Quyển
5
Sự
bất biến của Luật Nhân Quả
Trong
mấy trăm năm qua, diện mạo Phật giáo đã có một số thay
đổi. Trước hết, Phật giáo đã được xem là một tôn giáo.
Rồi sau đó Phật giáo còn được coi là một triết lý. Có
những người còn bóp méo Phật giáo tới mức không thể nhận
ra được nữa và đã trở thành có nhiều tính chất mê tín
và tôn thờ thần tượng hơn. Mới đây Phật giáo lại còn
được xem như một màn trình diễn đầy hình thức bên ngoài.
Một
số những sự hiểu lầm này là do vô tình, thường phát sinh
khi người ta cố gắng tìm hiểu và tôn kính giáo lý. Một
số những sự hiểu lầm khác xảy ra khi người ta lợi dụng
người khác để làm lợi cho mình. Nếu muốn hiểu đúng Phật
giáo và đạt lợi ích thực sự, chúng ta cần phải trở về
với hình thức Phật giáo nguyên thủy.
Khoảng
hai ngàn năm trước, vào năm 67 Tây lịch, Phật giáo chính
thức du nhập vào Trung Quốc, và từ đó đã lan truyền và
thịnh hành ở khắp xứ này. Hoàng đế Trung Hoa đã công cử
những sứ giả đặc biệt đi Ấn Ðộ để cung thỉnh các
Tăng Sĩ Phật Giáo tới Trung Quốc để truyền dạy giáo lý.
Thời đó người Trung Hoa đã coi Phật Giáo là một nền giáo
dục.
Kinh
sách Phật giáo gọi Phật Thích Ca là "Ðức Bổn Sư", tức
là "Thầy của chúng ta". Những người nghe ngài thuyết pháp
được gọi là "người học", và liên hệ thầy trò này chỉ
có ở trong ngành giáo dục. Trong kinh sách còn có một lý do
khác để có thể gọi Phật giáo là một nền giáo dục, đó
là các đệ tử thường hỏi những câu hỏi và Ðức Phật
trả lời những câu hỏi này. Khi các đệ tử không hiểu
roõ, hoặc nghĩ rằng mình không hiểu rõ, họ sẽ hỏi để
được biết rõ hơn, và Ðức Phật sẽ giảng giải rõ hơn.
Ðây là lối thảo luận giữa thầy và trò trong một lớp
học. Chúng ta nên biết rằng Phật Thích Ca chỉ dạy mà thôi,
chứ không cử hành lễ nghi nào cả.
Phật
giáo là hệ thống giáo dục của Phật Thích Ca, giống như
nền giáo dục của Khổng Tử, vì hai bên trình bày những
quan điểm và những phương pháp tương tự. Mục tiêu của
nền giáo dục Phật Giáo là đạt trí huệ. Trong tiếng Sanskit,
trí huệ này được gọi là "anuttara-samyak-sambhodi", hay "Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác", tức trí huệ hoàn hảo. Ðức
Phật dạy rằng mục đích chính yếu của việc học và tu
tập là đạt được trí huệ tối thượng này.
Ðức
Phật cũng nói rằng mọi người đều có khả năng chứng
ngộ trạng thái giác ngộ vô thượng này, vì đó là chân
tính của chúng ta. Trí huệ không phải là cái để đạt được
ở bên ngoài, nhưng vì chúng ta do vô minh mê lầm nên không
thể làm hiển lộ được tiềm năng này. Nếu giải trừ được
mê lầm này thì chúng ta sẽ chứng ngộ được trí huệ vốn
có. Vậy, Phật Giáo là một hệ thống giáo dục có mục đích
giúp người ta tìm lại chân tính nguyên thủy của mình.
Phật
giáo còn dạy về tâm bình đẳng, vì Ðức Phật nói rằng
toàn thể chúng sinh đều có trí huệ và chân tính này. Vì
vậy, giữa các sinh linh không có điểm khác biệt cốt yếu
nào cả. Hiện tại mọi người có vẻ khác nhau, vì chúng
ta đã trở nên mê muội, không biết tới chân tính của mình.
Mức độ trí huệ hiển lộ trong mỗi cá nhân tùy thuộc vào
mức độ vô minh chứ không tùy thuộc chân tính nguyên thủy
của cá nhân đó. Giáo lý của Ðức Phật giúp chúng ta chứng
ngộ trí huệ vô thượng vốn có từ khởi thủy. Với trí
huệ này, chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề và chuyển
hóa đau khổ thành phúc lạc.
Do
thiếu trí huệ, chúng ta cảm nhận và hành xử một cách sai
lầm, và do đó phải chịu đau khổ vốn là hậu quả của
những ý nghĩ, lời nói, và hành vi xấu. Nếu có trí huệ
thì ý nghĩ lời nói, và hành vi của chúng ta sẽ đúng đắn,
và chúng ta sẽ không phải chịu những nghiệp quả xấu, và
như vậy sẽ có hạnh phúc. Từ đó, chúng ta có thể thấy
đau khổ có nguyên nhân là vô minh, còn nguồn gốc của hạnh
phúc thì chính là sự chứng đắc trí huệ của mình.
Ngày
nay chúng ta còn được hưởng nền giáo dục của Ðức Phật
trong những giảng đường với nhiều dụng cụ trợ huấn.
Khi bước vào một giảng đường hay một phòng học, chúng
ta trông thấy tượng Ðức Phật, tượng trưng cho chân tính
trong mỗi người. Có thể chúng ta thấy chén nước ở trên
bàn thờ. Nước trong tượng trưng sự thanh tịnh của tâm
trí mà chúng ta cần phải đạt được bằng cách giải trừ
tham, sân, và si. Nước phẳng lặng không một gợn sóng gợi
ý cho chúng ta đoái xử với người và sự việc một cách
bình tĩnh và vô phân biệt. Nước phản chiếu trung thực và
đủ chi tiết cũng như chúng ta cần phải quan sát sự vật
ở xung quanh mình một cách rõ ràng và đúng sự thật.
Những
bông hoa tượng trưng cho kết quả của việc làm, nhắc nhở
chúng ta rằng mọi hành vi thân, khẩu, ý của mình đều sinh
ra những nghiệp quả tốt hay xấu. Ðèn hay nến tượng trưng
trí huệ và sự sáng suốt dẹp tan bóng tối vô minh. Bông
sen tượng trưng sự siêu việt mười cõi hiện hữu. Trước
hết, cành sen mọc lên từ lớp bùn dưới đáy hồ tượng
trưng sáu cõi luân hồi. Sen vươn lên qua lớp nước tượng
trưng bốn cõi thánh. Sau cùng bông sen nở ở trên mặt nước
tượng trưng sự đạt cõi Pháp Giới tức giác ngộ viên mãn.
Bông
sen nhắc nhở chúng ta rằng dù đang sống ở thế gian chúng
ta không nên để cho mình bị ô nhiễm bởi sự vật thế gian.
Bông sen trên mặt nước muốn nói rằng sẽ có lúc toàn thể
chúng sinh đều thành Phật. Cõi Phật siêu việt tất cả mười
cõi luân hồi, và sự thành Phật là mục tiêu tối hậu của
sự tu học, vì vậy khi trông thấy hoa sen, chúng ta sẽ nhớ
là mình cần phải thực hành tu tập để thoát luân hồi đắc
Phật Quả.
