PHẦN
I
KHAI
THỊ THEO TÔNG CHỈ KINH LĂNG NGHIÊM
Giáo
lý của Phật trong 49 năm giảng dạy, tuy có phân ra: quyền
thiệt đốn tiệm, không ngoài mục đích chỉ rõ chỗ dụng
THỨC và không dụng THỨC. Vì mê mờ, chúng ta thường lầm
chấp thân hoặc tâm từ đó–Niết Bàn đã ở ngoài tầm
tay, lục đạo trở thành gia tộc của ta. Kinh Viên Giác đã
nói: “Nhầm lẫn nhận năm uẩn, bốn đại, cho là thân mình,
căn cứ vào sự phân biệt ngoại cảnh cho là tâm mình...”
đó cũng vì dùng tâm thức hiện khởi.
Muốn
tu theo pháp LĂNG NGHIỆM ĐẠI ĐỊNH chúng ta tuyệt đối không
dùng đến TÂM THỨC. Vì dùng tâm thức phân biệt để tu đạt
đến chơn tâm thường trụ là việc không thể có, hoài công
như người nấu cát mong thành cơm.
Thức
xuất hiện dưới nhiều hình thức, nên ta dễ nhầm lẫn nó
là tâm hoặc định, thật ra không phải chơn tâm, cũng không
phải định thể, trái lại còn làm chướng ngại thêm cho
tánh định sẵn có của chơn tâm. Với sự trá hình lầm lẫn
đó, hàng phàm phu, tiểu thừa, ngoại đạo, quyền giáo đều
bối rối, lẩn quẩn, không nhận định đâu là chơn, đâu
là vọng, như người lạc vào mê hồn trận, càng đi càng
cách xa. Vì vậy, Kinh Lăng Nghiêm, Phật phải bảy lần phá
bỏ vọng thức bị nhận lầm là tâm, và mười phen chỉ rõ
cái tánh thấy biết của con người–không phải là cái thấy
biết ở giác quan.
Với
thiện tâm tu niệm cao độ, chúng ta cố gắng xã bỏ tâm thức
tán loạn vọng động, để tạo cái tâm an định, tịch tĩnh,
như vậy chúng ta vẫn còn vấp phải một lầm lẫn–tránh
vỏ dưa gặp vỏ dừa–buông cái này để bắt cái nọ vẫn
kẹt vào tánh chấp thủ, không thể tiến xa hơn được để
đạt một chơn tâm bổn định cho chúng ta. Y cứ vào kinh Lăng
Nghiêm hầu đạt lời Phật, còn bị coi là một sai lầm, huống
nữa một tâm thức tịch tĩnh an định không phá bỏ ư???
Phần
nhiều người tu hành quan niệm đạt đến trạng thái tĩnh
lặng, dứt niệm gọi là đã đắc định, nhưng thật ra vẫn
chưa thoát khỏi khuôn khổ của tâm thức. Lúc đạt được
như vậy, ngỡ rằng định lực dễ dàng, từ đó, ý niệm
dễ duôi, buông lung, đạt được như vậy, thật tiếc, vẫn
chưa phải là cứu cánh. Đó chỉ là giai đoạn sơ khởi chuẩn
bị lâu dài cho con đường tu tập của ta.
Với
tinh thần tín mộ Kinh LĂNG NGHIÊM, trong chúng ta, cần phải
xã bỏ tâm thức dưới mọi hình thái mới hy vọng đạt được
tánh định sẵn có của tự tâm. Khi đã lìa bỏ được tâm
thức vọng niệm đó, ta mới nhận rõ được thể tánh thấy
nghe, hiểu biết thường tại trong các giác quan của mình.
Nếu ta hiểu được tánh sẵn có đó, cố gắng giữ gìn mãi,
sẽ thành đại định chân thật. Đó là tự tánh chơn định
khác với lối định của phàm phu, ngoại đạo, quyền giáo,
tiểu thừa, căn cứ vào tâm thức thứ sáu làm nhân để tu
định.
