hiểu được sự
vật vốn không có chủ thể, phiền não sẽ không thể phát
sinh.
Mọi
trạng thái tiêu cực của tâm thức đều bắt rễ từ tâm
chấp ngã. Tâm này hư vọng méo mó. Nhờ phủ nhận tự tánh
của sự vật, gốc rễ của phiền não sẽ bị chặt đứt.
Muốn
đoạn diệt phiền não, cần bước qua ba chặng đường. Trước
hết, đừng để phiền não có cơ hội phát sinh. Tiếp theo,
ráng diệt bỏ phiền não. Sau cùng, ráng diệt bỏ cả tập
khí của phiền não còn sót lại trong tâm thức.
Ba
giai đoạn này dẫn đến ba loại thành tựu như sau: một,
nhờ tự chế không phạm ác nghiệp thân và miệng nên thành
tựu được kiếp tái sinh trong thiện đạo; hai, nhờ diệt
phiền não nên thành tựu giải thoát niết bàn; ba, nhờ diệt
bỏ được tập khí của phiền não nên thành tựu trí toàn
giác của Phật. Ðó là con đường tu chứng. Con đường này
được giải thích qua ba môn vô lậu học Giới Ðịnh Tuệ.
Giới
là chế ngự hành động và lời nói của mình, không để
phạm ác nghiệp. Nhờ giữ giới như vậy nên tránh được
mọi xao lãng thô lậu của tâm thức.
Ðịnh
là định tĩnh thu nhiếp tâm thức, thành tựu trạng thái tập
trung tối đa, diệt bỏ toàn bộ mọi xao lãng vi tế của tâm
thức.
Nhập
Ðịnh quán tánh Không thì được Tuệ.
Ba
môn vô lậu học Giới Ðịnh Tuệ có khả năng giải thoát
người tu ra khỏi ba loại khổ. Nhờ Giới mà thoát khỏi dục
giới, lên sắc giới, diệt được loại khổ đau thể xác
tinh thần [khổ khổ]. Nhờ Ðịnh mà thoát khỏi sắc giới,
diệt được loại khổ đau đến từ sự thay đổi [hoại
khổ]. Nhờ Tuệ mà thấy được chân tướng của sinh tử,
diệt được tất cả các loại khổ đau đến từ cảnh sống
trong luân hồi [hành khổ].
C.
Hỏi đáp
Hỏi.
Trung quán Cụ duyên cho rằng thế giới hiện tượng chỉ có
qua khái niệm. Nếu thật là như vậy, có phải ngay cả hiện
hữu khách quan của sự vật cũng đã bị phủ nhận?
Ðáp.
Trung quán Cụ duyên nói sự vật chỉ là giả danh, điều này
không phủ nhận thực tại khách quan, không phủ nhận những
hiện tượng không có tên, mà chỉ khẳng định rằng nhận
thức của chúng ta thường không phải là nhận thức đúng
đắn.
Trung
quán Cụ duyên đi đến kết luận rằng bản thể của sự
vật là điều không thể tìm thấy, nói như vậy không phải
là khẳng định sự vật không hiện hữu, mà chỉ là khẳng
định sự vật không có tự tánh.
Ngài
Long Thọ trong bài kệ mở đầu Luận Trung quán có giải thích
rằng dù trên lãnh vực qui ước vẫn có đi có đến, có sinh
có diệt, nhưng nếu phân tích truy tìm, sẽ thấy sự vật
hoàn toàn không có tự tánh. Có thể nói cái bàn này
không có tự tánh là vì nó có thật, do nhân duyên mà có.
Chính vì cái bàn này có thật, nên không thể có tự tánh.
Trái
lại,
Duy thức tông vì không thể tìm ra chủ thể của sự vật
khách quan nên kết luận rằng hiện tượng khách quan không
nằm ngoài tâm thức mà mang cùng tính chất với tâm thức.
Duy thức tông cho rằng thế giới khách quan bên ngoài không
có thật, và khẳng định hiện hữu của thế giới tâm thức
bên trong.
Hỏi.
Xin ngài giải thích sơ qua về cuộc tranh luận giữa thánh
tăng Ấn độ Kamalashila và đại sư Trung hoa Hashang.
Ðáp.