Ngày
nay, khi trông thấy hình tượng Ðức Phật, chúng ta lại được
nhắc nhở là mình cần phải biết ơn ngài đã truyền dạy
Giáo Pháp trong bốn mươi chín năm. Là một nhà giáo dục xã
hội tự nguyện, Ðức Phật đã dành trọn cuộc đời của
ngài để dạy chúng ta cách đoạn lìa phiền não, đạt trí
huệ hoàn hảo và hạnh phúc đích thực. Ngài cũng là một
người bình thường như mọi người khác, nhưng ngài đã tinh
tấn tu hành giác ngộ khi nhìn thấy sự thật của đau khổ
sinh, lão, bệnh, và tử. Ngài đã chứng ngộ chân lý của
sự sống và vũ trụ, và đã làm gương cho chúng ta noi theo
để cũng đạt giác ngộ, sống đời hạnh phúc và mãn nguyện.
Trên
thế giới ngày nay có nhiều triết lý, tôn giáo, và những
nền văn hóa, nhiều quan điểm khác nhau, giải thích vũ trụ
và mối liên hệ của con người với vũ trụ. Nhưng dù có
nhiều dị biệt, thực ra thế giới cũng có nhiều điểm tương
đồng, thí dụ như những giáo lý không sát sinh, không trộm
cướp, không nói dối; hãy làm cho người khác những gì mà
mình muốn người khác làm cho mình; biết ơn người khác và
sẵn sàng trả ơn.
Dù
gọi là quan tâm và tôn trọng người khác hay gọi là từ
bi, bác ái, mọi người trên thế giới đều tin vào việc
giúp đỡ người khác bằng tài sản hay trí huệ của mình.
Ngày nay, nhiều người đang tìm kiếm trí huệ để có thể
hiểu ý nghĩa của cuộc đời. Chúng ta vừa bị thôi thúc
bởi những cảm xúc trái ngược nhau lại vừa bị thôi thúc
bởi óc duy lý. Khi nghe nói tới những tín ngưỡng khác, nhiều
người có những cảm giác khác nhau từ lo ngại cho tới tò
mò muốn biết, từ ngạc nhiên tới bị thu hút, từ nghi ngờ
tới hợp tác.
Nhìn
ra bất cứ đâu chúng ta cũng thấy những xã hội với nhiều
nền văn hóa khác nhau, những xã hội có rất nhiều dị biệt,
những xã hội thường quá chú trọng vào những điểm dị
biệt này. Ngày nay, nhiều người tìm kiếm ở bên ngoài bản
thân. Họ nhìn vào những điểm dị biệt và cho rằng đó
là nguyên nhân của những sự đau khổ, trên thế giới. Nhưng
thật ra nguyên nhân của đau khổ nằm ở bên trong mỗi con
người chúng ta. Chúng ta chịu khổ sinh, lão, bệnh, tử. Chúng
ta khổ vì đời sống khó nhọc, vì không đạt được những
gì mình mong muốn, vì phải xa lìa những người mình yêu và
phải sống gần những người mình ghét, và khi ngươøi ta
không hiểu nguyên nhân thật sự của đau khổ thì sự đau
khổ đó của họ sẽ gia tăng.
Có
những người thường hay dùng thuốc an thần hay thuốc ngủ.
Ðó là vì họ cảm thấy không thể điều khiển được cuộc
đời của mình. Họ muốn kiểm soát người khác và có thêm
nhiều thứ nữa. Năm mươi năm trước, người ta có thời
giờ để thưởng thức thiên nhiên, để học sách thánh hiền.
Nhưng ngày nay chúng ta không có thì giờ để ngắm cảnh hay
để chiêm nghiệm về cuộc đời. Ðời sống của chúng ta
tiện nghi hơn đời sống của thế hệ trước, nhưng chúng
ta gần như không có đời sống tâm linh. Vì vậy chúng ta tìm
những thú vui bên ngoài hay những viên thuốc để làm tê liệt
những cảm giaùc của mình, để che đậy sự bất lực của
mình trong việc đối phó với đời sống.
Chúng
ta phải làm sao để sửa chữa những điều này? Chúng ta cần
phải giảm thời gian làm việc và thời gian giải trí. Với
tâm thanh tịnh chúng ta sẽ có ít nhu cầu hơn. Chúng ta đã
dùng cuộc đời một cách uổng phí trong việc tìm cách thỏa
mãn những nhu cầu vật chất của mình. Chúng ta đã không
mang gì vào cuộc đời, vì vậy chúng ta cũng sẽ không mang
theo được gì khi rời bỏ cuộc đời. Ðiều mà chúng ta đang
cần là lối sống đơn giản. Phật Thích Ca đã sống một
đời phạm hạnh, đơn sơ chỉ với những gì cần yếu nhất;
ba chiếc y, ăn ngày một bữa, ngủ dưới gốc cây một đêm,
nhưng ngài vẫn sống một đời phúc lạc và mãn nguyện.
Chúng
ta nên làm theo gương Ðức Phật, sống đơn giản để có
thể giảm bớt ái dục và do đó để thỏa mãn với cuộc
sống. Chúng ta có thể làm việc một năm rồi lại nghỉ một
năm. Lối sống đơn sơ sẽ mang lại cho chúng ta sự thanh tịnh
và an lạc. Nếu không chấp vào thủ hay xả, chúng ta sẽ bước
vào trạng thái lạc tịnh của một bậc giác ngộ.
Làm
sao để chuyển hóa theo hướng này? Chúng ta chuyển hướng
bằng cách giải trừ tham, sân, si, và kiêu ngạo, để tâm
trí sáng suốt không mê muội nữa và bằng cách lầu thông
luật nhân quả. Người ta nói rằng các Bồ Tát sợ nhân,
còn chúng sinh thì sợ quả (Bodhisattvas fear causes while sentien
beings fear effects). Vì hiểu luật nhân quả nên các Bồ Tát
sợ gặp nghiệp quả xấu và do đó các ngài hết sức tránh
tạo nghiệp xấu. Nên các ngài xóa bỏ được những món nợ
nhân duyên, tích lũy công đức cho tới khi đắc Phật Quả.
Moïi
sự vật trên thời gian đều phải chịu sự chi phối của
luật nhân quả. Vạn vật đều giả ảo và vô thường, nhưng
luật nhân quả thì lại là một chân lý vĩnh cửu và bất
biến.
Nhân
và quả có mối liên hệ mật thiết với nhau vì chúng hiện
hữu cùng với nhau. Nhân trở thành quả, và quả này lại
trở thành một nhân khác. Từ chuỗi nhân quả bất tận này
chúng ta có thể thấy một hành động nguyên nhân không thể
kết thúc trọn vẹn, và một nghiệp quả không phải là quả
độc nhất. Sự phối hợp của nhân và quả tạo ra một chu
trình tàn nhẫn, đó là vòng luân hồi sinh tử.
Một
Bồ Tát là một người đã giác ngộ, và do đó hiểu rõ rằng
mọi hành động đều sinh ra hậu quả. Các vị Bồ Tát rất
thận trọng trong mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói và mỗi hành vi,
để không gây ra nghiệp quả xấu trong tương lai cho chính
mình.
