PHẦN
PHỤ LỤC
24.
BƯỚC VÀO CỬA PHẬT
Sau
những năm tù đày dưới bàn tay bạo quyền ác nghiệt của
cộng sản, rồi sau đó tôi đã phải sáu lần lặn lội chui
nhủi mới trốn thoát được đến đảo tỵ nạn và nay định
cư ở Mỹ.
Sáu
năm sống trên đất Mỹ, tôi đã dời đổi gia đình đi khắp
bảy tiểu bang. Từ tiểu bang ấm Cali đến tiểu bang lạnh
Minnesota và giờ đây là Chicago. Nơi nào tôi cũng thấy xa lạ
thiếu vắng tình quê hương, thiếu cả tình người.
Hôm
nay rằm tháng mười, gia đình người bạn đến rủ tôi đi
chùa lễ Phật. Nghe đi chùa, vợ con tôi vui mừng thúc dục
tôi. Thế rồi, chúng tôi cùng lên xe. Chẳng mấy chốc từ
xa tôi đã thấy cờ Phật giáo phất phới bay trên nóc cao
của một building lớn. Lòng thầm nghĩ rằng nơi đó có lẽ
là chùa. Quả thật, đúng như tôi đoán, ba chữ Chùa Quang
Minh màu đỏ tiếp tục lớn hiện ra trên mặt tiền của một
building. Chúng tôi cho đậu xe rồi cùng bước vào chùa.
Đây
là lần đầu tiên trên đất Mỹ tôi đến chùa. Chùa Quang
Minh Chicago không giống như chùa ở quê nhà có vườn cây hoa
lá. Nhưng chùa khá rộng và khang trang. Chúng tôi vào đúng
lúc buổi lễ bắt đầu. Chánh điện phía sau còn nhiều chỗ
trống. Tôi nghĩ lạ, tại sao ngày rằm tháng mười lại ít
người về chùa. Nhưng khoảng 15 phút sau, tôi quay lại nhìn
phía sau thì thấy người ngồi đầy chật chánh điện. Ừ,
té ra người ta đi chùa, làm việc phước thiện ít sốt sắng
hăng hái. Nhưng đi nhảy, đi coi hát, tiệc tùng thì lúc nào
cũng đi đúng giờ khắc, nhiều khi đi trước giờ nữa là
khác. Thế thì bảo sao cuộc đời không đầy dẫy tội các
phiền khổ.
Từ
đó suy ngẫm, có lẽ người Việt mình vụng tu, nên phải
chịu kiếp tha hương chăng?
Tôi
đang miên man suy nghĩ, thì ba hồi chuông trống Bát Nhã
chấm dứt, vị xướng ngôn viên kêu gọi mọi người trang
nghiêm im lặng một phút để tưởng niệm những vị đã vì
pháp vong thân, những anh hùng tử sĩ đã vì nước hy sinh và
những đồng bào vì lý tưởng tự do mà đã bỏ mình trên
khắp nẻo.
Ôi!
Thật là giờ phút trang nghiêm và đầy ý nghĩa. Dù sống ở
đâu và phương trời nào, chúng ta cũng nhớ đến những người
đã hy sinh để chúng ta được sống còn. Ý nghĩa này, lần
đầu tiên sau sáu năm trên đất Mỹ, tôi thấy sống lại
trong ngôi chùa. Ngôi chùa ôm ấp hồn dân tộc. Với lời giới
thiệu chững chạc của bác xướng ngôn viên, tôi được biết
vị thầy đang đứng nơi điện Phật trước mặt chúng tôi
là Thượng Tọa Thích Đức Niệm. Cái tên nghe rất quen thuộc,
từ mấy mươi năm trưóc, khi còn ở quê nhà, tôi đã từng
nghe đến danh của Thượng Tọa Thích Đức Niệm, và nếu
không lầm, thì tôi cũng đã từng đọc những bài của Thầy
đăng trong các báo Bách Khoa và Thông Thiên Học Sàigòn. Trong
khi tâm trí tôi đang miên man sống về những kỷ niệm của
thời dĩ vãng nơi quê hương, thì giọng nói Thầy đĩnh đạc
cất lên:
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kính thưa quý Phật tử và
quý đồng hương ... Và Thầy mở đầu bài thuyết pháp. Đây
cũng là lần đầu tiên tôi đi chùa nghe thuyết pháp trên đất
Mỹ. Lời giảng của Thầy thật trầm hùng bình dị thực
tế, nhưng thật sâu sắc. Nếu nghiệm kỹ ra thì những lời
giảng đó đem áp dụng vào đời sống sẽ đem lại kết quả
hạnh phúc lợi ích vô cùng. Tôi còn nhớ một trong những
đoạn của bài Thầy giảng hôm ấy, nay xin lược kể ra đây:
"...
Sau thời 1963, tôi (tức Thầy Đức Niệm) đã có được phước
duyên thường hầu cận Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết
ở chùa Ấn Quang. Những lúc thanh thản tôi quạt hầu, Ngài
kể cho tôi nghe những chuyện cung miếu triều vua và những
chùa viện cùng các bậc cao tăng ở đất thần kinh cố đô
Huế. Trong lúc đó, Ngài có kể một câu chuyện về ông quan
tri huyện kiêu mạn tự cao như thế này:
Có
một ông tri huyện hán học uyên thâm chữ viết rồng bay phượng
múa, nhưng có cái tật cậy tài thông minh, ỷ mình con nhà
quyền thế, nên tánh tình cao ngạo, manh tâm gian ác lấy việc
hãm hại người làm thú vui đắc chí. Tuy có tài, nhưng thiếu
phẩm hạnh, dù luồn cúi khắp phương, nhưng trên đường
quan lộ, ông huyện không thăng tiến thêm được bước nào.
Bạn bè ông huyện, tuy tài không bằng ông, họ lại cũng không
phải xuất thân từ nhà quyền thế, nhưng ai nấy đều tiến
thân, có người được dân chúng mến trọng.
Nhìn
lại thân phận, ông huyện buồn đời, nên có ý muốn tìm
nơi an ủi tâm hồn. Từ lâu, ông đã nghe nói đến kinh Kim
Cang là bộ kinh ý nghĩa thâm thúy trong Phật giáo. Ông cũng
đã nghe nói đến Lục Tổ Huệ Năng cũng nhờ câu kinh Kim
Cang "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" mà ngộ đạo đắc Tổ.
Ông huyện tự nhủ: Lục Tổ Huệ Năng không biết chữ, chỉ
nhờ nghe một câu kinh Kim Cang mà ngộ đạo. Huống chi mình
thâm nho bác học như thế này chắc phải thông suốt lý kinh
đạt đạt đạo mau hơn.
Nghĩ
vậy, ông huyện nhờ người tìm kinh, bắt đầu lập bàn thờ
Phật, sớm hôm chuyên tụng kinh Kim Cang. Suốt gần 15 năm ông
huyện trì tụng kinh Kim Cang không mấy khi bê trễ. Và cũng
nhờ vậy mà ông vơi nhẹ đi tủi thân phiền muộn, vợ con
người ở trong nhà cũng nhờ đó mà đỡ bớt bị ông cau
có la rầy đay nghiến đánh mắng. Từ ấy, trong nhà vợ con
ai nấy đều lấy làm mừng.
Vợ
ông huyện thấy ông cũng đã hơn năm mươi tuổi, kinh kệ
cũng nhiều năm, nên đã nhiều lần thừa lúc ông vui, bà huyện
khuyên ông nên tìm thầy quy y để nương tựa tinh thần, tu
học đạo cho mau có kết quả. Cứ mỗi lần bà huyện khuyên
như vậy, là bị ông huyện gạt phăng: "Đàn bà biết gì.
Bà có biết cả xứ Huế ni không có ông thầy nào thông hiểu
kinh Kim Cang bằng tui. Tui còn dạy những ông thầy ấy được
nữa là khác. Đâu có ông nào xứng đáng để cho tôi bái
làm thầy cầu đạo. Tôi không cần quy y tăng. Tôi chỉ quy
y Phật pháp nhị bảo mà thôi" Có đôi lúc bạn bè cũng khuyên
ông huyện nên tìm bậc cao tăng theo lời Phật dạy để mà
quy y Tam Bảo. Nhưng ông nói cười xã giao cám ơn lòng tốt
của họ và từ chối khéo. Tánh tình ngạo mạn của ông huyện
ngày một đồn lan xa.
Để
cảm hóa người sa cơ vào đường tội lỗi vì mạn tâm khinh
tăng, Đức Tăng Thống Thích Tịnh Khiết vốn là bậc cao tăng
trụ trì chùa Tường Vân Huế. Ngài là bậc cao tăng đức
trọng được trong từ vua cho đến ngoài dân gian kính phục.
Ngài đến nhà ông huyện thăm, nhằm lúc ông huyện đang bận
tụng kinh Kim Cang, miệng tụng đọc theo tiếng chuông
mõ gõ đều. Đức Tăng Thống lặng lẽ đứng phía sau cửa
nhìn nghe thấy tiếng chuông mõ của ông huyện, Ngài lắc đầu
thầm than: Chưa được! Chưa được!
Bà
huyện thấy thế chấp tay kính cẩn thưa : Bạch Ôn, như thế
nào?
Đức
Tăng Thống lại lắc đầu nói: Chưa được! Chưa được!
Bà
huyện không hiểu ất giáp gì, chỉ biết thành tâm chấp tay
thưa: Xin thỉnh Ôn ngồi chứng nước. Chút nữa ông nhà con
tụng kinh xong ra hầu Ôn.
Đức
Tăng Thống lắc đầu: Chưa được! Chưa được! Thôi, tôi
xin cáo từ. Xin gửi lời thăm ông huyện.
Khi
ông huyện tụng kinh xong, bà huyện kể lại đầu đuôi câu
chuyện vừa xảy ra. Ông huyện nổi cơn thịnh nộ lôi đình
nạt bà huyện, rồi to tiếng quát: Ông Thầy Tường Vân này
dám nói ta tụng kinh chưa được. Dám cả gan thật! Hôm nay
để ông thầy này biết tay ta! Ông huyện giận dữ vội vã
kêu người hầu gọi xe đưa ông lên chùa gấp để gặp Hòa
Thượng Tăng Thống ăn thua đủ một phen. Thấy ông huyện
quá nóng, sợ sẻ xảy ra việc không hay, nên bà huyện khúm
núm đến chấp tay bái xá ông huyện lia lịa miệng khẩn nài:
Tôi van xin ông! Việc có chi nà! Việ đâu còn đó! Nhưng bị
ông huyện dùng tay hất mạnh làm bà phải văng ra xiểng liểng
suýt té nhào xuống bực thềm tam cấp. Ông hấp tấp lên xe,
không ngớt thúc dục người đánh xe chạy gấp gấp.
