Chương 1.
Thái độ và
Hành động
Ðức
Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
A.
Ðặc điểm Phật giáo Tây tạng
Thông
thường có hai lối giảng Phật pháp. Một là đạo sư giảng
cho đệ tử: trong trường hợp này, để bày tỏ lòng thiết
tha đối với giáo pháp, lòng tôn kính đối với thầy, đệ
tử có khi phải sám hối và cúng dường nội tâm và ngoại
vật trước khi nhận pháp. Hai là bạn nói với bạn, giữa
người giảng và người nghe không có quan hệ thầy trò, vì
vậy không cần câu nệ lễ nghi hình thức.
Chúng
ta chọn cách nói chuyện sau, giữa bạn với bạn. Buổi nói
chuyện thân mật này sẽ không dựa trên cuốn kinh nào đặc
biệt, tôi chỉ xin nói về tinh yếu của Phật pháp. Có gì
thắc mắc, xin quí vị cứ tự nhiên đặt câu hỏi.
Tôi
nghĩ quan trọng nhất là phải có được chút khái niệm chính
xác về Phật pháp. Phật pháp Tây tạng là một truyền thống
sống động chứ không chỉ là giáo pháp khẩu truyền. Cộng
đồng Tây tạng tị nạn tuy bé nhỏ nhưng vẫn có nhiều vị
thầy chứng ngộ rất cao. Ngày nay, truyền thống Phật giáo
được lưu truyền ở Tây tạng vẫn hãy còn là một truyền
thống chân tu thực chứng, cực kỳ sống động.
Mặc
dù như đã nói, buổi nói chuyện này không câu nệ hình thức,
nhưng vì tôi là một sa môn, trước khi bắt đầu tôi xin đọc
lời tán dương đức Phật Cồ Ðàm:
Tán
dương Phật tuyệt hảo
Là
bậc thầy tối cao
Ðã
dạy lý duyên khởi
Không
diệt cũng không sinh
Không
đoạn cũng không thường
Không
đến cũng không đi
Không
một cũng không khác
Vắng
bặt mọi hý luận
Là
an lạc chân chính.
Quí
vị có lẽ đã từng nghe qua Phật giáo có hai tông phái chính,
đại thừa và tiểu thừa. Phật dạy tiểu thừa cho đại
chúng, dạy đại thừa cho một số đệ tử. Ðại thừa có
nhiều phương pháp chuyển hóa tâm, gọi là hiển pháp, lại
có cả những phương pháp vận dụng khí và luân xa trong cơ
thể, gọi là mật pháp. Phật giáo truyền sang Tây tạng từ
nhiều thế kỷ qua, mang đầy đủ cả ba lớp giáo pháp là
tiểu thừa, đại thừa hiển pháp và đại thừa mật pháp,
kết hợp thành một đường tu nhất quán.
Lấy
trường hợp của tôi mà nói, tôi thọ giới tỷ kheo theo bộ
luật Tỷ kheo giới, thuộc phần cốt tủy của giáo pháp tiểu
thừa. Cử chỉ hành động hàng ngày của tôi đều thuận
theo giáo pháp ấy: tôi sống nếp sống của người xuất gia.
Theo Phật giáo Tây tạng, tỷ kheo thọ 253 giới, phải nghiêm
giữ 253 giới này. Thêm vào đó, mỗi ngày tôi đều ngồi
thiền chỉ (shamatha, zhi gnas) và thiền quán (vipashyana, lhag
mthong) theo pháp tu tiểu thừa.
Tuy
vậy, công phu chính của tôi lại thuộc về đại thừa: dựa
trên nền tảng của đại bi (karuna, snying rje) và đại từ
(maitri, byams pa) để phát bồ đề tâm (bodhicitta, byangchub sems)
và thực hành sáu hạnh toàn hảo là Thí, Giới, Nhẫn, Tấn,
Ðịnh và Tuệ. Tất cả những điều này thuộc về phần
cốt tủy của Phật giáo đại thừa. Thêm vào đó, tôi còn
tu theo phương pháp quán tưởng Hộ Phật Du Già [deity yoga]
trong mạn đà la. Ðây là phương pháp hành trì thuộc giáo
pháp đại thừa mật tông.
Vậy
có thể nói Phật giáo Tây tạng là đường tu kết hợp cả
ba lớp giáo pháp. Ðây là đặc điểm của Phật giáo Tây
tạng, phương pháp tu ở đây đặc biệt phong phú súc tích.
Ðể
bắt đầu một cách đơn giản, có thể nói rằng giáo pháp
của đức Phật Thích Ca Mâu Ni bao gồm hai phương diện là
hành động và quan niệm.
Theo
lời Phật dạy, cái gọi là "quan niệm" phải là tinh thần
bất bạo động, là tâm bất hại (ahimsa, tshe med zhi ba’l
lam). Tâm bất hại có nghĩa là không gây hại và đồng thời
mang lợi ích đến cho người khác. Hầu hết mọi tôn giáo
lớn đều nói tới tinh thần bất bạo động, dạy con người
phải có trái tim nồng ấm, nuôi dưỡng tâm tính tốt lành,
giữ tấm lòng nhân ái. Mục tiêu của mọi tôn giáo lớn đều
giống nhau ở điểm này, đều hướng tới bình an nhân loại.
Tuy
vậy, để thực hiện mục tiêu đó, mỗi tôn giáo lại có
một hệ thống triết lý khác nhau. Con người không ai giống
ai, vì vậy mỗi người phải tự xét lấy khả năng khuynh
hướng của chính mình để chọn một hệ thống triết lý
cho thích hợp. Nhưng dù chọn hệ thống triết lý nào chăng
nữa, mục tiêu chính của tôn giáo vẫn là để điều phục
tâm thức, mở rộng con tim. Dù có nhiều hệ thống triết
lý khác nhau, nhưng mục tiêu chung vẫn là làm sao cho trí thuần,
cho tim nhân hậu.
