PHẦN
II
VÀO
ĐƯỜNG TU CHỨNG
CÔNG
PHU TẤN TU
Hạ
thủ công phu đầu tiên là chuyên nghe trở lại tự tánh. Nghe
trở lại tự tánh không phải là lối nghe thông thường bằng
nhĩ căn, hiểu biết bằng nhĩ thức, mà chỉ là tánh nghe trong
nhĩ căn, tức là cái lý thể vô phân biệt. Với tánh nghe
này, dù có hay không có âm thanh vẫn được sáng tỏ rõ ràng,
không sai sót, giống như tánh thấy vậy. Như tấm kiếng dù
có hình hay không hình, kiếng vẫn sáng tỏ.
Hễ
lìa xa ức niệm, tánh thể thoáng đạt thênh thang như hư không
vẫn thường hằng phổ biến, vì vậy tánh nghe nếu không
sanh khởi vọng niệm, sẽ chiếu khắp pháp giới, đó là đạo
tràng nhất thừa tịch diệt vậy.
Nếu
hành giả chưa lãnh hội hoàn toàn một cách rõ ràng thì khi
tĩnh tọa cũng có thể nhận rõ đích xác. Khi tĩnh tọa được
một niệm không sanh, có thể tánh nghe này được thấy rõ
rỗng rang, trong sáng, chiếu diệu, chiếu khắp, không gì ngăn
ngại, nghe suốt mọi tiếng tăm. Cho đến lúc bên ngoài không
tiếng động tánh nghe này càng rộng khắp không giới hạn
(vô biên tế).
Đây
chỉ căn cứ vào cái quán xét tiếng tăm, nêu rõ cái thể
tánh nghe, không lấy cảnh động tịnh bên ngoài làm tánh nghe...
Khi đạt được tánh nghe này mới biết nó sẵn có tự bao
giờ, không do tu mới thành, chúng ta bị ám thị ngoại cảnh
do loạn tâm nên không biết.
Vậy
làm thế nào để nhập vào cảnh giới ấy?–Không cách nào
khác hơn là phải tự nghe trở vào bên trong tự tánh của
mình. Tuyệt đối một niệm không móng khởi, hồi quang phản
chiếu vào tự tánh. Khiến diệu cảnh thường hiện hữu,
vắng lặng, trong sáng, không được gián đoạn. Thiền gọi
là công phu miên mật.
Chú
tâm thường xuyên vào tự tánh gọi là nhập lưu, vọng ngoại
theo tiếng gọi là xuất lưu. Dùng cách nhập lưu trở về
tự tánh gọi là hiệp giác (hợp với tánh giác), lìa bỏ
mọi âm thinh ngoại cảnh (thinh trần) gọi là bội trần (phủi
bỏ trần cảnh). Một khi hành giả không chú tâm vào tiếng
tăm bên ngoài, chỉ hướng vào trong tánh nghe an trụ lặng
lẽ, thời những phân biệt thô thiển không còn nữa, tánh
nghe sẽ hiện rõ như mặt nguyệt mùa thu, trong suốt. Nếu
thoáng chốc lưu tâm đến âm động bên ngoài, tánh nghe sẽ
mờ mịt, không còn sáng suốt nữa. Vì vậy không bao giờ
quan tâm đến động tịnh, (động tịnh đều không) mới thành
tự tánh bổn định.
Một
khi hạ thủ công phu phải ít nói, ít động, càng tịnh càng
tốt. Trường hợp bất đắc dĩ phải nói năng, tánh nghe đang
hạ thủ công phu vẫn không gia giảm. Trước khi hạ thủ công
phu, hành giả phải nghiên cứu thật tường tận nghĩa lý
trong kinh, để được thông suốt, khi bắt tay thực hiện,
lúc bấy giờ không còn vướng bận tri giải: Thiền tông gọi
là đơn đao trực nhập.
Nhập
lưu là hiệp giác chiếu lý, cũng là phép quán nhiệm màu giản
tiện. Vọng sở là bội trần dứt vọng cũng là phép chỉ
nhiệm màu giản tiện. Thật hành lâu dài chắc chắn thành
tựu. Thể dụng viên dung kín nhiệm đều do tâm địa phát
ra. Đó gọi là phát minh bổn tánh, chơn như diệu giác sáng
suốt.
Tuy
hành giả hạ thủ công phu phản văn tự tánh, không chuyên
tĩnh tọa, nhưng bậc sơ khởi cũng phải cố gắng dụng công
tọa định thuần thục. Tuyệt đối bỏ quên ngoại cảnh,
thậm chí những việc thiện lăng xăng đều không làm huống
là các điều thế sự. Nếu ai hỏi đến đạo lý, phải nương
tựa vào phép phản văn đó, trả lời đơn giản, không nên
nói nhiều, những lúc lễ Phật, ăn mặc, nói năng, lưu động
trong bốn oai nghi phải phát khởi làm cho tánh nghe được rõ
ràng. Trong lúc đó, tánh nghe là toàn thể pháp giới vậy.
Hỏi:
–
Dứt trần động, nay lại dứt trần tịnh, Thinh trần (động)
trái với tánh nghe nên dứt dễ dàng. Nay trần tịnh cùng lặng
lẽ như tánh nghe, thuận hợp với nhau làm sao dứt bỏ?