Vào thời của thánh Shantarakshita, có nhiều vị đại sư Trung
hoa sống trên đất Tây tạng, được gọi chung là Hashang [hòa
thượng]. Thời ấy ở học viện Samye, các nhà dịch giả,
hành giả mật tông hay thiền giả đều ở riêng theo từng
dãy nhà. Các vị Hashang ngụ tại tu viện gọi là "Cõi Ðại
Ðịnh Bất Ðộng(3) ", chỗ dành riêng cho người tu thiền.
Vào
thời đó, các vị Hashang lấy thiền định làm công phu tu
tập chính. Phương pháp tu của các vị không có gì sai, chỉ
chuyên về thiền định. Khế kinh có nơi nói rằng nếu không
ly niệm sẽ không thể giải thoát. Vào thời của ngài Kamalashila,
nhiều vị Hashang hiểu sai câu nói này, cho rằng bất cứ loại
niệm nào cũng là khuyết điểm của tâm.
Trong
Mật tông Tối thượng Du già, khi muốn thâm nhập ánh sáng
chân như chủ thể(4) , người tu cần ly niệm, vì còn niệm
thì khí vi tế sẽ không thể về an trụ trong đường khí
mạch trung tâm. Tuy vậy, cần ly niệm không phải vì niệm
nào cũng là vọng niệm chấp ngã, mà chỉ vì trong giai đoạn
này người tu phải ra sức thu nhiếp năng lực về lại đường
khí mạch trung tâm, khi ấy ngay cả chánh niệm cũng trở thành
chướng ngại, nếu còn nằm trong phạm vi của khái niệm phân
biệt.
Vì
không hiểu được điểm này nên nhiều vị Hashang cho rằng
niệm nào cũng là vọng niệm chấp ngã. Vì vậy sinh ra nhiều
lầm lẫn xáo trộn. Trong một vài trường hợp đặc biệt
có thể là cần phải ly niệm, nhưng nếu bất cứ niệm nào
cũng lìa bỏ thì không cách gì có thể khai mở trí tuệ.
Theo
tôi, ý nghĩa của cuộc tranh luận này là như vậy. Nếu nói
các vị Hashang đều sai cả, vậy tại sao ngài Shantirakshita
lại còn cho phép mở cuộc tranh luận? Nếu nói rằng kiến
giải của các vị Hashang hoàn toàn đúng, vậy Kamalashila đâu
cần phải phủ nhận.
Hỏi.
Tôi có chút thắc mắc về mối tương quan giữa thiền minh
sát (vipashyana) và thiền mật tông. Theo thiển ý, thiền minh
sát dựa trên tính chất vô thường của tâm, là bước trước
của vô ngã. Còn thiền mật tông lại chuyên chú về hình
sắc bên ngoài, dễ khiến tâm xao lãng. Phương pháp phức tạp
như vậy làm sao có thể thích ứng với nét giản dị của
vô ngã?
Ðáp.
Ðiều này tôi sẽ giải thích sau. Cần nói ngay bây giờ là
mật tông rất khó tu, không dễ chút nào cả. Phương pháp
tu này có ý nghĩa đặc biệt, có lý do đặc biệt, vì tu theo
mật tông, tâm thức có thể đồng thời tích lũy được cả
hai loại tư lương phước trí.
Tu
theo đại thừa hiển tông, nếu chuyên chú thiền chỉ quán
tánh Không thì sẽ tích tập được một loại tư lương gọi
là trí, còn nếu phát tâm bồ đề hay tâm từ bi thì sẽ tích
tập được một loại tư lương khác, gọi là phước. Cùng
một lúc, nếu đang tích tập phước đức thì không thể tích
tập trí tuệ, và ngược lại, nếu đang tích tập trí tuệ
thì không thể tích tập phước đức.
Còn
tu theo đại thừa mật tông thì vận dụng trí tuệ chứng
tánh Không [không tuệ] để hoạt hiện thành thân Phật. Mạn
đà la, thân Phật, tất cả thâm nhập trong chân tánh của
thực tại, trong tánh Không. Loại trí tuệ này đồng thời
tích tụ được cả hai bồ tư lương phước trí. Ðó là đặc
điểm của mật tông. Giải thích thì rất dễ, tu được hay
không lại là chuyện khác.