Vừa
đến cửa chùa, ông huyện vội nhảy phóc xuống xe, xông thẳng
vào chùa, miệng quát to: Có ông thầy Tường Vân ở chùa không?
– Nghe có tiếng quát lớn, chú điệu liền chạy ra chắp
tay: A Di Đà Phật, bẩm ông có việc chi cần gấp?
Ông
huyện lớn tiếng nạt: Phật Phật gì? Có thầy mi ở chùa
không, bảo có quan huyện đến cần việc gấp. Mau lên!
Thấy
thái độ giận dữ của ông huyện, chú điệu hoảng hốt
vội chạy thẳng vào liêu phòng thỉnh bạch Đức Tăng Thống.
Ngài
chậm rãi khoan thai bước ra. Ông huyện vừa thấy Đức Tăng
Thống, cơn thịnh nộ cực độ liền chỉ tay lớn tiếng hằn
học:
- Vừa
rồi thầy đến nhà tôi, nói tôi tụng kinh chưa được, có
phải thế không?
- Mô
Phật đúng thế.
- Tại
sao chưa được, nói, nói mau?
- Mô
Phật! Nếu đã được thì quan huyện đâu cần phải gấp
rút đến tìm tôi như thế này? Nơi cửa Phật thanh tịnh,
quan huyện đã thấy lòng mình được thanh tịnh chưa? Bình
thản vô sở trụ chưa?
Trước
phong thái bình thản an nhiên uy nghiêm từ hòa của Đức Tăng
Thống, ông huyện lại càng thêm bực tức.
Đức
Tăng Thống từ hòa nói: Kinh dạy vô nhơn, vô ngã, vô chúng
sanh, vô thọ giả! Vừa nghe Đức Tăng Thống nói đến câu
này, ông Huyện như tỉnh ngộ, hổ thẹn xá chào, quỳ xụp
lạy, rồi xin kiếu lui.
Về
sau, khi ông huyện chết, mắt mở trân tráo, máu miệng trào
ra, thân xác bị hành hạ dẫy dụa đau đớn vô cùng, không
làm cách nào hết được. Người nhà phải thỉnh Đức Tăng
Thống đến tụng kinh khấn nguyện, ông huyện mới nhắm mắt
êm ái trút hơi thở cuối cùng vĩnh biệt!
Kết
luận câu chuyện trên, Thượng Tọa Đức Niệm nói: Tài trí
mà không đạo đức chẳng khác nào con dao bén nhọn trong tay
kẻ trộm cướp. Người tu học Phật chỉ biết chú trọng
hình thức tụng kinh hay, lý thuyết giỏi, mà tâm tham lam, sân
hận, si mê, đố kỵ, không đoạn trừ thì chẳng khác nào
nấu cát thành cơm, con dao trong tay kẻ ác. Nếu kẻ vào chùa
mà không thật lòng tu tâm dưỡng tánh lại ý đồ lợi danh,
thì chùa luôn luôn bị xáo trộn, thì chậm mau gì rồi cũng
sẽ phải nhận lấy quả báo đau thương đen tối đời này
và đời sau.
"Tham
sân tật xấu không chừa,
Bo
bo mà giữ tương dưa làm gì?"
Xuyên
tạc chùa chiền, mạ nhục Tăng bảo, lợi dụng chiếc áo
Phật, có tâm phá hoại người, thì nhất định không tránh
khỏi quả báo đen tối. Bà Hy Thị vợ vua Lương Võ Đế xem
thường Tăng mà làm thân mãng xà. Anh em Ngô Đình Diệm vì
độc ác khinh chê phá Phật Pháp mà mạng họa đớn đau.
"Ngày
xưa quả báo còn lâu,
Ngày
nay quả báo bất câu nhãn tiền".
Cổ
đức dạy: "Người ác hại người hiền như ngửa mặt lên
trời phun nước miếng. Nước miếng chưa đến trời thì đã
rơi vào mặt mình". Người Phật tử nên sống chân thành,
tu hạnh hỷ xả, cùng nhau lo cho chùa cho đạo để vun bồi
cội phước. "Nhứt nhựt tại thiền, nhứt niên tại ngoại".
Nghĩa là: Người ở chùa chơn chánh tu hành bằng người ở
ngoài đời tu một năm.
Để
kết luận bài giảng rằm tháng mười hôm ấy, Thượng Tọa
Đức Niệm nói: Tất cả mọi người không phân biệt thân
sơ, có việc gì cần sự giúp đỡ của nhà chùa xin cho chùa
hay, thầy trải rộng lòng thương tuỳ khả năng chân tình
đáp ứng. Chúng ta mất hết tất cả, chỉ còn niềm tin và
tình thương, nên đùm bọc lấy nhau, tình con Phật từ bi trong
tình đồng bào ruột thịt, nên thông cảm gắn bó nhau trong
những ngày còn sống tha hương.
Người
Phật tử chớ nên để lợi danh khuynh đảo, chớ nên vì sự
bất đồng ý kiến mà đố kỵ hận thù để rồi tạo cho
nhau đau lòng phiền khổ. Cổ đức dạy: "Ngậm máu phun người,
trước dơ miệng mình". Là đệ tử Phật, học theo tâm hạnh
Phật, tập sống đời vị tha hỷ xả:
Người
có lỗi lầm ta thứ tha,
Khoan
dung đại độ tánh ôn hòa,
Đã
không buồn tức mà yên tĩnh,
Mở
rộng lòng thương sống vị tha.
*
* *
Ta
oán giận người, người không đau
Mà
tâm ta nổi sóng ba đào
Nhiều
đêm buồn tức, ta không ngủ
Ta
tự giam mình giữa vực sâu.
Xin
qúy vị hãy về đây hòa vui trong ánh đạo từ bi, để cùng
nhau xây dựng ngôi chùa làm nơi gửi gắm tâm hồn. Xin qúy
vị hãy về đây đáp tiếng gọi của Đức Thích Ca Mâu Ni,
để cùng xiết chặt tay nhau duy trì phát triển niềm tin truyền
thống đạo nhiệm mầu của tổ tiên dân tộc. Xin quý vị
hãy về đây trong tình thầy trò huynh đệ, trong tình con Phật
vị tha, để cùng chia xẻ cho nhau nổi vui buồn ngõ hầu xây
dựng đời sống hạnh phúc, nung đúc ý chí, chờ ngày quang
phục tổ quốc Việt Nam thân yêu:
Dù
cho giông tố bão bùng,
Quê
hương còn vững tượng đồng Thích Ca,
À
ơi! Bến cũ cây đa,
Ngôi
chùa còn đó thì ta còn mình.
Trân
trọng kính chào và cảm ơn liệt quý vị.
25.
KẺ MÊ NGU CHẤP
Thưa
bạn! Tôi là kẻ đến với Đạo chậm sau. Tuổi đời và
kinh nghiệm về cuộc sống cũng chưa được là bao so vơi các
bạn ở cùng lứa tuổi tôi. Thế thì đâu dám múa rìu qua
mắt các bậc anh chị, cô bác thâm niên học Phật, để
nói chuyện đạo đức? Nhất là cái thân phận đất khách
quê người đơn độc lẽ loi, mỗi lần nghĩ đến mẹ cha
anh em bà con ở lại quê nhà, lòng tôi quặn đau thương nhớ
không xiết! Nếu không có niềm tin nơi Đức Phật từ bi với
giáo lý nhiệm mầu vi diệu của Ngài, thì chắc tôi không
còn niềm tin lý tưởng để can đảm tiếp tục sống đến
ngày nay.
Nhưng
Đạo đời muôn ngã, tìm cho ra đường sáng để đi, đạo
sáng để tin, giáo chủ vẹn toàn để tôn thờ, vốn đã là
điều rất khó. Tìm cho được bậc Thầy sáng suốt để hướng
đạo cho mình, một cảnh thiền môn thanh tĩnh để tâm hồn
được thoải mái học đạo tu tập, lại càng khó hơn đối
với giữa vật chất máy móc ích kỷ thiếu tình người này.
Chắc bạn cũng quan niệm như tôi: Có Phật tượng, có kinh
sách mà thiếu bậc minh sư giảng dạy đạo lý, chỉ bày phương
pháp tu hành, thì người đời làm sao hiểu được lý đạo
nhiệm mầu, lẽ sống thăng hoa thánh thiện để đến bờ
giác ngộ. Có được bậc Thầy đạo hạnh hiểu biết căn
tánh của mình để hướng đạo mình trong cảnh thanh tịnh
giải thoát, thì niềm tin của mình mới vững chắc trên bước
đường hướng thiện, để thăng hoa cuộc sống.
May
mắn thay cho tôi có được chút thiện duyên với Phật Pháp,
hằng tuần tôi về Học Viện Quốc Tế, là lúc tôi được
sống trong những khóa lễ cầu nguyện thiền vị trang nghiêm,
nghe những thời thuyết pháp đầy ý nghĩa đạo mầu sâu sắc
khế hợp tình người, với những thời khóa niệm Phật, tọa
thiền tu tập, cùng những mẫu chuyện đạo nho nhỏ nhưng
lại có năng lực lớn lao thức tĩnh tâm hồn tôi tìm ra được
định hướng, hiểu thêm được tâm nguyện của Đức Phật.
Những thứ ấy làm cho tôi khó quên. Một trong những chuyện
đạo mà Thượng Tọa Đức Niệm giảng, đã tạo cho tôi có
được một niềm tin kiên cố, một định hướng sâu sắc,
và một lý tưởng để tôi vui sống trong niềm tin lành thiện
ấy, nay xin lược kể ra đây để thân tặng các bạn trong
mùa Phật Đản:
- Xưa
có người đến hỏi Ngài Xá Lợi Phất: Thưa Ngài, con đến
đây học đạo với Đức Phật, được nghe giáo pháp nhiệm
mầu vi diệu, cõi lòng con được an ổn, tâm hồn con cởi
mở thanh thoát. Nhưng trước khi đến gặp Ngài và bái kiến
Phật, con cũng lại muốn đến các vị đó để học đạo
nữa. Không biết việc làm của con có tạo được nhiều phước
đức và hiểu đạo sớm hơn không?