Hãy
thử nhìn từ góc độ này để xét về hai hệ thống triết
lý hữu thần và vô thần. Nhiều tôn giáo công nhận có một
đấng sáng tạo vạn năng tạo ra vạn vật và con người.
Sống thuận theo ý của đấng sáng tạo thì được hạnh phúc
bình an. Cá nhân con người không có gì đáng nói, chỉ đấng
sáng tạo mới thật quan trọng. Mọi sự đều do đấng sáng
tạo mà có, cá nhân con người không nên đi ngược ý đấng
sáng tạo. Nói vậy sẽ nhiều người thấy hợp lý, sống
thuận theo đó, nhờ vậy tìm được quân bình trong đời sống
tinh thần và đạo đức.
Lại
có người mang khuynh hướng hoài nghi, chỉ tin vào mối tương
quan giữa mình và cuộc sống. Khi nghe nói mọi sự không nằm
trong tay của đấng sáng tạo mà nằm trong tay của chính mình,
họ sẽ thấy hợp lý, nhờ đó tìm được quân bình trong
đời sống tinh thần và đạo đức.
Phật
giáo thích hợp với loại người sau. Mặc dù cũng có thể
nói rằng hại người là trái với ý Phật, nhưng đây không
phải là nội dung của Phật giáo. Phật dạy khổ đau mà mình
không muốn, hạnh phúc mà mình mong cầu, tất cả đều do
nhân quả mà thành. Vì vậy con người có khả năng điều
khiển vận mệnh của chính mình.
Phật
giáo không công nhận có đấng sáng tạo. Ðấng sáng tạo
thật sự, chính là tâm. Tâm vốn trong sáng. Nếu động cơ
trong sáng thì làm gì nói gì cũng đều là hành động tích
cực, tạo quả tốt lành, mang lại kinh nghiệm bình an hạnh
phúc. Ngược lại, động cơ hành động đã ô nhiễm thì làm
gì nói gì cũng chỉ gây hại cho người, gieo quả khổ đau.
Không thể trách ai khác, chỉ do nơi mình. Trách nhiệm của
đời sống này mỗi người phải tự gánh lấy. Phật giáo
cũng có nói đến hiện tượng tự sinh, nhưng hoàn toàn không
có gì có thể gọi là thượng đế hay là đấng sáng tạo
vạn năng.
Ðể
giảng về tinh thần bất hại, Phật dạy tri kiến duyên khởi,
vì duyên khởi là trí tuệ của tâm bất hại. Duyên khởi
trong Phật giáo có nghĩa là tất cả hạnh phúc và khổ đau
đều tùy theo nhân duyên và thuận theo nhân quả mà có. Vì
vậy muốn được hạnh phúc lìa khổ đau, chỉ cần cấy trồng
nhân hạnh phúc, vất bỏ nhân khổ đau.
Lý
duyên khởi được trình bày cặn kẽ qua mười hai chi duyên
khởi, đầu tiên là vô minh [mù quáng], và cuối cùng là lão
tử [già và chết]. Mười hai chi duyên khởi được giải thích
theo mô hình một chu kỳ. Tuy vậy, trong thực tế, không phải
con người bắt đầu với vô minh, kết thúc với lão tử,
mà thật ra có rất nhiều niệm vô minh, mỗi niệm đều có
tác dụng riêng, kéo theo một kiếp tái sinh trong tương lai,
tạo thành vô số chu kỳ hiện hữu chằn chịt không kết
thúc. Xin nhấn mạnh ở đây, lý duyên khởi khẳng định tất
cả mọi kinh nghiệm khổ đau và hạnh phúc đều là quả,
từ nhân mà sinh ra.
Khế
kinh dạy nhân nào sinh quả nấy. Tất cả mọi kinh nghiệm
chúng ta đang trải qua đều là quả, sinh ra từ nhân là hành
động của chính mình trong quá khứ. Ngoài ra không có đấng
sáng tạo nào khác, cũng không có đấng tối cao nào hiện
hữu trường tồn, vượt ngoài nhân quả.
Phật
dạy có hai loại nhân quả. Một là nhân quả tương ứng với
quá trình ô nhiễm, ví dụ nhân ác độc sinh quả khổ đau.
Hai là nhân quả tương ứng với quá trình thanh tịnh, ví dụ
nhân tốt lành sinh quả an lạc.
Giáo
thuyết về nhân quả nằm trong Tứ diệu đế [bốn chân lý
nhiệm mầu] được Phật giảng dạy trong thời kỳ chuyển
bánh xe chánh pháp lần thứ nhất. Tứ diệu đế là Khổ,
Tập, Diệt và Ðạo.
Chân
lý đầu tiên là Khổ đế, là chân lý về Khổ. Khổ có ba
mức độ khác nhau. Thứ nhất, vì đau đớn tinh thần thể
xác nên khổ, loại khổ này gọi là khổ khổ. Thứ hai, vì
cuộc sống thay đổi luôn luôn nên khổ, loại khổ này gọi
là hoại khổ. Ví dụ như ăn để khỏi đói, nhưng nếu cứ
tiếp tục ăn mãi không ngưng, sẽ gặp nhiều vấn đề. Loại
khổ này rất thường thấy ở xã hội tân tiến. Ðược cái
gì mới là cảm thấy cực kỳ cao hứng: máy quay phim, máy
truyền hình, xe hơi, khi mới có ai cũng cảm thấy vui vẻ hạnh
phúc. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, dần dần hạnh
phúc giảm, bất mãn tăng. Lại muốn vất cái đã có, mang
cái khác về. Có được cái khác, mọi sự lại tái diễn:
mới đầu thật cao hứng, dần dần cảm thấy khó chịu không
thỏa mãn. Ðây là điều Phật giáo gọi là hoại khổ. Thứ
ba là khổ đau đến từ hoàn cảnh sống, gọi là hành khổ.