Không
giống như các Bồ Tát, chúng ta không hiểu những quy luật
và những chân lý cuûa đời sống. Chúng ta chỉ có thể có
một chút tri thức giới hạn và mơ hồ. Vì vậy mà chúng
ta đã vô ý tạo ra nhiều nghiệp xấu nhưng lại không
chịu hiểu tại sao mình lại phải chịu nhiều quả xấu,
và đa số chúng ta không bieát hối hận mà lại còn đổ lỗi
cho người khác đã gây ra tai họa cho mình. Sự không hiểu
biết này lại tạo thêm nhiều nghiệp quả xấu nữa. Như
vậy nhân và quả liên tục xuất hiện xung quanh chúng ta. Nếu
không hiểu luật nhân quả chúng ta sẽ không nhận ra sự liên
quan giữa những hành vi và những hậu quả.
Pháp
môn niệm Phật giúp ta được tái sinh vào Tịnh Ðộ Tây Phương
phù hợp với luật nhân quả. Khi thực hành pháp môn này,
vì lợi ích của mình, chúng ta sẽ tránh tạo thêm nghiệp
xấu, chỉ có những hành vi tốt đối với người khác, và
đó chính là điều mà các Thầy Tổ cùng các Hiền Thánh đã
khuyến khích chúng ta làm.
Với
pháp môn Tịnh Ðộ, chúng ta có thể mang nghiệp hiện hành
của mình tới cõi tịnh Tây Phương. Có một điều chúng ta
cần phải hiểu là nghiệp hiện hành ở đây là nghiệp "cũ"
chứ không muốn nói nghiệp "mới". Những nghiệp "mới" được
tạo trong hiện tại thì không thể mang tới Tịnh Ðộ Tây
Phương được. Nghiệp mới tạo lại là những chướng ngại
cản trở chúng ta vãng sinh Tịnh Ðộ. Nghiệp cũ là những
nghiệp xấu mà chúng ta đã tạo trước khi học và thực hành
Phật giáo.
Khi
hiểu như vậy, chúng ta phải quyết định không tạo thêm
nghiệp xấu nữa để có thể hoàn toàn giải thoát. Còn nếu
nghĩ rằng chỉ cần niệm Phật là sẽ được tái sinh trong
cõi tịnh chứ không phải tránh tạo nghiệp xấu thì như vậy
là sai lầm. Người ta nói rằng trong mười ngàn người thực
hành pháp môn niệm Phật chỉ có vài người được sinh vào
Tịnh Ðộ Tây Phương. Tại sao vậy? Tại vì đa số người
ta không chịu ngừng tạo nghiệp xấu trong kiếp hiện tại.
Rốt cuộc, dù có tụng kinh niệm Phật bao nhiêu họ cũng không
thể tái sinh vào cõi tịnh được. Họ vẫn còn phải chịu
nghiệp quả trong sáu cõi luân hồi. Ðây là một điều quan
trọng mà chúng ta cần phải khắc cốt ghi tâm.
Ðể
tu theo Phật giáo, chúng ta cần phải phát Bồ Ðề tâm (Bodhi
mind), hiểu rõ những quy luật và chân lý của cuộc đời,
là tâm đại từ bi, nguyện đạt giải thoát để có thể
giúp chúng sinh cũng được giải thoát. Khi phát Bồ Ðề tâm,
chúng ta quyết định không tạo mọi nghiệp ác chỉ tạo thiện
nghiệp và thực hành mọi đức hạnh.
Bồ
Ðề tâm đại bi tâm và thành thực tâm là tâm vô vị kỷ,
hoạt động vì lợi ích của chúng sinh, không mong cầu được
đền ơn đáp nghĩa. Với Bồ Ðề tâm, chúng ta sẽ có thể
phụng sự chúng sinh cũng như nghĩ tới lợi ích của bản
thân hay của gia đình mình. Khi thực hành tu tập với Bồ
Ðề tâm, chúng ta sẽ hóa giải được những nghiệp quả
xấu.
Sự
thật thì chúng ta không xóa bỏ được những món nợ nhân
quả của mình, mà chỉ có thể chuyển nghiệp quả xấu thành
phúc lợi trong cõi người và cõi trời, và do đó chỉ có
tính cách tạm thời, vẫn còn phải chịu luân hồi sinh tử.
Tuy nhiên, việc chuyển hoùa này có thể tương đương với
sự giải trừ nghiệp xấu khi chúng ta chuyển hóa, phiền não
thành bồ đề tâm, hay chuyển luân hồi thành niết bàn (transformation
is equivalent to elimination to transform our afflictions into the Bodhi
mind. It is transform the cycle of birth and death into the state of Nirvana).
Trong tiến trình chuyển hóa này, đức hạnh của chúng ta trở
thành tinh truyền và hoàn hảo khi chúng ta đắc Phật Quả
viên mãn.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật nói rằng chúng sinh đều có những
đức tính và trí huệ của chư Phật. Nói cách khác, chúng
sinh đều có Phật tánh tức chân tính nguyên thủy vốn có
của chúng ta, tạm thời bị che phủ bởi vô minh, vọng tưởng
phân biệt, và ái dục. Ðắc Phật Quả có nghĩa là làm cho
chân tính hiển lộ, là đạt trạng thái trí huệ hoàn hảo.
Khi đó, đức hạnh, tài năng và phúc lợi cũng sẽ hoàn hảo.
Vậy, khi mọi phương diện đều hoàn hảo, chúng ta sẽ thành
Phật.
Nhưng
tại sao trong hiện tại đời sống của chúng ta lại khó khăn
như vậy? Tại vì chúng ta vẫn còn phiền não, tức những
vọng niệm phân biệt và những chấp thủ. Phiền não gây
ra đau khổ cho thân thể và tâm trí. Chấp thủ là sự bám
giữ vào những đối tượng hay những ý tưởng nào đó, và
do đó gây ra ái dục, ý tưởng vị kỷ và ganh tị, muốn
điều khiển và sở hữu người khác. Vì những điều này
mà chúng ta bám giữ vào những ý nghĩ về những gì đã xaûy
ra, những gì mình nhớ, những gì mình đã tưởng tượng.
Chúng ta bị những ý nghĩ này lôi cuốn mà không thể ngừng
lại được.
Chúng
ta cần phải chấm dứt những sự chấp thủ này vốn đã
làm cho mình đau khổ hay sân hận, đã gây ra những cảm xúc
mạnh, không để cho tâm mình được an lạc. Vậy chúng ta
phải làm sao? Là những người bình thường, hay phàm phu, chúng
ta vẫn còn lệ thuộc những ý nghĩ và những cảm xúc có
tính cách chấp thủ, vậy ngay khi nhưõng ý nghĩ này phát khởi,
chúng ta hãy thay thế chúng bằng câu niệm "A Di Ðà Phật".
Chúng còn xuất hiện chúng ta còn niệm "A Di Ðà Phật". Chúng
ta có thể thực hành phương pháp giải trừ vọng niệm này
ở bất nơi đâu và bất kỳ lúc nào.
