11.
ĐÔNG THẤT THIỀN SƯ VÀ TÂY THẤT THIỀN SƯ
Này
các huynh đệ,
Hôm
nay đây, Thầy kể câu chuyện này để các con suy ngẩm, rồi
đem áp dụng trên đường tu tập của mình. Câu chuyện ngụ
ý khuyên ta thúc liễm thân tâm, không màng dính mắc sai lầm
danh lợi. Câu chuyện này của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu
kể cho Thầy nghe năm xưa. Câu chuyện ấy như thế này:
Từ
ngày kế vị vua cha, bốn năm liền bận rộn việc triều chính
quốc sự, vua Lý Thái Tôn không có thì giờ để đi vãng cảnh,
hành hương viếng chùa lễ Phật.
Tuy
vậy, nhà vua lúc nào cũng nhớ đến Viên Chiếu Quốc Sư,
bậc thầy đạo hạnh đã dạy dỗ mình từ thuở bé, khi còn
là Thái tử. Mặc dù giờ đây nhà vua ở trong cung điện ngai
vàng, ngày ngày kẻ hầu người hạ, kẻ bái người tâu, kẻ
quỳ người mọp. Mỗi bước đi có tiền hô hậu ủng. Hằng
ngày nhà vua thưởng thức những thứ cao lương mỹ vị không
thiếu món gì.
Khi
mới lên ngôi, mỗi lần ngự triều, ngồi trên ngai vàng, bá
quan văn võ hầu chào, xưng hô vạn tuế, vua Lý Thái Tôn cảm
thấy oai vệ thích thú. Nhưng cái cảm giác thích thú này sau
đó chẳng bao lâu chai dần, rồi từ từ nhường chỗ cho ý
niệm nhàm chán. Tuy sống trong những ngày vàng đêm ngọc,
chăn êm nệm ấm, lâu đài cung điện nguy nga, cung phi mỹ nữ
hát xướng múa ca, nhưng lắm lúc nhà vua vẫn cảm thấy mình
bị ràng buộc bởi nghi lễ, phát sanh cảm giác tù túng, tưởng
chừng như bị giam hãm ràng buộc bởi triều nghi áo mão cân
đai.
Nhà
vua nhớ tiếc thời kỳ trẻ thơ, thuở còn là Thái tử ở
chùa theo học với thiền sư, ngày ngày luyện văn tập võ,
thong dong với núi rừng hoa lá, vui với cá lội hồ sen, tươi
cười với chim muông ca hát trên cành cây cổ thụ, gió mát
hiu hiu tuỳ thích nằm ngủ ngon lành dưới gốc cây, trên vườn
cỏ, dưới hiên chùa, bất cứ chỗ nào. Ngày ngày sống bên
cạnh sư phụ uy nghi từ bi điềm đạm với những lời khuyên
nhủ hiền hòa mát dịu gọt ngào. Những lời dạy dỗ như
rót chảy sâu vào tâm cang huyết quản, cho đến bây giờ tuy
đã làm vua mà vẫn còn ghi nhớ rõ ràng. Mỗi lần nhớ đến
thuở thiếu thời nơi chốn thiền môn, nhà vua cảm thấy tâm
hồn êm đềm mát dịu làm sao!
Đã
bốn mùa Phật Đản, nhà vua không thu xếp nổi thì giờ để
thân hành đến dự lễ, lòng cảm thấy như thiếu sót một
điều gì lớn lao nhất trong đời mình. Nên Phật Đản năm
nay, nhà vua quyết định thế nào cũng phải thu xếp việc
triều chính, để lên chùa lễ Phật, thăm sư phụ mình mới
được. Nhà vua thèm sống lại cái cảnh trí không khí thanh
thản của thời niên thiếu lắm. Nhưng làm sao con tìm được
cái tâm trí thanh thản của thời xa xưa trước đây nữa!
Lòng
đã quyết, dù việc triều chính bận rộn, nên hôm ấy khi
mới vừa rạng đông, khí trời cuối xuân đầu hạ trong lành
mát dịu của ngày Phật Đản, nhà vua cùng đoàn tùy tùng
ra khỏi hoàng thành, hướng về núi Yên Tử tiến bước. Sở
dĩ nhà cua đi chùa sớm như vậy, là vì muốn đến chùa trước
khi các thập phương Phật tử đến, để có thì giờ hầu
chuyện với Viên Chiếu thiền sư, bậc thầy đã tận tụy
đào tạo hướng dẫn mình. Tuy thân ở triều đình, mà lòng
lúc nào cũng hằng mong ước được gặp lại sư phụ để
hầu chuyện, thỉnh ý về cách trị quốc an dân. Đồng thời
nhà vua cũng muốn mình như bao Phật tử khác đến đúng giờ
tham dự lễ chánh thức Phật Đản.
Trải
suốt mấy dặm đường, tiếp đó phải theo triền núi ngoằn
ngoèo đường dốc, nhà vua đã đến núi Yên Tử như thời
gian dự định. Nhà vua gặp thiền sư với niềm hoan hỷ trong
đạo tình sư đệ, trong chén trà đạo vị, trong tinh thần
tri kỷ, trong cùng ý nghĩa thương nước thương dân, thương
đạo. Tuy bây giờ là vua, nhưng đối với Viên Chiếu thiền
sư, nhà vua lúc nào cũng một niềm tôn kính là bậc thầy.
Nhà
vua và thiền sư trong tình sư đệ qua câu chuyện, thiền sư
bày tỏ tâm sự với nhà vua : "Tôi không còn bao lâu nữa,
thân tứ đại này sẽ hoàn trả lại bổn nguyên của nó.
Việc đạo việc đời đều nhờ ở vua". Vua vừa nghe lời
ấy, lấy làm bùi ngùi xúc động vô cùng, như cây cổ thụ
xum xê muông chim đoàn tụ ngày ngày hót vui, nay bỗng nhiên
khô cành trốc gốc. Như mặt trời sắp lặn, hoàng hôn kéo
về phủ lên vạn vật tối tăm.
Thế
rồi chẳng bao lâu sau đó, vào một đêm mùng tám trăng lưỡi
liềm, ánh trăng mờ bạc trải trên vạn vật, thiền sư gọi
hai người đệ tử tâm phúc vào tịnh thất căn dặn: "Thầy
sắp trở về nguyên quán. Thầy hòa đồng vạn thể pháp thân.
Sự nghiệp hoằng pháp độ sanh của Thầy, nay trao lại cho
hai con. Giờ đây thầy trao cho hai con, mỗi người một ngọn
đèn tuệ, để soi sáng bản tâm, đi trọn hành trình trở
về bản thể". Căn dặn xong, thiền sư trao tận tay hai người
đệ tử của mình mỗi người một cây đèn và căn dặn:
"Các con nhận lấy đèn tuệ này, mỗi khi tọa thiền nên để
ngay trước mặt, nhìn thẳng vào ngọn đèn mà quán tưởng
thì một ngày nào đó tuệ tâm khai ngộ". Căn dặn xong, Viên
Chiếu thiền sư ngồi kiết già an nhiên viên tịch.
Chẳng
mấy chốc tin viên tịch của Quốc sư Viên Chiếu đồn ra
muôn nẻo đường. Khắp đó dây, từ vua cho đến quan dân
đều tựu tề về núi yên Tử để dự lễ trà tỳ. Sau lễ
trà tỳ sư phụ xong, hai người đệ tử nhất mực từ chối
không chịu nhận chức vị viện chủ trụ trì kế nghiệp
thầy mình để lo cơ sở già lam cổ tư. Mỗi người xin được
tĩnh tu ở hai tịnh thất phía Đông và phía Tây triền núi,
hầu có nhiều thì giờ chuyên tâm thiền quán. Được người
thời bấy giờ thường gọi là Đông thất thiền sư và Tây
thất thiền sư.
Mỗi
lần ngồi thiền, nhớ lời thầy di chúc, Đông thất thiền
sư cũng như Tây thất thiền sư đều để ngọn đèn dầu
trước mặt làm đúng như lời trước khi thầy nhắm mắt
viên tịch căn dặn. Từ đấy, Đông thất cũng như Tây thất
thiền sư đều giữ vẻ trầm lặng, ngày ngày chìm sâu vào
núi rừng tịch mịch. Trong cái không khí thanh tịnh tĩnh lặng,
dứt bặt âm thanh của người trần thế, ngày ngày không một
bóng người lai vãng, cuộc sống thanh bần nhưng thật êm đềm
giải thoát của hai tăng nhân có lúc như hòa mình cùng với
vũ trụ. Đêm đến, các loài thú rừng từ các nơi tựu về,
quấn quít bên tịnh thất của hai ngài. Có những đêm trăng
sáng hươu nai đến quào cửa tịnh thất của Đông thất thiền
sư và Tây thất thiền sư, chúng kêu ư ứ hòa với những
tiếng kêu ríu rít của loài hươu nai thỏ vượn, như để
mời mọc hai thiền sư ra cùng vui chơi với chúng.
Biết
rõ điều đó, thiền sư xả thiền, dịu dàng đỡ cánh cửa
lá bước ra. Lạ thay, vừa thấy thiền sư, loài thú rừng
vẫy đuôi kêu ríu rít. Có lúc những thớt cọp beo rằn rện
hiền lành nằm mọp, vẫy đuôi với đôi mắt sáng như lằn
điện xẹt. Thiền sư vuốt nhẹ lên lưng những con vật. Giữa
cảnh đất trời bao la, giữa tình người và muôn loài hoang
dã cùng hòa điệu, thật là thân mật hữu tình "tình dữ
vô tình đồng viên chủng trí".
Có
những đêm tối trời tuyết sương băng giá phủ đầy, thiền
sư vẫn nghe có tiếng động nhẹ bên ngoài. Sáng hôm sau khí
trời quang đãng, thiền sư mở cửa bước ra, thấy ở trước
sân thiền thất còn lưu lại những dấu chân của những thú
rừng cùng với những trái cây rừng ngon ngọt.
Đông
thất thiền sư và Tây thất thiền sư lặng lẽ tĩnh tu gội
rửa tâm tư, chuyên tu tịnh nghiệp. Trải thời gian tháng năm,
phần lớn nhờ trái cây rừng của loài thú mang đến cúng
dường mà hai thiền sư độ nhật qua ngày.
Hai
thiền sư chuyên tu tịnh nghiệp thâm sâu, phước đức cao
dầy đã cảm hóa đến muôn loài. Tiếng đồn xa, ngoài nhân
gian người người kính ngưỡng. Trong triều nội vua chúa thần
quan ai nấy cũng đều mến mộ đạo hạnh của hai ngài.
Để
cho vua và đình thần chiêm ngưỡng đức tướng, nghe đạo
thiền thấm nhuần pháp nhủ, nhà vua cho sứ giả tìm đến
tận núi, gõ cửa tịnh thất thỉnh thiền sư về triều. Đông
thất thiền sư im lặng bất động, khéoléo chối từ. Tây
thất thiền sư trước những lời ca ngợi đức hạnh,
tha thiết thỉnh cầu của sứ giả, đã nhận lời vua thỉnh,
về triều thuyết pháp, đàm thiền cho vua, hoàng tộc và quần
thần nghe. Tây thất thiền sư nhờ tu mà được chút huệ,
nên thông đạt lý đạo lẽ thiền, thuyết pháp hóa duyên
được vua và triều thần trọng vọng. Từ đó, thỉnh thoảng
nhà vua cho sứ giả lên núi thỉnh Tây thất thiền sư về
triều thuyết pháp cúng dường.