Nguyên nhân chính của khổ đau là gì? là vì, trong cõi luân
hồi, những thành phần tâm lý và vật lý của chúng ta đều
do nghiệp và phiền não sinh ra. [Đó chính là hành khổ]. Ba
loại khổ này đều nằm trong chân lý đầu tiên là Khổ đế.
Niết
bàn là siêu thoát cả ba loại khổ đau chứ không phải chỉ
hai loại khổ đau đầu. Chúng ta ngồi đây, cảm thấy thật
thoải mái, vậy là thoát được loại khổ đau thứ nhất
là khổ khổ, tuy nhiên vẫn thường bị loại khổ đau thứ
hai là hoại khổ chi phối. Có người nhờ tham thiền nhập
định, vượt lên trên mọi cảm giác thô lậu của khổ đau
hạnh phúc, tâm an trú trong trạng thái trung tính, thoát khỏi
cả hai loại khổ đau là khổ khổ và hoại khổ. Tuy vậy,
chỉ khi nào thoát được hành khổ, khi ấy mới thật gọi
là niết bàn.
Muốn
lìa khổ, phải hiểu rõ nguyên nhân của khổ. Tìm hiểu về
nguyên nhân của khổ là lãnh vực của chân lý thứ hai, chân
lý về nguyên nhân của khổ, gọi là Tập đế.
Nguyên
nhân của Khổ có hai, một là hoạt động của thân và miệng,
hai là hoạt động của ý. Ví dụ bây giờ tôi dùng lời hòa
nhã nói chuyện với quí vị, không khí sẽ nhẹ nhàng dễ
chịu. Ngược lại nếu tôi dùng lời dữ dằn, lại đưa tay
đánh đấm, không khí sẽ ngột ngạt khó thở. Một người
khi làm việc gì, nói điều gì, đều lưu lại ấn tượng
trong tâm thức của chính mình. Tâm thức lưu ấn tượng ấy
được gọi là nền tảng nhất thời lưu trữ nghiệp. Tâm
thức ấy thuộc về ai thì gọi cá nhân người ấy là nền
tảng liên tục lưu trữ nghiệp. Chính vì mỗi hành động
đều gieo nghiệp trong tâm thức, nên sớm muộn gì quả cũng
sẽ tới, bất kể phải đợi bao nhiêu lâu. Ðó là lời giải
thích về Khổ đế và Tập đế.
Chân
lý thứ ba là sự chấm dứt của khổ, gọi là Diệt đế.
Khổ vĩnh viễn đoạn diệt, đó là niết bàn. Phương pháp
diệt khổ và thành tựu niết bàn thuộc lãnh vực của chân
lý thứ tư, nói về phương pháp diệt khổ, gọi là Ðạo
đế.
Muốn
diệt khổ, phải diệt ngay từ trong tâm thức. Ðạo đế nói
về phương pháp thâm nhập những tầng tâm thức cực kỳ
vi tế, nơi ấy vốn có sẵn một loại tuệ giác rất đặc
biệt gọi là tuệ giác tánh Không. Ðể giải thoát tâm thức
ra khỏi phiền não và tập khí của phiền não, cần hiểu
rõ tuệ giác tánh Không nghĩa là gì, cần hiểu đâu là cái
Tâm có khả năng diệt trừ mọi phiền não, trực nhận chân
tướng của thực tại. Vì chứng tánh Không là điều rất
quan trọng, nên tánh Không được giải thích qua nhiều mức
độ khác nhau. Ví dụ có bốn tông phái Phật giáo Ấn độ
giải thích tánh Không qua bốn hệ thống khác nhau, rồi từ
đó mà tỏa ra thành nhiều tông phái phụ khác.
B.
Thật tánh của Tâm
Kinh
sách Phật giáo nói rằng muốn nhận định sự vật có thật
hay không, chỉ cần xét xem sự vật ấy có phải là đối
cảnh của nhận thức đúng đắn hay không. Điều có thật
là điều do nhận thức đúng đắn nhận biết; nếu như không
phải do nhận thức đúng đắn nhận biết thì không có thật.
Hiện
tượng có thật có thể chia thành hai loại: một là hiện
tượng khi có, khi không; hai là hiện tượng luôn luôn có đó,
ví dụ không gian.
Hiện
tượng khi có khi không là hiện tượng duyên sinh, do yếu tố
kết hợp mà thành, gọi là hữu vi. Còn loại hiện tượng
không phải duyên sinh, không do nhân duyên kết hợp mà có,
lúc nào cũng hiện diện, hiện tượng như vậy gọi là vô
vi.
Hiện
tượng hữu vi có rất nhiều loại. Có loại hữu vi hữu sắc,
ví dụ hình dạng, màu sắc. Loại này gom chung lại thành cái
Phật giáo thường gọi là sắc pháp. Lại có loại hữu vi
vô sắc, tuy cũng do các yếu tố kết hợp mà thành nhưng không
có hình sắc, ví dụ tâm thức hay kiến thức. Lại có loại
chỉ hoàn toàn là khái niệm trừu tượng, ví dụ thời gian,
cái tôi, v.v... Vậy các hiện tượng hữu vi có thể là sắc,
là thức, hoặc không phải sắc cũng không phải thức mà chỉ
là khái niệm trừu tượng.
Sắc
là tất cả những gì có thể nhận thức bằng giác quan, như
hình sắc do nhãn thức nhận biết, âm thanh do nhĩ thức nhận
biết, v.v...
Thức
có hai loại. Tâm vương là loại tâm thức lệ thuộc trực
tiếp vào giác quan. Tâm sở là những trạng thái tâm thức
tùy theo tâm vương mà khởi chứ không tùy vào giác quan.