Ngài
Xá Lợi Phất trả lời: Như người muốn đến núi Linh Thứu
để ra Phật, cầu hiểu đạo lý giác ngộ nhiệm mầu, nhưng
lại phân vân giữa hai lối đi, không biết phải đi thuyền
hay đi xe. Vốn người này trước đã đi thuyền, nhưng khi
gặp xe, người này liền bỏ thuyền để đi xe với lòng mong
ước sớm đến núi Linh Thứu để yết kiến Phật, nghe Phật
thuyết pháp. Vừa đi được một quãng đường xe, người
này nghĩ bụng rằng, hay tốt hơn ta cũng nên đi thuyền nữa.
Như thế có lẽ mau hơn. Nghĩ vậy rồi, người này liền bỏ
xe trở lại đi thuyền. Đang đi thuyền lại chuyển đi xe,
đang đi xe lại đổi đi thuyền. Cứ như thế kẻ mê chấp
kia thay đổi không ngừng, tiêu phí thời gian và sức lực.
Đi được một khúc sông, nghe người ta nói đi xe dĩ nhiên
mau chóng, tiện lợi hơn. Kẻ mê chấp lại phân vân nghĩ rằng,
ta trước kia đã đi thuyền rồi sau ta mới đi xe. Nay ta bỏ
thuyền chỉ đi xe không thôi, thế sao cho đành. Tốt hơn, ta
nên đi cả hai, thuyền lẫn xe. Như thế ta sẽ không bỏ bên
nào, và có lẽ còn mau đến núi Linh Thứu gặp Phật hơn mọi
người khác.
Nhưng
khi đến núi Linh Thứu thì Đức Phật đã thuyết pháp xong,
và Ngài đã đi hóa độ nơi khác với những đại đệ tử
của Ngài, nên kẻ mê chấp kia đã không yết kiến được
Phật, và không được nghe Phật thuyết pháp.
Ngài
Xá Lợi Phá hỏi kẻ mê chấp kia rằng: " Có khi nào nhà ngươi
thấy kẻ miệng vừa nhai thức ăn, lại vừa hát trên sân
khấu mà tiếng tăm giọng điệu hát của họ được mọi
người nhiệt liệt tán thưởng không?". Người học đạo
cần phải chọn lựa pháp môn tu rồi chuyên tâm hành trì và
tập sống đời hỷ xả vị tha, thì mới đạt được đạo
quả Vô Thượng Bồ đề.
Học
đạo mà ccố chấp, cầu giác ngộ giải thoát mà để tình
cảm thế gian ngự trị tâm hồn, không biết dùng trí tuệ
để phân định hướng đi cho mình, chẳng khác nào người
ngu khăng khăng giữ chặt chiếc áo bẩn rách trên mình chứ
không chịu thay đổi để mặc chiếc áo mới sạch sẽ có
sẵn. Người tu hành mà không biết chọn lựa phương pháp
và sống đời hỷ xả với tâm hồn rộng mở, ý chí quả
cảm, không biết dùng trí tuệ để hướng đời mình, không
biết lựa chọn pháp môn để tu, chọn người lành để kết
bạn, tìm minh sư học đạo, chẳng khác nào kẻ mê chấp không
chịu bỏ củi gai để nhận lấy quế trầm, không chịu lìa
bỏ con đường hẻm tối tăm để bước lên đại lộ quang
minh. Kẻ ngu mê chấp như thế trọn đời cam phận đi xe bò,
bỏ xe ngựa, giữ xe đạp, bỏ xe hơi. Kẻ này thường có
quan niệm đạo nào cũng tốt!
Cổ
nhơn dạy rằng: Hạng người mê chấp như vậy, tuy có hành
đạo, có tham gia những công tác phước đức, nhưng chỉ có
thể hưởng được quả vị phàm phu Tiểu thừa hoặc phước
báo hữu lậu cõi nhơn thiên là cao lắm rồi, chứ khó đạt
được đạo quả Vô Thượng Bồ đề, giác ngộ giải thoát.
Nhưng
tâm nguyện của Phật quyết đưa chúng sanh đến quả vị
Bồ Tát, quả vị Phật, chứ không muốn để lưu trệ ở
Tiểu thừa phàm phu.
Tổ
Qui Sơn dạy rằng: "Như Sư thật bất minh, đương biệt cầu
lương đạo". Nghĩa là: Trên đường hành đạo, nếu thầy
mình không đủ khả năng hướng dẫn mình, thì xin bái biệt
Thầy để đi tìm minh sư khác, cho hạnh nguyện và đạo quả
sớm viên thành. Nhưng Thầy mình là bậc minh sư, lại bỏ
đi nghe lời kẻ khác thì đó là kẻ thác loạn, không bao giờ
chơn chánh thể nhập được căn bản cội nguồn của đạo
giác ngộ.
Chúng
ta phải tinh tấn trong niềm tin và vận dụng hết ý chí kiên
nhẫn với lý tưởng đã tôn thờ, thì chúng ta mới có cơ
hội đạt được đạo giác ngộ giải thoát ngay trong đời
hiện tại này chứ không tìm đâu xa. Kinh Pháp Hoa dạy rằng:
Nhược
nhơn tán loạn tâm,
Nhập
ư tháp miếu trung,
Nhứt
niệm Nam Mô Phật
Giai
dĩ thành Phật đạo.
Nghĩa
là:
Nếu
người tâm tán loạn,
Còn
biết vào chùa tháp,
Thành
tâm niệm Mô Phật
Đều
được thành Phật đạo.
Tu
mà còn chấp chặt, thì dù tu trăm nghìn kiếp cũng khó có
thể thấy được Phật tánh chơn tâm, khó thoát khỏi kiếp
trầm luân sanh tử khổ lụy.
26.
NẮM TAY TIỀN VÀNG
Thưa
bạn,
Cứ
mỗi độ Vu Lan, Phật Đản hay Xuân về, là tôi lại có dịp
hầu chuyện cùng các bạn.
Sự
thật, tôi có đáng giá vào đâu để nói câu chuyện đạo
mầu cùng các bạn, Nhưng từ ngày tôi tìm về Phật Học Viện
Quốc Tế đến nay, hằng tuần được nghe Thầy thuyết pháp,
theo tu học tọa thiền, niệm Phật, lòng cảm thấy nhẹ nhàng
thanh thoát nhiều lắm.
Thầy
tôi, Thượng Tọa Thích Đức Niệm, bậc Thầy đạo hạnh
quý kính của chúng tôi, không ngừng khuyến khích cổ lệ
sách tấn chúng tôi gắng tu học Phật. Thầy tận tụy hướng
dẫn chúng tôi không một chút tỏ ra chán nản. Trước nghĩa
cử từ bi bao dung của Thầy đã làm cho chúng tôi vừa cảm
động, vừa dũng chí tin tưởng ở khả năng mình trên đường
tu học. Từ đấy, tôi mới cảm thấy phấn khởi tin tưởng
vào khả năng của mình hơn, bớt đi sự ái ngại rụt rè.
Nhờ vậy mà tôi có thể hầu chuyện đạo với quý vị ngày
hôm nay. Cũng chính nơi đây, tôi cảm thấy thấm thía lời
cổ nhân dạy: "Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài, trở thành
vô dụng cũng hoài ngọc đi. Con người ta có khác gì ...",
"Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng".
Tu
học cần phải tìm bậc minh sư. Đức Phật dạy: "Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh". Đủ thấy ai cũng có khả năng
để trở thành bậc thánh thiện. Ai cũng có thể kiên nhẫn
gắng chí tu học để trở thành người hữu dụng cho đời.
Điều quan trọng là khéo chọn bạn thiện tri thức. Thận
trọng chọn thờ bậc minh sư, để gần gũi và để y nương
học hỏi. Cổ đức nói: "Viễn hành yếu giả lương bằng,
sát sát tương ư nhĩ mục". Nghĩa là đi xa phải nương bạn
lành, từng giờ từng khắc tâm niệm cử chỉ tốt của bậc
minh sư, bạn đạo thấm vào tâm mắt mình. Đừng nên sống
theo cảm tình, quá nể vì nghe theo lời dụ êm ái ngọt ngào
mà lao mình vào bẩy.
Thưa
bạn, hôm nay tôi hầu chuyện với bạn, trong làn khói trầm
hương quyện tỏa của ngày Phật Đản. Đời tôi đã đổi
khác hẳn với những năm xưa, ngày chưa về nương tựa bóng
từ bi. Từ ngày tôi biết Phật Học Viện Quốc Tế, tôi thường
đến để nghe thuyết pháp, theo học đạo thiền, thân gần
Thầy Đức Niệm, tâm tôi không còn phiền muộn theo chuyện
thế gian thị phi thăng trầm thành bại. Tôi cũng không còn
nặng tính đua đòi theo hình thức tốt xấu thời trang bên
ngoài. Mọi sự suy tư lo tính hơn thua, khen chê, tôi không để
ý đến. Tôi cảm thấy thân tâm tôi nhẹ nhàng lắm. Tôi không
mất thì giờ vì bạn bè rủ rê hò hẹn ở rạp hát, ở siêu
thị, tiệc tùng. Tôi không còn lãng phí tiền bạc vào việc
sắm sửa áo quần thời trang. Tôi vẫn đi làm việc, vẫn
ngày hai bữa cơm, vẫn dùng xe để làm phương tiện tới lui.
Nhưng tôi cải đổi quan niệm sống. Sống đời đơn giản,
lợi mình, lợi người, lợi đạo pháp. Tôi không còn truy
cầu tham đắm, chụp giựt, thắng thì vui mừng hỷ hạ, thua
thì bực tức buồn khổ như xưa nữa. Tất cả đều nhờ
giáo lý từ bi giác ngộ của Phật tạo nên mẫu người tôi
ngày hôm nay.
Ngày
trước chưa biết đạo, chưa gặp Thầy, dù làm có tiền bao
nhiêu cũng thấy thiếu, cũng không vừa ý. Chỉ biết lo cho
mình, bà con mình, mặc kệ người đời, tôi chẳng để tâm
đoái hoài đến. Mỗi ngày làm hai job cũng vẫn không thấy
đủ, không thấy có tiền để làm một việc thiện nhỏ.
Đến nỗi không có thì giờ để nghĩ đến việc thiện. Lúc
chưa biết đạo đồng tiền cho việc từ thiện giúp đỡ
người nghèo thiếu bao giờ cũng thấy quá to. To hơn cả mạng
sống, cả giá trị đạo đức danh dự! Khi chưa biết đến
đạo Phật, chưa gặp Thầy, tôi luôn luôn thấy thiếu, thấy
khổ, tâm thần thường bất an.