Vì
cung nhơn mến mộ thỉnh cầu, nên có những lúc Tây thất
thiền sư lưu lại trong triều thời gian suốt tháng. Những
thời gian lưu lại này, thiền sư được trọng vọng hầu
hạ cúng dường rất mực. Thiền sư lại có dịp tiếp xúc
với nhiều bá quan văn võ đại thần và hoàng hậu.
Sau
những thời gian ngắn lưu lại hoàng cung như vậy rồi. Tây
thất thiền sư trở về tịnh thất tiếp tục việc tu hành.
Cũng theo như thời khắc hành thiền đã định. Cũng vẫn ngồi
thiền đối diện trước ngọn đèn của thầy Bổn Sư truyền
trao khi viên tịch. Nhưng bây giờ tham thiền, tâm không còn
kiên cố định tỉnh phẳng lặng như dòng nước trong mát
quán chiếu cội nguồn tâm linh như những ngày trước nữa.
Trái lại, sự tĩnh lặng của dòng tâm thức bị đứt quãng
bởi những hình ảnh cung miếu triều vua, lâu đài lộng lẫy,
vua quan đại thần, cung phi mỹ nữ diễm lệ hát xướng, yến
tiệc thịnh soạn linh đình, kẻ hầu người hạ dưng cúng
trịnh trọng v.v..., những hình ảnh này cứ phút chốc hiện
lên rõ rệt, xen tạp vào dòng tâm thức niệm Phật thiền
quán của thiền sư. Thiền sư muốn dứt bỏ tức khắc, bỏ
hết tất cả những hình ảnh tạp loạn đó, để cho dòng
tâm thức niệm Phật thiền quán thật phẳng lặng trong mát
như ngày trước. Nhưng không dễ gì! Thiền sư ngồi hối tiếc
suy nghĩ bâng khuâng, muốn tìm lại sự phẳng lặng của tâm
hồn thuở trước, nhưng khó quá!!! Rồi ngày lại qua ngày,
thiền sư tiếp tục phấn khởi nhận lời cung thỉnh của
nhà vua về triều giảng kinh luận đạo.
Sau
mỗi lần ở triều về lại tịnh thất, thiền sư cũng vẫn
tiếp tục cố gắng tĩnh tâm niệm Phật tham thiền. Nhưng
hình ảnh phú qúy của triều đình chiếm mất sự an lành
thanh tịnh trong mát của dòng tâm tư niệm Phật thiền quán.
Cứ thế, hai trạng thái động tĩnh trong cùng một con người
của Tây thất thiền sư, cùng một cõi lòng muốn tịnh mà
cứ động, tự nhiên dằng co xung đột. Trong lúc đó, Đông
thất thiền sư vẫn im lìm trong tịnh thất, tinh tấn chuyên
cần, tâm trí mỗi ngày một khai thông, huệ tâm tăng trưởng.
Rồi
vào một đêm nọ, trời đất bỗng nhiên mịt mù, lớp lớp
mây đen tối tăm bao phủ, mưa giông sấm sét, chốc chốc làn
chớp sáng lòe như xé tan màn tối dầy đặc bao phủ trời
đất, tiếp theo những tiếng gầm sấm sét như nổ tung tư
thế tham thiền, thân thể bất động, nhưng nội tại tâm
tư rộn ràng, đang cố tìm lại dòng tâm thức thanh tịnh
tĩnh mát lành năm xưa. Trong lúc đang tịnh tâm thiền quán,
bỗng Tây thất thiền sư mơ màng thấy trong bóng tối lù lù
hiện ra một con quỷ lông lá dựng ngược, mắt to đỏ ngầu
như máu, nhe răng nhảy đến vồ lấy thiền sư. Thiền sư
hoảng hốt, đứng dậy, tung cửa tịnh thất vụt chạy ra
ngoài làm cho ngọn đèn dầu ngã đổ, lửa theo vết dầu loang
phừng cháy, không mấy chốc tịnh thất tranh lá thiêu rụi
thành tro.
Giữa
cơn mưa đổ, giông tố sấm sét, lửa cháy phừng phừng, Tây
thất thiền sư hoảng hốt một mình cắm đầu chạy, thỉnh
thoảng ngoái cổ nhìn lại phía sau, vẫn thấy con quỷ dữ
nhe răng miệng máu hùng hổ rượt theo, như muốn ăn tươi
nuốt sống mình. Do đó, Tây thất thiền sư lại càng sợ
hãi, cố chạy trốn. Nhưng càng chạy càng thấy phía sau con
quỷ cứ rượt đuổi nạp theo. Kiệt sức mệt lả cả người,
áo quần ướt át tả tơi, thiền sư hết đường, liền chạy
chui vào núp giữa mấy hàng lu tương lớn của một ngôi chùa
này vừa mới bị trộm. Tăng chúng trong chùa thức dậy đang
lùng tìm bắt kẻ gian. Nhưng kẻ gian đã mau chân co giò chạy
thoát từ lúc nào rồi. Mà nhà chùa sợ kẻ trộm còn ẩn
núp đâu đây, nên tăng chúng trong chùa phân chia nhau từng
toán đi lục soát kỹ, trước khi đi ngủ lại.
Thì
bất ngờ, một vị tăng thấy một người áo quần ướt tả
tơi, ngồi co ro trong hốc tối giữa mấy hàng lu tương. Một
tiếng tri hô: Kẻ trộm đây rồi! Nó đây! Mọi người tay
sẵn cầm cây, gậy, chổi, thùng, đổ xô đến chỗ có tiếng
tri hô, nhanh như chớp dùng thế quyền bắt trói đánh đập
nhừ tử, rồi mang nộp lên quan. Quan tra hỏi, Tây thất thiền
sư tình thật, nhứt mực khai không có. Tự nói mình chính
là Tây thất thiền sư, thầy của vua. Thế rồi quan huyện
nhứt mực cho kẻ gian dám phạm thượng hổn láo đáng chết,
nên lại càng ra lệnh tra tấn nặng nề. Bấy giờ thân thể
của Tây thất thiền sư bầm sưng nhức nhối. Sau đó quan
huyện trình tâu tự sự lên vua. Vua lấy làm lạ cho đòi mang
kẻ gian về triều xét xử.
Mới
nhìn, nhà vua thấy kẻ trộm mình mẩy mặt mày sưng bầm,
áo quần bụi bặm rách nát tả tơi, thật là thê thảm! Nhìn
hồi lâu nhà vua rất đổi ngạc nhiên, nhận ra phạm nhân
này không ai khác, chính là Tây thất thiền sư! Không cầm
lòng xúc động, nhà vua cũng như thiền sư hai cõi lòng cùng
một nhịp thông cảm xúc động xót xa. Bốn mắt nhìn nhau
im lặng, nước mắt tuôn trào thành dòng trên má cả hai. Nhà
vua càng nhìn thân hình tồi tàn của thiền sư, càng ngạc
nhiên không hiểu nỗi do nguyên cớ nào đưa đẩy nhà tu đến
nông nỗi này.
Nhà
vua càng nhìn thiền sư với đôi mắt tìm hiểu, thương hại,
thì sự hổ thẹn sâu kín tự đáy lòng lại càng chế ngự
cả tâm não thiền sư. Lúc đó, Tây thất thiền sư chỉ còn
biết cúi mặt xuống đất im lặng lắc đầu xấu hổ tự
trách, như để dòng tâm tư xuôi chảy về quá khứ. Quãng
đời tu học đã qua, trải từng giai đoạn, từng giai đoạn
hiện ra rõ rệt, từ thuở thơ ấu xuất gia theo thầy học
đạo, được thầy trao truyền đèn tuệ cho đến ngày nay
phải ra nông nỗi này! Tất cả những hình ảnh đó đều
rõ ràng hiện ra trong tâm não, sống động như mới ngày nào
đây, và chưa bao giờ rõ rệt như lần này. Rồi nghĩ đến
người sư đệ của mình, Đông thất thiền sư bây giờ vẫn
sống an lành tĩnh lặng tịnh tâm niệm Phật tham thiền. Tây
thất thiền sư vô cùng hối hận, mình đã vọng tâm vướng
mắc lợi danh mà không hay biết, để thân phải đọa đày,
lặn sâu vào hố thẳm như thế này!
An
tĩnh trong tịnh thất tham thiền, Đông thất thiền sư biết
rõ hết mọi việc xảy ra của người sư huynh mình. Thiền
sư chỉ còn biết thương xót nguyện cầu cho Tây thất thiền
sư sớm hồi đầu tỉnh giác, dừng chân xa dần liên hệ với
chỗ phú quý quyền uy, để trở lại đời sống thanh bần
lạc đạo.
Sau
khi nghe Tây thất thiền sư kể hết đầu đuôi sự tình đã
xảy ra, nhà vua cảm động thương tâm, Tây thất thiền sư
được giải oan và nhà vua mời lưu lại triều đình để
lo thuốc thang chữa trị những vết thương trên mình, và cũng
để cúng dường y áo đồ dùng, rồi đưa thiền sư về núi.
Khi
trở lại núi, Tây thất thiền sư nhìn tịnh thất của mình
bây giờ chỉ còn là đống tro tàn! Thiền sư nhìn trời, nhìn
đất, hướng vọng nhìn về ngôi già lam cổ tự của thầy
mình, nơi đó ghi dấu hình bóng của thầy. Cũng chính nơi
đó, vào những năm trước đây, ngày ngày mình hầu thầy
học đạo, sớm chiều thời khóa tụng niệm, sống vô tư
vô lự, vui với hoa lá cỏ cây chim muông thú rừng. Tâm hồn
giải thoát làm sao!
Dòng
tâm tư cứ tiếp tục như cuộn phim hiện về mỗi lúc một
rõ ràng, thiền sư ngồi trên tảng đá trầm tư. Giờ đây,
thân thể tâm niệm mình đã xa đạo ngàn dặm lắm rồi! Lời
thầy căn dặn năm xưa trong đêm sắp viên tịch như phai mờ
trong tâm thức! Đèn tuệ của thầy trao cho, giờ đây đã
cháy thành tro! Mất hết tất cả! Tất cả đều không! Thiền
sư khẻ lắc đầu than thở, nhìn đống tro tàn tự trách do
mình quá ám muội nên mới ra nông nỗi, tịnh thất bỗng chốc
thành đống tro bụi! Bản tâm mông muội thiêu rụi hết công
đức giải thoát. Con đường giác ngộ hẳn còn chơi vơi mịt
mù. Đối với đường tu thua xa sư đệ ta quá rồi!