Chư
Phật dạy rằng vũ trụ sắc tướng là do tâm tạo, tức là
phát sinh từ những vọng tưởng phân biệt và những chấp
thủ của chúng ta (universe is generateđ from our wandering and discrminatory
thoughts, is created from our attachment). Những chướng ngại này
là những niềm tin sai lầm và những tà kiến, và đã tạo
ra bốn mươi mốt cấp giác ngộ của Bồ Tát Pháp Thân. Có
những cấp khác nhau này là vì người ta có những mức độ
và vọng tưởng khác nhau.
Vũ
trụ được tóm lược qua mười pháp giới. Mười cõi từ
đâu mà có? Mười pháp giới (ten Dharma Realms) xuất hiện
từ những vọng niệm phân biệt và do sự không bình đẳng
của chúng ta. Khi chúng ta có một ý nghĩ phân biệt đối với
người hay sự vật khác thì khi đó. Mười pháp giới sẽ
xuất hiện. Trong mười cõi này, cao nhất là bốn cõi thánh
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, và Phật (Sound-hearer, Pratyekabuddha,
Bodhisattva & Buddha).
Khi
chúng ta tham dục thì Sáu Nẻo Luân Hồi sẽ xuất hiện, đó
là cõi Trời, cõi Người, Atula, Ðịa Ngục, Quạ quỹ và Súc
sinh - Heaven, Humans, Asuras, Hell, Hungry ghosts, and Animals). Khi sự
tham dục gia tăng thì ba cõi thấp nhất trong sáu cõi luân hồi
sẽ xuất hiện, tức là các cõi súc sinh, ngạ quỷ, và địa
ngục. Nếu sự tham dục trở nên nghiêm trọng thì các cõi
địa ngục sẽ xuất hiện. Tại sao chúng ta không thể thoát
luân hồi hay thoát khỏi những nghiệp quaû gây chướng ngại?
Vì chúng ta đã không muốn tu tập để chuyển hóa từ xấu
sang tốt mà lại còn gia tăng ác nghiệp của mình.
Vậy
phải làm sao để giải trừ những vọng niệm và tà kiến,
khai mở những khả năng này và đức tính nguyên thủy của
chân tính? Chỉ có một cách là buông bỏ mọi vọng tưởng
và chấp thủ. Khi vọng tưởng và chấp thủ không còn nữa,
chúng ta sẽ không những thoát khỏi sáu cõi luân hồi mà lại
còn vượt lên trên tất cả Mươøi Cõi Pháp nữa. Khi đó
chúng ta sẽ trụ trong Chân Như Pháp Giới, trạng thái Phật
Quả viên mãn. Luật nhân quả nằm ở bên trong cõi này.
Vọng
niệm phân biệt và chấp thủ là nhân, Mười Pháp giới là
quả. Vì vọng niệm và chấp thủ tạo ra nghiệp xấu nên
chúng ta phải giải trừ chúng để chuyển nghiệp và công
đức của mình được viên mãn. Khi tu tâm vô phân biệt, hành
giả sẽ buông bỏ được mọi phiền não. Nhưng đa số chúng
ta có thể gặp khó khăn trong việc xả ly này vì đã có thói
quen của ái dục và sân hận, và do đó phải chịu thêm nghiệp
quả xấu. Do vọng niệm phân biệt mà thế giới này có những
sự bất bình đẳng. Kinh Kim Cương (Diamond Sutra) nói rằng
người ta thường chấp giữ bốn điều: ngã tướng, nhân
tướng, chúng sinh tướng, và thọ giả tướng. Nếu không
nghĩ theo bốn điều: mình, người, chúng sinh, và kiếp sống
này thì với công phu tu tập, chúng ta sẽ đoạn lìa được
phiền não. Vì vậy, không những cảm xúc phiền não xuất
hiện, chúng ta sẽ tự nhắc nhở mình về bốn điều này
và nhớ rằng chúng chỉ là những ảo tưởng, không thật
có. Như vậy chúng ta sẽ được an lạc thực sự, sẽ chấp
nhận hoàn cảnh cuûa mình, và biết vui mừng khi người khác
làm được việc tốt.
Việc
tích lũy công đức tùy thuộc vào việc tu tập của chúng
ta. Chúng ta tu tập như thế nào? Pháp tu tập của chúng ta
là buông bỏ mọi vọng niệm và mọi chấp thủ, sửa đổi
những nếp nghĩ và nếp sống sai lầm. Ðức hạnh có nghĩa
là gì? đức hạnh là sự thành tựu Thiền định, Trí huệ
và Chân như Pháp giới. Phước là cái thành tựu bên ngoài
như bố thí, phóng sanh, cúng dường, ấn tống kinh sách. Một
vị giác ngộ viên mãn phải đầy đủ cả phước và đức.
Các
vị Bồ Tát thuộc những cấp cao nhất vẫn chưa đạt được
công đức hoàn hảo, vì các ngài chưa phá bỏ những mức
độ vô minh cuối cùng của thời gian. Các ngài chưa buông
bỏ một chút vọng niệm còn sót lại, nên công đức của
các ngài chưa hoàn hảo. Khi không còn một chút vô minh nào
cả, công đức của các ngài sẽ hoàn hảo, và các ngài đắc
thành Phật Quả.
Chúng
sanh phạm lỗi lầm là do vô minh và tà kiến. Khi tiếp xúc
với người và sự vật, chúng ta thường hành xử một cách
tham, sân, si, ích kỷ và với ý muốn kiểm soát và điều
khiển những gì ở xung quanh mình, chúng ta cần phải bỏ ý
định này và thay thế những ý nghĩ vị kỷ bằng những ý
hướng vị tha. Khi đó phiền não sẽ mỏng dần và tâm trí
sẽ thanh tịnh hơn. Nếu đạt được trạng thái tâm này,
chúng ta nên giúp người khác cũng đạt được như mình.
Chừng
nào vẫn còn những ý tưởng tham, sân, si, kiêu ngạo và ý
muốn kiểm soát người khác, chúng ta sẽ vẫn còn những nguyên
nhân làm cho mình phải tái sinh trong ba cõi thấp: súc sinh,
ngạ quỷ, và địa ngục. Si mê làm cho người ta rơi vào cõi
súc sinh. Tham dục làm cho người ta tái sinh trong loài quỷ
đói, còn sân hận là nguyên nhân của sự tái sinh trong địa
ngục.
Khi
đã tạo nghiệp xấu thì không có cách gì để tránh quả
xấu. Bản thân mỗi người phải chịu nghiệp quả xấu của
mình. Không có thần, thánh, hay Phật nào có thể giải khổ
hay gánh dùm nghiệp quả xấu cho chúng ta. Các vị không có
quyền lực để làm như vậy. Bản thân chúng ta phải chịu
hậu quả của những nghiệp ác của mình. Chúng ta không thể
tránh được nghiệp quả cũng giống như không thể chạy thoát
được cái bóng của mình.
Khi
làm được một việc tốt nhỏ nào đó, chúng ta không nên
mong sẽ được hưởng phước báo tức khắc. Mong ước như
vậy là ảo tưởng, bởi vì chúng ta vẫn còn rất nhiều nghiệp
quả xấu mà mình đã tạo trong quá khứ, mà một nghiệp tốt
nhỏ không thể bù lại được. Nếu không hiểu điều này
thì khi gặp khó khăn chúng ta sẽ có thể nghi ngờ những lời
dạy của Ðức Phật. Chúng ta sẽ thắc mắc là tại sao mình
làm điều tốt mà lại gặp chuyện xui xẻo trong khi người
khác tạo nghiệp xấu lại gặp điều may mắn. Chúng ta sẽ
nghi ngờ luật nhân quả và có thể vô tình phỉ báng giáo
lý của chư Phật, và như vậy là tạo thêm nghiệp xấu nặng
nề.