Nhưng
giờ đây, sau những tháng năm theo Thầy học đạo, hiểu lời
Phật dạy, nhớ lời Thầy khuyên, tôi không còn đua đòi hơn
thiệt, mà lúc nào cũng thấy đủ, làm được nhiều điều
lành, bố thí, phóng sanh, in kinh ấn tống, cúng dường chư
tăng, cúng chùa, giúp đỡ bà con, còn có thì giờ thương nhớ
quê hương đồng bào v.v... Những việc từ thiện lợi tha
ít nhiều tôi đều làm được cả. Lòng tôi cảm thấy an
nhàn vui vẻ lạ thường. Tình thương mở rộng, xem nhẹ việc
đời. Có lúc tôi cảm thấy thư thới tự tại trước mọi
việc đời trôi qua trước mắt. Khi nghe tin Mẹ tôi mất, tôi
xin nghỉ việc không lương. Tôi đem tất cả tiền dành dụm
và mượn thêm của bạn bè để làm lễ trai tăng cúng dường
Tam Bảo, in kinh ấn tống, cúng tiền đúc tượng Phật để
hồi hướng siêu độ cho mẹ tôi. Đúng là giáo lý Đức Phật
đã gội rửa sạch lòng tôi. Đạo hạnh của Thầy đã cảm
hóa đời tôi, khai tâm mở trí tôi, giờ đây tôi đã bỏ
bớt tham sân si, không còn ham muốn xi nê nhảy nhót dạ hội.
Mỗi
khi ngồi trong giảng đường trước tượng Phật, dưới bóng
hào quang trang nghiêm, lời giảng pháp trầm hùng hiền hòa
của Thầy khi bổng lúc trầm, bằng những bài kinh, lời kệ
của Phật của Tổ, với những bài thơ mang hương vị đạo
mầu, những câu chuyện đạo lý đơn giản, nhưng thâm thúy,
bao hàm ý nghĩa, dạy đời khuyên tu. Lời nào lời nấy đơn
giản, nhưng rõ ràng, bao hàm giáo lý thâm sâu chỉ bày phương
pháp tu hành. Chẳng hạn, nguyên nhân nào hình thành những
hiện tượng giàu nghèo ở thế gian. Tại sao có kẻ thông
minh, người ngu đần, kẻ sang trọng, người bần tiện.
Tất cả không ngoài nhân quả phước báo.
Để
giải nghĩa những hiện tượng đó, một trong những câu chuyện
mà tôi được nghe Thầy giảng và còn nhớ rõ nơi lòng. Câu
chuyện này đã khai trí tôi, khiến cho tôi biết làm nhiều
việc bố thí, cúng dường, rộng rãi giúp đỡ mọi người.
Nay xin được lược thuật để hầu chuyện cùng quý bạn
trọng ngày Phật Đản:
Khi
Đức Thích Ca còn tại thế, ở thành Xá Vệ có một thiếu
phụ hạ sanh một đứa con trai. Đứa trẻ này từ khi sanh
ra, lúc nào hai bàn tay cũng nắm chặt lại. Người mẹ lấy
làm lạ, lo ngại tưởng bàn tay con mình có tật, nên gỡ tay
nó ra xem, thì thấy trong hai nắm tay của nó, nắm tay nào cũng
có vàng. Người mẹ rất đổi ngạc nhiên, mừng rỡ, liền
lấy tiền vàng từ tay đứa trẻ ra, nhưng điều kinh ngạc
tiếp liền sau đó là, khi tiền vàng lấy đi thì bàn tay cậu
bé nắm trở lại như cũ, và đồng thời lại sanh ra tiền
vàng khác. Cứ thế lấy vàng mãi mà không hết. Người mẹ
nghĩ rằng, đây chắc là nhờ phước báo đời trước của
nó mà có, nên đặt tên cho cậu bé là Kim Tiền.
Em
bé Kim Tiền này trông khôi ngô đỉnh ngộ, đoan chánh, tâm
tánh từ hòa hiền dịu của em khiến cho ai nấy mỗi khi thấy
em đều mến thích. Em bé Kim Tiền sanh lúc Đức Phật còn
ở đời. Ngày tháng trôi qua, theo đà thời gian xuôi chảy
em khôn lớn. Khi nghe tin có Đức Phật thuyết pháp độ sanh,
người người hâm mộ tin theo, em khẩn khoản cầu xin cha mẹ
cho em được đi thăm Đức Phật. Trước tấm lòng thành khẩn
cầu xin tha thiết của em, cha mẹ đồng ý cho em đi. Một mình
em tìm đến chỗ Phật, được nghe Phật thuyết pháp. Em xin
đảnh lễ và cầu xin Đức Phật cho em được xuất gia, nhập
chúng. Đức Phật hoan hỷ nhận lời.
Đức
Phật cho em xuống tóc, thọ giới, mặc áo cà sa làm tỳ kheo.
Khi thọ giới xong, Kim Tiền đã đi đảnh lễ từng vị một
khắp trong hàng tăng chúng. Nơi nào tỳ kheo Kim Tiền chấm
hai bàn tay xuống đất lễ lạy là nơi đó lưu lại hai thỏi
vàng.
Sau
khi thọ giới xong, Kim Tiền tinh tấn tu hành, không khi nào
tỏ ra dãi đãi, chậm trể. Chẳng bao lâu, vị tân tỳ kheo
Kim Tiền này chứng được đạo quả A La Hán.
Một
ngày nọ, Tôn giả A Nan thấy vậy bạch hỏi Đức Phật: "Bạch
Thế Tôn, tỳ kheo Kim Tiền đời trước đã vun trồng những
phước đức gì mà đời này trong nắm tay cứ mãi sanh ra vàng,
lấy hoài chẳng hết, dùng mãi vẫn còn, lại gặp được
Phật, xuất gia không bao lâu, chứng được đạo quả A La
Hán? Cúi mong Đức Thế tôn từ bi khai thị, cho chúng con được
hiểu rõ".
Đức
Phật hoan hỷ, vì đại chúng mà nói về một đoạn nhân quả
như sau:
"Cách
đây 91 kiếp về trước, khi Đức Phật Tỳ Bà Thi thuyết
pháp độ sanh khắp nơi. Nơi nào Ngài và tăng chúng đến thuyết
pháp cũng đều có thí chủ thiết trai cúng dường. Lúc đó,
có một người thanh niên nghèo, nhưng lòng ước ao rất muốn
được cúng dường Đức Phật Tỳ Bà Thi và đại chúng, nhưng
lại không có tiền của. Anh ta mới nghĩ ra cách kiếm tiền
bằng sự quyết định vào núi ngày đêm cố gắng hết sức
đốn củi để đem ra chợ bán. Bán dành dụm được hai chục
đồng, sốt tiền có được là do từ công lao mồ hôi nước
mắt đốn củi của anh. Anh rất vui mừng được số tiền
hai chục, liền đến chỗ Đức Phật Tỳ Bà Thi, thành kính
dâng trọn lên cúng dường Phật và chư tăng. Anh nghèo này
đã đem hết tâm dạ chí thành, thực hành việc tịnh tài
cúng dường Phật và chư tăng. Trải qua 91 kiếp đến nay,
bởi do lòng thành cúng dường mà được phước báu, nên tay
sanh ra tiền vàng, dùng mãi không hết. Người nghèo lúc đó
không ai xa lạ, mà chính là tiền thân của tỳ kheo Kim Tiền
hôm nay".
Một
hạt giống đưọc gieo trồng thì sau đó có thể sanh ra muôn
ngàn hạt giống. Chẳng khác nào một hạt ổi được ươm
trồng sẽ sanh ra hằng trăm trái ổi và có hàng ngạn vạn
hạt ổi. Chỉ cần thành tâm bố thí cúng dường như anh tiều
phu nghèo kia, mà sau đó gặt hái được cái phước báu có
vàng dùng mãi không hết. Theo luật nhân quả phước báu, bố
thí cúng dường là nguồn gốc để được phát tài giàu sang
phú quý.
Qua
câu chuyện trên đây, cho ta thấy rõ nhân nào quả nấy. Tâm
tạo nhân bố thí, cúng dường Tam Bảo thì nhất định phước
báu giàu sang. Tâm tánh keo kiệt bỏn sẻn ích kỷ bo bo giữ
của thì sẽ phải chịu quả báo nghèo đói bần cùng. Cổ
đức dạy: "Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu". Nghĩa là:
"Lưới trời lồng lộng, người phàm không thấy, nhưng không
một mảy lông nào thoát khỏi".
Khi
gặp phải cảnh trái ý nghịch lòng, đừng nên oán trời trách
đất, giận đời, hờn người, mà phải cố gắng tu, cố
gắng làm việc bố thí, cố gắng làm việc thiện. Bởi nhân
nào quả nấy, tôi thấy chỉ có tu mới được hạnh phúc.
Tu hành mà hẹn, hẹn thì không thành. Hoằng Nhất đại sư
dạy rằng: Bởi mạng sống con người đâu dễ biết ngày
mai. Bố thí, cúng chùa, đừng đợi giàu, Vì giàu thì thường
hay sanh tâm keo kiết, bủn xỉn, tham lam muốn vơ vét để cho
giàu thêm. Chớ nên phân bì, so đo hơn thiệt. Ai có phần nấy.
Cấy lúa thì được lúa. Gieo cỏ thì được cỏ. Tâm của
ta như đất. Nên thường gọi là "Tâm địa". Đất không trồng
cây hoa trái thì đất sẽ sanh cỏ gai dại. Tâm không biết
tu hành lành thiện, thì tâm sẽ sanh tham sân si, nghi, mạn,
đam mê dục lạc, tạo nên tội ác.
Để
kết luận bài này, Thầy đã mượn lời kệ của cổ nhân:
Dục
trí tiền thế nhơn
Kim
sanh thọ giả thị.
Dục
tri lai thế quả
Kim
sanh tác giả thị.
Tạm
dịch:
Muốn
biết việc làm đời trước của người,
Nên
xem đời này họ thọ hưởng.
Muốn
biết quả báo đời sau của người,
Nên
xem hành vi đời này họ tạo.
27.
ĐỊNH HƯỚNG THUYỀN ĐỜI
Thưa
quý bạn,
Biển
Phật Pháp mênh mông. Rừng thiền sâu thăm thẳm. Nếu không
có minh sư bạn hiền thiện tri thức hướng đạo giúp đỡ
thì thật là khó tránh khỏi lầm đường lạc lối.