Trời
chưa tối hẳn. Trăng rằm vào cuối tiết hạ sang thu, ánh
trăng trải sáng khắp trên cành cây ngọn cỏ núi đồi. Rồi
đột nhiên thiền sư đứng phắt dậy, đi về hướng tịnh
thất của người sư đệ, Đông thất thiền sư. Tịnh thất
vẫn im lìm. Hàng trúc vẫn đứng nên thơ như thuở nào, thỉnh
thoảng lay nhẹ theo chiều gió. Bên trong tịnh thất, Đông
thất thiền sư vẫn tĩnh tọa tham thiền. Tây thất thiền
sư cảm thấy không khí nơi đây thanh tĩnh lạ thường, như
đang thấm sâu vào lòng mình làm tăng thêm cảm giác mát nhẹ
thư thới.
Không
dám kêu cửa, Tây thất thiền sư đi vòng quanh tịnh thất
của Đông thất thiền sư mấy lượt, lòng Tây thất thiền
sư bồi hồi nôn nao, rất mong sao sớm được diện kiến với
người sư đệ mình.
Đông
thất thiền sư đang tham thiền biết rõ tâm trạng của sư
huynh xao xuyến, nên xả thiền, đỡ nhẹ cánh cửa lá bước
ra trước hiên tịnh thất, với gương mặt thanh thoát hân
hoan đón chào người sư huynh của mình, lâu ngày mới gặp.
Tình
huynh đệ gần nhau trong ánh sáng đạo, dưới ánh trăm rằm
tháng tám, trong làn gió mát dịu của núi rừng, giữa khoảng
trời bao la tịch tĩnh, Tây thất thiền sư hướng tâm hồi
quang phản chiếu, nguyện sống đời lạc đạo bần tăng.
Để
kết luận câu chuyện trên đây, xin mượn lời vua Trần Thái
Tôn, một vị thiền tổ Việt Nam đời Trần:
"Vĩnh
vi lãng đãng phong trần khách
nhứt
vãng gia hương vạn lý trình".
Tạm
dịch:
"Một
thuở ra đi trong cát bụi
Ngàn
năm mất dấu bóng về quê".
Vậy
các huynh đệ phải nên cẩn trọng giữ mình trong từng giây
phút. Nếu sai một ly sẽ đi xa ngàn dặm. nên thận trọng
giữ gìn thân, miệng, ý thanh tịnh, như thận trọng giữ gìn
đôi mắt mình để không bị rác bụi làm xốn xang.
12.
CỘI NGUỒN KHỔ LỤY
Kính
thưa quý Phật tử,
Đạo
Phật là đạo cứu khổ. Nếu đời không khổ thì không có
đạo Phật ở thế gian này. Cũng như nếu mọi người sanh
ra đều biết đọc biết viết hết thì không cần có nhà
trường thầy giáo làm gì. Vì muốn hết dốt nên phải có
thầy giáo, trường học. Cũng vậy, vì muốn chúng sanh giác
ngộ giải thoát an vui mà Đức Phật mới ra đời. Vậy cội
nguồn khổ lụy của kiếp người từ đâu?
Lần
đầu tiên tiếp xúc với đời, Thái tử Tất Đạt Đa đã
chứng kiến cảnh khổ của kiếp người bị bao bọc bởi
bốn bức tường kiên cố muôn đời : Sinh, già, bệnh, chết
ràng buộc chặt chẽ suốt cả kiếp sống.
Đã
có thân thì phải lăn lộn với đời tìm kế sinh nhai để
nuôi dưỡng xác thể. Dù cho bất cứ loài nào trong chúng sanh,
hễ đã mang thể xác theo nghiệp thức của nhịp tim bóp thắt,
tình cảm vui buồn, đều phải khổ lụy buộc ràng với xác
thân theo nỗi thăng trầm buồn vui với bốn bức tường sanh,
già, bệnh, chết.
Mãi
lo cơm ăn áo mặc nhà ở, danh lợi, ái ân cũng là bắt đầu
của sự thắt gút buộc ràng khổ lụy. Ngày tháng trôi qua,
theo với thời gian năm tháng, thân này tàn tạ già nua suy yếu
là khổ. Một khi thân thể mình cũng như thân hình của những
người mình thương mến tàn tạ, già nua bệnh hoạn, thì mình
cũng mang một tâm trạng buồn tiếc lo âu.
Sanh
con là khổ. Khi chúng còn nhỏ phải lo chăm sóc bú mớm, thay
tã, đút cơm, giặt giũ cho chúng. Lúc chúng đau ốm, hay nổi
chướng nghịch ngợm, thì cha mẹ buồn khổ. Khi lớn lên phải
lo sắm sửa cho chúng ăn học. Kịp đến khi chúng khôn lớn
nên người thì dù trong hoàn cảnh nghèo khó, cha mẹ vẫn phải
chạy lo dựng vợ gả chồng. Khi được hạnh phúc thì chúng
hưởng, nhưng khi cơm chẳng lành, canh chẳng ngon thì cha mẹ
phải lo âu sầu sầu não. Lo cho con chưa hết, tiếp đến lo
cho cháu. Cứ thế lo mãi lo hoài suốt tháng năm, suốt trọn
cả cuộc đời, cho đến hơi thở cuối cùng vẫn còn lo. Nỗi
lo lắng cho con cho cháu, lắm lúc quên cả nỗi cơ cực của
chính bản thân mình. Con người vì quá lo âu cho tình thân
máu mủ, lo âu đủ thứ việc ân tình mà xa dần bản tánh
thiện tâm của mình. Nhà thơ đã nói về sự lo âu đắm đuối
ân tình lợi danh ràng buộc của người đời:
Luyến
luyến mê mê chuyện thế gian,
Lợi
danh tình ái khéo đa mang,
Bao
giờ dứt bỏ tình danh lợi,
Là
bước gần bên ánh đạo vàng.
Nếu
con người quả quyết dứt khoát sự ái ân ràng buộc tình
đời, thì ngay lúc đó, con người được sống trong thảnh
thơi giải thoát. Con người cảm nhận được cái thanh tịnh
ngọt ngào của giòng suối mát thanh lương của tâm hồn, giờ
nào dứt khoát trừ bỏ lo âu ân tình là giờ đó sống trong
ánh sáng bình minh giác ngộ tự tại. Nhà thơ đã nói người
dứt bỏ được cái đam mê chìm đắm dục lạc của đời,
là người mở cửa giải thoát, tiếp nhận được nguồn sống
thanh thản của đạo vàng giác ngộ:
Đắm
đắm say say chuyện thế trần,
Lợi
danh tình ái buộc ràng thân,
Bao
giơ dứt bỏ tình danh lợi,
Cửa
đạo mừng ai đã đến gần.
Lại
có những bậc cha mẹ, ngoài cái khổ thân xác làm lụng chụp
bắt vất vả ra, còn phải tranh đua giành dụm, luồn cúi để
cho con mình có được bằng cấp nọ, chức vụ kia, việc làm
tốt. Thậm chí vì những thứ danh lợi này mà cha mẹ phải
nhịn ăn nhịn mặc, tạo đất mua nhà để của cho vợ con.
Mãi suốt đời lo cho chồng, cho vợ, cho con, cho cháu, đến
giờ phút quờ quạng trút hơi thở cuối cùng vẫn còn lo.
Lo cơm nước. Lo áo quần. Lo bằng cấp. Lo danh vọng. Lo con
hết đến lo cháu. Ôi thôi trùng trùng lớp lớp lo âu! Lo mà
quên đi đầu bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, thân đã
kiệt sức! Nhưng cuối cùng được đền đáp lại bằng những
gì? Chắc quý vị đều biết rõ hơn ai hết!
Nước
bao giờ cũng chảy xuống. Con mình thường thì nó thương lo
cho vợ, cho chồng, cho con, cho bạn bè. Phần đông là chúng
nó bỏ phó mặc cho cha mẹ già sống sao thì sống. Có được
mấy người con trên đời bỏ vợ để ở gần phụng dưỡng
mẹ cha? Có ai trên đời bỏ lợi danh bạn bè để về phụng
dưỡng cha mẹ già? Phần đông con cháu nếu chúng còn nhờ
cậy được cha mẹ thì còn thân thiết với mẹ cha. Bằng
không chắc gì nhà của con, cha mẹ được yên ổn nương thân
lâu dài. Suốt trọn một đời lao tâm khổ trí hy sinh tất
cả cho con cháu. Đến khi con cháu có bằng cấp sự nghiệp,
lúc đó cha mẹ đã già, chỉ còn là những tấm thân tàn tạ,
ngày ngày mong mỏi sự an ủi từ những món quà, những cánh
thư của những đứa con, nhưng những hy vọng này thật là
mỏng manh! Kết quả lòng cha mẹ héo mòn theo năm tháng đợi
trông!
Lại
có những bậc cha mẹ già nua yếu gầy, sống qua ngày bằng
những niềm tin cầu nguyện, chỉ mong con mỗi cuối tuần chủ
nhựt nghĩ tưởng về giúp đỡ phương tiện chở đi chùa
viện nghe kinh thuyết pháp, hầu để tu bồi phước đức,
an ủi tuổi già, nhưng niềm ước ao nhỏ này cũng chỉ mong
manh, khi có khi không.
Cha
mẹ già yếu, thỉnh thoảng nhờ con giúp đỡ chút ít tiền
bạc gọi là an ủi báo hiếu, thì được con đáp rằng, lúc
này "kẹt quá" đi thôi! Trong lúc đó chồng vợ con cái chúng
nó sắm sửa ăn mặc se sua! Chủ nhật nhờ chở ông bà già
đi chùa nghe kinh cầu nguyện kiếm phước thì nó bảo rằng
bận việc, mắc hẹn, kẹt lắm! Muốn đi thì tự lo lấy mà
đi. Trong lúc đó chồng vợ con cái thì hồ hỡi dẫn đi shopping
mua sắm, đi núi, dạo biển, rong phố. Cha mẹ già muốn cúng
dường Tam Bảo, làm việc phước thiện, in kinh ấn tống,
mua thú vật phóng sanh để vun trồng cội phúc, thì con cháu
lại thấy vậy bất bình rầy la cho là ông bà già phung phí
lẩm cẩm! Cha mẹ già có phát tâm niệm Phật ăn chay tu tâm
dưỡng tánh, thi con cháu cho là mê tín lỗi thời, nói xa nói
gần, hạch sách nặng nhẹ châm biếm phá phách làm cho cha
mẹ không yên tâm.
Tóm
lại, từ khi con còn bé thơ trong tay mẹ, cho đến khi lớn
khôn lập thành gia thất, lúc nào cha mẹ cũng lo sợ con buồn,
chìu con. Đến khi con khôn lớn, nhièu khi cha mẹ muốn làm
việc phước thiện, cúng dường Tam Bảo mà phải lén lút
dấu con. Quý vị thấy bao nhiêu nỗi khổ của tâm của thân
mình, sanh già bệnh chết lúc nào cũng thúc bách ép ngặt trước
mặt. Thêm vào đó, những nỗi buồn lo thưong ghét của con
cháu quyến thuộc trói buộc lấy mình. Nội tâm phiền lo,
ngoại cảnh thúc bách. Đức Phật gọi đó là khổ khổ. Nghĩa
là nỗi khổ bên trong của bản thân và nỗi khổ bên ngoài
của hoàn cảnh chất chồng lên, mà con người vẫn bằng lòng
nhận chịu, không muốn tìm một cuộc sống an lành trong chốn
già lam thanh tịnh, dưới hào quang Phật đài để được giải
thoát!