Tâm
vương lại có hai loại. Một là tâm thức thuộc phạm vi ngũ
căn, gọi là tiền ngũ thức. Hai là tâm thức thuộc phạm
vi của ý.
Tâm
sở có năm mươi mốt thứ. Năm thứ có mặt cùng khắp, gọi
là tâm sở biến hành, đó là thọ [lãnh chịu], tưởng [liên
tưởng], tư [lo lắng, tạo tác], tác ý [mong khởi], xúc [giao
tiếp]. Gọi là có mặt cùng khắp, vì năm tâm này luôn đi
kèm tâm vương. Bốn mươi sáu tâm sở còn lại, có năm tâm
sở biệt cảnh, mười một tâm sở thiện, sáu căn bản phiền
não, hai mươi tùy phiền não, và bốn bất định tâm sở.
(1)
Bây
giờ nói rõ hơn về tâm vương. Loại tâm vương thuộc phạm
vi của ngũ căn, tiền ngũ thức, luôn khởi sinh tùy theo ba
yếu tố chính, gọi là ba duyên tố. Lấy ví dụ nhãn thức
thấy được cuốn sách, nhưng chỉ thấy sách chứ không thấy
bàn. Vậy cuốn sách là đối cảnh của nhãn thức và cũng
là duyên tố phát sinh ra nhãn thức thấy cuốn sách.
Ðệ
tử tông phái Tì bà sa luận bộ [Vaibhashika] cho rằng tâm thức
có thể khởi sinh mà không cần đối cảnh. Luận A Tì Ðạt
Ma Câu Xá (2) giải thích đối cảnh là do nhãn căn nhận biết
chứ không phải nhãn thức. Các tông phái khác, như Kinh lượng
bộ [Sautrantika] và các tông phái cao hơn, nói rằng nhãn thức
nương theo đối cảnh để nhận biết đối cảnh. Có nhiều
quan điểm khác nhau về mối tương quan giữa đối cảnh và
tâm thức, tôi xin giải thích hiện tượng này thuận theo hệ
thống nói rằng đối cảnh nằm ngoài tâm thức.
Nhờ
có cuốn sách trước mặt nên ta mới thấy cuốn sách. Vậy
cuốn sách là một trong những yếu tố sinh ra nhãn thức thấy
cuốn sách; yếu tố này gọi là sở duyên(3) . Ngoài ra, nhãn
thức chỉ có thể nhận biết hình sắc chứ không thể nhận
biết âm thanh. Căn nào sinh thức nấy, vậy nhãn căn cũng là
một yếu tố phát sinh ra nhãn thức thấy cuốn sách; yếu
tố này gọi là tăng thượng duyên, là yếu tố chính(4) .
Hội đủ sở duyên và tăng thượng duyên cũng chưa chắc đã
sinh ra thức. Ví dụ khi ngủ, hay khi tâm lơ đễnh, nhiều khi
nhìn mà không thấy. Ðiều này cho thấy còn một yếu tố
thứ ba. Yếu tố này gọi là vô gián duyên, là thức của
thời điểm đi trước(5) , từ đó sinh ra thức của thời
điểm theo sau, nhờ vậy nhận thức giác quan có thể chuyển
thành kinh nghiệm tâm thức. Dù có đối cảnh, có nhãn căn,
nhưng nếu bộ óc không hoạt động bình thường thì nhãn
thức vẫn không thể phát sinh. Vậy bộ óc cũng là một yếu
tố quan trọng. Nhưng bộ óc tự nó không có khả năng phát
sinh kinh nghiệm nhãn thức, do đó còn có một yếu tố quan
trọng khác nữa liên quan đến bộ óc, đó là ý thức. Bốn
thức còn lại cũng khởi sinh tương tự như vậy.
Năm
loại tâm thức khởi sinh từ giác quan nói trên [tiền ngũ
thức] không nằm trong lãnh vực của khái niệm. Ví dụ khi
nhìn cuốn sách, dù là nhìn tổng quát, vẫn sẽ có một phần
tâm thức chú ý đến góc bên này, hay cạnh bên kia. Như đã
nói, hễ tâm bị hình sắc thu hút thì sẽ xao lãng không ghi
nhận âm thanh. Hoặc như khi đang chăm chú lắng nghe một bản
nhạc hay, mắt tuy nhìn nhưng không thấy, sau đó không thể
nhớ. Ðiều này cho thấy ngoài tâm thức khởi sinh từ giác
quan ra [tiền ngũ thức] hãy còn một yếu tố tác động khác.
Yếu tố này chính là ý thức(6) . Ý thức có hai loại, ý
thức có khái niệm(7) và ý thức vượt khái niệm(8)
. Ý thức vượt khái niệm còn gọi là trực chứng.
Có
một vài bất đồng ý kiến giữa các tông phái về vấn đề
có hay không có loại kinh nghiệm trực chứng tự lấy mình
làm đối cảnh. Tuy vậy, mọi tông phái đều đồng ý rằng
kinh nghiệm trực chứng có ba loại: trực chứng nhờ giác
quan, nhờ tâm thức, hay nhờ thiền định. Loại thứ ba chỉ
có thể xảy ra trong khi tham thiền nhập định.
Sáu
tâm vương - từ nhãn thức cho đến ý thức - luôn luôn đi
liền với năm loại tâm sở có mặt cùng khắp [tâm sở biến
hành]. Còn các loại tâm sở khác không phải lúc nào cũng
có mặt. Vì có nhiều chức năng khác nhau như vậy nên tâm
sở được chia thành hai loại, một là nhận thức đúng đắn(9)
, hai là nhận thức sai lệch(10) .