Phương
pháp tu này cũng có thể gọi là thiền minh sát, vì thiền
minh sát có nhiều mức độ.
Hỏi.
Xin ngài cho biết ý kiến về vô thường. Nhiều tổ chức
xã hội, ví dụ như chính phủ, hay như tập tục hôn nhân,
nói chung đều dựa trên nền tảng của những mối tương
giao lâu bền. Nhìn theo Trung Quán, có thể nói rằng mọi tổ
chức xã hội đều vô ích dư thừa, thậm chí mâu thuẫn với
công phu tu tập.
Ðáp.
Nói về vô thường, hễ một hiện tượng tùy nhân duyên mà
sinh ra thì cũng sẽ vì nhân duyên mà thay đổi.
Ví
dụ cái bàn trước mặt tôi đây. Hôm qua chúng ta đã thấy
nó. Nhưng cái bàn ngày hôm qua thật ra không phải là cái bàn
ngày hôm nay. Cuốn sách này cũng vậy. Hôm nay nằm ở đây
nhưng cuốn sách của hôm qua bây giờ đã không còn. Mọi hiện
tượng đều thay đổi liên tục, từng ngày, từng phút, từng
giây. Ðiều này khoa học cũng đã khẳng định khi quan sát
các phân tử cực vi, thấy chúng liên tục thay đổi.
Sự
vật biến chuyển liên tục, không cần ai ra lịnh cũng không
cần có cái gì chấm dứt tình trạng trước. Nhân duyên tạo
ra cuốn sách cũng chính là nhân duyên tạo ra tính biến chuyển
liên tục của cuốn sách. Tỉ như còn mắt thì còn thấy,
nhưng nếu mắt hỏng hay người chết đi thì sự thấy cũng
không còn.
Tâm
thức con người cũng vậy, kể cả tâm thức của người Tây
tạng. Tâm thức chỉ có trong từng sát na. Nhưng chủ thức,
là thức thứ sáu, tầng tâm thức sâu hơn, vẫn luôn có đó.
Không khởi điểm, không kết thúc, tuy thay đổi từng sát
na nhưng vẫn liên tục không gián đoạn. Vì vậy nếu nhìn
trên phương diện liên tục thì phải nói rằng thức này thường
còn.
Xã
hội con người thay đổi trong mỗi phút giây, điều này dễ
thấy. Thức ăn thay đổi, thói quen thay đổi, thời trang thay
đổi, giáo dục thay đổi. Nhưng nói chung xã hội con người
vẫn liên tục không gián đoạn.
Tất
cả mọi hiện tượng sinh ra từ nhân duyên đều vô thường,
vì biến chuyển trong từng sát na [nhất kỳ vô thường], nhưng
cũng có thể gọi là thường còn, vì liên tục không gián
đoạn.
Ðể
trả lời câu hỏi làm sao khỏi chấp bám vào sự vật vô
thường : nếu cho rằng vật vô thường là vật bỏ đi, vậy
chính Phật đạo cũng phải bỏ, vì Phật đạo cũng vô thường.
Vấn đề không nằm ở chỗ thế giới này vô thường hay
không, mà phải xét xem sự việc có đáng cho mình mong cầu.
Nếu đáng thì phải biết cách làm thế nào để chu toàn tâm
nguyện của mình.
Cần
phân biệt rõ cái muốn chánh đáng và cái muốn không chánh
đáng. Phải dùng lý trí phân tích kỹ lưỡng, nếu điều
mình muốn là chánh đáng, có được lòng khát khao như vậy
cũng tốt cho đường tu. Ví dụ muốn thành Phật, hay muốn
cứu độ chúng sinh, hai điều này đều thuộc loại mong muốn
chánh đáng, cần dốc sức để cấy dưỡng trong tâm. Chúng
ta phải cố gắng phát khởi cho bằng được cảm giác thấy
tất cả chúng sinh đều là “của mình”.
Ngược
lại, có nhiều loại mong muốn càng nghĩ càng thấy không hợp
lý. Ra chợ thấy bày bán đủ thứ hấp dẫn, gặp cái gì
cũng muốn mua. Ðến khi mở túi tiền ra mới phải suy nghĩ
lại coi mình có thật sự cần hết những thứ đó hay không.