Mặc
dù đang phải sống trong tình trạng phó mặc của con cháu,
nhưng thật tội nghiệp các bậc cha mẹ không muốn để người
ngoài biết cười chê. Cha mẹ lúc nào cũng khoe khoang với
mọi người, nào là con tôi mấy đứa học Tây học Mỹ, có
bằng cử nhân tiến sĩ, hiện giờ chức nọ chức kia. Con
tôi có hiếu lắm! Thật là tội nghiệp cho những bậc cha
mẹ khi thốt ra những câu nói giả tạo trong cảnh ngộ sự
thực phủ phàng! Nói khoe khoang như thế để đỡ hổ thẹn
với mọi người, để đỡ khổ tâm với chính mình! Nhiều
lúc an ủi với những hư danh đó, mà thật sự trong lòng âm
thầm chua xót cho thực trạng tình cảnh của mình!!!
Suốt
đời vì lo cho mình, vì lo cho gia đình con cháu mà phải lam
lũ, nhịn ăn nhịn mặc, lắm lúc dối gạt để dành dụm
tiền bạc cho con. Nhưng được gì, thưa quý bậc cha mẹ già?
Thực tế, con cháu hưởng mà nghiệp tội riêng mình mang. Khi
sống thì con cháu lơ là. Đến khi chết, nếu may mắn gặp
những đứa con biết nghĩ đến cha mẹ thì còn đến chùa
làm tuần thất trai chay để cầu siêu độ. Bằng như vô phước
gặp phải những đứa con vô đạo, không có niềm tin, hoặc
theo ngoại đạo, thì cha mẹ vừa chết, chúng chỉ nghĩ đến
tiền của, tranh lợi. Đem cha mẹ đi chôn là rồi việc!
Một
bà mẹ, một ông cha có thể nuôi một đàn con năm bảy đứa,
lo cho chúng ăn học nên người, thành danh phận, chức vị
giàu sang, lập thành gia thất. Nhưng một bầy con giàu có danh
phận, không chắc gì nuôi nỗi cha mẹ, tuy chúng có thừa dư
tiền bạc! Những đứa con này chỉ biết có sung sướng với
vợ con, bỏ lơ cha mẹ trong cảnh thiếu thốn, cô đơn tẻ
lạnh!
Cho
dù gia đình có phước được con thảo cháu hiền hiếu thuận
đi nữa, cảnh hạnh phúc đâu có thường thấy mãi. Cổ đức
dạy: "Nhứt đán vô thường vạn sự hưu". Một khi con qủy
vô thường đến thì mọi việc của đời người đều chấm
dứt tan rã. Các bậc thiền đức cũng cảnh tỉnh người đời:
Cha
mẹ ân sâu rồi cũng cách,
Vợ
chồng nghĩa nặng cũng chia lìa,
Tình
đời chẳng khác chim chung ngủ,
Sáng
sáng đàn nào nấy tự bay.
Nỗi
khổ phiền lụy đè nặng lên kiếp người, trói buộc suốt
cuộc sống của chúng sanh đều do ái ân tham luyến. Cha mẹ
già yếu bệnh chết là khổ. Con cái bất hiếu vô đạo là
khổ. Óan thù không ưa thích mà phải gặp nhau là khổ. Vợ
chồng không hạnh phúc là khổ. Bà con không hòa thuận là
khổ. Cầu mong điều gì không toại nguyện là khổ. Mình thương
người mà người không thương lại là khổ. Làm ơn mà bị
trả oán là khổ. Đói cơm khát nước là khổ. Đau yếu tật
nguyền là khổ. Chiến tranh tàn khốc là khổ. Thua kém người
là khổ. Thân tâm không được thư thái là khổ v.v... khổ
là khổ.
Rõ
ràng vui ít khổ nhiều. Cái khổ đè nặng lên suốt kiếp
người nói sao cho hết? Cái khổ hiện đời là khổ xác thân
và tinh thần. Nếu không biết tu tỉnh, vun trồng phước đức,
mà lại còn tạo thêm ác nghiệp cho ân ái thân thuộc, cho
tham vọng lợi danh, thì chắc không tránh khỏi quả báo nghiệp
ác khi bỏ xác thân này. Như thế còn phải chịu khổ và tiếp
tục chịu khổ suốt những đời kế tiếp tới trong ba nẻo
khổ đau địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh.
Đức
Phật nói, nỗi khổ của chúng sanh trong cõi trần thế, nếu
có hình tướng thì có thể chất đầy cả địa cầu này.
Nước mắt của chúng sanh nếu dồn lại chắc phải nhiều
hơn nước trong bốn biển đại dương. Ôn Như Hầu đã chẳng
diễn tả nỗi khổ của con người triền miên tiếp diễn
tả nỗi khổ của con người triền miên tiếp diễn tự thuở
lọt lòng mẹ cho đến hơi thở cuối cùng đó ư? Thi nhân
đã nói lên sự thật phủ phàng của kiếp người:
Thảo
nào khi mới chôn nhao,
Đã
mang tiếng khóc ban đầu mà ra
Khóc
vì nổi thiết tha sự thế
Ai
bày trò bãi bể nương dâu
Trắng
răng đến thuở bạc đầu
Tử
sanh kinh cụ làm đau mấy lần.
Báo
hiệu cuộc sống của kiếp người nơi trần thế bằng tiếng
khóc chào đời: "Khổ quá, khổ quá" ngay thuở ban đầu lọt
lòng mẹ. Và tiếp theo đó là chuỗi dài của những ngày tháng
thăng trầm phiền muộn, lo âu dập dồn không biên giới, như
khói sóng mù tỏa trên biển cả ngút ngàn, với sóng dồi
gió dập man man vô tận, mà con người lặn hụp trong đó không
biết bao giờ yên nghỉ. Thi sĩ Đoàn Như Khuê đã hình dung
nỗi khổ của kiếp người trần thế qua bài thơ:
Bể
khổ mênh mông sóng ngập trời
Khách
trần chèo một chiếc thuyền chơi!
Thuyền
ai ngược gió, ai xuôi gió
Ngoảnh
lại cùng trong biển khổ thôi!
Ngoảnh
lại cùng trong biển khổ thôi!
Nổi
chìm, chìm nổi biết bao người
Kiếp
người nghĩ cũng lênh đênh quá
Qua
cánh bèo trôi mặt nước thôi!
Suy
ngẫm cho cùng thì kiếp người quá long đong, khác nào như
chiếc thuyền nan bé bỏng bồng bềnh trên biển cả, nổi
chìm theo lượn sóng đại dương. Con người sống trên cõi
đời này thăng trầm dồn dập như thuyền nan trôi trên bể
cả. Đời người đã bao lần thăng trầm buồn khổ, và cũng
chẳng biết trước từ giả cuộc đời lúc nào. Hơi thở
ra mà không thở vào là qua đời khác. Mạng sống đã mong
manh lẽ tất nhiên dẫn theo sự nghiệp mong manh, địa vị
mong manh, vợ con thân bằng quyến thuộc mong manh, tất cả
đều tan hợp như sương sớm đầu cành. Kinh Bát Đại Nhân
Giác, điều giác ngộ thứ nhứt của bậc đại nhân, Đức
Phật nói: "Thế gian vô thường, nước nhà nguy biến, thân
thể khổ không, tâm thức vô ngã ..." Vậy tất cả có gì
chân thật đâu?
Phật
nào Phật nấy, Bồ Tát nào Bồ Tát nấy tiếp tục xuất thế
và thường xuyên hóa hiện trong cõi đời khẩn thiết khuyến
hóa độ sanh, những mong người đời tỉnh ngộ tu tâm dưỡng
tánh để sớm hồi đầu về bến giác, để thoát khỏi luân
hồi sanh tử. Nhưng người đời vì vô minh, tham ái, lấy giả
làm chơn, nhận giặc làm con, sống theo tình thức ngũ dục,
đuổi bắt lợi danh tình ái thế gian bẩn nhơ mộng huyễn,
cảnh còn thì vui, cảnh mất thì buồn, mà vẫn mông muội
chẳng ý thức cảnh đời vốn đã không thật. Buồn vui theo
cảnh trần hợp tan, sống chết trôi lăn theo nghiệp thức
dẫn dắt. Thánh nhơn nói: "Lưới lủng chim bay, thần thức
theo nghiệp". Kinh Kim Cang, Đức Phật đạy:
Nhứt
thiết hữu vi pháp
Như
mộng huyễn bào ảnh
Như
lộ diệc như điển
Ưng
tác như thị quán.
Tạm
dịch:
Xưa
nay vạn vật trên đời,
Bọt
bèo mộng huyễn có rồi hoàn không,
Kìa
xem điện chớp trên không,
hạt
sương buổi sớm đem lòng quán xem.
Người
muốn đắc đạo giải thoát, muốn thoát ly đắm nhiễm thế
tình khổ lụy thì cần phải quán sát lời Phật lời tổ
dạy mà hành trì để thúc liễm thân tâm, phát huy tự tánh,
giác ngộ tự tại giải thoát để cùng thể nhập với đại
thể Phật tâm.
Luận
về khổ, thuở Đức Phật còn ở đời, có bốn vị tỳ kheo
mới phát tâm tu học. Một hôm nọ bốn vị tỳ kheo ngồi
dưới gốc cây thảo luận về nỗi khổ của kiếp nhân sinh.
Một thầy tỳ kheo nói:
- Theo
tôi, cái họa hoạn khổ đau nhứt của con người không gì
bằng sắc dục. Nếu tâm không đọan trừ ái dục thì không
thể nào nhập lý thể đạo chơn thường.
Vị
tỳ kheo khác nghe nói thế, liền phát biểu ý kiến rằng:
- Nỗi
khổ tâm lo âu của kiếp người, không gì bằng chạy lo ăn
uống. Một khi lâm vào cảnh đói khát bức bách, thì không
làm được việc gì cả.
- Vị
tỳ kheo thứ ba lại bảo rằng: "Lòng sân hận là họa hoạn
to lớn nhứt của kiếp người. Một niệm tâm sân khởi lên
có thể cháy rụi trí huệ, theo đó muôn ngàn cửa nghiệp
chướng đều tung mở. Như thế sân hận làm cho con người
chịu vô lượng tội khổ".
- Vị
tỳ kheo thứ tư cho rằng: "Nỗi lo khổ của chúng sanh trong
thế gian này là sợ hãi. Mỗi ngày sống trong hồi hộp lo
âu là sợ hãi, không có chút an ổn, thì còn gì khổ hơn".
Đang
lúc bốn vị tỳ kheo biện luận hăng say về nỗi khổ của
kiếp người, thì Đức Phật hiện đến. Vì mỗi người quan
niệm về sự khổ khác nhau, nên không có một giải pháp nào
rốt ráo cho vấn đề thảo luận về khổ, do đó các vị
vẫn còn thắc mắc. Đức Phật rõ tâm ý của các thầy tỳ
kheo nên lân mẫn ân cần hỏi:
- Này
các tỳ kheo! Các thầy đang thảo luận về vấn đề gì vậy?