Nghiệp
quả có thể xuất hiện sớm hay muộn tùy theo trường hợp.
Thứ nhất, quả tốt phát sinh từ nghiệp tốt hay quả xấu
do nghiệp xấu có thể xuất hiện ngay trong kiếp hiện tại.
Thứ nhì, nghiệp tốt hay xấu được tạo trong kiếp này nhưng
quả chỉ hiển lộ trong kiếp sau. Thứ ba, nghiệp quả chỉ
hiển lộ trong kiếp thứ ba hay nhiều kiếp sau nữa. Vậy,
quả tốt hay xấu có thể xuất hieän sớm hay muộn, và chúng
ta không có khả năng biết được sẽ xuất hiện lúc
nào.
Vậy
lúc nào nghiệp quả xấu xuất hiện? Nghiệp quả tốt cũng
như nghiệp quả xấu chỉ xuất hiện khi nhân duyên đã tụ
hội đầy đủ. Nếu nhân duyên, hay những điều kiện có
đủ trong kiếp hiện tại thì nghiệp quả sẽ hiển lộ ngay
trong kiếp hiện tại. Nếu nhân duyên chỉ hội tụ trong kiếp
sau thì nghiệp quả sẽ xuất hiện trong kiếp sau. Còn nếu
nhân duyên chỉ có đủ sau nhiều kiếp thì nghiệp quả cũng
sẽ chỉ xuất hiện sau nhiều kiếp. Tức là một nghiệp thiện
hay ác một khi đã được tạo ra rồi, nó phản ứng trở
lại với ta không sớm thì muộn, chứ mãi mãi không bao giờ
mất.
Chúng
ta hãy xét thí dụ một truyện mà Ðức Phật đã kể trong
Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra). Một người già thỉnh cầu Ðức
Phật cho mình được gia nhập Tăng đoàn. Ðể trở thành tăng
sĩ người ta cần phải có những đức tính và nhân duyên
tốt. Lúc đoù tất cả các tăng sĩ đệ tử của Ðức Phật
đều đã thành tựu đạo quả, vì vậy Ðức Phật thử tài
của họ bằng cách bảo họ xét coi có nên chấp nhận người
già này vào tăng đoàn hay không. Các đệ tử của ngài đã
đắc quả La Hán nên có thể biết được năm trăm kiếp trước
của bất cứ người nào. Họ cho rằng ông già không đủ
điều kiện để trở thành tăng sĩ, vì họ không thấy ông
ta trồng nhân lành nào trong những kiếp trước. Nhưng Ðức
Phật nói với họ rằng trong vô số đại kiếp trước đây
ông già là một tiều phu. Một hôm khi đang đi vào trong núi
kiếm củi thì người tiều phu đó gặp một con cọp. Ông
ta liền leo lên một cái cây để tránh con thú rồi kêu "Nam
Mô Ðức Phật” (Homage to the Buddha) để mong được cứu nạn.
Chỉ với vài lời đó, ông già đã gieo trồng nhân duyên tốt
cho mình, vì vậy khi được gặp Ðức Phật sau vô số kiếp,
ông già đã được hưởng quả tốt. Ông được Ðức Phật
cho phép gia nhập Tăng đoàn, và sau đó đã đắc quả La Hán,
một quả vị mà ở trong đó người ta không tạo nghiệp xấu
thân, khẩu, ý nữa. Ðó là một thí dụ về nghiệp quả xuất
hiện sau vô số kiếp.
Tất
cả những ý nghĩ, lời nói, và hành động phát xuất từ
tâm trí của chúng ta đều tạo ra nghiệp quả. Chúng ta gieo
cái gì thì gặt cái đó. Gieo nhân tốt, chúng ta sẽ được
hưởng nghiệp quả tốt; gieo trồng nhân xấu, chúng ta sẽ
phải chịu quả xấu. Chư Phật, Bồ Tát cũng không thể sửa
đổi được định luật này. Nghiệp quả chỉ xuất hiện
khi có đủ những điều kiện nhân duyên. Nếu chúng ta không
thấy việc làm tốt của mình mang lại quả tốt thì đó là
vì nhân duyên chưa hội tụ đầy đủ để kết thành quả
mà thôi.
Khi
hiểu thấu đáo về luật nhân quả, chúng ta sẽ cẩn thận
trong mọi ý nghĩ, lời nói và hành vi của mình để tránh
tạo nghiệp xấu. Chúng ta sẽ biết cách cư xử đúng đắn
với người và sự vật, chúng sẽ vun bồi đức hạnh để
được hưởng quả tốt có ích lợi cho mình về sau.
Ðức
Phật đã nói rõ về cách phân biệt nghiệp tốt với nghiệp
xấu. Khi nghĩ tới việc làm lợi ích cho chúng sinh, chúng ta
đang gieo trồng phước đức cho mình. Còn nếu chỉ nghĩ tới
lợi ích của bản thân mà không cần biết tới người khác,
là ta tạo nghiệp xấu vậy. Chúng ta cần phải tránh việc
lợi dụng người khác để làm lợi cho mình, vì những hành
vi như vậy sẽ tạo ra nghiệp quả xấu mà chúng ta sẽ phải
chịu về sau. Dù tin hay không tin, luật nhân quả muôn đời
vẫn như thế. Vậy, chúng ta cần phải luôn luôn cố gắng
thực hành đại từ bi để mang phúc lạc đến cho mình và
cho người, và dứt khoát không bao giờ gây sự khổ đau cho
người.
Chúng
ta nên phải biết vị kỷ và là vị tha như thế nào để
biết mình đang tạo nghiệp xấu hay đang tạo nghiệp tốt.
Nên nhớ rằng vọng niệm và chấp thủ là nguyên nhân của
luân hoài trong mười cõi. Khi mọi ý nghĩ đều có tính cách
ích kỷ và chấp thủ của chúng ta rất nghiêm trọng,
và do đó chúng ta tiếp tục luân hồi sinh tử. Vì vậy, nếu
chỉ nghĩ tới chính mình, gia đình của mình, tổ chức của
mình, hay đất nước của mình thì đó là tạo nghiệp xấu.
Ðại
đa số người không hiểu điều này, nên họ cho rằng lối
nghĩ như vậy là chuyện tự nhiên, hay có khi còn là đúng
nữa. Họ không biết rằng lối nghĩ vị kỷ và chật hẹp
như vậy là hoàn toàn trái ngược với giáo lý của Ðức
Phật. Do không có trí huệ đích thực, chúng ta không trông
thấy sự vật một cách rõ ràng và chỉ có những ý niệm
sai lầm. Ðức Phật là bậc đại giác ngộ nên ngài chỉ
nói lên những sự thật.
