MỤC LỤC
Phần
1
01.
Lời Ðầu Sách
02.
Tâm Ở Ðâu
03.
Tâm Ðịa
04.
Thánh Phàm Tại Tâm
05.
Là Phật Tử Chân Chánh
06.
Công Ðức Bố Thí
07.
Hố Thẳm Cuộc Ðời
08.
Thiền
09.
Ðiều Kiện Tiên Quyết Khi Tham Thiền
10.
Huệ Khả Cầu Ðạo
Phần
2
11.
Ðông Thất Thiền Sư và Tây Thất Thiền Sư
12.
Cội Nguồn Khổ Lụy
13.
Nhân Quả Báo Ứng Hiện Tiền
14.
Cây Nào Quả Nấy
15.
Xả Thân Cầu Ðạo
16.
Câu Chuyện Ðạo Lý
17.
Phước Báo Nhiệm Mầu
18.
Tể Tướng Ðầu Phật
19.
Ý Nghĩa Lá Cờ Phật Giáo
20.
Nguồn Gốc Võ Thiếu Lâm
21.
Kỷ Niệm Chưa Quên
22.
Nào Ngờ
23.
Pháp Môn Tịnh Ðộ
Phụ
Lục
24.
Bước vào Cửa Phật
25.
Kẻ Ngu Mê Chấp
26.
Nắm Tay Tiền Vàng
27.
Ðịnh Hướng Thuyền Ðời
28.
Ta Là Ai?
LỜI
ÐẦU SÁCH
Ðức
Phật trước giờ vào Niết Bàn, ngài nói với chúng đệ tử
rằng: "Suốt 49 năm giáo hóa, thật ra ta chưa từng nói một
lời nào". Ðủ thấy cái chân lý cao siêu tuyệt đối không
thể dùng lời diễn tả được.
Suốt
bốn mươi chín năm ròng rã thuyết pháp của Ðức Phật đấy
như là ngón tay chỉ mặt trăng, còn cái chân lý thuyết vời
mà Ngài muốn trao gửi cho người đời thì như mặt trăng.
Muốn thấy chân tướng mặt trăng, cần phải nương ngón tay.
Nhưng nếu lại chấp chặc vào ngón tay thì muôn đời không
thể nào thấy được mặt trăng. Vì thế kinh nói: "Nhứt thiết
tu ta la giáo như tiêu nguyệt chỉ". Nghĩa là tất cả kinh điển
Phật dạy như ngón tay chỉ mặt trăng là vậy.
Cái
chân lý tuyệt diệu thì không thể dùng ngôn ngữ văn tự
để diễn bày, cũng như người muốn đạt đạo thì không
thể đơn phương dùng ngôn ngữ văn tự mà thể đạt được.
Lão Tử cũng đồng quan điểm này, khi ông nói" "Ðạo khả
đạo phi thường đạo". Cái đạo mà dùng lời nói ra được
thì đó chưa phải là cái đạo chơn thường. Thế nên kinh
Phật nói "ngôn ngữ đạo đoạn" là ý nghĩa này đây.
Lời
nói không thể diễn tả trọn vẹn chân lý đạo. Thảo nào
Ðạt Ma Thiền Tổ chín năm im lặng xoay mặt vào vách để
quán tâm. Tâm quán triệt thì tuệ giác mới có cơ ngời sáng,
thấu đạt lý đạo vi diệu. Muốn diệu tâm chơn tánh hiển
bày, không gì hơn là ngày ngày phải chuyên tâm niệm Phật
tham thiền để tâm được yên, từ đó tâm tự quán chiếu.
Vậy
muốn đạt đạo, không cách nào ngoài vận dụng tâm. Tâm
thanh tịnh tức thể nhập đạo. Muốn tâm được thanh tịnh
chóng mau không gì bằng dùng nước giáo pháp của Phật gội
rửa để cho cấu uế phiền não tiêu sạch. Người muốn được
tiến bộ trên đường giác ngộ giải thoát trước hết phải
nương vào kinh điển của Phật, theo đó hành trì tu tâm sửa
tánh mới mong thân tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh thì
huệ nhựt phát sanh, Phật tánh hiển lộ. Có thiết tha hành
trì, thường hằng dốc chí cầu tiến thánh thiện thân tâm,
thì lo gì không thể nhập chân lý, trực chỉ đạt thành đạo
quả giác ngộ.
Bởi
ý nghĩa này, nên nhà Phật thường gọi người gọi phát tâm
hành đạo hướng thượng trên đường giác ngộ giải thoát
là hành giả. Hành giả chứ không phải thuyết giả. Thuyết
giả là kẻ chỉ biết nói suông. Kẻ miệng thích nói ba hoa,
khua chuông, gióng trống, vọng ngôn, trồng cội tội ác. Nói
hay mà không thực hành hay thì chỉ là cái máy phát thanh, giống
như anh chàng suốt ngày đếm tiền cho chủ, kẻ chăn cừu
cho ông trưởng giả, đó cũng là hình ảnh con vẹt nói tiếng
người. Trên đời này không thiếu chi kẻ thích nói suông
mà không thích thực hành. Hạng người như thế có khác nào
người đói ngồi nói thức ăn này này ngon, thức ăn kia dở.
Kẻ khát ngồi phân tích rành rẽ nước nọ bổ, nước kia
ngọt mà không chịu uống ăn!