Bốn vị tỳ kheo theo thứ lớp tường thuật lại việc vừa
rồi. Đức Phật nghe xong, lòng Ngài thương xót liền thuyết
minh đính chánh chỗ kiến giải cho các tỳ kheo. Ngài giảng
rằng: "Phàm người tu hành thường hay tụ hội một chỗ như
thế này, để kiểm thảo về sự tu học của mình, đấy
là điều lợi ích an vui lớn lao. Như vừa rồi Như Lai nghe
các vị lý luận về sự khổ đau theo chỗ kiến giải của
mình. Tuy các vị đều có lý, nhưng không có lý nào hợp với
đạo lý một cách rốt ráo cả. Giờ đây ta vì các vị để
nói rõ cội nguồn của sự khổ lụy họa hoạn của chúng
sanh:
"Chúng
sanh khổ vì cái thân ngũ uẩn (*) giả hợp này. Sắc thân
ngũ uẩn tạo thành tất cả tội khổ. Do đó, ta có thể nói
thân là công cụ của sự phiền khổ. Đói khát lạnh nóng,
phiền não sợ hãi, sắc dục, oán hờn, họa hoạn, đều do
thân thể cảm thọ mà có. Lao tâm khổ trí, nhọc xác như
trâu, lo sợ đa đoan, chúng sanh tàn hại nhau, cho đến sanh
tử đắm chìm trong sáu nẻo luân hồi không dứt đều do thân
thể này tạo thành. Muốn thoát ly khổ não thì phải biết
lợi dụng cái thân tâm ngũ uẩn này chuyên cần tinh tấn tu
hành, làm cho ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh thì sẽ đạt
đạo giác ngộ giải thoát, liền ngay đó được hết khổ.
Ngược lại, nếu buông thả theo sở thích nhục dục của
thân ngũ uẩn thì vĩnh viễn kiếp trầm luân khổ lụy.
Người
tu học Phật phải biết nhận rõ như thế mới thực sự chân
chánh lìa khổ, mới được an vui thanh thoát".
Khi
ghe Đức Phật giảng nói như thế rồi, các vị tỳ kheo rất
lấy làm hổ thẹn, không còn ngồi lý luận suông nữa, phát
tâm cầu tinh tấn dõng mãnh tu hành, chẳng bao lâu au đó, cả
bốn vị đều chứng thành quả giác ngộ.
(*)
CHÚ THÍCH:
Ngũ
uẩn: Còn gọi là ngũ ấm tức là năm thứ tích tụ che lấp
chân tánh. Năm thứ đó là:
1)
Sắc: Chỉ cho năm căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Năm trần
cảnh là sắc chất, âm thanh, mùi vị, xúc chạm, và các sự
việc có thể dùng giác quan thấy biết.
2)
Thọ: Đối với trần cảnh sanh ra cảm thọ vui sướng, khoái
lạc hay buồn khổ sau khi tiếp xúc.
3)
Tưởng: Nghĩ tưởng đến cảnh trần đen trắng, lớn nhỏ,
ngắn dài, đực cái, nam nữ, tốt xấu sau khi tiếp xúc.
4)
Hành: Dòng tâm thức duy trì mạng sống, như mạch nước dưới
lòng đất, sóng ngầm dưới đại dương, đặc tánh chấp
có, sanh ra lòng ham muốn.
5)
Thức: Đối với cảnh trần sanh ra hiểu biết phân biệt.
Năm thứ này tích tụ giả hợp thành thân tâm chúng sanh. Một
khi ngũ uẩn tan hoại thì thân tâm giả hợp của chúng sanh
không còn. Chính do mê chấp năm thứ ngũ uẩn này mà nó xui
khiến chúng sanh làm những điều lầm mê, sanh ra vô vàn tội
lỗi. Nếu người trí nhận biết năm uẩn này giả hợp làm
thân, khéo biết dùng thân tâm ngũ uẩn này mà hành đạo,
thì sẽ được giác ngộ giải thoát.
13.
NHÂN QUẢ BÁO ỨNG HIỆN TIỀN
Kính
thưa quý vị,
Người
sống trên đời, nhất là Phật tử, muốn có đời sống thảnh
thơi tiến bộ, chúng ta không thể nào coi thường nhân quả
báo ứng.
Ngày
xưa, khi tôi còn trẻ thơ, ở cái tuổi học trò tập tểnh
làm quen với vần quốc ngữ A, B, C. Mỗi lần tôi ăn cơm,
mẹ tôi theo dõi chăm sóc lo cho tôi. Khi nào đà cơm vào miệng,
lỡ có hạt cơm rơi rớt ra ngoài, mẹ liền ngọt ngào bảo
: "Con ơi! Con nên nhặt lấy những hạt cơm rớt lên ăn đi
con. Đừng bỏ mà mang tội. Kiếp sau sẽ bị quả báo ăn dòi".
Mẹ tôi cũng thường căn dặn chị tôi: "Này con! Đừng phung
phí đồ ăn. Khi nấu cơm, lúc rửa chén, con phải cẩn thận
đừng để gạo rơi cơm rớt. Hạt cơm là hạt ngọc trời
cho, phải khó nhọc lắm mới có được, không khéo quí tiếc
giữ gìn thì đời sau sẽ phải bị làm người bần cùng nghèo
đói đó con!".
Những
lời mẹ dạy như vậy, thường lập đi lập lại không biết
bao lần nhắc nhở căn dặn kẻ ăn người ở trong nhà. Có
những lúc mẹ tôi lấy cơm nguội đã có mùi thiêu đem phơi
khô rồi hấp lại, hoặc đem trụng nước sôi để ăn. Bà
làm như vậy tính đã không biết bao lần mỗi khi cơm còn
thừa dư hư mốc. Không phải nhà tôi nghèo thiếu, mà thực
ra mẹ tôi sợ tạo nhơn phung phí, sẽ phải chịu quả báo
đói nghèo ở ngày mai.
Mẹ
tôi tin Phật rất là thuần thành. Nhưng bà không có nghiên
cứu kinh điển nhà Phật bao giờ. Những lời mẹ tôi dạy
con cái trong nhà thường là những điều tự nhiên xuất khẩu
thành lời. Những lời khuyên dạy này hàm chứa ý nghĩa sâu
xa về triết lý nhân quả luân hồi của nhà Phật. Bà thường
nói: "Sống ở đời phải nên biết ăn ở hiền lành. Làm
lành tránh dữ. Làm thiện thì được phước. Làm ác thì phải
mang họa. Cây nào quả nấy. Các con phải nên biết tội phước.
Biết ăn ở có nhân có đức mặc sức mà ăn".
Những
lời nói bao hàm ý nghĩa nhân quả luân hồi tội phước báo
ứng này, không chỉ riêng được nghe thấy trên miệng mẹ
tôi, mà bất cứ miền thôn quê chốn đô thị, nơi nào trên
đất nước Việt Nam, chúng a cũng đều nghe thấy phát ra tự
nhiên từ miệng các bà mẹ Việt Nam lam lũ chân lấm tay bùn.
Vấn đề luân hồi nhân quả báo ứng đối với người Việt
Nam quá đổi quen thuộc, nên ai cũng biết. Nhưng không mấy
ai để ý nhiều đến đạo lý và tác dụng của nó đối
với sự việc trên đời. Cũng như không khí rất cần
cho sự sống. Thiếu không khí thì sự sống không thể tồn
tại. Nhưng hằng ngày không mấy ai để ý đến đặc tính
quan trọng của không khí đối với sự sinh tồn của vạn
vật sinh linh. Tuy nhiên, ta cũng phải thừa nhận rằng, tư
tưởng về nhân quả luân hồi của nhà Phật đã thấm sâu
vào buồng tim lá phổi huyết quản thịt xương của mọi tầng
lớp người dân Việt nói riêng, người Á Đông nói chung.
Triết lý nhân quả luân hồi thấm sâu vào tâm thức người
dân Việt Nam, như không khí thấm sâu vào tận thịt da, tràn
qua buồng tim lá phổi xương tủy của mọi người, nuôi trọn
kiếp sống.
Thường
ngày, chúng ta sống không thể trong một phút giây thiếu không
khí. Nếu thiếu không khí trong giây lát, mạng sống của ta
liền theo đó kết thúc, thân xác của ta trở nên ghê tởm
vô dụng. Không khí rất trọng yếu cho mạng sống như thế
đó. Nhưng hằng này có mấy ai để ý đến không khí đâu?
Có mấy ai tỏ ra tha thiết quí mến không khí đâu?
Cũng
vậy, tin nhân quả nghiệp báo có thể làm cho con người có
một cuộc sống an lành, tiến đến chơn thiện mỹ. Lẽ phải
điều thiện có khả năng đưa con người ngày thêm được
cuộc sống an lành thánh thiện tiến bộ. Nhưng thử hỏi được
mấy người thực lòng thiết tha với điều hướng thiện?
Thói thường thì, khi người ta dùng thì giờ để làm việc
nghĩa, cứu giúp người, đi học đạo, nghe thuyết pháp giảng
kinh, làm những điều lành thiện thì người ta cảm thấy
khó khăn, bận kẹt! Người ta bảo là không có thì giờ. Nhưng
đi coi hát, ăn tiệc, dạ hội, shopping, dạo phố, suốt ngày
thâu đêm miệt mài trong sòng bạc rượu chè, bè bạn giỡn
cười, nói nhảm, với những việc này thì lúc nào cũng có
thì giờ và còn sốt sắng nữa là đằng khác.
Ta
thử hỏi đã được mấy ai xin nghỉ phép để làm việc thiện,
học đạo, tụng kinh, tọa thiền, đến chùa làm công quả
bòn phước cầu tiến? Nhưng người ta sẵn sàng xin nghỉ phép
để đi chơi, dự tiệc, đánh bạc. Có mấy người mượn
tiền để làm việc phước thiện, bố thí, xây chùa, đúc
tượng Phật, in kinh ấn tống? Nhưng người ta hăng hái mượn
tiền để đánh bạc, để làm đám cưới, đãi bạn bè, để
đi du lịch, để cho người khác vay lấy lời, để buôn bán.
Đi nhảy đầm, ciné, hát xướng được cái vui ồn ào tạm
bợ nhất thời của cảm giác. Nhưng liền sau đó mệt mỏi,
lòng cảm thấy trống trải cô đơn như trước, thế mà người
ta vẫn đắm đuối phung phí thời giờ, tiền bạc để lăn
vào. Nghe thuyết pháp, tụng kinh, tọa thiền, làm việc đạo
đức phước thiện, được người kính mến nể vì, tạo
công đức cho mình, đồng thời để đức cho con cháu, làm
gương mẫu hướng dẫn con cháu, thì người ta lơ là không
mấy quan tâm. Làm việc đạo đức tiến thân thì lại uể
oải đợi người mời thỉnh, được nài nỉ khuyến khích
mà lòng vẫn e dè từ chối! Muốn suốt đời phục dịch cho
con, cho cháu, tuy con cháu đã lớn khôn, chúng nó chẳng cần
màng đến mà vẫn cứ thích lo, thích phục dịch. Người đời
còn thích làm mai làm mối, tuy không ai nhờ cậy, cũng chẳng
được lợi lộc gì, nhưng lại muốn lăn vào, để rồi khi
giàu có hạnh phúc chúng chẳng biết ơn, thiếu đầm ấm chúng
án trách. Ưa thích tham dự tiệc tùng, hè hội đình đám,
ưa nói chuyện thị phi, hiếu kỳ tìm tòi mọi chuyện của
người chẳng có liên quan gì đến mình, đó là thói đời
tánh người kém phước vụng tu, nên tiêu phí thời giờ quý
báu vào việc phàm tục.