Chúng
ta sanh vào thời pháp nhược ma cường này. Chánh tà lẫn lộn,
thánh phàm khó phân. Nếu người học đạo, không quán sát
kỷ, không suy nghĩ chín chắn, không thận trọng trong việc
tìm thầy hướng đạo cho mình, mà chỉ biết chạy theo sự
kêu gọi rủ rê rỉ tai, thì về sau khó tránh khỏi cái nạn
mất định hướng, không tìm được thầy hiền bạn tốt,
do đó không tìm đâu ra phương pháp chân chánh để tu học,
mất căn bản nương tựa, rồi mù mịt không biết về đâu,
phải chuốc lấy thất vọng khổ đau oan uổng một đời,
lúc đó dù có muốn hướng thiện tu hành mà vẫn không thành
đạt!
Đã
bao thánh năm tôi âm thầm thành tâm lạy Phật, đọc tụng
kinh sách Phật giáo, theo Thầy Đức Niệm nghe giảng thuyết
kinh Phật, tư tưởng của Phật từ từ thấm sâu vào lòng
tôi, tâm trí tôi cũng theo đó mà sáng sủa hơn. Khi biết Phật
Pháp rồi, có những lúc hồi quang phản chiếu thấy rõ điều
sai lẽ phải. Tôi tủi hận phận mình sanh nhằm vào thời
cách Phật quá xa, pháp nhược ma cường, lại thêm nước mất
nhà tan, mang thân sống gởi đất khách quê người, mà còn
chút thiện duyên hằng tuần đến Phật Học Viện Quốc Tế
nghe thầy giảng kinh thuyết Phật. Tôi tỉnh ngộ, đời là
mộng huyễn, là biển khổ triền miên. Tôi sớm dứt khoát
tư tưởng quay lái thuyền đời, không còn hời hợt để thời
gian trôi qua một cách vô ích. Không chạy theo thú vui dục
lạc ở đời như trước nữa. Tôi đã tìm ra định hướng
cho niềm tin qua một trong những bài thuyết pháp của Thầy.
Tôi đã tìm được hướng đi cho lẽ sống thăng hoa thánh
thiện. Một trong những câu chuyện được lồng vào trong bài
thuyết pháp của Thượng Tọa Đức Niệm nay tôi xin đem cống
hiến quý bạn.
Bạn
ơi! Vào một chiều Chủ nhật như bao chiều Chủ nhật. Nhưng
hôm nay nhằm ngày Vu Lan thắng hội. Ngày báo hiếu! Với đức
độ uy nghi điềm đạm, nơi điện Phật, Thầy hướng về
thiện tín thập phương, cất giọng đồng lảnh lót bắt đầu
thời pháp, Thầy nói:
"Hôm
nay tôi xin nói về đề tài, chọn đường tu học". Thầy tiếp:
Thưa
quý vị! Thường tình con người lúc nào cũng tham được nhiều,
cầu hoàn mỹ, thích mới chán cũ, quên phủi ân, bội bạc
nghĩa, sùng thần bái thánh, tranh quyền đoạt lợi, thích tự
xưng mình là kẻ cả để làm thầy tổ ăn trên ngồi trước
thiên hạ. Đó là căn bệnh trầm kha của hầu hết mọi
người! Những tánh đó lá căn tánh phàm tục trói buộc con
người, khiến cho con người phải giong ruổi vong thân, truy
cầu cho thỏa lòng tham vọng. Nhưng nghĩ cho kỹ thì, trong thế
gian này có mấy người được trọn vẹn theo như ước muốn
của mình đâu? Phải không thưa qúy vị!
Con
người là một động vật nhỏ bé trong muôn loài động vật.
Sức chịu đựng nắng mưa thời tiết của con người so với
loài động vật cũng thua kém xa. Chẳng hạn trâu, dê, hươu,
nai, chim chóc v.v... phần nhiều sanh ra đều thích ứng ngay
với hoàn cảnh tự lực cánh sanh, tự tìm lấy thức ăn để
sống. Trong khi đó, con người phải suốt ba bốn năm nhờ
sự bú mớm săn sóc của me cha. Thế mà lắm người miệng
thường tự phô trương, không chút e dè, đối với bề trên
mình không biết sợ phạm thượng với các bậc ân nhân, các
đấng thánh hiền. Đối với dưới mình không biết tự hổ
với lương tâm và tự thẹn với muôn loài. Lòng tham quá độ
mà không mấy khi biết đủ. Tự để mình sống tự cao tự
đại mà lại lặn hụp trong ngũ dục sắc, danh, tình ái, uống
ăn, chơi ngủ. Người học Phật thiếu minh sư hướng dẫn,
không thực tâm chân chánh hành trì, cũng sẽ không ra ngoài
công lệ tham tạp đó. Nghĩa là lợi dụng đạo để tạo
danh lợi cho mình.
Phương
pháp tu hành của Phật có muôn vạn pháp môn. Có số người
tu Phật muốn gồm tất cả chùa miễu, nên chùa miễu nào
cũng đi, thầy bà nào cũng đến, Không có pháp môn tu rõ rệt.
Hạng người ngày thường được gọi là tu lòng vòng tin đạo
lang bang. Đó là những hạng người không hiểu biết Phật
Pháp là gì, chỉ ở ngoài cổng rào nghe ngóng, rồi nói hùa
theo. Như thế chẳng khác nào kẻ chèo đò phớt lẹ qua mặt
nước sông hồ, chỉ biết thoáng qua trên mặt nước chứ
đâu thể nào biết được chiều sâu ở lòng đáy ao hồ.
Hạng tu lòng vòng này đối với việc trong thiên hạ thì sáng,
trong lúc đó, việc tu của chính bản thân thì quờ quạng.
Bởi
lẽ suốt ngày chỉ để tâm chạy rong tìm biết việc tạp
của thiên hạ, xem thiên hạ dở hay, tốt xấu , mà tự quên
đi tìm biết chọn thầy, chọn bạn, chọn pháp môn để chuyên
tâm hành trì, suốt ngày tháng cứ chạy đôn chạy đáo chỗ
nào cũng có mặt, để nghe thử ông thầy này, ông sư kia,
bà Phật tử nọ, rồi phê bình chỉ trích, trong lúc đó lại
quên quán sát phê bình chỉ trích những lỗi lầm phàm tục
của chính mình. Đó là hạng người xách nước cho người
tắm, mà tự mình quên tắm. Bưng nước cho người uống mà
tự mình khát. Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật nói: Hai mươi lăm
thứ viên thông, Di Lặc Bồ Tát chỉ quán thức tâm viên thông,
đích chứng lý duy thức. Quán Thế Âm chỉ tu nhĩ căn viên
thông, chứng nhập tam ma địa. Đại Thế Chí Bồ Tát chỉ
niệm Phật viên thông, mà chứng đắc lục căn thanh tịnh.
Trì Địa Bồ Tát quán tánh đất bằng phẳng mà nhập trí
viên thông. Nguyệt Quang đồng tử do quán tánh nước mà chứng
được vô sanh nhẫn. Lưu Ly Quang đồng tử quán tánh gió mà
chứng tam ma địa. Ngài Ô Sô Sắc Ma do quán tánh lửa mà chứng
được trí huệ vô thượng. Hư Không Tạng Bồ Tát do quán
tánh hư không mà được diệu lực viên mãn. Xá Lợi Phất
do quán nhãn thức mà chứng được kiến tánh viên thông. Tu
Bồ Đề do quán ý căn mà đạt đến tánh năng phi sở phi,
chứng nhập ý căn viên thông v.v... (xin quý vị xem kinh Thủ
Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm thì sẽ rõ). Do đó, chúng ta chưa
thấy vị Bồ Tát nào cùng lúc tu nhiều pháp môn, giong ruổi
bên ngoài mà quên chiếu chính mình, lại có thể chứng đắc
được nhiều môn viên thông, đạt nhiều quả vị.
Người
học đạo ngày nay tâm trí thiếu chuyên tinh. Đã học tu tham
thiền, lại quay ra muốn niệm Phật. Niệm Phật chưa đến
đâu, lại đòi tu mật. Thiền, Tịnh, Mật chưa hiểu biết
gì thì liền tu phép Quán Âm, thiền xuất hồn, nhứt thượng
thừa v.v... tạp nhạp đủ thứ! Tin học Phật Pháp thấy chưa
đủ, lại khẩn cầu thần tiên. Cầu khấn thần tiên chưa
xong, lại quay ra giong ruổi chạy đi tìm bùa mê, phép lạ,
bát quái sấm truyền bói quẻ bói tướng v.v... Suốt tháng
năm, cứ lo chạy đôn chạy đáo, dáo dác khắp tìm, tán tâm
loạn tưởng, lãng phí thì giờ, chỉ cầu được chút danh,
chỗ nào cũng có mặt, để được quen chùa này, người nọ.
Cứ thế tuổi đời chồng chất, tóc bạc sức mòn, mà họ
vẫn còn chưa tỉnh ngộ, nào có lợi ích gì cho con đường
tu tiến đâu?! Rốt cuộc không đi đến đâu mà thân tàn sức
yếu, quay lại trách người, giận thầy, oán trời, rồi sanh
tâm chán nản xa chùa, rời bỏ đạo.
Trải
hơn mười năm giong ruổi trên đường đời ở xứ Mỹ này,
tôi đã thấy bày ra trước mắt bao nỗi phiền toái của tình
người làm cho tôi bàng hoàng tỉnh thức. Tôi không để mình
lặn hụp trong biển đời mộng huyễn nữa. Tôi biết tất
cả đều là mộng huyễn bất tịnh. Dù cho có suốt đời
năm bảy mươi năm lặn lội đuổi bắt lợi danh, rồi cuối
cùng có để lại được gì cho ta? Hay khi buông xuôi đôi tay
rồi cũng lại giống hệt như ngày trong bụng mẹ mới ra chào
đời với hai bàn tay trắng, mà nghiệp mình phải tự mang!
Nhà cửa vợ con danh vọng có cứu ta sống lại được không?
Khi hơi thở chấm dứt, những thứ đó có chịu theo ta không?
Hay chỉ một mình ta phải chịu quả báo nghiệp khổ? Rõ ràng
như thế, tại sao ta không sớm thức tỉnh giác ngộ, nghe lời
Phật dạy, nghe lời thầy khuyên, để gắng tu tâm sửa mình.