Quí vị nghĩ sao? Chắc cũng không cần gì lắm đâu.
Ðó
là kinh nghiệm của tôi. Mong muốn không chánh đáng thật ra
chỉ là chút lòng tham lam trước những món vật không cần
thiết cho sự sống. Còn muốn một hai món vừa phải để
sống, loại muốn này hoàn toàn chính đáng.
Ðối
với người cư sĩ, đời sống gia đình là chuyện tự nhiên.
Tuy vậy xét trên phương diện tu giải thoát, quí vị cần
thận trọng, đừng rơi vào vũng xoáy của phiền não. Cả
người xuất gia cũng nên thận trọng. Trong một vài trường
hợp, có khi làm cư sĩ lại dễ giúp ích cho xã hội hơn. Cư
sĩ có thể vừa tu hành nghiêm chỉnh, vừa cống hiến cho xã
hội. Lại có thể đi làm kiếm tiền, làm một người tốt,
với tâm an lạc, đủ khả năng tạo không khí an vui cho mình,
cho gia đình và cho xã hội xung quanh. Người như vậy với
lòng vị tha, với tâm bồ đề, trong một hoàn cảnh nào đó
quả thật có khi dễ mang lợi ích lại cho người khác hơn
là xuất gia. Tuy nhiên, nếu muốn chứng ngộ để giải thoát
khổ đau cho chính mình thì xuất gia tốt hơn, vì đời sống
của người xuất gia vốn thanh đạm. Còn nếu muốn phát tâm
bồ đề, lãnh trách nhiệm mang lợi lạc về cho mọi loài
chúng sinh, thì có khi nên tu xuất gia, cũng có khi nên tu tại
gia.
Hỏi.
Tâm cầu giải thoát(5) so với thái độ trốn tránh đời
sống khác nhau ra sao?
Ðáp.
Khác nhau xa lắm. Nhưng nếu tu để giải thoát khổ đau cho
chính mình thì có khi lại chẳng khác nhau bao nhiêu.
Trốn
chạy đời sống vì bị đời sống quấy nhiễu, đây thật
không phải là một giải pháp hay. Thậm chí có người vì
chuyện bất như ý, xuống tinh thần đến nỗi tự sát, thật
quá bi thảm.
Gốc
rễ của khổ đau nằm ở loại khổ thứ ba, gọi là hành
khổ. Hành khổ chỉ giản dị là tấm thân này. Vì vậy muốn
thoát khổ thì phải ngừng tái sinh trong luân hồi. Thân này
sinh ra không phải do đấng Chúa trời hay do sức mạnh vạn
năng nào xui khiến, mà chỉ phát sinh từ năng lực vô minh
của chính mình. Vô minh là trạng thái tâm thức lầm lẫn
bám chặt vào đối cảnh.
Phật
tử Bồ tát phải là người tự nguyện bước vào chốn rối
loạn, vì ước nguyện của Bồ tát là sống vì lợi lạc
của chúng sinh. Tuy vậy, khi mới phát tâm, tuy chí nguyện mãnh
liệt nhưng tâm thức lại chưa đủ sức gánh vác. Bồ tát
mới phát tâm thường gặp cảnh không thuận tiện dễ làm
thoái chuyển tâm bồ đề. Vì vậy trong thời gian đầu cần
sống cách ly để phát huy định lực. Một khi tâm đã vững
vàng tự tại, chừng đó phải tự nguyện quay về với xã
hội, chọn dấn thân vào những chốn hiểm nguy rối loạn
để giúp đỡ người khác.
Hỏi.
Ðối với xã hội mà nói, khuyến khích con người từ bỏ
xã hội như vậy có nguy hiểm không?
Ðáp.
Từ bỏ xã hội không thôi thì đúng là rất nguy hiểm. Nếu
vài người từ bỏ xã hội với mục tiêu tìm đường giải
thoát thì không sao, nhưng nếu nhiều người cùng từ bỏ xã
hội, điều này có thể gây xáo trộn đáng kể.
Hỏi.