Lại
có kẻ vì nể bạn bè khuyến dụ, hoặc nhận được ít tiền
lẻ, vật dụng cũ hư, liền bỏ chánh đạo, theo tà ma ngoại
đạo, say mê đến tán gia bại sản, điên khùng mất mạng.
Đó là những kẻ hình người mà tâm đã bị tà ma nhập.
Những người này hoặc họ mới vừa trong ba đường địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh ra, hoặc mới từ thế giới yêu
ma đầu thai làm người. Nên phí mất thời giờ, oan uổng
một đời cho việc tà ngụy, hậu quả chỉ tạo thêm nghiệp
ác, để rồi đọa lạc trở lại vào chốn tối tăm. Đến
với đời bằng tâm niệm bất chánh, hành động vụng dại.
Ra đi cũng chẳng để lại công đúc danh thơm gì cho đời,
chẳng làm được chút công đức gì cho mình. Thật đáng tội
nghiệp cho những kiếp chúng sanh nặng nghiệp như thế.
Chúng
ta thử ngồi tỉnh tâm tính nhẩm xem. Từ ngày cha mẹ sanh
ra cho đến ngày ta thực sự biết đời, phát tâm học đạo,
biết tu tâm dưỡng tánh, suốt quãng thời gian mấy mươi năm
trước đó, ta đã lăn lộn bon chen với đời, lo học tập,
lo ái tình chồng vợ, con cháu, danh lợi, đủ thứ lo. Đến
khi biết học đạo tu tâm, làm việc nghĩa, thì tuổi đời
đã lớn già sức yếu, mà tâm đạo chưa vững, chưa có chuyên
cần tinh tấn, chưa hiểu ngộ được lý vô thường: "Sớm
còn tối mất". Suốt tuần lễ bảy ngày (7 x 24 = 168 giờ),
ta chỉ lo cho cái sống bản thân gia đình, chồng vợ con, trong
ích kỷ tham sân si. Họa hoằn lắm chỉ một vài giờ của
ngày chủ nhật, hoặc ngày rằm, vía, đi học đạo, nghe giảng
mà ta cũng không thực hành đều đặn thuần nhất.
Càng
tội nghiệp hơn, có những người thân tuy chưa đến chùa
viện, mà tâm vẫn nghĩ đến việc nhà, lo âu việc đâu đâu,
nên trông cho khóa lễ cầu nguyện, thời thuyết pháp cho mau
chấm dứt, để bươn bã về lo việc nhà hoặc đáp ứng hò
hẹn với bạn bè. Đó là chưa kể có những người khi đến
chùa gặp bà con bạn bè đem bàn chuyện thế tục thị phi,
không để ý đến việc tụng kinh, niệm Phật, bái sám, học
đạo. Họ coi nhẹ sự nghe thuyết pháp, niệm Phật, tọa thiền,
xem thường sự tu dưỡng của chính mình. Lại còn có người
lúc hứa cúng dường việc này, góp phần công đức kia, nhưng
rồi không thực hiện theo lời hứa của mình. Lại có người
phát nguyện rằng, khi con tôi lớn khôn, hoặc khi gia đình
sum họp, hoặc lúc tôi vào tuổi nào đó, hoặc khi gặp thầy
chân tu thật học thì tôi quy y, vào chùa làm công quả tu tập,
ăn chay, xuất gia, nhưng rồi lần lựa hẹn rầy hẹn mai, không
thực hiện, cho đến ngày đậy nắp quan tài, đem ra ngoài
gò hoang, mà vẫn chưa thực hiện lời hứa.
Phật
xưa có dạy: "Ngày nay trôi qua, mạng sống giảm dần, như
cá hết nước, nào có vui chi. Các ngươi phải luôn luôn nghĩ
nhớ như thế, để chuyên cần tinh tấn, gấp rút tu tĩnh,
như gấp rút cứu lửa cháy trên đầu".
Ngày
tháng trôi qua quá mau chóng. Ta không sớm phản tĩnh tự tâm,
mà cứ mãi chìm đắm với ái ân dục tình, thù tạc bạn
bè, với những ảo tưởng danh lợi, lạc thú hư huyễn của
thế gian, cứ tưởng mình sống đời đời với của cải,
tiền tài, vợ con, thì thật là mê muội đáng thương! Cổ
nhân đã chẳng từng nhắc nhở:
Mấy
ai sống được đến trăm,
Lòng
người thế sự ngàn năm chẳng vừa.
Người
đời khổ lụy hơn thua,
Việc
tu xem nhẹ, nặng lo đua đòi.
Ngày
tháng như thoi đua! Hạnh phúc như sương sớm đầu cành! Mạng
người mong manh như hoa phù dung buổi sáng! Hiện trạng vô
thường như thế đó. Sao chúng ta không la lớn, gào thét to
lên để cùng nhau cảnh tĩnh đồng tu, tìm về nơi an lạc
giải thoát. Thiền tổ nói: "Thế gian vô lượng khổ, sao không
khuyến đồng tu".
Đáng
buồn thương thay, có kẻ tự xưng mình là Phật tử, quy y
từ thuở bé, khoe khoang ăn chay, niệm Phật, đi chùa đã mấy
mươi năm, tụng kinh Đại thừa, trì chú Lăng Nghiêm, hiểu
biết giáo lý, quen biết những bực danh tăng, Hòa thượng
này, Thượng tọa kia, cứ ảo tưởng mình hơn người khác.
Nhưng lòng tham sân, tánh ngã mạn kiêu căng, thích phê bình
chỉ trích thêu dệt chuyện của người khác không giảm chút
nào. Họ phán đoán người khác là xấu là dở. Nhưng họ
quên đi chính họ. Họ không tự xét, không bao giờ có lấy
một lời phê bình chính mình. Nếu ai không dằn được hành
vi trái tai gai mắt với Phật pháp của họ, mà có lời chân
thật khuyên nhắc thì họ giận hờn. Ca dao có câu:
Tham
sân nghiệp chướng không chừa,
Bo
bo mà giữ tương dưa làm gì.
Tu
là phải sửa tâm tánh, cố gắng dứt sạch giận hờn đố
kỵ tham sân si, để đạt đến vô tâm, thể hiện từ bi hỷ
xả. Việc gì qua rồi thôi, đừng nên luyến tiếc. Luyến
tiếc thì đưa đến trạng thái tâm lý mơ mộng khổ đau,
buồn thương tủi hờn. Vô tâm thì không chấp trước. Không
chấp trước thì mới có được cái thanh thoát của từ bi
hỷ xả, mới đạt đạo. Hương Hải thiền sư đã khuyên
vua Lê Dụ Tôn, tu Phật thì phải nên vô tâm:
Tìm
trâu, tìm dấu chân trâu,
Dấu
còn trâu, trâu chẳng mất đâu bao giờ.
Xin
ai học đạo chớ ngờ,
Vô
tâm thì đạo có cơ dễ tìm.
Học
đạo mà vô tâm thì dễ đạt đến giác ngộ giải thoát.
Vô tâm thì không còn dính mắc buộc ràng, mới tiến xa, biết
rộng hiểu nhiều. Vô tâm mới mong thấy được tất cả những
tinh hoa của vũ trụ, cái đẹp của lòng người. Chừng nào
đạt đến vô tâm, thì chừng đó mới đạt đạo giác ngộ
giải thoát.
Ngày
xưa mẹ tôi lo cho con cái, dạy dỗ chúng tôi, bận rộn suốt
ngày, nhưng không bao giờ bà quên trọng nể lễ nhân quả
luân hồi. Tất cả việc làm, tâm niệm của bà đều tin vào
lý luân hồi nhân quả báo ứng. Bà chẳng bận tâm lo lắng.
Nên ngày mẹ tôi qua đời trong một bình minh trời thu trong
sát mát dịu. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ba an nhiên
căn dặn: "Các con biết ráng tu. Tu bồi phước đức mặc sức
mà ăn. Như thế là các con hiếu với mẹ rồi đó. Chớ nên
buồn khóc theo thường tình thế gian. Có làm tuần thất siêu
độ cho mẹ, con nên theo hạnh hiếu của đức Mục Kiền Liên,
là mẹ vui lòng rồi".
Mẹ
tôi khi còn ở đời thường khuyên con cháu: "Việc gì qua để
cho nó qua, đừng nhớ tưởng làm chi thêm nặng lòng mệt óc.
Mọi việc ở đời thiện ác, tốt xấu, thăng trầm, vinh nhục
không ngoài nhân quả. Các con phải nhớ, phải sợ".
Kẻ
không sợ nhân quả là kẻ không còn lương tâm đạo đức.
Không còn lương tâm đạo đức thì dễ tạo thành tội ác
khủng khiếp. Chắc ai cũng nhớ Tết Mậu Thân 1968, khi cộng
sản tấn công chiếm đóng các làng mạc đô thị miền Nam,
đặc biệt là thành phố Huế, quân đội cộng sản dưới
quyền chỉ huy của một viên tướng tên là Lê Lý. Không biết
vì oan gia nghiệp báo đã gây từ đời nào, hay tên Lê Lý
này đã được đào tạo kỹ lưỡng từ lò chủ nghĩa vô
thần thú tánh vô lương tâm, mà tướng họ Lê này đã ra
lịnh bắt thanh niên xứ Huế lao công gánh vác rồi sát hại
tập thể. Mặt khác lại ra lịnh bắt giết tập thể những
đồng bào vô tội lên đến hơn hai ngàn người. Điều này
tạo cho thành Huế, xứ cố đô trầm lặng, cái không khí
kinh hoàng, tang thương bi thảm xưa nay chưa từng có trong lịch
sử dân tộc. Báo chí và dư dư luận thế giới đã bàng hoàng
xúc động xôn xao trước cái thảm trạng tàn ác tày trời
của cộng sản. Vì thế, tên tướng cộng sản họ Lê này
chẳng bao lâu sau đó cũng bị cách chức tư lịnh và bị thuyên
chuyển về Hà Nội giáng chức làm thanh tra trung tiểu học!
Làm thanh tra quèn, không còn cái uy phong lẫm liệt quyền thế
dưới trướng có hàng vạn quân của một viên tướng ở
trận mạc nữa.
Một
hôm đi thanh tra, có lẽ ông ta cưỡi chiếc xe đạp cũ kỹ,
mỏi mệt trên những đoạn đường dốc sỏi đá gồ ghề
của xứ Bắc bị bom đạn tàn phá nghèo nàn, trên không trung
thỉnh thoảng bất thần từng đoàn máy bay, khổng lồ ồ
ạt dội bom, những cảnh tượng hãi hùng khủng khiếp uy hiếp
mạng sống bất cứ lúc nào, làm cho viên tướng thất sủng
này khủng hoảng tinh thần. Bằng chiếc xe đạp, trên con đường
dài liên tỉnh đi công tác thanh tra, chắc ông ta đã chán nản
mỏi mệt với chiếc xe đạp, nên giữa đường đã xin đi
nhờ trên một chiếc xe be chở đầy gỗ nặng. Chiếc xe đang
trên đà lên dốc, bỗng nhiên đứt thắng, xe tuột thẳng
xuống hố đổ nhào. Tên tướng thất sủng Lê Lý này đã
bị gỗ đè, thân xác tan nát như một quả cà chua chín mùi.