Không ai thương ta bằng ta thương ta. Không ai biết ta bằng
ta biết ta. Không ai cứu ta bằng chính ta tự cứu lấy ta.
Chồng vợ con cái chỉ thêm trói buộc, chỉ làm phiền cho
nhau. Ơn cha mẹ như trời biển, ta cố gắng báo đền. Tình
đồng loại nghĩa quốc gia, ta cố gắng phục vụ. Còn tất
cả lợi danh, ái ân, tình đời là giả tạm, buộc ràng, phiền
lụy. Nhà thơ đã nói:
Trần
thế đã nhiều oan nghiệp lắm,
Lệ
lòng mong cạn chốn am không,
Cửa
thiền một đống duyên trần dứt,
Quên
hết người thân chốn bụi hồng.
Sanh
ra đời chịu phải mấy mươi năm chinh chiến. Cuối cùng nước
biến nhà tan, thân bằng quyến thuộc phải ly tán, kẻ ở
người đi, sống trong cảnh sanh ly. Người sống trên đất
khách quê người cũng như ở quê hương, đều phải nhọc
nhằn tìm cái sống. Sống không thoải mái, khổ nhiều vui
ít, đủ thứ đày đọa kiếp người. Còn gì nữa mà chưa
tỉnh thức? Còn gì nữa mà phải công kích nói xấu hủy báng
nhau? Rắn độc phun nọc hại mạng người. Kẻ vu khống hủy
báng người hiền, nguy hiểm hơn rắn độc. Cổ đức nói:
"Ôi! Luận người ở đời búa để trong miệng. Ngậm máu
phun người, trước dơ miệng mình". Vu khống hủy báng người
hiền là việc làm tán tận lương tâm, thiếu mất nhân cách
con người. Tin vào hạng người này là ta vô tình mở ngõ
vào hầm chông tội ác, bước gần sát đến cảnh giới của
qủy la sát, yêu ma, sa đọa địa ngục.
Những
kẻ hay dòm ngó, xoi bói, nói xấu người hiền, để thỏa
mãn lòng ganh tị, để tỏ ra ta đây hiểu biết hơn người,
là những kẻ niềm tin và thiện duyên đạo đức đã khô
cạn. Theo sách Thánh hiền Ngữ lục thì những kẻ như trên
thuộc về hai hạng người sau đây: Một là vừa mới thoát
kiếp từ ngạ qủy, la sát. Hai là tuy là mang hình người,
nhưng tâm địa của họ là yêu tinh ma mị, tìm cách phá hại
người hiền đức".
Nhiều
khi họ tỏ ra ham tụng kinh Đại thừa để thỏa mãn lòng
hiếu kỳ với tà tâm kiêu mạn. Họ tụng kinh ăn chay tưởng
là hơn hết, vọng cầu người khen, tưởng việc làm của
mình như thế là hơn cả. Những hạng người này sống trong
hư danh vọng tưởng, tự mình đào huyệt chôn mình, tự mình
mở cửa ba đường ác đạo để vào.
Nói
cùng gốc rễ, đáo để có thể tóm một lời: "Những kẻ
thích danh lợi, dục vọng là những kẻ ưa vu khống hủy báng
người hiền", Bởi họ muốn người khác chú ý đến họ.
Họ muốn đồng hóa người hiền đức cũng thấp hèn ô uế
như họ. Họ là những con người không sợ tội lỗi, không
có lòng tin nhân quả luân hồi, nghiệp báo. Phật nói: "Không
tối tăm nào bằng người không biết tin nhân quả. Không tội
ác nào bằng kẻ dám hủy báng người hiền, mà không biết
ăn năn sám hối". Hạng người như thế, họ sống không có
ích lợi gì cho chính bản thân của họ, mà còn lại làm hại
cho đời. Đối với tín ngưỡng, họ chỉ làm tổn thương
cho đạo. Họ sùng tín vị nào, trước sau gì vị đó cũng
bị họ vu khống. Họ gần bạn bạn đạo, chậm mau gì rồi
cũng đặt điều rỉ tai nói xấu. Đó là lẽ tự nhiên.
Vậy
thì còn có ý nghĩa gì nữa để gọi là Phật tử học đạo?
Nói cho cùng, những hạng người như thế chưa đủ tư cách
làm một con quỷ biết quy đầu chánh pháp, chớ đừng nói
là có đủ tư cách của một môn đồ kính ngưỡng tôn giáo,
thì làm sao có đủ tư cách là đệ tử Phật?
Cổ
đức tiên hiền hành đạo thành công. Cái bí quyết là ở
chỗ biết chọn pháp môn thích hợp với khả năng của mình,
rồi chuyên tâm tu hành trì thâm nhập. Từng ngày từng phút
phải cẩn trọng giữ gìn thân miệng ý ba nghiệp cho được
thanh tịnh. Không dám hé miệng phóng tâm, buông lung hành vi
cử chỉ. Thủ khẩu như bình. Tâm tâm niệm niệm hướng thiện
nhớ Phật. Phong độ nghiêm túc. Đạo hạnh quán thông. Người
niệm Phật thì chuyên tâm trì danh hiệu Phật đến tận cùng
tâm ý, không còn lo nghĩ buông lung. Người tham thiền thì ý
chí phải định tỉnh, phải quả quyết để xa lìa sanh tử,
một lòng thiền quán, cho dù trời đất ngửa nghiêng, lòng
vẫn quyết không giao động nao núng, chứ không phải tu thiền
văn nghệ ngâm thơ, uống trà cho vui, tà tà hưởng thụ, giả
trang thiền tướng.
Đức
Phật suốt 6 năm thiền định trong rừng khổ hạnh. Ngày ngày
với hạt bắp hạt mè để độ nhật. Chim chóc trùng dế,
làm ổ trên người Ngài. Thú rừng rắn rết đủ thứ hiểm
nguy vây bủa, nhưng Ngài vẫn bất động.
Người
tu trì chú phải nhất niệm, chuyên tâm hành trì đến chỗ
tâm chú hợp nhất, năng sở không hai. Người tu hành phải
nhất tâm quyết chí trước sau như một. Phải luôn luôn thúc
liễm thân tâm, kiểm soát hành vi tâm niệm của mình từng
giờ từng phút. Không thể tự dễ dãi với mình. Không thể
tha thứ cho mình. Phải lấy hạnh nguyện tu hành của Đức
Phật, của chư vị thánh hiền làm gương soi sáng cho chính
mình. Phải giữ trọn nhiệt tình tâm thành của buổi ban sơ
đến với đạo cho đến ngày lâm chung nhắm mắt lìa đời,
trước sau như một, thì đạo quả có cơ đạt thành ngay trước
mắt, trong tầm tay trước mặt. Cổ đức nói: "Xuất gia sơ
tâm, thành đạo hữu dư". Có nghĩa là người tu hành nhiệt
tình tinh tấn với đạo, với lý tưởng của mình dã tôn
thờ, suốt trọn cuộc đời nhiệt tình hành trì như độ
nhiệt tâm lúc ban đầu mới phát tâm, thì người đó công
đức thừa dư để trở thành bậc giác ngộ thánh thiện.
Người tu hành một lòng với lý tưởng của mình, chuyên tâm
phụng trì giới hạnh, tiến bước không lùi, cho dù vấp phải
lần thứ một ngàn, vẫn mạnh dạn đứng dậy tiến bước
như lần đầu, thì không có mục đích nào mà không đạt,
một nơi nào mà không đến. hành đạo như thế thì không
tội lỗi nào mà không tiêu diệt, không phước đức nào mà
không sanh trưởng, không tâm nguyện nào mà không thành, không
đạo quả nào mà không chứng.
Khi
Đức Phật còn ở đời, đệ tử của Ngài là Tôn Giả Châu
Lợi Bàn Đà, trọn đời chỉ chuyên niệm hai chữ: "chổi
quét", mà được nhứt tâm bất loạn, chứng thánh quả A La
Hán. Lục Tổ Huệ Năng chỉ biết nhớ đến hai chữ "gạo
trắng", mà được đắc Pháp, kế thừa Tổ Vị. Gần đây,
Bồ Tát Quảng Đức một đời tu hành rất bình dị, chỉ
nhớ đến câu "Nam Mô A Di Đà Phật, hiến thân này cho đạo
Pháp", mà dũng khí hùng tâm, khi ngồi trong lửa hồng vẫn
bất động, lửa thành hoa sen. Sức định tâm của Ngài đã
kết thành quả tim Kim Cang bất hoại, sách sử muôn đời còn
ghi, nhân loại thế giới đã phải kinh hoàng bái phục.
Ngày
nay có kẻ nhận mình là Phật tử, tự xưng trì kinh Đại
thừa, học đạo lâu năm, nhưng vẫn chưa tỏ ra thấm chút
nào giáo pháp của Phật. Vẫn chưa nhận ra đâu là minh sư
để cầu học dạo. Vẫn chưa tạo cho mình cái chỗ đứng
vững chắc trong niềm tin. Vẫn chưa tìm cho mình một phương
pháp để tu, một định hướng để đến. Cứ mãi rượt
bắt lợi danh, lang bang khắp chốn suốt năm tháng, tiêu hao
năng lực vào chỗ loạn tâm tà tín thiên kiến tin theo hình
dáng bên ngoài sùng bái tà sư ác thần, đi chùa chỉ để
cầu vui gặp bạn bàn luận những chuyện quàng xiên đâu đâu,
không dính dấp gì đến ý nghĩa cầu đạo tiến tu giác ngộ.
Những người như thế thật oan uổng một đời luống qua,
đánh mất cả chánh tâm chánh tín chánh niệm. Đó 1à những
hạng người không chịu cẩn trọng tìm thầy chọn bạn, không
biết quý tiếc thời gian và không sáng suốt lượng định
sức khỏe tuổi tác của mình. Cứ lang thang theo danh lợi hảo
huyền, để rồi bị bạn bè quyến rũ kéo vào đường tu
bất chánh. Kết quả, ngày tháng trôi qua đầu đã bạc, mà
chưa chọn lấy pháp môn tu! Chưa có bậc thầy đạo hạnh
để nương tựa.