Muốn
đạt thành tựu trên đường tu, chúng ta cần dựa vào loại
nhận thức đúng đắn. Nhận thức đúng đắn đưa đến hai
kết quả, kết quả không gián đoạn và kết quả có gián
đoạn(11) . Còn nhận thức sai lệch có ba loại. Một là không
biết đối cảnh, hai là biết sai đối cảnh, ba là nghi hoặc
đối cảnh. Không biết đối cảnh có nghĩa là tâm thức tuy
giao tiếp với đối cảnh nhưng không biết, không ghi nhận.
Biết sai đối cảnh có nghĩa là tâm thức tuy biết đối cảnh,
nhưng biết một cách sai lệch méo mó. Nghi hoặc đối cảnh
có ba loại, một là nghi hoặc điều sai, thiên về điều đúng;
hai là nghi hoặc điều đúng, hướng về điều sai; ba là nghi
hoặc cả hai, lưỡng lự ở giữa. Nhận thức sai lệch có
nhiều mức độ. Muốn chuyển nhận thức sai lệch thành nhận
thức đúng đắn, cần trải qua nhiều chặng đường chuyển
hóa tâm thức.
Bước
đầu tiên của con đường chuyển hóa tâm thức là phải dứt
bỏ tâm chấp thủ vọng kiến. Chúng ta thường vẫn khăng
khăng bám chặt vào nhận thức sai lầm. Có nhiều phương pháp
giúp chúng ta suy nghĩ, phân tích vấn đề sâu hơn, nhờ đó
bắt đầu nghi hoặc điều mình thường vẫn lầm tin, chấm
dứt giai đoạn chấp thủ, bước vào giai đoạn nghi hoặc.
Tâm nghi hoặc sẽ càng lúc càng vi tế. Nếu cứ tiếp tục
tư duy phân tích về thực tại, dần dần nghi hoặc yếu dần,
hiểu biết chính xác phát triển. Tâm càng lúc càng quen với
chân tướng của thực tại, đến một lúc nào đó sẽ vượt
thoát khái niệm, có được kinh nghiệm trực chứng.
Trí
tuệ có thể đếm thành ba loại, trí tuệ đến từ sự nghe
[văn tuệ], trí tuệ đến từ sự hiểu [tư tuệ], trí tuệ
đến từ sự tu [tu tuệ]. Ba loại trí tuệ này phân thành
vô số loại trí tuệ khác.
Ðây
là lời giải thích sơ lược về cảnh giới của tâm thức.
Muốn nắm vững đề tài này, trước tiên cần biết về đối
cảnh của tâm thức, sau đó biết tâm thức nhận biết đối
cảnh như thế nào, sau cùng là biết về các mối tương quan
giữa tâm thức và đối cảnh.
Tâm
thức tiếp xúc đối cảnh qua nhiều cách. Vì vậy ý thức
vượt khái niệm có một loại đối cảnh gọi là tướng
hiện, nhưng đây không phải là đối cảnh của ý thức có
khái niệm. Ý thức có khái niệm, ngược lại, có đối cảnh
gọi là đối cảnh phân biệt, cùng với một loại đối cảnh
khác, gọi là đối cảnh nhận thức.
Thế
giới hiện tượng cũng được chia thành hai loại, hiện tượng
khẳng định và hiện tượng phủ định. Có đủ loại khái
niệm liên quan đến hai loại hiện tượng này, như khái niệm
nhìn vào khía cạnh phủ định, hay khái niệm nhìn vào khía
cạnh khẳng định. Ví dụ cuốn sách này là một hiện tượng
khẳng định. Vậy muốn nhận biết cuốn sách, chúng ta phải
trực tiếp loại bỏ yếu tố đối nghịch là yếu tố không-phải-sách.
Ngược lại, khi nói trên bàn không có sách, tâm thức ở đây
phải hoạt động theo phương thức phủ định, phủ nhận
đối tượng phủ định, là cuốn sách. Nhận thức này chỉ
có nhờ phủ định, không thể có nhờ khẳng định.
Hiện
tượng phủ định nói chung có mười lăm loại, có thể
qui nạp thành hai: hiện tượng phủ định có khẳng định
và hiện tượng phủ định không khẳng định.
Hiện
tượng phủ định có khẳng định có bốn loại: một là
trực tiếp khẳng định; hai là gián tiếp khẳng định, ba
là vừa trực tiếp vừa gián tiếp khẳng định, bốn là mặc
nhiên khẳng định. Ví dụ cho trường hợp mặc nhiên khẳng
định là nếu nói chỉ có A hoặc B, vậy phủ định A là
mặc nhiên khẳng định B. Ví dụ cho trường hợp gián tiếp
khẳng định là nói người đàn ông tuy mập béo nhưng ban
ngày lại không ăn. Dù không nói thẳng, phủ định người
ấy ăn ban ngày là gián tiếp khẳng định người ấy ăn ban
đêm. Hiện tượng phủ định mà không khẳng định là như
khi nói “người này không uống rượu”, tuy phủ định sự
uống rượu, nhưng vẫn không khẳng định có uống thứ gì
khác.
Cần
hiểu cho thật rõ về các hiện tượng phủ định, vì tánh
Không là một hiện tượng phủ định và chỉ có thể tiếp
cận được bằng phương pháp phủ định.
C.
Hỏi đáp
Hỏi.
Ngài lúc nãy có nói mỗi người thích hợp với một phương
pháp tu. Xin hỏi làm sao biết phương pháp tu nào thích hợp
với mình?
Ðáp.
Mới
đầu phải thử nhiều phương pháp khác nhau. Rồi nhờ một
vài kinh nghiệm khác thường, hay nhờ những giấc mơ, từ
từ có thể tìm ra pháp tu thích hợp.
Tôi
có nói các tôn giáo giống nhau ở điểm muốn giúp cho đời
sống con người tốt đẹp hơn, nói như vậy chỉ có nghĩa
là mọi tôn giáo giống nhau ở điểm này. Ngoài điểm này
ra, hệ thống triết lý và phương pháp hành trì của mỗi
tôn giáo đều khác nhau. Ví dụ Thiên chúa giáo cho rằng con
người có thể lên thiên đàng. Phật giáo lại cho rằng con
người có thể đạt niết bàn giải thoát.