Thế là xong một đời! Trong lúc đó, viên tài xế xe và vài
người lơ phụ cũng như những người tùy tùng của Lý chỉ
bị thương nhẹ thôi.
Cổ
nhân thường dạy: "Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu. -
Lưới trời lồng lộng không trông thấy, nhưng không một
mảy lông thoát khỏi". Nhân quả báo ứng nhãn tiền biết
bao lần diễn ra trước mắt mọi người, mà chúng ta đã từng
chứng kiến. Nhưng người đời vì quá dễ dãi tha thứ cho
mình, bởi vô minh dục vọng che lấp chân tánh trí tuệ, kém
phân định chánh tà, mà dễ quên đi điều hướng thiện.
Do đó, con người mãi sống theo tình thức, trần duyên lôi
cuốn để rồi đi sâu dần vào tội lỗi. Thiền đức dạy:
"Nghiệp quả sở khiên thành nan đào tỵ.- Một khi nghiệp
quả đã kéo lôi rồi, khó mà trốn thoát được".
Tên
tướng Lê Lý thất sủng kia đã tạo tội giết người tập
thể, sau đó phải chịu cái chết banh xác thảm thế Câu chuyện
trên đây do một tên cộng sản LKN cùng đi trên chiếc xe be
đó còn sống sót kể lại. Sau năm 1975 cộng sản chiếm Saigon,
tên LKN này vào Saigon làm việc trong chỗ thân tình bè bạn,
kể lại chuyện trên.
Tại
miền Nam trước năm 1963, ai cũng biết danh tiếng của Ngô
Đình Nhu cố vấn tổng thống Ngô Đình Diệm là một con người
đầy tham độc ác kế, để rồi sau đó ông ta nhận lấy
quả báo thảm thương! Cổ đức Thánh hiền nói: "Mưu thâm
họa diệt thâm". Nhà Phật nói: "Nhân nào quả nấy".
Cổ
nhân dạy: "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo". Nghĩa là việc
thiện ác đã gây ra, thì chậm mau trước sau gì rồi cũng
nhận chịu, không thể chạy tránh được. Người đời bởi
mây mù tham lam sân hận si mê ích kỷ che phủ lương tri, nên
quá dễ dãi với mình, hoặc liều lĩnh vì cái lợi trước
mắt, hoặc cuồng vọng vì muốn được hưởng thụ, mà khinh
thường nhân quả báo ứng, rồi buông lung hành vi tạo tác
hằng ngày gây không biết bao là tội lỗi.
Nhân
quả báo ứng là luật công bằng không dành riêng cho bất
cứ một ai. Để kết luận bài này, tôi xin mượn bài thơ
của thi hào Nguyễn Du:
Đã
mang lấy nghiệp vào thân,
Thì
đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện
căn ở tại lòng ta,
Chữ
Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.
14.
CÂY NÀO QUẢ NẤY
Thưa
quý vị,
Mỗi
tuần quý vị về Phật Học Viện Quốc Tế để nghe giảng
kinh thuyết pháp tu tập, chắc quý vị cảm thấy lòng vơi
nhẹ đi bao nỗi nặng nhọc suốt tuần lặn lội với đời
vì kế sinh nhai. Những lời giảng kinh Phật là những liều
thuốc bổ tinh thần vô giá. Tôi còn nhớ một đoạn trong
kinh Bách Dụ, Đức Phật nói:
"Xưa
có một thanh niên, lúc nào cũng tỏ vẻ hiên ngang hào hiệp,
lịch thiệp để cho mọi người chú ý tán khen. Một hôm trên
đường ngao du, bụng đói, đói lắm, anh đến tiệm bánh mua
một lượt sáu cái, ăn luôn một hơi mà vẫn chưa thấy đã
no. Anh lại mua thêm một cái bánh nữa, nhưng chỉ ăn mới
một nửa thôi, anh cảm thấy quá no, lại ngán không cách nào
nuốt thêm được nữa. Lúc đó lòng anh sanh buồn não, thầm
trách mình, rồi tự lấy tay đánh lên đầu mà nói rằng:
Sao ta ngu quá không biết tính toán tiết kiệm gì hết. Nếu
như ta biết nửa cái bánh cuối cùng mà có thể làm cho ta
no như vậy, thì ta chỉ cần mua nửa cái bánh ấy thôi, ăn
đủ no rồi, cần gì phải mua chi đến sáu cái cho tốn kém
tiền bạc!"
Câu
chuyện trên nhắc nhở cho những ai thường hay trách trời
oán người, lòng luôn luôn so đo thắc mắc. Ở đời có hạng
người thắc mắc oán trách so đo với người khác mà không
xoay lại kiểm điểm quán xét mình. Họ trách rằng tại sao
các nhà tu hành được mọi người kính trọng, cúng dường,
ủng hộ? Khi nói vậy nhưng họ có biết đâu những vị này,
trước đã nhiều đời tu phước, và ngày nay khi mình chưa
quen biết, thì họ cũng đã trải qua bao nhiêu năm tháng hành
đạo khắc khổ, thức khuya dậy sớm, tương chao đạm bạc,
công quả, tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền. Họ đã chuyên
tâm âm thầm tích lũy phước đức. Nhờ công đức hành đạo
đó, họ mới được mọi người kính ngưỡng bái phục vâng
theo.
Rồi
lại thấy có người hiện đời làm điều bất chính, bất
lương, mà lại vẫn được sung sướng giàu sang danh vọng.
Điều đó nào phải tự nhiên giàu sang danh vọng như vậy
đâu! Hiện đời tuy họ có thể hưởng giàu sang danh vọng,
có thể hưởng một giai đoạn nào đó trong đời họ, hoặc
có thể hưởng suốt đời họ đều tùy theo phước đức
họ đã gieo trồng từ bao đời trước nhiều hay ít. Còn hành
vi tâm niệm xấu ác của họ ngày nay thì họ sẽ phải trả
đời họ ngay trong đời này, hoặc đời sau.
Do
đó, xã hội này mới có người giàu kẻ nghèo, người đẹp
kẻ xấu, người sang kẻ hèn, người khôn kẻ dại, chứ nào
phải tất cả những người giàu sang danh vọng là bất chính
bất nhân hết đâu? Và có ai dám chắc mình hưởng giàu sang
suốt đời? Như người làm vườn, ta thấy vườn anh A hoa
trái sum sê, nhiều người đến mua, tiền bạc vô hằng ngày.
Anh và vợ con anh áo quần mới mẻ, nhà xe tốt đẹp, chúng
ta đâu có biết cách đây bảy năm, anh đã cùng vợ con
ngày ngày dãi dầu mưa nắng, chân lấm tay bùn, cần mẫn canh
tác, ăn cơm nguội canh lạnh, áo quần cũ rách bụi nhơ, làm
việc đầu tắt mặt tối. Lúc đó tất cả tâm huyết năng
lực của anh dồn cho khoảnh vườn, nên ngày nay khoảnh vườn
của anh hoa trái xanh tươi. Sự giàu sang của anh ngày nay là
kết quả của bao lam lũ công phu vun trồng trong những năm
trước.
Cũng
vậy, chân giá trị của vị bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, nhà
khoa học, nhà bác học đâu phải cố gắng một ngày, một
tháng, một năm mà thành đạt? Ngày nay họ được đời trọng
vọng, chúng ta đâu có biết những vị này đã trải qua bao
năm tháng nhịn ăn nhịn ngủ, đói khổ nhọc nhằn chuyên
cần học tập nghiên cứu mới được văn bằng chức phận
ngày nay. Bởi thế, kinh Phật dạy rằng:
"Dục
tri tiền thế nhơn, kim sanh thọ giả thị.
Dục
tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị".
Có
nghĩa là:
"Muốn
biết đời trước họ tạo nhơn gì, thì cứ nhìn đời nay
họ được hưởng.
Muốn
biết đời sau họ chịu quả báo như thế nào, thì xem việc
làm của họ đời nay".
Muốn
thành công trên đường đời hay đường dạo, phải kiên trì
bền chí một lòng theo đuổi lý tưởng của mình với suốt
tháng năm, mới mong được như ý nguyện. Nhưng người đời
thiếu trầm tĩnh suy tư, nên thường thấy hai hiện trạng
tâm lý:
1)
Thấy người người ác mà được giàu, người lành mà phải
nghèo, rồi sanh ra chán nản oán trách. Nào có biết sự tương
quan nhân quả suốt cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị
lai.
2)
Khi nghèo khổ thì có lòng nghĩ về đạo đức, lo làm việc
thiện, tu phước, sống đời sống khiêm tốn, ít bạn bè,
lo nghe kinh thuyết pháp, tụng niệm. Nhưng khi khá giả giàu
sang thì lại lo làm giàu thêm, lơ là việc tu học, làm phước
đức. Ngày ngày đâm đầu bận kiếm cho được nhiều tiền,
đuổi bắt danh vọng, thù tạc bạn bè. Do đó, dần dần tâm
đạo sa sút, xa Phật xa Thầy. Khi cực khổ vun phân tưới
nước thì cây phước được xanh tươi. Đến khi cây ra hoa
kết trái, thì lại chỉ lo ngồi hưởng thụ, không biết tiếp
tục săn sóc bón phân tưới nước, thì cây phước phải cằn
cỗi, hoa trái phước lộc phải xơ xác điêu tàn là lẽ tất
nhiên. Cũng vậy, khi còn nghèo khó còn thì giờ để tâm làm
phước đức. Đến khi khá giả giàu có thì mãi miết lo làm
giàu thêm, kết bạn hưởng thụ, đuổi bắt lợi danh, xa dần
việc phước thiện. Rồi khi tai nạn xảy đến lại đi cầu
khẩn Phật trời thánh thần! Thật là tội nghiệp cho người
đời lẩm cẩm! Không muốn trồng cây mà chỉ muốn ăn quả.
Không chịu ra công vun sới bón phân tưới nước nhổ cỏ,
mà cứ muốn hái trái tốt hoa đẹp. Chẳng khác nào kẻ nấu
cát muốn thành cơm.
Để
kết luận bài này, tôi xin xác quyết rằng: "Đời người
sáng sủa hay tối tăm, đều do chính con người trọn quyền
quyết định lấy, chứ không ai khác". Khéo sử dụng bàn tay
và khối óc của mình với cõi lòng rộng mở, thì đời mình
trở nên sáng sủa an lành.
15.
XẢ THÂN CẦU ĐẠO
Kính
thưa quý vị,
Tu
hành mà không phát tâm Bồ đề, không hy sinh thời gian, thân
tâm tài sản để cầu đạo, thì khó đạt thành đạo quả
giác ngộ giải thoát.
Thuở
đời quá khứ vô lượng vô lượng kiếp về trước, có Đức
Phật ra đời hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Thế giới Ngài thuyết
pháp giáo hóa chúng sanh tên là Thế Giới Ta Bà.