Không
thực lòng chơn chánh làm việc phước đức, thì làm sao đạo
nghiệp chánh chuyên, thân tâm được an định, để thể nhập
Phật lý, làm tư lương hạt giống lành, ngõ hầu được bước
vào cửa ngỏ giác ngộ giải thoát. Tụng kinh thọ giới cho
nhiều, mà tà tâm trước tướng, đi đủ chùa này am khác,
không có lập trường định hướng, nghe theo lời rỉ tai lôi
kéo, chẳng khắc nào như bèo trôi trên mặt nước, như kẻ
hát bội trên sân khấu. Hạng người này suốt năm tháng giong
ruổi bên ngoài, học đòi hình thức mê tín, mà quên đi thanh
sạch hóa nội tâm, khi gặp việc trái ý nghịch lòng thì tâm
không được định tĩnh, há miệng lồng lộng kêu than, bởi
tại lang bang không định hướng. Cổ nhân có câu rằng:
"Tham
sân nghiệp chướng không chừa,
Bo
bo mà giữ tương dưa làm gì".
Hoặc:
Có
tật thì vái bốn phương trời,
Vô
tật đồng lương chẳng mất.
Xuất
tiền góp của ra công mất thì giờ mà không y theo lời Phật
dạy để thực hành chánh đạo, không kính trọng quy Tam Bảo,
không cầu thâm nhập pháp môn tu hành, suốt đời vẫn phải
chạy quanh quẫn ngoài vòng rào của biển giáo pháp giải thoát,
thì không bao giờ được ngồi vào tháp giác ngộ. Bà Thanh
Đề cũng tin Tam Bảo, nhưng khinh thường sư tăng, mà phải
đọa vào ngạ qủy. Vợ vua Lương Võ Đế chỉ vì xem thường
chư tăng và lòng nhiều đố kỵ, mà phải bị đọa vào loài
súc sanh làm con mãng xà. Chú Sa di chỉ lỡ lời chê vị Tỳ
kheo già tụng kinh tiếng ồ ề như chó sủa, mà phải đọa
làm thân chó. Mẹ của vị Tỳ kheo trụ trì một ngôi già
lam tu viện nọ, vì nghĩ mình là mẹ của trụ trì, nên không
cần xin phép, tự ý lấy cái y cũ của con mình dùng đắp
che thân đỡ lạnh, mà phải đoạ vào loài súc sanh, làm con
rùa đến 500 kiếp. Những chuyện đố kỵ, khinh tăng, coi thường
của Tam Bảo phải chịu quả báo ác, còn ghi tạc rất nhiều
trong tam tạng kinh điển.
Phật
dạy rằng: 'Tin ta mà không hiểu giáo lý của ta, thì sẽ hủy
báng ta". Hành đạo giác ngộ của Phật mà không biết tìm
minh sư học đạo, không chọn thiện tri thức để kết thiện
duyên không làm theo lời Phật dạy, lại chạy đôn chạy đáo
nghe theo ông này bà nọ tự xưng là thánh, phải biết những
người như thế là thiếu nhân duyên lành, khó tránh được
những lỗi lầm trên bước đường tu tập, vô tình tự họ
mở cửa vào hang động của ác tri thức, ma vương.
Sau
khi thành đạo, Đức Phật quán sát căn tánh chúng sanh, Ngài
dõng dạc tuyên bố: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành, nếu mọi
người đều biết dốc lòng học đạo tu hành như ta".
Hễ
ai dốc chí y theo lời dạy của Phật mà phát tâm tu học,
đều có thể thành Phật. Nên trong kinh Pháp Hoa, Ngài Thường
Bất Khinh Bồ Tát, tiền thân của Đức Thích Ca Mâu Ni, đã
tu mật hạnh mỗi khi thấy người nào, thì liền chấp tay
đảnh lễ, miệng nói lớn: "Tôi không dám khinh Ngài. Bởi
Ngài sẽ là Đức Phật tương lai". Lúc bấy giờ, người đời
cho Ngài Thường Bất Khinh là anh chàng điên ăn nói quàng xiên,
nên đánh rượt mắng nhiếc! Nhưng vị Bồ Tát này vẫn trì
chí thật hành theo hạnh thường bất khinh. Vì thấy mọi người
đều có thể thành Phật, đức tánh trí tuệ giác ngộ của
Phật có đủ trong tất cả mọi người, nên Phật quả quyết
xác nhận "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả
chúng sanh đều sẽ thành Phật".
Do
đó, nên biết, hễ có tâm khinh người tức là khinh chư Phật
tương lai. Trong lúc tu hạnh Bồ Tát, hay sau khi thành Phật,
Ngài Thường Bất Khinh vẫn cản trọng tôn kính chúng sanh.
Không việc phước đức nhỏ mà Ngài bỏ qua. Không việc ác
nhỏ nào mà Ngài dám làm. Cử chỉ Đức Phật cúi lưng xỏ
kim dùm cho bà cụ già bên vệ đường thì đủ thấy điều
đó. Khinh chê hủy báng bản tánh Phật tâm của mình. Khinh
chê sư tăng chân tu tức là khinh chê Tam Bảo, tự đào hố
sâu hố thẳm tội lỗi chôn mình, tự hủy diệt giống Bồ
Đề của mình vậy.
Thưa
quý vị, Đức Phật vì chúng sanh nhân loại, mà Ngài đã xả
bỏ tất cả để vào rừng sâu núi tuyết tu hành. Sau khi thành
đạo chứng quả, Ngài đem trọn đời mình rày đây mai đó
thuyết pháp giáo hóa để cho chúng sanh sớm tỏ ngộ đạo
lý chơn thường, biết đường tu hành giải thoát nổi khổ
sanh tử luân hồi. Suốt 50 năm, Ngài đem hết tâm lực cho
công cuộc hoằng pháp lợi sanh. Không pháp môn tu nào mà Ngài
không nói. Không phương tiện hành trì nào mà Ngài không
khai thị sử dụng. Không lời khuyên nhủ dịu hiền giải
thoát nào mà Ngài không tha thiết bày tỏ với chúng sanh. Không
thắc mắc hoài nghi nào mà Ngài không từ hòa cặn kẻ giải
đáp. Không có phương thức nào cho việc hoàn thành nhân các
trên đường thánh thiện tiến hóa mà Ngài không phân tích
trình bày. Tất cả những gì đáng nói, Ngài đều nói hết.
Tất cả những hạnh lành, Ngài đã thực hành viên mãn. Ngài
như mẹ hiền dạy con, như ánh trăng rằm chiếu mát trên vạn
vật. Cha mẹ hiền còn có thể buồn phiền giận tức từ
bỏ những đứa con bất hiếu. Ánh trăng rằm còn có khi tỏ
khi mờ. Chứ lòng từ bi hỷ xả bao dung của Đức Phật không
bao giờ bỏ quên bất cứ một chúng sanh nào, dù đó là những
chúng sanh căn tánh ác độc ám độn đến đâu. Đến như
Đề Bà Đạt Đa nhiều lần quyết tâm hại Phật mà Phật
vẫn độ. Bởi thế, kinh Pháp Hoa nói: "Phật thương chúng
sanh như mẹ hiền thương con nhỏ". Nhà thơ đã ca ngợi tình
thương bao la của Đức Phật đối với chúng sanh:
Phật
động lòng thương kiếp đọa đày,
Hóa
thân làm tuyết bốn trời bay,
Kết
hoa sáu cánh sen mười trượng,
Giọt
tịnh bình xoa dịu đắng cay.
Đức
Phật lấy nỗi khổ đau của chúng sanh làm nỗi khổ đau của
chính mình. Các chân tăng đã hy sinh xả bỏ tất cả ân tình
dục lạc của thế gian, không còn gần gũi dâng cúng những
đồ ngon ngọt cho cha mẹ, sáu hàng bà con trọn đã bỏ lìa,
cũng chỉ mục đích duy nhất là quyết chí đi trọn trên con
đường giác ngộ lợi tha và giải thoát. Ấy là các thầy
theo gót chân Đức Phật, nguyện hy sinh đời mình cho đại
nghĩa từ bi giác ngộ. Đức Phật chẳng những Ngài hy sinh
cho từ bi giác ngộ, mà Ngài còn khuyến khích dặn dò hàng
Bồ Tát, hàng đệ tử của Ngài phải dõng mãnh phát Bồ Đề
tâm, dấn thân vào công cuộc lợi tha giải thoát, để hướng
dẫn chúng sanh được hạnh phúc an lạc giác ngộ giải thoát.
Nào,
các bạn đợi đến bao giờ mới chọn lựa hướng đi cho
mình, để giải cứu mình? Ngày tháng trôi qua mau như nước
chảy xuống dốc. Sự sanh già bệnh chết không hẹn với người.
Đợi đến bao giờ mới hết ân ái bạn bè, hết lặn lội
trên đường đời? Ân nghĩa sanh thành của cha mẹ lẽ nào
chúng ta xem nhẹ không lo báo đền?! Sự có mặt của chúng
ta trên cõi đời này lại để bận rộn lợi danh luống qua
ư? Khả năng Phật tánh thánh thiện của chúng ta lại có thể
dễ dãi để nhàn không luống trôi qua theo thời gian năm tháng
ư? Đời này không tỉnh ngộ sớm chọn đường tu, chúng ta
phải đợi đến bao giờ? Cổ đức dạy: Đời này không độ
lấy thân, lại đợi đến đời nào mới độ? Cửa thiền
môn thanh tịnh vẫn mở rộng để đón người trần thế.
Thuyền Bát Nhã đang chờ để cứu vớt kẻ trầm luân, tỉnh
thức tiến bước lên đi hỡi bạn:
"Con
thuyền Bát Nhã thênh thênh,
Này
nơi cửa Phật mông mênh liên trì,
Nước
trong trăng ánh quang huy,
Kìa
nơi đức hạnh uy nghi vẹn toàn".
28.
TA LÀ AI?
Thưa
bạn,
Thỉnh
thoảng, tôi lại được hầu chuyện đạo cùng bạn. Ấy là
nhờ tôi thường đến Phật Học Viện Quốc Tế nghe Thượng
Tọa Đức Niệm giảng kinh mà tôi hiểu biết được chút
ít giáo lý để tu tập. Những lời tôi nói ra đây là thấm
nhuần giáo lý từ bậc thầy hiền đức.
Thông
thường, người hay nói thì hay gặp phải những điều sơ
suất. Người hay viết thì thường mắc phải lỗi lầm về
văn tự hoặc ý tưởng. Chắc tôi lại mắc phải cả hai điều
trên nặng hơn. Nhưng tôi tin tưởng các bạn thông cảm mà
rộng lượng tha thứ cho, để cho tôi còn có dịp tiếp tục
hầu chuyện với các bạn.