Vả
lại, nếu trong chúng ta mãi căn cứ vào tâm sanh diệt vọng
động đó để tu định, thì định đó sẽ tùy thuộc tâm
sanh diệt của ta có nhập, trụ và xuất.
Lúc
nhập thì có định, khi xuất thì không có định, cảnh tịnh
thì thuận, cảnh động thì trái nghịch, như vậy định đó
vẫn không thoát khỏi luân hồi sanh diệt.
Đó
là nguyên nhân cố gắng cưỡng ép tâm thức sanh diệt để
cho yên định, sự thật chưa tỏ ngộ được chơn tâm bất
động sẵn có, đã nhận lầm giả tưởng là chơn thật.
Có
nhiều kinh luận vạch rõ thể tướng của chơn tâm, nhưng
vẫn chưa chỉ thẳng trong thân hiện tại của chúng sanh nó
thuộc phần nào, nằm ở đâu! Vì thế phần lớn chúng sanh
tu hành xã bỏ được cái tâm phân biệt thô lậu, nhưng còn
cố suy tư, nghiên tầm những nghĩa lý thâm diệu, để cầu
ngộ nhập chơn tâm, song cuối cùng vẫn lọt vào lối cũ của
phạm vi ý thức vi tế hơn, vẫn luân lưu trong cảnh giới
nhỏ hẹp cạn cợt. Kinh LĂNG NGHIÊM, Đức Thế Tôn co duỗi
cánh tay, nắm mở bàn tay, phóng quang hai bên tả hữu, để
gạn hỏi ANAN về tính chất động và tịnh. Do đó, ANAN hiểu
được nơi thân mình cái diệu tánh sẵn có–luôn luôn bất
động, không liên hệ đến thân cảnh vọng động lao xao.
Trong chiều hướng lìa ngôn ngữ để chỉ bày thực tại,
ngón tay phóng quang của Đức Thế Tôn đẩy ANAN rời xa ý
niệm tư duy để lãnh hội tánh bất động của mình sẵn
có, vì thế, đầu ANAN có lay động theo sự phóng quang của
Đức Phật, nhưng tánh thấy vẫn không hề lay động, thay
đổi. Biết được điều đó, thân ta dầu trải qua vô số
kiếp trong nẻo luân hồi, nổi trôi trong hằng sa thế giới,
nay đây mai đó, cái tánh thấy vẫn thường hằng như hư không,
chẳng bao giờ suy giảm, dao động. Hiểu được như vậy,
trong các động tác hàng ngày như đi, đứng, nằm, ngồi, chúng
ta vẫn an trụ trong tự tánh chơn định của mình. Thêm một
lần nữa, vì lòng từ đối với chúng sanh lầm lạc. Phật
vạch rõ tánh nghe thường hằng của ta luôn luôn tồn tại,
không gián đoạn theo âm thinh ngoại cảnh, ngài lại đánh
chuông để khai ngộ, ANAN nhận là nghe chuông ngân khi còn phát
tiếng, và hết nghe khi chuông im lặng. Phật bảo rằng: với
ý thức sai lầm chúng ta có nghe và không nghe theo thinh trần,
thật sự, tánh nghe–hay nói cách khác, bản chất của
cái nghe vẫn bất diệt.–Dưới hình thức khác của sự mê
vọng–Phật lại chỉ rõ vọng tưởng do ý thức phân biệt
sai lầm như người đang ngủ nghe tiếng chày giã gạo, cứ
ngỡ tiếng trống hoặc âm động của một vật phát khởi.