Cũng
vậy, kẻ hiểu chút ít giáo lý nhà Phật, mang ảo tưởng
mình tu cao, thấu hiểu Phật pháp, đến đâu cũng nói khoác
ra ta đây thông bác, làm thầy đời, trong lúc đó chính mình
lại quên thực hành lời Phật dạy, đời sống hằng ngày
không có chút ít gì Phật pháp. Núi tham sân si mạn nghi còn
đầy ấp cả người. Những kẻ như thế chỉ là trò cười
thiên hạ, tự làm hạ phẩm giá của mình, nên có lời kệ
khuyên:
Hãy
nhớ sâu những lời Phật dạy,
Ðể
soi mình phản chiếu tự tâm,
Hầu
tránh xa muôn kiếp lỗi lầm,
Miền
Cực Lạc thay trầm luân khổ hải.
Hơn
mười năm hành đạo ở Hoa Kỳ, tôi thường đi hoằng pháp
đó dây, những lời giảng pháp của tôi tưởng chừng đã
hòa tan trong không gian như mây khói. Nào ngờ hôm nay cơ duyên
hội tụ, lời giảng pháp năm xưa kết thành trang sách "Pháp
Ngữ Lục" này. Những lời đó có đáng giá gì đâu! Vì đấy
chỉ là lập lại những lời di giáo của Ðức Phật ngàn
xưa. Nhưng những gì thuộc về dĩ vãng không còn nghĩ nhớ
đến, dĩ vãng đã quên mà nay còn tồn tại, ấy là bóng hình
của văn hóa. Như nhà ngoại giao Pháp Edouard Herriot nói: "Văn
hóa là cái gì còn lại khi người ta đã quên hết tất cả,
là cái vẫn thiếu khi người ta vẫn học hết tất cả". (La
culturre, c'est ce qui reste quand on a toute oublée, c'est ce qui manque
quand on a tout appris). Bản chất của văn hóa không rời đạo
đức.
Tôi
mang tâm nguyên đem lời dạy của Ðức Phật trong kinh điển
trình thưa với mọi người, những mong cho ai nấy kết thiện
duyên Bồ đề cố gắng thực hành để có được đời sống
an lạc, thăng tiến trên quang lộ thánh thiện giác ngộ. Luận
Dị Ðộ Tôn Luân nói: "Tất cả những kết quả tốt đẹp
đều thực hiện bởi con người". Kinh Hoa Nghiêm cũng nói:
"Con người là hơn cả, có khả năng làm nên các pháp lành".
Thánh thiện hay phàm phu, trầm luân hay giải thoát , vô minh
hay giac ngộ đều chính con người chủ động. Ðiều đáng
lưu ý cho hành giả là văn hay chữ tốt không làm cho chơn
tâm hiển lộ. Danh vọng chức tước dù đạo hay đời cũng
không thực tế giúp ích gì trên đường giác ngộ giải thoát.
Chân
lý duyên sanh tuyệt vời qua lời Phật dạy trong kinh Thủ Lăng
Nghiêm: "Nhơn duyên hòa hợp hư vọng hữu sanh. Nhơn duyên biệt
ly hư vọng hữu diệt". Các pháp thế gian hiện thành là do
lớp lớp duyên sanh duyên diệt nối tiếp nhau. Mọi hiện tượng
đều do tương duyên tương sanh mà hình thành vạn pháp. Nên
bản chất của thế gian là tương duyên sanh diệt. Nếu không
có sanh diệt thì không gọi là thế gian. Nên kinh Lăng Già
nói: "Thế gian ly sanh diệt, du như hư không hoa". Nghĩa là thế
gian này lìa hiện tượng sanh diệt ra thì chẳng khác hoa đốm
giữa hư không. Hoa đốm có là đối với người nhặm mắt.
Vạn vật thế gian có hiện tượng tồn tại là đối với
chúng sanh vô minh, tham vọng, tuệ giác còn trong vòng chướng
ngại. Bản chất vạn hữu thế gian là huyễn ảo thế dó.
Nên kinh Kim Cang nói: "Tất cả các pháp thế gian đều như
mộng huyễn, như bóng bọt". (Nhứt thiết hữu vi pháp, như
mộng huyễn bào ảnh).
Thân
ta cũng là một pháp trong vô lượng pháp thế gian, tán tụ
vô thường, tan hoại còn mất, tùy thuộc nhân duyên của tứ
đại thuận nghịch mà hình thành tướng trạng hợp tan. Có
lẽ tôn giả Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất khi nghe tỳ kheo
Át Bệ, một trong năm người đệ tử xuất gia đầu tiên
của Phật trả lời "Thầy tôi là bậc đại sa môn thường
dạy rằng: Các pháp do nhân duyên sanh và diệt cũng do nhân
duyên diệt" mà liễu ngộ chân tướng vạn pháp, nên hai Ngài
bỏ tà đạo, hồi đầu cầu Phật xin được xuất gia làm
đệ tử, dốc chí tu hành chẳng bao lâu chứng Thánh, trở
thành đệ tử hàng đầu trong tăng đoàn của Phật.
Quyển
Pháp Ngữ Lục này sẽ làm thất vọng cho những ai có ý mong
tìm những áng văn hay, những tư tưỏng kỳ lạ, mớ triết
lý cao siêu. Vì sách đây vốn là văn nói từ những bài giảng
pháp kết thành, và nó cũng không có kỳ vọng cống hiến
cho đời cái triết lý viễn vông để thỏa mãn trí óc tò
mò, xa lìa lý tưởng xây dựng đời sống an lạc thực tế.
Nhưng nó có thể đáp ứng cho những hành giả có tâm chí
cầu thoát ly quỷ đạo luân hồi. Nó sẽ là phương tiện,
là môi trường thuận lợi trên bước đường hành đạo xây
dựng đời sống thánh thiện, an lạc trong ánh sáng giác ngộ
giải thoát của Ðức Phật. Ấy chính là tâm nguyện của
tỳ kheo quê mùa tôi đây vậy.
Hoa
Kỳ, Phật Ðản Tân Mùi 1991
THÍCH
ÐỨC NIỆM
Source:
Tu Viện Quảng Đức