Tôi nghĩ dạy về tâm cầu giải thoát cho người trẻ tuổi
là điều rất nguy hiểm. Họ có thể không hiểu hết những
gì ngài vừa nói. Có khi tâm cầu giải thoát đối với họ
chỉ là đừng ở với vợ, đừng uống rượu. Họ nên ở
lại chốn thành thị hơn là tu trên núi. Lên núi rồi tưởng
mình cao siêu đức hạnh, cái ngã càng lúc càng vĩ đại hơn
lên.
Ðáp.
Hành động thiếu suy nghĩ là điều tai hại. Trước khi quyết
định một việc gì, cần phân tích cho thấu đáo. Có người
tự nhiên nhất quyết muốn tu, thiết tha đến nỗi bỏ cả
ăn uống, được đôi ba ngày lại chán không muốn tu. Phải
tránh việc như vậy xảy ra cho mình.
Ngược
lại, nếu mang tâm nguyện chân thành, từ bỏ xã hội tìm
nơi vắng vẻ để nghiêm chỉnh tu, làm như vậy có khi được
lợi ích lớn lao. Không tu thiền chỉ, không đạt đại định,
thì không thể chuyển thức thứ sáu thành tuệ giác sắc bén.
Vì
vậy cần thành tựu thiền chỉ. Muốn thành tựu thiền chỉ,
phải tu một mình nơi vắng vẻ. Cần tìm một nơi cách ly
không người lui tới, tu hành miên mật trong một thời gian
dài, ít ra là vài ba năm. Ðợi khi đạt định rồi mới quay
về.
Hiện
nay có vài vị thầy Tây tạng đang ở trên núi dốc sức tu
hành. Cũng có nhiều người tự xưng mình đang tu, nhưng thật
sự chẳng phải thầy tu cũng không là cư sĩ. Có một câu
châm ngôn Tây tạng nói rằng con dơi khi ở với chim thì giả
đò làm chuột, khi ở với chuột lại giả bộ làm chim.
Hỏi.
Xin ngài chỉ cho một lối tu vừa phải dành cho người bình
thường, không cần phải phát đại nguyện phức tạp.
Ðáp.
Muốn giải thoát, điều quan trọng nhất là phải thật tâm
mong mỏi điều này. Cần nhận diện, quán niệm về khổ.
Khổ nói ở đây là hành khổ, là khổ đau đến từ hoàn
cảnh hiện hữu trong luân hồi.
Vô
thường không nhất thiết phải là khổ. Ví dụ trí toàn giác
của Phật, tuy vô thường nhưng không mang tính chất khổ đau.
Hợp
thể tâm lý vật lý của chúng ta cũng vô thường, nói cách
khác, luôn thay đổi, là quả, do nhân sinh ra. Nhân trong trường
hợp này là nghiệp đã tạo trong quá khứ, cùng với động
cơ phiền não tác động thành nghiệp. Vì sinh ra từ phiền
não, nên thân người cũng mang đầy tính chất phiền não khổ
đau.
Ðời
sống này khởi đầu bằng khổ đau chào đời. Sau khi nhập
thai mẹ, cơ thể con người bắt đầu thành hình và phát triển.
Hình sắc càng lúc càng thô lậu hơn. Ðến một lúc nào đó,
bào thai bắt đầu có cảm giác thoải mái hay khó chịu, khi
chào đời là lúc khổ đau thật sự bắt đầu. Một thời
gian rất lâu sau khi ra đời, con người yếu đuối như côn
trùng, không thể tự lo cho mình. Ðời sống chúng ta bắt đầu
như vậy đó. Mặc dù cha mẹ luôn ăn mừng khi trẻ chào đời,
nhưng phải nói đó chính là lúc khổ đau bắt đầu. Rồi
đời sống kết thúc bằng cái chết, cũng là một loại khổ
đau không ai muốn. Ở giữa hai đầu sinh tử, là bịnh tật,
già nua.
Con
người cần một mục tiêu trong đời sống để thấy đời
này có chút ý nghĩa nào khác hơn là sớm tối nhồi nhét đồ
ăn nuôi tấm thân này. Chúng ta cần tự hỏi nuôi sống tấm
thân này có phải là ý nghĩa duy nhất của cuộc sống. Nếu
có thể chuyển hóa được tâm, đó mới thật sự là mục
tiêu có ý nghĩa.