Tại sao với âm động đó, khi thức, nhận định khác với
lúc ngủ? Sự lầm lẫn đó là do ý thức phân biệt có khác
nhau, nhưng tánh nghe vẫn không thay đổi, thức cũng như ngủ,
vẫn lặng lẽ thường còn. Căn tánh là chơn thể của vạn
vật, vạn vật là giả tướng của căn tánh. Cái chơn tâm
sâu kín nhiệm mầu, vẫn tàng ẩn dưới dạng tánh thấy nghe
thường nhật. Ngày nay, người học đạo ỷ lại vào tánh
(thiên chơn) của mình, không cầu đến chỗ cứu cánh. Nghe
luận đến căn tánh hiện khởi, lại chấp thủ lấy bản
thể thường tịch, lìa bỏ sự tu chứng. Mới an trụ vào
bực sơ giải nhơn không (có tri kiến vô ngã) đã tự mãn,
không ngờ rằng vi tế nghiệp (vi tế phiền não) vẫn chưa
tiêu, làm sao thoát khỏi cảnh giới tình trần; Tâm sinh diệt
chưa dứt, làm sao vượt khỏi muôn trùng khổ não trong ba cõi
để đạt chứng viên thông, như người canh giữ kho vàng mà
vẫn chịu nghèo nàn khổ lụy.
Có
người hỏi:
–
Phần đầu của kinh bảo phải phá bỏ, xa lìa cái thức hư
vọng, phần sau của kinh lại bảo thức là chơn, cũng gọi
là tạng tánh nghĩa ấy thế nào?.
Đáp:
–
Thức, tuy là tạng tâm, nhưng nó là căn bản của sanh tử,
nếu không phá bỏ, chúng ta sẽ lầm lẫn, dùng nó để tu
tập như người nấu cát mong thành cơm. Thức tuy là vọng
động nhưng là hiện tượng của tâm (duy tâm sở hiện), nếu
không dung nhập với tạng tánh thì ngoài tâm còn có pháp hay
sao? Vì bản chất của thức là vọng tưởng nên phải dung
nhập vào tâm để tránh sự trở ngại tu tập. Chung qui vẫn
không ngoài lời Phật dạy, tất cả trở thành diệu chỉ.
Trong
kinh nói về bốn khoa, bảy đại, ba Như Lai tạng, mười pháp
giới tâm, tất cả đều là thể lượng cùng cực của căn
tánh. Người tu viên thông phải hiểu rõ trong chỗ phản văn
đã thâu gọn vạn hữu cùng tột nhất chơn. Cả đến vấn
đề khai thị tạng tánh sẵn có, chỉ là phương tiện cho
những người tu viên thông làm chỗ ngộ nhập. Vì vậy, chư
Tổ trực chỉ chơn tâm, phần nhiều không dùng văn tự: bằng
những động tác đánh, hét hoặc kết hợp với pháp khí thích
ứng với trình độ người đương cơ sẽ đưa thẳng họ
đến nơi chứng đắc quả là diệu thủ. Nếu có dùng ngôn
từ, cũng chỉ là phương tiện đánh trúng mạch ngộ trong
tự thân của kẻ cầu đạo mà vẫn không làm cho họ trụ
chấp ngôn ngữ. Trên pháp tọa, Đức Phật cầm nhánh hoa đưa
lên giữa đại chúng, Ca Diếp đã đáp lại bằng nụ cười
thâm thúy lãnh hội. Đó là một trong những động tác khai
thị của thiền giới.
Vì
căn cơ bất đồng, thiền tông phải lìa ngôn ngữ, bên giáo
phải dụng từ văn. Thiền gia muốn hành giả hốt nhiên đại
ngộ, không qua phương tiện ngôn ngữ, bên giáo tạo cho hành
giả nương vào văn tự, ngôn ngữ, để tỏ nhập chơn tâm.
Nay
dùng nhĩ căn để tu, áp dụng phương pháp phản văn (nghe trở
lại tự tánh) tri giải (sự hiểu biết, suy luận) phải chấm
dứt, không nên bận tâm vào bất cứ điều gì, phải giữ
trạng thái thanh thản an nhiên. Lúc dụng công như vậy, mọi
hiện cảnh, trạng thái trước mắt cũng như trong tâm, không
nên quan tâm lưu ý. Chúng ta chỉ chuyên chú trong vô biên pháp
giới ở tánh nghe mà thôi. Nhờ chú tâm ở tánh nghe, nên ngoại
cảnh động tịnh không thể chi phối ta được. Và tâm thức
cũng vậy, không liên quan đến tánh nghe, nên khi nhớ hay quên
vẫn không thay đổi nó được.