Ngay
như trong Phật giáo, chữ niết bàn cũng có nhiều nghĩa, Tì
bà sa luận bộ cho rằng đại niết bàn, là niết bàn rốt
ráo mà các đấng giác ngộ đạt tới khi lìa trần, không
những là trạng thái tách lìa phiền não ô nhiễm mà còn tách
lìa cả tâm thức. Tông phái này cho rằng tâm không thường
trụ. Do đó đức Phật Thích Ca Mâu Ni đối với tông phái
này chỉ là một nhân vật lịch sử, không còn hiện hữu
nữa.
Ngài
Long Thọ ngược lại khẳng định niết bàn giải thoát là
trạng huống tách lìa phiền não ô nhiễm. Nhập niết bàn
giải thoát không có nghĩa là đoạn diệt tâm thức, mà vẫn
phải có một người thành tựu niết bàn. Ðây là điều ngài
Long Thọ giải thích rất cặn kẽ.
Vậy
ngay trong hệ triết lý công nhận có niết bàn cũng có nhiều
kiến giải khác nhau. Ngay cả trong Phật giáo cũng có nhiều
điểm khác biệt giữa các tông phái. Bây giờ nếu người
theo Thiên chúa giáo thắc mắc không biết có phương pháp tu
nào trong đạo Thiên chúa có thể giúp đạt đến niết bàn
của Phật giáo hay không, câu trả lời khẳng định là không.
Tương tự như vậy, nếu Phật tử thắc mắc không biết có
pháp tu Phật giáo nào dẫn tới thiên đường của Thiên chúa
giáo hay không, câu trả lời đương nhiên là không có. Muốn
đạt niết bàn của Phật giáo, phải tu trọn vẹn theo phương
pháp Phật giáo. Còn nếu trong lòng không thấy hứng thú với
pháp tu Phật giáo thì nên tìm cho mình một tôn giáo khác thích
hợp hơn.
Hỏi.
Ðường tu Phật giáo đề cao lý trí quá độ. Có khi nào vì
vậy mà mang khuynh hướng xem thường những kinh nghiệm phi
thường, cho đó là điều phi lý không đáng quan tâm?
Ðáp.
Kinh nghiệm trực chứng khi nhập định là chuyện có thật.
Những kinh nghiệm này không phải ai cũng có nên phần lớn
chúng
ta chỉ có thể dựa vào suy luận để biết những điều này
là có thật.
Có
một số kinh nghiệm chỉ cần dựa vào tầng tâm thức thô
lậu là có thể biết được, nhưng cũng có một số kinh nghiệm
cần vận dụng những tầng tâm thức vi tế hơn mới có thể
biết được. Ví dụ khi ngủ, tâm thức trong trạng thái ngủ
luôn vi tế hơn tâm thức khi tỉnh, nhờ vậy lúc ngủ có thể
có được một số kinh nghiệm mà khi tỉnh không thể có.
Do
đó có thể dùng tâm thức khi mơ để quán chiếu về một
số chuyện. Lúc tỉnh có thể vận dụng lý trí để thấy
rằng tâm thức của mình vốn trong sáng, có khả năng thấy
biết không ngăn ngại. Dựa vào lý luận, chúng ta có thể
suy nghiệm và kiểm chứng những kinh nghiệm khác thường,
để thấy rằng có những điều chỉ có thể hiểu được
nhờ phương pháp khác thường, tỷ như kinh nghiệm đến trong
giấc mơ.
Hỏi.
Muốn giải thích giấc mơ thì phải làm sao? Có cần phải
có khả năng gì đặc biệt không? Nên tiếp cận qua phương
diện tâm lý, hay qua phương diện nào khác?
Ðáp.
Ðiều tôi đang nói đây không phải là giấc mơ thông thường,
mà là một số giấc mơ khác thường, ví dụ những giấc
mơ lặp đi lặp lại nhiều lần. Giấc mơ đến khi mới ngủ
không mấy quan trọng. Quan trọng là giấc mơ lúc về sáng.
Nếu quí vị thật sự quan tâm muốn tìm hiểu ý nghĩa sâu
xa của giấc mơ, phải nhờ đến những bậc chân tu có khả
năng điều khiển tầng khí vi tế để giúp giấc mơ của
quí vị được rõ ràng chính xác hơn. Nhờ vậy dễ phân tích
hơn.
Ðó
là nói cho vài trường hợp đặc biệt. Phần lớn giấc mơ
chỉ là hư vọng, không có ý nghĩa gì cả. Theo quan điểm
Trung Quán, tông phái cao nhất trong Phật giáo, thì mọi kinh
nghiệm tâm thức khi thức giấc đều là hư vọng cả. Ngay
khi tỉnh đã hư vọng, huống gì khi mơ.
Hỏi.
Vậy mơ có khi chỉ là hư vọng, làm sao có thể phân biệt
cái gì là hư vọng, cái gì là chân thật?
Ðáp.
Nói nhận thức khi tỉnh đều là hư vọng, đó là nói theo
Chân đế [chân lý rốt ráo]. Còn nói theo Tục đế [chân lý
qui ước], vẫn có cái gọi là nhận thức đúng đắn.
Nhận
thức đúng đắn có hai, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp.
Trong đời sống hàng ngày chúng ta thường dùng loại nhận
thức gián tiếp để mà so sánh nhận thức của mình với
nhận thức của người khác. Nếu so sánh như vậy mà cảm
thấy chao đảo hoài nghi thì cũng không cần phải hoảng sợ.