Lúc
bấy giờ có một chàng thanh niên nghèo, đến nhà người bạn
thăm chơi, nghe nói Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang giảng thuyết
kinh Đại Niết Bàn cho đại chúng nghe ở một tịnh xá cách
đó không xa. Chàng thanh niên nghèo này vừa nghe nói như vậy,
lòng vui mừng phấn khởi, muốn phát tâm cúng dường Phật,
nghe thuyết pháp. Nhưng bụng nghĩ rằng, phận mình nghèo khổ
túng thiếu chẳng biết làm sao bây giờ. Suy đi nghĩ lại đã
bao lần mà chẳng tìm ra phương cách nào để có ít tiền
vật đem đến cúng dường Phật. Cuối cùng chàng nảy ra ý
nghĩ, chỉ còn có một cách là đem thân mình bán để lấy
tiền cúng dường Phật, hầu mong trồng chút phước đức.
Lòng
chàng đã quyết, dù phải bán thân chịu đọa đày cơ cực
đến đâu, miễn sao thực hiện được tâm nguyện cúng dường
Phật, được nghe thuyết pháp là quý hóa rồi.
Sau
khi lòng đã quyết, chàng lội bộ khắp đó đây để rao bán
thân mình hoặc được ở đợ. Nhưng phận hèn bạc phước
không ai chịu nhận mua cả. Mỏi mệt, buồn bã, chàng quay
trở về nhà.
Trên
đường về nhà, bỗng gặp một người đang đi với vẻ mặt
buồn rầu lo âu, chàng chạy đến hỏi: "Tôi muốn bán thân
tôi, ông có thể mua dùm được không?
Người
kia thật là bất ngờ mừng quá, vội đáp rằng: "Tôi đang
có việc khẩn cấp nan giải, không ai làm nổi. Nếu như làm
được thì tôi mới mua thân chú".
Chàng
nghèo hỏi: Việc gì khẩn cấp mà chẳng làm được vậy?
Người
kia đáp: Tôi đang mắc phải chứng bệnh ngặt nghèo. Thầy
thuốc bảo mỗi ngày phải ăn ba lạng thịt người. Nếu như
chú mỗi ngày có thể đem ba lạng thịt nơi thân chú mà cung
cấp cho tôi, thì tôi sẽ trả cho chú năm thẻ vàng.
Chàng
nghèo nghe xong, lòng vui mừng khôn xiết, thầm nghĩ rằng, ước
nguyện cúng dường Phật, nghe thuyết pháp của ta sẽ đạt
thành. Liền nói rằng: "Vậy thì xin ông có thể đưa tiền
vàng cho tôi, hẹn trong vòng bảy ngày, sau khi tôi sắp đặt
việc xong, tôi sẽ lập tức lại nộp thân hầu ông".
Người
kia đáp: Bảy ngày lâu quá. Bệnh tôi trầm trọng cấp bách,
cần ăn thịt người gấp mới mong cứu sống được mạng
của tôi. Nếu chú thấy có thể làm được, tốt nhất trong
vòng một ngày thôi.
Chàng
nghèo đồng ý, nhận tiền, lòng mừng rỡ, vội vàng tìm đến
chỗ Phật Thích Ca. Vừa thấy Phật, đầu mặt năm vóc anh
sát đất thành kính lạy Phật, có bao nhiêu vàng trọn dâng
cúng dường rồi ngồi nghe Phật giảng kinh thuyết kinh Đại
Niết Bàn. Nhưng vì tâm địa mờ tối, nghe Phật thuyết pháp
xong, mà lòng dạ anh chỉ còn nhớ vỏn vẹn có bốn câu kệ:
Như
Lai chứng Niết Bàn.
Dứt
trọn vòng sanh tử.
Nếu
ai chí tâm nghe,
Thường
được vô lượng lạc.
Sau
khi nghe xong, chàng nghèo mừng quá, miệng đọc bài kệ mãi
không thôi, đồng thời giữ đúng lời hẹn, vội vã về nhà
người bệnh kia, mỗi ngày cắt ba lạng thịt của thân mình
để cho bệnh nhơn ăn mà không chút than thở ân hận.
Nhờ
lòng chí thành chí kính với niềm tin sâu sắc hướng về
Đức Phật, lòng hân hoan được nghe Phật thuyết pháp, dạ
vui mừng nhớ được bài kệ trên. Nhờ tâm niệm chuyên ròng
luôn luôn nghĩ đến Phật, nghe Phật thuyết pháp, miệng lúc
nào cũng đọc kệ, nên trải hơn một tháng cắt thịt thân
mình để cho bệnh nhơn ăn mà chẳng thấy đau đớn chút nào.
Cứ
như vậy, ngày ngày cắt thịt mình cho bệnh nhơn ăn, trải
đã suốt tháng, người nghèo lúc nào cũng tâm tâm niệm niệm
nhớ Phật, nguyện cầu cho bệnh nhơn sớm được bình phục.
Đồng thời anh nghèo ngày đêm thành tâm đọc kệ, niệm Phật
khấn nguyện cho thân tâm mình và thập phương chúng sanh được
an vui tự tại.
Do
tâm thành nguyện cảm của anh mà người bệnh được lành.
Anh nghèo sau một đêm chuyên ròng tâm trí tưởng Phật đọc
kệ, với giấc ngủ an lành trong trạng thái nhất tâm bất
loạn. Khi thức giấc bất ngờ nhìn lại thân mình nguyên vẹn
như xưa, không thấy có một vết thẹo nào. Lòng chàng nghèo
vô cùng cảm kích, nói sao cho hết nỗi lòng hân hoan. Chàng
quỳ giữa sân, ngước mặt lên hư không thành khẩn khấn
nguyện: "Ta nguyện rằng, về sau tiếp tục tu hành thành đạo
giống như Đức Phật kia, ta cũng được tên là Thích Ca Mâu
Ni và thế gian ta hóa độ chúng sanh cũng tên là Ta Bà".
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói trên kia là vị Thích Ca Cổ Phật,
còn bệnh nhơn ăn thịt người là tiền thân Đề Bà Đạt
Đa. Chàng thanh niên nghèo kia chính là tiền thân của Đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta ngày nay. Ngài đã ra đời
tại vườn Lâm Tỳ Ni, thành Ca Tỳ La Vệ, xứ Ấn Độ, và
Ngài đã đem trọn đời Ngài cống hiến cho sự nghiệp hoằng
pháp lợi sanh đến hơi thở cuối cùng. Và Ngài nhập Niết
Bàn tại thành Câu Thi Na, rừng Ta La Song Thọ.
Thưa
quý vị,
Các
Đức Phật, các vị Bồ Tát cũng là con người như chúng ta.
Nhưng các Ngài đã lìa phàm nhập Thánh, thoát khỏi vòng sanh
tử luân hồi là do các Ngài phát Bồ đề tâm, chí thành nghe
pháp, khẩn thiết hành đạo, xem nhẹ xác thân giả tạm, xem
thường tài sản lợi danh, nhất tâm quyết chí tu hành mà
được thành Phật thành Bồ Tát. Còn chúng ta mãi mê ngũ dục
thế gian, lười tu kém niệm Phật, nên mãi mê chìm đắm phàm
tình.
Nay
ta biết Phật, ta được thấy nghe giáo pháp, ta nên cố gắng
tu tập để khỏi cô phụ hoài mong của Phật, để khỏi mất
đi Phật tánh chơn tâm của ta. Có như thế mới là chơn Phật
tử.
16.
CÂU CHUYỆN ĐẠO LÝ
Thưa
quý vị!
Nhà
Phật mỗi câu chuyện đạo đều có bao hàm cái đạo lý dạy
đời, cái triết lý để cho người nương theo đó mà được
đời sống thánh thiện hóa thân tâm.
Vài
năm gần đây, sống trên đất khách quê người, sau những
ngày làm việc mệt mỏi, quý bà con thường tìm về Phật
Học Viện Quốc Tế để nghe thuyết pháp, được hướng dẫn
niệm Phật, tọa thiền. Lúc đó tinh thần ai nấy đều cảm
thấy an vui thanh thản vô hạn. Trong những bài thuyết pháp,
trong những lúc dạy niệm Phật, tọa thiền, tôi thường có
dẫn chứng những mẫu chuyện đạo ngắn. Qua những mẫu chuyện
đạo đó, đã giúp cho bà con dễ thâu nhận hiểu được ý
nghĩa của lẽ sống. Một trong những câu chuyện đạo bà
con còn ghi nhớ đậm nét trong trí óc, và chính câu chuyện
này đã làm cho nhiều bà con Phật tử suy ngẫm về thật tướng
giá trị của vợ chồng, tình đời, tình thân bằng quyến
thuộc, những thứ này đều là cội nguồn xa gần của sanh
tử luân hồi. Nay tôi xin lược kể dưới đây để hầu chuyện
cùng qúy vị:
Đức
Phật Thích Ca có một người đệ tử tên là A Nan. A Nan vốn
là em chú bác của Phật. A Nan còn có tên là Khánh Hỷ. Sở
dĩ có tên này là vì khi ông ra đời đúng vào ngày Thái tử
Tất Đạt Đa chứng thành đạo qủa Phật, hiệu là Thích
Ca Mâu Ni. Nhơn đó mà A Nan còn có tên là Khánh Hỷ.
Sau
khi Phật độ A Nan cho xuất gia, con người của A Nan bản chất
vốn thông minh, tánh tình thuần hậu, nên được chọn làm
thị giả hầu cạnh Phật. Khi thuyết pháp, lúc tọa thiền,
mỗi mỗi sinh hoạt cử động của Phật, A Nan đều luôn luôn
bên cạnh. Kinh điển còn ghi rành rành, sức thông minh và trí
nhớ của Đức Phật, cũng giống như nước từ bình này rót
sang bình khác, không rơi rớt một giọt nào. Những kinh điển
nay còn lưu truyền, hầu hết đều do A Nan thuật lại trong
thời kiết tập đầu tiên.
A Nan
vốn thông minh đẹp trai lại thích học rộng hiểu nhiều,
nhưng yếu về đường tinh chuyên tu tập, nên đạo lực công
đức có phần kém, do đó mà nghiệp duyên không thể cùng
lúc đọan trừ sạch.
Một
hôm Đức Phật đang ở tinh xá Kỳ Hoàn, trong thành Thất La
Phiệt, nhân ngày kỷ niệm húy nhật của tiên vương vua Ba
Tư Nặc, Đức Phật nhận lời thỉnh cầu của nhà vua. Phật
cùng đại chúng vào hoàng cung vua để thọ trai, cầu nguyện
siêu độ. Riêng A Nan vì đã riêng thọ nhận lời mời trước
của tín chủ ở xa, nên chưa về kịp để cùng dự vào đoàn
tăng chúng đi thọ trai với Phật. Nên khi A Nan trở về tinh
xá, thì Phật và tăng chúng đã vào thành nội vua Ba Tư Nặc
rồi. Giờ Ngọ đã đến, A Nan một mình, đem tâm bình đẳng,
bưng bát đi khất thực từng nhà, với một lòng vị tha, thầm
nguyệ