Riêng
về tôi, thưa bạn, từ ngày nguyện theo thấy tinh tấn học
đạo, tôi cố gắng gạt phăng hết tất cả những cám dỗ
phù hoa tình cảm của trần đời tục lụy. Tôi liên tục
không ngừng cho lý tưởng cầu đạo giác ngộ giải thoát.
Rồi tiếp đó, một thiện duyên thù thắng đến, vào một
ngày rằm tháng bảy, năm Tân Dậu 1981, sau nhiều lần thành
khẩn, thiết tha cầu xin thầy cho tôi được xuất gia. Thầy
đã gạn hỏi tôi kỹ lưỡng về gia thế và tâm nguyện. Suốt
hơn nửa tháng. Thầy quán căn duyên tôi, rồi Thầy mới hứa
khả. Khi được Thầy gọi đến hứa nhận cho tôi xuất gia.
Ôi! Tôi mừng khôn kể xiết! Nỗi vui mừng đó không thể
dùng bút mực lòi lẽ nào diễn tả cho hết. Có lẽ đây là
nỗi vui mừng nhất đời tôi. Tôi liền bỏ hết tất cả,
chỉ đem theo mình một chiếc xe để làm phương tiện đi lại,
và hai bộ đồ vạc hò màu lam đã cũ mà khi còn là cư sĩ
tại gia tôi đã sắm để hằng tuần đi chùa học đạo, làm
công quả, hằng tháng tu bát quan trai.
Thầy
tôi, Thượng Tọa Đức Niệm, người trầm lặng ít nói. Nhưng
là mẫu người cần mẫn, quán xuyến cương nghị, quả quyết,
nghiêm minh và rất hiền hòa. Tôi chưa từng thấy Thầy để
thời gian nhàn rỗi trôi qua. Hết tụng kinh niệm Phật, Thầy
ngồi viết sách, nghiên cứu, phiên dịch kinh điển. Hết đi
giảng thuyết pháp đó đây, Thầy dạy giáo lý cho chúng tôi.
Khi chúng tôi ngủ, Thầy vẫn còn cặm cụi dưới ánh đèn
để nghiên cứu kinh luật.
Đời
sống của Thầy rất là bình dị. Thầy ăn, Thầy mặc, chấp
tác như chúng tôi. Trong khi làm việc, trong lúc học, cũng như
trong giờ hướng dẫn niệm Phật tham thiền, Thầy thường
khuyên huynh đệ chúng tôi: 'Mình là trưởng tử Như Lai, là
con Phật, là bậc xuất gia phải lấy tâm Phật làm tâm mình;
lấy hạnh Phật làm hạnh mình; lấy nguyện Phật làm nguyện
mình. Phải thể hiện tinh thần nhẫn nhục, từ bi, hỷ xả,
lợi tha. Đối với người, mình nên luôn luôn khiêm nhường,
nhận sự thua kém. Phải tận diệt lòng ích kỷ đố kỵ tham
lam. Không nên đàm tiếu những điều thị phi của người
khác. Còn mắc phải ý niệm lợi danh thì không xứng đáng
dự vào hàng trưởng tử Như Lai, chớ đừng nói chi cố ý
phạm phải những lỗi lầm căn bản giới luật. Người không
thích hợp với mình, thì mình nên tránh xa, nhưng không nên
hủy báng chê bai nói xấu. Nhìn thấy người làm được việc
lợi ích, thì phải khởi tâm tùy hỷ công đức. Thấy người
thua kém thất bại, thì nên đem lòng trắc ẩn tội nghiệp,
tìm cách giúp đỡ, cầu nguyện cho họ".
Những
lời khuyên dạy của Thầy tôi ngày một thấm sâu vào tâm
khảm tôi. Thầy tôi có đức tánh thật là từ bi đại lượng.
Nhưng rất mực nghiêm minh cương nghị. Người thể hiện cung
cách của bậc Thầy từ bi trí tuệ hùng lực giáo hóa đệ
tử. Người thể hiện bậc cha mẹ đùm bọc thương dạy săn
sóc các con. Nhưng nhiều lúc chúng tôi vì tánh háo thắng đã
làm cho Thầy âm thầm phiền khổ, như bà mẹ hiền phiền
khổ vì muốn đàn con khó dạy nên người. Người thể hiện
ân đức của bậc Thầy luôn luôn ngự trị trong tâm trí chúng
tôi. Thầy là lẽ sống của huynh đệ chúng tôi. Đúng thực
"Thầy là bóng cây che mát chúng tôi. Thầy là dòng sông trong
lành tắm mát đời chúng tôi. Thầy là con thuyền thanh lương
đưa chúng tôi đến bờ thanh hương". Ngôn ngữ, cử chỉ,
tâm niệm, đời sống của Thầy là thể hiện ý nghĩ vị
tha độ sanh của Phật. Trong khi khuyên dạy chúng tôi, Thầy
thường dẫn những mẫu chuyện đạo để chứng minh cho lời
giảng dạy của mình. Một trong những mẫu chuyện đạo mà
tôi hằng ghi nhớ sâu đậm ưa thích, và cũng để tự cảnh
tỉnh đời mình, nay xin lược kể để hầu chuyện cùng qúy
bạn:
Có
chàng tráng sĩ vào rừng xanh săn bắn, Trong lúc hăng say đi
tìm mồi, trời tối lúc nào không hay. Giữa khu rừng tăm tối
mông mênh, anh ta mất phướng hướng không tìm được lối
ra. Trời tăm tối, rừng mênh mông đầy chông gai và đá nhọn.
Trong khi lang thang tìm phương hướng, bỗng anh nghe phía sau
lưng có tiếng động, nhìn lại thì đó là một con voi to lớn
đang rượt đuổi theo anh. Sợ quá, anh đâm đầu chạy để
tìm nơi ẩn tránh. Chạy đến gặp một cái giếng cạn, anh
định nhảy xuống giếng để tránh voi dữ. Nhưng ở dưới
đáy giếng một con rắn độc nằm sẵn từ lúc nào, đang
há to miệng thè lưỡi khà khà phun nọc độc. Trong lúc hoảng
hốt, anh nhìn lên miệng giếng thấy một sợi dây leo lòng
thòng từ cây cổ thụ bên hông giếng. Không cần suy nghĩ
đắn đo, anh nhảy thót lên nắm lấy dây leo. Dây leo đầy
gai nhọn đâm vào tay chân thân mình anh. Máu chảy đau nhức.
Trong khi hết sức bám chặt đeo lấy sợi dây leo, anh ngước
nhìn lên cành cây cổ thụ phía trên, thấy một tổ ong. Cơn
run sợ của anh làm cho dây leo đong đưa mỗi lúc thêm mạnh,
lay động đến cành cây, khiến cho mật ong từ tổ ong rơi
thành từng giọt. Anh há miệng to hứng nuốt những giọt mật
đó với cõi lòng tự mãn sung sướng, mà quên đi bầy ong
bị động tổ ùn ùn bay đến vây chích anh tới tấp. Đeo
phiá trên có hai con chuột một trắng một đen đang lặng lẽ
thi nhau nghiến cắn dây leo. Bên dưới thớt voi vẫn đứng
cạnh giếng hầm hừ. Rắn độc ở đáy giếng vẫn tiếp
tục há miệng khè răng phun nọc. Gai nhọn vẫn tiếp tục
đâm sâu vào người anh. Đàn ong vẫn tiếp tục đánh chích
anh mỗi lúc một mạnh một nhiều. Hai con chuột vẫn thi đua
cắn nghiến sợi dây mỗi lúc mỗi mau.
Trong
lúc hiểm nguy khốn đốn dồn dập như vậy, thì một hiền
nhân xuất hiện, thấy anh đang trong tình cảnh vô cùng nguy
kịch, lấy làm thương xót khuyên anh nên theo Ngài để Ngài
hướng đạo dẫn đường đưa anh ra khỏi khu rừng tăm tối,
đầy chông gai hầm hố, thoát ly tình cảnh kinh hoàng hiểm
nguy. Nhưng chàng tráng sĩ khất hẹn chối từ: 'Thưa Ngài,
xin cám ơn lượng từ bi cao cả của Ngài đã đoái thương.
Nhưng tôi không thể theo Ngài được. Bởi vì tôi còn phải
thưởng thức những giọt mật thơm ngon này".
Thưa
bạn! Chàng tráng sĩ say sưa đuổi bắt mồi kia, chính là chúng
ta đang đuổi bắt phù hoa, thú vui của cuộc đời. Khu rừng
tăm tối đầy sỏi đá và gai nhọn, chính là cuộc đời chúng
ta đang sinh sống dẫy đầy bao nổi khổ đau thăng trầm hầm
hố chông gai nguy hiểm. Con voi dữ là tượng trưng cho tử
thần lúc nào cũng rình rập đuổi bắt chúng ta. Con rắn phun
nọc độc là chỉ cho sự già nua ẩn núp thầm lặng tàn phá
sự tươi trẻ khỏe mạnh của kiếp người chúng ta. Sợi
dây đầy gai nhọn mà tráng sĩ đang đeo chặt là tượng trưng
cho mạng sống. Hai con chuột trắng và đen là chỉ cho ngày
và đêm. Những giọt mật là tiêu biểu cho ngũ dục lạc ở
đời. Đàn ong là tượng trưng cho nỗi khổ đau sầu phiền
lụy đeo đuổi suốt kiếp người. Hiền nhân kia chính là
tượng trưng Đức Phật.
Thưa
các bạn! Câu chuyện trên đây đã làm cho tôi suy nghĩ rất
nhiều về thân phận của kiếp người. Càng đi sâu vào cuộc
đời, chúng ta thấy suốt kiếp người được gói trong câu
chuyện trên đây. Lời khuyến dạy của Đức Phật, gương
hiếu hạnh của Mục Kiền Liên Tôn giả, hình bóng hiền hòa
giải thoát của Thầy tôi, làm cho tôi chọn lấy con đường
giác ngộ giải thoát, bằng cách xuất gia đầu Phật để
tu hành cầu giải thoát.
Cuộc
đời nhiều nỗi gay go
Mau
mau nhẹ bước qua đò sông mê
Sự
đời quanh quẫn tử thê
Công
danh sự nghiệp trở về trắng tay.
Thầy
tôi, Thượng Tọa Đức Niệm đã tận tình khuyến khích, giúp
đỡ, sửa văn giúp ý, tôi mới có đủ can đảm hầu chuyện
với các bạn hôm nay.
Chúc
các bạn an vui và tiến bộ trong niềm tin truyền thống dân
tộc, để hưởng nguồn sống đạo nhiệm mầu.