Cứ nhớ nghĩ về nghiệp, về cảnh sống luân hồi vốn là
khổ não, để giữ bình tĩnh. Rồi tiếp tục phân tích tìm
hiểu.
Hỏi.
Làm sao có thể phân biệt khi nào tâm đang hư vọng khi nào
không? Muốn tư duy phải dùng tới tâm, mà tâm chỉ là hư
vọng, vậy phải làm gì?
Ðáp.
Ở đây cần giải thích về hai cái nhìn đúng đắn, một
là cái nhìn đúng đắn thuộc phạm vi thế tục, hai là cái
nhìn đúng đắn thuộc phạm vi xuất thế.
Cái
nhìn đúng đắn thuộc phạm vi xuất thế là trực nhận chân
tướng của sự vật, thấy được tánh Không. Sự vật thấy
giống như một thực thể có tự tánh, hiện hữu một cách
độc lập, nhưng đây chỉ là cái thấy sai lầm. Cái thấy
sai lầm này khiến chúng ta tin chắc rằng sự vật có tự
tánh. Muốn nhìn ra cái thấy này vốn sai lầm, trước hết
phải hiểu sự vật tự nó không phải như ta thấy, tự nó
hoàn toàn không phải là một thực thể có tự tánh. Ngộ
được chân tánh của sự vật rồi, sẽ thấy rõ nhận thức
của mình về sự vật chỉ là nhận thức sai lầm.
Khi
phiền não dấy lên trong tâm, ví dụ lúc nổi cơn thương ghét,
chúng ta luôn thấy đối tượng của lòng thương hay ghét đó
là một chủ thể độc lập, chắc thật. Nếu hiểu đối
tượng của phiền não thật ra không giống như ta thấy, tự
nhiên lòng thương ghét sẽ giảm đi. Ở giai đoạn này, chúng
ta quán tánh Không.
Hỏi.
Thưa đức Ðạt-lai Lạt-ma, nói ở một mức độ thấp hơn
một chút, con người đối với nghiệp của mình có được
chút quyền năng gì không?
Ðáp.
Nghiệp có nhiều loại. Cùng gieo nghiệp thì phải cùng chịu
quả [cộng nghiệp]. Tự một mình tạo nghiệp thì phải tự
một mình chịu quả [biệt nghiệp].
Chúng
ta cùng có mặt ở đây hôm nay, đó là kết quả của nghiệp
đã gieo chung trong quá khứ. Nhưng nói gieo chung, không có nghĩa
là chung nhau tạo nghiệp ở cùng nơi, cùng lúc.
Nghiệp
đã gieo trong quá khứ thì không thể thay đổi. Nghiệp đã
gieo là phải chịu quả, bằng không phải sám hối để thanh
tịnh hóa. Nhưng thật sự chúng ta vốn có khả năng chi phối
nghiệp, vì tất cả những gì xảy ra trong tương lai đều
tùy thuộc vào hành động đang làm trong hiện tại.
Hỏi.
Tôi nghĩ vấn đề nằm ở chỗ nghiệp lực có khả năng chi
phối hành động trong hiện tại. So với lực chi phối của
nghiệp quả, ý chí và ước muốn của con người nằm ở
đâu?
Ðáp.
Như tôi vừa nói, nghiệp đã gieo rồi không thể thay đổi.
Hành động một khi kết thúc là để vết lại trong tâm thức,
nghiệp quả ắt phải tới. Nhưng tất cả những gì xảy ra
trong tương lai vẫn nằm trong tầm tay của chúng ta, vẫn do
chúng ta quyết định lấy. Ví dụ nếu bây giờ chúng ta gieo
nhân ác thì chắc chắn sẽ có ngày phải đối diện với
quả ác.
Tuy
vậy, ác nghiệp đã gieo trong quá khứ vẫn có thể bị phá
hủy nhờ công phu sám hối. Tương tự như vậy, thiện nghiệp
cũng có thể bị tiêu hủy vì việc làm bất thiện, ví dụ
như nổi tâm sân si giận dữ. Cũng có khi thiện nghiệp đủ
mạnh nên hóa giải được ác nghiệp. Thiện nghiệp cũng có
thể được bảo vệ [khỏi bị ác nghiệp phá hủy] nhờ hồi
hướng công đức.
Hỏi.
Cái gì tái sinh? Có phải là tâm thức cá nhân tan vào dòng
tâm thức lớn hơn, rồi từ đó hiện ra trở lại?
Ðáp.
“Cái tôi” tái sinh.
Hỏi.
Nhưng tôi không biết “cái tôi” là gì. Nếu tôi tái sinh,
tôi có biết tôi là ai đâu. Tôi không nhớ kiếp trước tôi
là gì. Tôi là ai?
Ðáp.
Ðể
trả lời cho câu hỏi tâm thức là của ai: tâm thức thuộc
về bản thân của người mang tâm thức ấy. Còn cái tôi có
thể tìm thấy được hay không, lại là một câu hỏi khác.
Nếu
nói rằng hễ tái sinh thì phải nhớ hết chuyện đời trước,
nói như vậy là lầm. Có chuyện có thể nhớ, có chuyện không.
Ngay như chuyện của kiếp này đã không thể nhớ hết. Nhưng
dù nhớ hay không nhớ, cũng vẫn không thể nói rằng "chuyện
đó không liên quan gì đến tôi".
Có
người nhớ rất rõ các đời quá khứ, nhưng người bình
thường phần lớn không ai nhớ chuyện tiền kiếp, vì khi
đi qua giai đoạn tiếp nối giữa hai kiếp tái sinh, tâm thức
bấy giờ vi tế hơn tâm thức lúc sống rất nhiều. Những
gì trí nhớ ghi nhận được ở tầng tâm thức vi tế này
không thể chuyển lại cho tầng tâm thức thô lậu sau khi tái
sinh.