Tâm
thức và tánh thấy nghe v.v... như tấm kiếng và ảnh rọi
vào. Khi thức khởi hiện gọi là nhớ, như ảnh hiện vào
tấm kiếng: khi thức diệt, gọi là quên như ảnh mất đi,
gương kiếng vẫn không bị tác động chi phối hay ngăn ngại.
Cũng như vậy, tánh thấy nghe không hề gia giảm bởi tâm thức.
Điều này bên tông gia gọi là thời tiết hợp thành một
khối.
Vì
thế lối tu pháp “Tự tánh bổn định” này khác hẳn với
lối tu chỉ quán thông thường. Thường thường, chỉ quán
là do công phu luyện tập lâu ngày thuần thục mới kết hợp
được tâm và cảnh nhất như, không lấy ngay tự tánh sẵn
có làm định. Trái lại, Kinh LĂNG NGHIÊM dùng định viên mãn
của tự tâm sẵn có làm THỦ LĂNG NGHIÊM, không khởi tâm
đối cảnh để chỉ quán sanh định.
Người
hành pháp nắm được thể tánh chiếu diệu đó, liền khởi
công tu luyện gọi là vi mật quán chiếu–không cần lấy
tư duy tu tập làm quán. Chúng ta nên nhớ rằng cái định này
vốn tự tánh sẵn có, thường hằng, không ngoài tự tánh
bất động, còn gồm thâu cả muôn pháp vạn sự vốn xưa
nay bất động cùng làm một thể chơn định. Nếu không gồm
cả vạn hữu đó, mà chỉ ở nhất tâm bất động, đều
không phải cái định viên dung.
Kinh
LĂNG NGHIÊM còn dạy:
Dù
diệt hết điều thấy nghe hay biết, vẫn giữ cái u nhàn tịch
tịnh bên trong thì vẫn còn bóng dáng của pháp trần phân
biệt. Đó là trạng thái của phàm phu, ngoại đạo, tiểu
thừa và quyền giáo chấp trụ cho là pháp tánh–thật ra chỉ
là bóng dọi của pháp trần,–không phải vật thể. Không
biết rằng các pháp vốn không, bỏ bên ngoài nương vào bên
trong chẳng khác nào cảnh ngoài vẫn còn hiện trong gương.
Chỉ là trạng thái tương tợ bất động, kỳ thật trong ức
niệm vẫn tồn tại chủng thức ngoại vật; cái hình bóng
pháp trần bất động tịch tịnh đó vẫn không thể diệt
được. Các hàng phàm phu, ngoại đạo, quyền giáo, tiểu thừa
đều lấy ý thức tư duy làm quán, ý thức yên định làm
chỉ, lìa ý thức ấy ra không có cái thể định huệ nào
khác, vì vậy, căn bản vốn là phân biệt thì không thể nào
dứt khoát hư vọng.
Vả
lại, cảnh là pháp trần, tâm sanh phân biệt, cảnh và tâm
không thể rời nhau, mà tự cho là thanh tịnh, kỳ thật toàn
là hư vọng loạn động và hư chuyển. Nếu định có xuất
có nhập, đều thuộc vi tế phân biệt, chỉ nương vào vi
tế phân biệt đó để duy trì cảnh tịch tịnh kia, một khi
không phân biệt nữa, cảnh tịch định liền mất, gọi là
xuất định. Tu LĂNG NGHIÊM ĐẠI ĐỊNH không thể như vậy.
Trên
đây là phần phá thức hiển tâm để chỉ rõ cái định.–Thuộc
phần tông chỉ đã xong.