Mỗi
ý nghĩ là một sự tạo nghiệp. Nếu sự tạo nghiệp phát
xuất từ trí huệ thì nghiệp quả này cũng phát xuất từ
trí huệ. Nếu tạo nghiệp từ vô minh thì nghiệp quả cũng
phát xuất từ vô minh. Vì thường tạo nghiệp trong vô minh
nên chúng ta đã phạm rất nhiều tội lỗi trong những kiếp
quá khứ cũng như kiếp hiện tại. Chúng ta thường tạo nghiệp
xấu nhiều hơn là nghiệp tốt. Nếu tạo nghiệp tốt nhiều
hơn nghiệp xấu thì chúng ta đã không phải lăn trôi trong
luân hồi sinh tử.
Còn
luân hồi thì còn có thể tạo nghiệp xấu thêm nhiều hơn
nghiệp tốt, vì vậy chúng ta cần phải có chánh niệm, thận
trọng trong mọi hành vi thân, khẩu, ý. Tuy nhiên, Ðức Phật
daïy rằng nghiệp không cố định mà có thể được chuyển
hóa. Vì mọi sự vật đều do tâm tạo ra nên nghiệp cũng
phát sinh từ tâm trí, và vì vậy nghiệp cũng có thể được
chuyển hóa bằng tâm trí. Khi đạt được sự thanh tịnh trong
tÂm trí thì nghiệp xấu của chúng ta sẽ được giải trừ.
Do
mê muội và tà kiến, chúng ta thường không hiểu trọn vẹn
ý nghĩa những lời dạy của Ðức Phật. Kinh sách nói rằng
những bậc giác ngộ như các La Hán và Bồ Tát đã hoaûng
sợ khi nghe Ðức Phật nói về nghiệp quả. Một La Hán sẽ
toát mồ hôi khi nhớ lại sự đau khổ mà mình đã phải chịu
ở Ðịa Ngục Vô Gián trong những kiếp trước. Như vậy các
ngài có ý thức về nghiệp quả nhiều hơn chúng ta bây giờ.
Vì chưa có khả năng nhớ lại những kiếp trước của mình
nên chúng ta không biết rằng mình cũng như tất cả mọi người
đều đã có những lần ở trong địa ngục. Nếu còn kẹt
ở trong luân hồi thì gần như chắc chắn chúng ta sẽ còn
trở lại địa ngục nhiều lần nữa.
Thời
gian của một kiếp tái sinh trong cõi trời cao nhất là tám
mươi ngàn đại kiếp, nhưng thời gian này là ngắn so với
thời gian vô số đại kiếp mà một người phải trải qua
trong địa ngục. Tất cả chúng ta đều đã phạm tội nặng
và vẫn có thể được cứu độ trước khi rơi vào địa
ngục, nhưng một khi đã xuống địa ngục, chúng ta sẽ rất
khó được giải cứu, dù đã có Bồ Tát Ðịa Tạng giúp
đỡ những sinh linh ở đó. Bất cứ một vị Phật hay một
vị Bồ Tát nào có nhân duyên với một sinh linh ở địa ngục
và đến đó giáo hóa vẫn được gọi là Bồ Tát Ðịa Tạng.
Có
thể chúng ta có nhân duyên với một người nào đó đang ở
địa ngục. Khi trở thành Bồ Tát hay Phật, chúng ta sẽ có
thể đi đến đó để giúp đỡ họ, và lúc đó chúng ta cũng
được mệnh danh là Bồ Tát Ðịa Tạng. Vậy, danh hiệu của
một vị Phật hay một vị Bồ Tát là một thánh danh được
dùng cho mọi người, chứ không phải của riêng một vị nào.
Trong
Kinh Ðịa Tạng, chúng ta thấy rằng việc giải cứu những
sinh linh ở địa ngục là điều rất khó khăn. Bồ Tát Ðịa
Tạng có trí huệ và quyền năng lớn nên ngài có thể cứu
độ chúng sinh ở địa ngục. Nhưng do tập khí, khi được
tái sinh ở cõi trời, chúng ta vẫn tiếp tục tạo nghiệp
xấu để rồi sẽ lại trở xuống địa ngục. Ở địa ngục
chúng ta sẽ phải đau khổ liên tục, không có một lúc nào
ngừng nghỉ để có thể tu tập, vì vậy chúng ta sẽ chỉ
có sự sân hận, và do đó nghiệp xấu gia tăng. Kinh sách đã
giải thích rõ ràng như vậy để chúng ta biết là việc cứu
độ những sinh linh ở địa ngục khó khăn như thế nào.
Vậy,
chúng ta coù thể được cứu độ sau khi đã tạo nghiệp xấu,
nhưng phải trước khi qua đời và rơi vào địa ngục. Trong
khoảng thời gian này chúng ta phải được giáo hóa đến chỗ
thức tỉnh để biết sám hối và sợ phải sa vào địa ngục,
quyết định không tạo nghiệp xấu về thân, khẩu, ý nào
nữa, và chỉ làm những việc tốt mà thôi. Như vậy tâm ta
thanh tịnh và có thể thay đổi hoàn cảnh của mình, chuyển
hóa nghịch cảnh thành thuận cảnh. Nếu có thể phát bồ
đề tâm thì hoàn cảnh của chúng ta lại càng tốt hơn nữa.
Vào lúc qua đời, nếu chúng ta thành tâm sám hối và niệm
"A Di Ðà Phật" từ một đến mười biến để cầu vãng sinh
Tịnh Ðộ, chúng ta sẽ được tái sinh trong cõi tịnh, dù
đáng ra chúng ta phải rơi vào địa ngục Vô Gián. Chúng ta
sẽ ở trong cõi Tịnh Ðộ như vị Bồ Tát không thoái chuyển.
Ở đó chúng ta sẽ có cơ hội trở lại thế gian để giúp
những người có nhân duyên với mình.
Có
khi chúng ta làm những việc tốt nhưng vẫn bị người khác
chê cười hay khinh thường, hay chúng ta có thể bệnh nặng,
nghèo khổ, hay phải sống một kiếp tệ hại hơn kiếp trước.
Tại sao vậy? Ðó là do những nghiệp xấu nặng nề của chúng
ta đã được giaûm xuống thành những quả xấu nhẹ trong
kiếp hiện tại. Nói cách khác, phải sống trong tình trạng
như vậy có nghĩa là nghiệp xấu của chúng ta đã trở nên
nhẹ hơn.
Kinh
Kim Cương nói rằng nghiệp xấu đã tạo trong quá khứ, người
ta có thể phải chịu nghèo khổ, thấp hèn, hay phải đọa
địa ngục. Vì vậy, nghịch cảnh của chúng ta trong hiện
tại là quả báo xấu mà chúng ta phải chịu do đã tạo nghiệp
xấu trong quá khứ. Tuy nhiên, khi chấp nhận đời sống tu
tập, nghiệp xấu của chúng ta sẽ được giải trừ và cuối
cùng chúng ta sẽ đạt giác ngộ viên mãn. Như vậy, chúng
ta có thể chuyển hóa nghiệp xấu chỉ với một ý tưởng
giác ngộ, tức là quyết định đi theo con đường tu tập.