Người
nào có chút kinh nghiệm với tầng tâm thức vi tế sẽ có
nhiều khả năng nhớ lại chuyện tiền kiếp hơn.
Hỏi.
Ngài có nói trước khi dấn thân vào con đường diệt khổ,
người tu phải biết chắc, phải có bằng chứng, rằng khổ
đau là điều có thể tận diệt. Vậy tìm đâu ra bằng chứng
này?
Ðáp.
Nguyên
nhân tạo khổ đau là điều có thể diệt bỏ, vì vậy khổ
đau cũng có thể diệt bỏ.
Nói
cho thật đơn giản, khổ đau bắt nguồn từ phiền não. Phiền
não bắt nguồn từ tâm lý chấp ngã [tâm lý cho rằng cái
tôi có tự tánh]. Cái thấy hư vọng của Tâm, cho rằng sự
vật có tự tánh, đây chính là điều cần được gạn sạch.
Mọi
tông phái trong Phật giáo đều vạch ra phương pháp diệt trừ
thói quen hư vọng này của tâm. Trung Quán tông nói rằng có
thể dùng lý luận để phủ nhận tự tánh của sự vật,
nhờ đó hiểu được tánh Không và thấy được tâm thức
vốn có khả năng tách lìa phiền não.
Hỏi.
Giải thoát có phải là trở lại với trạng huống nguyên
thủy, từ lâu bị che khuất, trở lại với Như lai tạng,
với Phật tánh, vốn có sẵn?
Ðáp.
Phật giáo không nói chúng sinh ban đầu vốn thanh tịnh trong
sáng, mà nói rằng vô minh không có khởi điểm, vì vậy khổ
đau và luân hồi cũng không có khởi điểm. Khi tâm một người
thoát khỏi phiền não, trạng thái ấy gọi là giải thoát.
Phật
tánh là tiềm năng có sẵn trong tâm thức mỗi người. Bao
giờ tiềm năng này được nhân duyên tác động, sẽ đủ
sức khai mở đến mức tối đa, thành tựu giác ngộ viên
mãn. Nhưng Phật tánh không phải là quả vị Phật.
Nói
cho cùng, phải hiểu niết bàn là sự tận diệt của khổ
đau, hay là sự mở rộng của thế giới hiện tượng, nói
cách khác, là tánh Không, làm cho thanh tịnh tất cả mọi phiền
não ô nhiễm. Niết bàn là tánh Không của Tâm lìa phiền não,
đồng bậc với luân hồi. Luân hồi và niết bàn không khác.
Ví
dụ, chiếc bàn trước mặt tôi đây không có voi. Bàn không
có voi, cũng giống như thực tại, không có tự tánh, và cũng
không có phiền não ô nhiễm.
Ðường
tu và cõi niết bàn đều không có tự tánh, vốn ở ngay trong
ta vì Tâm này cũng không tự tánh. Vì vậy tiềm năng của
niết bàn nằm ngay trong tâm của chúng ta. Sự không-có-tự-tánh
là chân tánh, là tánh Không (shunyata). Sự vật đã tùy nhân
duyên mà có thì hoàn toàn không thể có một cách độc lập,
hoàn toàn không thể có một cái tôi độc lập. Vì vậy tất
cả toàn là không.
Giải
thoát và niết bàn cần được giải thích từ góc độ của
người tách lìa vọng tâm. Không thể nói tới niết bàn của
cuốn sách. Chỉ có thể nói về niết bàn của chúng sinh hữu
tình.
Ở
thời đại tân tiến này, khoa học Tây phương hiểu nhiều
biết rộng về thế giới vật lý, nhưng dường như hiểu
biết về lãnh vực tâm thức lại rất hạn hẹp. Không nắm
vững lãnh vực tâm thức thì dù biết hết về thế giới
vật lý cũng chẳng ích gì. Trí tuệ nói đây không phải là
trí tuệ của chúng sinh nói chung, mà là trí tuệ của con người,
vì vậy mục tiêu khai mở trí tuệ phải là mang lại lợi
ích cho nhân loại.
Vì
vậy tôi thấy trí tuệ cần phải giữ quân bình giữa hai
lãnh vực: kinh nghiệm tâm thức bên trong và thế giới vật
lý bên ngoài. Nếu con người chỉ quan tâm nghiên cứu một
chiều, bỏ rơi lãnh vực tâm thức, làm như vậy sẽ đánh
lạc mất phần tâm tư tình cảm của con người. Lấy ví dụ
một vũ khí tối tân, tàn khốc lợi hại, xét trên khía cạnh
thuần vật lý, đây có thể là một thành tựu đáng kể.
Nhưng nếu nói về lợi ích đối với nhân loại thì vũ khí
như vậy không chắc gì đã có giá trị.
Tôi
tin rằng thảo luận về tâm thức không nhất thiết phải
liên quan đến tôn giáo. Việc này cũng rất quan trọng đối
với lãnh vực kỹ thuật, đối với kho tàng hiểu biết của
nhân loại. Nhìn theo khía cạnh này, triết lý Ðông phương,
nhất là triết lý Phật giáo, vẫn còn có thể mang lại nhiều
điều quí giá cho nhân loại trong thời đại mới.
(1)
Ðọc thêm về tâm vương, tâm sở: HT Thích Thiện Hoa, Phật
Học Phổ Thông, Khóa 9, tập 1, bài 3-9. Ấn bản điện tử
tại:
http://www.thuvienhoa
sen.org/phathocphothong-09.htm
(2)
Treasury of Manifest Knowledge, Phạn: abhidharmakosa. Dịch nghĩa,
Thắng pháp luận.
(3)
condition of observation.
(4)
main condition.
(5)
immediately preceding condition.
(6)
mental consciousness.
(7)
conceptual consciousness.
(8)
non-conceptual consciousness.
(9)
valid cognition.
(10)
invalid cognition.
(11)
uninterrupted and interrupted results.