Theo
lẽ mà nói, thân này không có gì đáng cho mình nâng niu lưu
luyến. Ðẹp cỡ nào, mạnh cỡ nào, nhìn lại từng thành
phần xương, da, máu, thịt, thật chẳng có gì hay. Cơ thể
là kết hợp của nhiều thành phần không sạch. Chính thân
người cũng rất dơ, sinh ra từ tinh chất của cha và của
mẹ, vốn không sạch. Thân người lại thường chế tạo phẩn
và nước tiểu. Có thể nói thân này là một cái máy chuyên
chế tạo đồ bẩn. Mục tiêu chính của tấm thân này là
tiêu thụ đồ ăn thức uống và chế tạo của dơ.
Nhìn
lại suốt năm mươi hai năm qua tôi đã ăn bao nhiêu, uống
bao nhiêu, thật sự mà nói thân này chỉ giỏi việc chế tạo
của bẩn. Ðồng thời, nếu gom lại hết tất cả những đờm
dãi đã thải ra trong quá khứ, chắc chắn phải nhiều lắm.
Không ai thấy cầu tiêu là nơi sạch sẽ cả, đúng không?
Thật sự thân người cũng như cái cầu tiêu. Mấy thứ trong
nhà cầu không phải từ trên trời rơi xuống, mà từ trong
thân người rớt ra.
May
mắn thay, ngoài thân vật lý, con người còn có thêm phần
trí tuệ. Chỉ khi nào tận dụng được năng lực trí tuệ
của con người, đời sống mới thật sự có ý nghĩa. Chúng
ta biết suy nghĩ, biết phân tích, đây thật là một khả năng
cực kỳ quí giá của kiếp làm người.
Ta
có thể thấy rằng cả súc vật, trong một giới hạn nào
đó, cũng có khi có được tinh thần vị tha. Ví dụ như loài
ong hay loài kiến, chúng sống có tổ chức xã hội. Gặp lúc
thuận tiện hay khó khăn, tổ chức này sẽ bảo đảm sự
sống còn cho từng cá nhân. Con này nương dựa vào con kia,
sống một cách tự nhiên trong tinh thần trách nhiệm, nâng
đỡ lẫn nhau. Loài người cũng vậy, dù muốn dù không, vẫn
phải dựa vào nhau để sống.
Suy
nghĩ sâu một chút sẽ thấy chúng ta có một nhu cầu rất
tự nhiên là cần tình thương. Sinh ra và lớn lên được là
nhờ tình yêu thương chăm sóc của cha mẹ. Có thể sống còn
cũng là nhờ tình thương cha mẹ, nhờ hơi ấm loài người.
Mai mốt già đi, tâm thần và thể xác đều suy thoái, lại
phải sống nhờ tình thương yêu của người khác. Ở giữa
hai giai đoạn này, khi khoẻ mạnh trẻ trung, chúng ta không
mấy khi nghĩ đến những việc như vậy. Ðây cũng là một
thứ vô minh.
Nhu
cầu thiết yếu nhất của con người là trái tim nồng ấm.
Rõ ràng là chúng ta cần bạn bè người thân. Nhờ bạn bè
mà cảm thấy an vui hạnh phúc. Muốn có tình bạn chân chính,
phải lấy những tình cảm tốt đẹp để đối xử với nhau,
ví dụ như tình yêu thương quan tâm với trái tim rộng mở.
Ðược như vậy tình bạn chân chính sẽ nảy nở dễ dàng.
Bạn
bè cũng có nhiều người không thật lòng. Khi có tiền, có
thế, chắc chắn cũng sẽ có rất nhiều bạn. Nhưng khi tiền
tài thế lực mất hết, thứ bạn này cũng mất theo. Tình
bạn chân chính chỉ có thể có nhờ trái tim nhân hậu. Loại
tình bạn này sẽ luôn ở lại, cho dù chúng ta có đang thất
bại hay thành công. Con người sống được là nhờ tình yêu
thương, nhờ lòng quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Con người đủ
khả năng phát huy nhiều loại tình cảm cực kỳ tốt lành,
đây mới thật là một điều quí giá, một may mắn vượt
bực.
Nay
chúng ta có được thân người, phải biết tận dụng trí
tuệ cùng năng lực đặc biệt của trái tim yêu thương, chừng
đó cuộc sống mới thật sự có ý nghĩa, chúng ta mới thật
sự không phí uổng kiếp người.