Kinh
sách cũng nói rằng khi chúng ta thực hành công hạnh của cấp
Bồ Tát hay cấp Phật, các vị Bồ Tát và thần linh sẽ liên
tục bảo hộ chúng ta. Nếu chúng ta gặp chướng ngại hay
khó khăn hay khi thi hành những việc lớn này thì đó là vì
nghiệp xấu quá khứ của chúng ta quá nặng. Nếu chúng ta
cương quyết lập công đức lớn thì chúng ta sẽ vượt qua
được những chướng ngại và khó khăn hiện tại và sẽ
đạt được vô số lợi ích và phúc lạc. Chúng ta hãy sẵn
lòng hoạt động trong nghịch cảnh. Chúng ta cần phải bình
tĩnh trả những món nợ nghiệp quả, không than thở hay sân
hận một chút nào. Nếu sân hận với nghịch cảnh thì món
nợ của kiếp sau sẽ lớn hơn kiếp này rất nhiều.
Sư
phụ của tôi, Hòa Thượng Tịnh Không, là tấm gương tốt
về sự trả nợ nghiệp quả. Ngài đã phải chịu khổ cực
nhiều năm, nhưng ngài vẫn cố gắng chăm chỉ tu học và làm
việc. Sau đó ngài gặp được ông bà Phật tử Hàn Anh (Yin-Han),
và được hai vị này hết lòng giúp đỡ. Chỉ lúc đó với
mức sống khả quan ngài mới có thể thực hiện ước nguyện
của ngài là đi giảng pháp. Những chướng ngại và khó khăn
của ngài là nghiệp quả xấu đã tích tụ trong quá khứ,
và do nhẫn nhục chịu đựng, ngài đã dần dần giải trừ
được nghiệp xấu của mình.
Việc
thiết lập Thư Viện Hoa Tạng và sau đó là Cơ Sở Giáo Dục
Phật Ðà là những điểm son trong sự nghiệp hoằng pháp
của Hòa Thượng Tịnh Không. Hiện tại, dưới sự hướng
dẫn của ngài, hơn năm mươi Trung Tâm Tịnh Ðộ Học (Pureland
Learning Centers) và Hội Phật A Di Ðà (Amitabha Buddhist Soscieties)
trên khắp thế giới đang góp phần quan trọng trong việc truyền
bá Phật Giáo. Ðây là hoa trái Phật Pháp tốt nhất mà chúng
ta đang thọ hưởng.
Vậy,
chúng ta không nên nản chí khi phải đối diện với nghịch
cảnh. Kinh sách nói rằng chư Phật, Bồ Tát đã xếp đặt
mọi chuyện trong đời sống của chúng ta. Tất cả những
nghịch cảnh và khó khăn dù nặng nề tới đâu cũng do các
ngài xếp đặt trước, mục đích là để giải trừ dần
dần nghiệp xấu của chúng ta cho tới khi chúng ta tích lũy
công đức. Nghịch cảnh và khoù khăn cũng giúp hành giả nâng
cao trình độ tu tập và đạt thành tựu. Tất nhiên chư Phật,
Bồ Tát không muốn chúng ta gặp điều xấu. Ðối với những
hành giả chân chính, nghịch cảnh và chướng ngại là điều
quý báu. Khi hiểu như vậy, chúng ta sẽ nhẫn nhục và chấp
nhận thực tại của những khó khăn, không nản chí, để
cuối cùng mình đạt được mục đích.
Ðức
Phật đã dạy rằng chúng ta cần phải hiểu thấu đáo những
giáo lý trong kinh sách để có khả năng chịu đựng khi gặp
chướng ngại. Dù đang ở trong hoàn cảnh tốt hay xấu chúng
ta cũng phải giữ bình tĩnh. Nghịch cảnh giúp chúng ta thanh
toán những món nợ nghiệp báo của mình. Nhưng thuận cảnh
có mang lại lợi ích nào không? Chúng ta cần phải có thiền
định và trí huệ vững chắc để không thoái chuyển, rơi
rớt khi gặp thuận cảnh, và trong hoàn cảnh tốt, tâm trí
của chúng ta thường phát sinh những ý tưởng tham dục, thoả
mãn. Người tu Phật không cho phép mình mãn nguyện bất cứ
một sở đắc nào, nếu chưa rốt ráo đạt đạo đạt ngộ
mà khởi niệm mãn nguyện, thoả mãn, ngay lúc ấy chúng ta
đã rơi vào con đường ma rồi.
Chúng
ta muốn tránh mọi phiền não, thí dụ như không sân hận,
nhưng khi có chuyện gì xảy ra, chúng ta có thể nổi giận
trước khi kềm chế được mình. Khi có ý tưởng tham dục
mà lại không được như ý, chúng ta sẽ nổi sân hận. Ðó
là vì tập khí và ác nghiệp đang lấn lướt ta. Nhưng chúng
ta có thể sửa đổi điều này bằng cách tu học theo Giáo
Pháp tinh cần hơn nữa. Tri và hành là hai điều quan trọng
ngang nhau vì chúng bổ túc cho nhau, và đưa tới sự hiểu và
thực hành rốt ráo.
Khi
gặp khó khăn, người ta thường đổ lỗi cho người khác,
và lại còn cho rằng Trời không công bằng với họ. Rất
hiếm khi họ chịu nghiêm chỉnh nghĩ đến lỗi lầm của chính
mình. Nếu chúng ta không nhất tâm sám hối là vì chúng ta
vẫn còn vô minh và tà kiến. Ngày nay, chúng ta thường nghe
nói người ta lừa dối lẫn nhau. Những chuyện lừa bịp diễn
ra hằng ngày trên thế giới. Tại sao lại có tệ nạn này?
Nếu hiểu Phật Giáo và sự thật về cuộc đời và vũ trụ,
chúng ta sẽ biết rằng hiện tại mình bị lừa dối vì trong
quá khứ mình đã lừa dối người khác.
Khi
hiểu như vậy chúng ta sẽ coi việc mình bị lừa dối chỉ
là một sự trả nợ nhân quả. Nợ tiền phải trả bằng
tiền, và nợ nhân quả phaûi trả bằng nghiệp quả. Luật
nhân quả là vững chắc và không thể nào tránh được.
Ðức
Phật dạy rằng mọi vật đều như một giấc mộng, như ảo
ảnh, như cái bóng, như bọt nước. Không có gì trường tồn,
không có gì chắc thật để cho người ta thủ đắc hay bám
giữ vào. Ðây là một chân lý mà chúng ta cần phải ghi nhớ.
Cuối cùng, khi hiểu ra rằng không có gì để được hay mất,
chúng ta sẽ thoát khỏi vô minh. Vậy, khi gặp khó khăn, chúng
ta phải nghĩ rằng đây chỉ là một sự trả nợ. Như vậy,
chúng ta sẽ nhẫn nhục và lại còn hân hạnh trả cho người
khác những gì họ muốn, và luôn luôn biết sám hối những
lỗi lầm của mình.
Ngày
nay chúng ta thấy nhiều người có hạnh phúc và có nhiều
tiền của. Những thứ này ở đâu ra? Ðây không phải chỉ
là một sự ngẫu nhiên may mắn mà là kết quả tốt mà họ
đã
gieo trồng trong những kiếp trước. Hạnh phúc hay khổ đau
không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà có gốc rễ rõ ràng.