Đáp:
–
Nếu tánh nghe được hiển lộ, tịnh trần kia dứt không khó.
Vì tánh nghe là tâm, tịnh trần là cảnh, tâm là linh tri bất
muội, còn cảnh thì vô tri, tăm tối, cảnh là cảnh, tâm là
tâm rất dễ phân biệt. Nếu hành giả chưa thấy tự tâm,
tập nhiếp niệm thành định, lần lần đi sâu vào định
tâm, từ sức định đó cảm biết rộng lớn vô cùng, nhưng
nó cũng là cảnh giới tịnh trần. Đến khi định lực kia
hết rồi tịnh trần (cảnh giới tịch tĩnh) cũng không còn.
Ngộ được tự tâm, thấy rõ tánh nghe xưa nay tịnh lặng
vô biên, không do nhiếp niệm mà thành, không nương ngoại
cảnh mà có, như vậy tánh nghe và tịnh trần không liên hệ
gì với nhau. Công phu phản văn càng thâm thúy, tánh nghe càng
tỏ, thì động và tịnh trần càng xa lìa.
Tu
đến đây là cùng tột của sự vong trần, về công năng ngôi
vị, ngang hàng sơ quả của nhị thừa. Kinh KIM CANG nói: Gọi
là nhập lưu mà thật ra không có chỗ vào, vì không vào, sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp nên gọi là Tu-Đà-Hoàn. Đây là
khi lìa được thinh trần thì 6 trần kia đều chấm dứt.
Phần
trên là giải thoát hai trần động tịnh, nay cởi bỏ đến
nhĩ căn. Trước đây khởi phương tiện lìa tiếng động tịnh
(vong trần) nên lập có hai thứ: năng văn và sở văn (cái
nghe và cái bị nghe) tức là căn và trần. Khi cái tướng của
tiền trần chấm dứt, không có đối tượng thì căn cũng
không còn, cả năng và sở đều chấm dứt.
Căn
diệt nhưng tánh vẫn còn; căn trần đều dứt năng sở đều
vong, không còn tự tha, chỉ một pháp tánh gọi là nhơn không,
địa vị đồng thời với A LA HÁN, quả thứ tư của tiểu
thừa; Kiến hoặc và tư hoặc đều chấm dứt (cái thấy hiểu
sai lầm và nghiệp tập đều chấm dứt). Khi thoát khỏi cả
căn và trần, tịch cảnh (tâm tịnh) hiện ra, đó là cảnh
sở giác (cảnh được ngộ). Cái trí chiếu soi cảnh sở giác
gọi là năng giác (trí ngộ, trí chứng).
–
Giác và sở giác đều không là gì?
–
Trí năng giác và cảnh sở giác đều rỗng lặng, không còn
tương đãi đối lập nhau. Đến đây ra khỏi giác quán, lìa
được pháp chấp, đoạn dứt phân biệt phiền não nhỏ nhiệm.
Bây
giờ tiếp đến thoát ly trí trùng không (hai cái không). Tức
là trí diệt hết cả cái trí và cảnh không đã nói ở trên.
Bởi vì cái trí trùng không vừa khởi lên chưa đầy đủ
nên cái trí và cảnh không đó trở thành cảnh sở không,
và cái trí trùng không thành trí năng không, cả hai vẫn tồn
tại. Vì vậy, chẳng những trí cảnh sở không kia phải dứt,
mà cái trí trùng không cũng phải diệt luôn. Khi duyên ảnh
chướng ngại vi tế đó chấm dứt, thành tựu được pháp
giải thoát (pháp không), tánh thể chơn quang hiển lộ, trần
sa hoặc sạch hết.
Trên
đây giải rõ tướng câu không bất sanh. Đồng thời cũng
nói sáu gút: ĐỘNG–TỊNH–CĂN–GIÁC–KHÔNG–DIỆT đều
do tâm sanh diệt:
1)
Giải rõ ĐỘNG diệt TỊNH sanh
2)
Giải rõ TRẦN diệt CĂN sanh
3)
Giải rõ CĂN diệt GIÁC sanh
4)
Giải rõ GIÁC diệt KHÔNG sanh
5)
Giải rõ KHÔNG diệt DIỆT sanh
Nếu
chấp trước vào tướng diệt cuối cùng, sẽ bị tướng diệt
che đậy, trụ luôn vào cảnh câu không (hai lớp không), đó
là rơi sâu vào chỗ chướng mê vi tế cho nên khi tiến đạt
đến chỗ cao sâu, phải thận trọng thoát khỏi tâm vướng
mắc trụ chấp đó (nói theo chư Tổ: Ở trên đầu sào trăm
thước, bước thêm một bước). Tổ sư gọi đó là chỗ vướng
sau cùng. Song việc đó không đòi hỏi công phu lao nhọc, chỉ
cần tâm không trụ, không trước là được (vô công dụng
đạo); chỉ một thời gian ngắn tánh lý tỏ lộ, liền được
thoát ly diệt tướng. Khi lý thể hiện tiền, thì sơn
hà đại địa chuyển hóa thành tri giác vô thượng, thần
thông diệu dụng từ đó phát sanh. Những điều trên nói về
việc tu hành dụng công theo thứ tự từ thấp đến cao đã
hoàn tất.