Tự
xét lấy mình, sẽ thấy thân tâm này là do nghiệp và phiền
não mà ra, vì vậy hễ thân tâm này còn là chưa thể có được
niềm an lạc vĩnh cữu. Nhìn lại quanh mình, ai nấy cũng đều
như vậy cả. Vì vậy phải phát khởi chí nguyện muốn đạt
giác ngộ để vượt thoát ràng buộc của nghiệp và phiền
não. Ðây có thể gọi là tâm cầu giải thoát, là tâm buông
xả, mặc dù không rời bỏ gia đình xã hội. Hướng về lợi
ích chúng sinh thì mọi nhu cầu cá nhân tự nhiên sẽ được
thỏa mãn.
Ðể
phát tâm bồ đề, các vị cao tăng Ấn độ có dạy hai phương
pháp chính, đó là Bảy Ðiểm Nhân Quả, và Hoán Chuyển Ngã
Tha.
Muốn
tu theo phương pháp Bảy Ðiểm Nhân Quả, trước hết cần
khởi tâm đại xả. Tâm đại xả là tâm bình đẳng. Nói
cách khác, là trạng thái quân bình, không lưu luyến người
thân, không oán ghét kẻ thù, và cũng không dửng dưng đối
với kẻ lạ.
Ðiểm
nhân quả thứ nhất là nhớ sự tái sinh vốn không có khởi
điểm, vì vậy chúng sinh nào cũng có lúc đã từng là cha
mẹ, anh em hay người thân của mình.
Thấy
như vậy rồi, điểm thứ hai là nhớ nghĩ về tình thương
họ đã từng mang đến cho ta.
Ðiểm
thứ ba là ước muốn đền đáp tình yêu thương đó. Ðể
quyết tâm đền đáp yêu thương, hãy nhớ lại người mẹ
đời này đã thương yêu chăm sóc ta như thế nào, nhớ các
bậc cha mẹ nói chung yêu thương con mình như thế nào.
Khởi
tâm đại từ là điểm thứ tư. Tâm đại từ là một trạng
thái tâm thức rộng mở, thương yêu tất cả chúng sinh.
Có
tâm đại từ rồi, điểm thứ năm là mong mỏi chúng sinh thoát
khổ đau. Ðó là tâm đại bi.
Ðiểm
thứ sáu là phát tâm nguyện vị tha phi thường, tự nguyện
gánh lấy trách nhiệm giải thoát chúng sinh ra khỏi khổ não.
Ðiểm
thứ bảy là phát tâm bồ đề. Tâm này có hai phần, vừa
là năng lực đại bi tỏa rộng đến mọi loài chúng sinh,
vừa là trí tuệ chứng biết tâm chúng sinh có khả năng vượt
thoát phiền não, ai cũng có thể thành tựu trí toàn giác.
Trí tuệ này đi cùng với năng lực của đại bi sẽ khiến
tâm bồ đề khởi phát.
Phương
pháp thứ hai là Hoán Chuyển Ngã Tha. Cũng bắt đầu với
tâm xả, nhưng theo cách khác. Phương pháp này dạy người
tu đứng về phía chúng sinh, thấy tất cả đều bình đẳng,
vì tất cả đều muốn được hạnh phúc thoát khổ đau. Tất
cả chúng sinh đều giống nhau ở ước nguyện này. Vì vậy
mà mình và người bình đẳng như nhau.
Tiếp
theo, suy nghĩ thử xem lòng vị kỷ sẽ mang lại những gì.
Nếu ích kỷ muốn dành hết hạnh phúc trên đời về phần
mình, vậy rốt cuộc sẽ không còn bạn mà lắm kẻ thù. Ngược
lại, nếu hoán chuyển lòng vị kỷ thành lòng vị tha, thương
yêu lo lắng cho người khác hơn chính bản thân, kết quả
sẽ trái ngược, ít thù nhiều bạn.
Nói
tóm lại, đúng như lời của ngài Tịch Thiên(6) trong
Nhập Bồ tát Hạnh(7) đã từng nói, “tất cả
mọi bất hạnh trên đời đến từ lòng vị kỷ và tất cả
mọi hạnh phúc trên đời đến từ lòng vị tha.”
Tiếp
theo là phương pháp thiền Cho và Nhận [tong-len] để phát tâm
bồ đề. Phương pháp này chỉ cách quán tưởng cho đi tất
cả mọi hạnh phúc tốt lành của mình, đồng thời nhận
về tất mọi khó khăn vất vả của người khác.
Thời
nay, người Tây tạng chúng tôi phối hợp hai phương pháp tu
nói trên để phát tâm bồ đề. Hai phương pháp tu này sẽ
giúp ta thấy kẻ thù vốn là người tốt nhất trên thế gian.
Lý do rất đơn giản, muốn phát tâm bồ đề chân chính thì
phải điều phục tâm giận dữ. Ðể điều phục tâm giận
dữ, cần kiên nhẫn độ lượng. Ðể luyện tính kiên nhẫn
độ lượng, cần phải có một kẻ thù. Nghĩ như vậy, kẻ
thù tự nhiên biến thành người giúp mình tu, dù không phải
tự ý họ muốn vậy. Một khi đã có thể thấy kẻ thù là
người giúp mình, đương nhiên sẽ thấy tất cả mọi người
đều như vậy.
Ước
vọng trong đời sống như danh vọng, tiền tài, chỉ có thể
có được nhờ sự giúp đỡ của người khác. Ngay như buổi
nói chuyện hôm nay, có được là nhờ công lao của rất nhiều
người: người xây nhà, lót thảm v.v... Cả chiếc xe bus chở
quí vị đến đây bất kể mọi xáo động ở Punjab, đó cũng
là một yếu tố cho phép chúng ta gặp nhau hôm nay. Nếu không
có công lao của nhiều người quen và không quen, chúng ta đã
không thể ngồi đây. Suy nghĩ như vậy sẽ thấy nếu không
có sự giúp đỡ của người khác, chúng ta không làm sao có
thể sống đến ngày hôm nay.
Ngoài
ra cũng nên nghĩ đến nghiệp. Tất cả những cơ hội có được
trong cuộc sống đều là quả của nghiệp đã tạo trong quá
khứ. Nghĩ đến thiện nghiệp: thiện nghiệp nói chung là những
gì đã làm với tâm nguyện muốn tốt cho người khác. Vậy
muốn tích tụ thiện nghiệp cũng cần phải có người khác.
Trong
tất cả những công phu hành trì Phật giáo, phát tâm bồ đề
được xem là công phu quan trọng quí giá nhất. Tâm bồ đề
bắt rễ từ đại bi. Không có chúng sinh là không thể khởi
tâm đại bi. Phật đà và Bồ tát có thể hộ trì cho ta phát
tâm bồ đề, nhưng không thể giúp chúng ta phát tâm đại
bi. Ðại bi chỉ có thể có được nhờ hướng về chúng sinh.
Nhìn
trên phương diện này, chúng sinh còn tốt với ta hơn cả Phật
đà. Chúng sinh luôn tốt với ta như vậy, dù cố ý hay không.
Có nhiều điều đối với chúng ta rất quí, như diệt đế,
đạo đế, nhưng những điều này không có ý muốn tốt với
ai cả, dù vậy chúng ta vẫn quí giá nâng niu. Ðối với Phật
tử đại thừa, mọi chúng sinh đều là bạn và mọi hoàn
cảnh đều là hoàn cảnh thuận tiện để tu. Kẻ thù duy nhất
là thái độ vị kỷ, là tâm chấp ngã, từ đó sinh ra đủ
loại vọng tâm.
Tu
được như vậy, quí vị sẽ có được tinh thần vô úy, thoát
mọi sợ hãi.
(1)
Bốn tông phái trong Phật giáo: Vaibhashika, Sautrantika, Chittamatra
và Madhyamika.
Tứ
Pháp Y: y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa
bất y bất liễu nghĩa, y trí bất y thức.
(2)
Madhyamika Svatantrika.
(3)
Abode of Immovable Concentration.
(4)subjective
clear light.
(5)
renunciation - còn gọi là tâm buông xả, hay tâm chán khổ sinh
tử cầu vui niết bàn.
(6)
Shantideva.
(7)
A Guide to the Bodhisattva Ways.