Ðại
Sư Ấn Quang nói rằng người ta có thể đạt được mọi
thứ bằng sự thành thực, vì thành thực sẽ mang lại lợi
ích cho bản thân, và bằng sự tôn trọng người khác, tức
là làm lợi ích cho người khác. Với sự thành thực và sự
tôn trọng, chúng ta sẽ hòa hợp với mọi người. Ðể xã
hội được hòa hợp, chúng ta cần phải hiểu nguyên lý nhân
duyên và nghiệp quả. Ðể được người khác tôn trọng mình
chúng ta cần phải tôn trọng người khác trước. Chúng ta
cần phải sửa đổi bản thân để làm cho hoàn cảnh được
tốt hơn. Nếu không làm như vậy thì chúng ta sẽ không tránh
được những tai họa lớn trên thế giới, vốn là cộng nghiệp
của chúng sinh.
Trong
suốt cuộc đời của ngài, Ðại Sư Ấn Quang khuyến khích
mọi người nghiên cứu về nhân duyên và nghiệp quả với
sự hỗ trợ của những tài liệu “Liễu Phàm Tứ Huấn”
(Bốn Bài Học Của Liễu Phàm". Ngài đã dành hết cuộc đời
cuûa mình cho việc giúp đỡ người khác. Nhưng có điều đáng
tiếc là người ham muốn lợi lộc thế gian thì nhiều, còn
người thức tỉnh muốn sinh vào Tịnh Ðộ Tây Phương thì
ít.
Bằng
việc phân phát những cuốn sách cẩm nang như “ Kinh Thiện
Ác Nhân Quả”, “ Liễu Phàm Tứ Huấn”, Ðại Sư Ấn Quang
đã cho thấy ngài là người có tâm đại từ bi, thành tâm
giúp đỡ nhân loại. Ngài quả là một Bồ Tát, hóa thân của
Bồ Tát Ðại Thế Chí, xuất hiện ở thế gian này để hóa
độ chúng sinh. Chúng ta nên làm theo gương ngài bằng cách
giới thiệu và truyền bá pháp môn Tịnh Ðộ khắp thế giới
với sự hỗ trợ của kỹ thuật hiện đại. Hy vọng việc
làm này sẽ giúp giảm thiểu hay có thể giải trưø những
tai họa trên thế giới, vốn là hậu quả của những nghiệp
xấu về thân, khẩu, ý mà loài người đã tạo ra trong hai
ngàn năm qua. Nếu làm được như vậy chúng ta sẽ lập được
vô lượng công đức.
Ðức
Phật dạy rằng chúng ta không nên phân biệt mình với người
khác, vì tất cả là một. Chúng ta cần phải có lòng từ
bi, lời nói tử tế, và việc làm tốt của một người cao
quý. Tất cả chúng ta sống trong cùng một thế giới, có cùng
những vấn đề. Khi có người rơi xuống sông, chúng ta sẽ
tìm cách cứu người đó mà không cần biết người đó thuộc
chủng tộc nào, tôn giáo nào. Chúng ta sẽ làm mọi việc theo
khả năng của mình để giúp đỡ mọi người. Nếu tất cả
chúng ta đều sẵn lòng giúp đỡ người khác khi cần thiết
thì thế giới này sẽ không có những vấn đề mà thế giới
đang có, đó là hận thù, chiến tranh, khủng bố và tai họa.
Chúng
ta có thể tùy ý tạo thêm vấn đề hoặc giải quyeát vấn
đề. Nếu muốn giải quyết mọi vấn đề, chúng ta cần phải
biết giúp đỡ lẫn nhau. Chúng ta có thể tiêu hàng triệu
đô la Mỹ cho một quả bom hoặc hai mươi đô la để giúp
một người thuộc thế giới thứ ba trong một tháng. Chúng
ta có thể dùng tiền để giết người hoặc để cứu người.
Việc nào sẽ giải quyết vấn đề? Chiến tranh sẽ không
giải quyết được vấn đề, dù tạo chiến tranh với
mục đích vô vị kỷ. Sự bố thí đích thực thì hoàn toàn
không có một chút mong cầu được đền đáp nào cả. Nếu
chúng ta mong cầu một cái gì thì việc làm của chúng ta sẽ
không giải quyết được vấn đề. Khi những nền văn hóa
và những tôn giáo khác nhau biết tôn trọng và giúp đỡ lẫn
nhau thì rốt cuộc chúng ta sẽ có một xã hội hòa hợp và
thịnh vượng, một thế giới hòa bình và ổn định. Ðây
là điều mà chúng ta hy vọng và là bổn phận mà chúng ta
phải thi hành.
Mấy
tháng trước, ở nước Úc, Hòa Thượng Tịnh Không và bản
thân tôi đã tham dự những cuộc họp của Diễn Ðàn Ða Tín
Ngưỡng Multi-Faith Forum), được chính phủ Úc bảo trợ và
Hội Nghị Thế Giới về Tôn Giáo và Hòa Bình. Ở những cuộc
họp này, những nhà lãnh đạo của các nhóm tôn giáo chia
sẻ ý kiến về cách giải quyết những mâu thuẫn giữa các
nhóm sắc tộc, văn hóa, và tôn giáo. Mục tiêu của họ là
thiết lập một xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc, đa tôn
giáo hòa hợp và thịnh vượng. Ðể xã hội và đất nước
được ổn định và thịnh vượng, trước hết chúng ta cần
phải có sự giao tiếp hòa hợp giữa các nhóm văn hóa, sắc
tộc, và tôn giáo.
Mỗi
nhóm văn hóa, sắc tộc, và tôn giáo đều có những phẩm
tính đáng biểu dương, và dù phát xuất từ những bối cảnh
khác nhau, chúng vẫn còn nhiều điểm tương đồng. Nếu chúng
ta dùng những điểm giống nhau này làm chỗ bắt đầu để
tìm kiếm nền móng chung và dẹp bỏ mọi bất đồng thì chúng
ta sẽ có thể cảm nhận được những điểm tốt của nhau.
Như vậy chúng ta sẽ thành thực tôn trọng nhau, và sẽ không
còn muốn can thiệp vào nội bộ của người khác hay giải
quyết vấn đề bằng võ lực. Như vậy mọi sự tranh chấp
sẽ tự nhiên tan biến, chiến tranh sẽ không còn, và xã hội
của chúng ta sẽ được hòa bình và thịnh vượng.
Ðức
Phật dạy rằng vũ trụ vạn vật và chúng ta là một thực
thể trọn vẹn. Nếu tất cả chúng ta đều hiểu điều này
thì sẽ không cần gì phải lo nghĩ về sự ổn định của
xã hội và hòa bình của thế giới. Với sự bắt đầu như
vậy, chúng ta sẽ nhận ra là quả thật tất cả mọi người
khác chính là bản thân ta.
Làm
hại người khác là làm hại chính mình; làm lợi cho người
khác là làm lợi bản thân. Nếu tự cô lập với những ý
tưởng ích kỷ và những hành vi làm lợi cho riêng mình thì
chúng ta sẽ không thể nào tránh được những sự đụng chạm
và những chiến tranh giữa các chủng tộc, tôn giáo, và các
nền văn hóa.
Với
những lời dạy của Ðức Phật, chúng ta được biết về
sự quan trọng của việc thực hành và đề cao tâm từ bi
và bình đẳng. Trong xã hội, mỗi người có một vai trò khác
nhau, nhưng vai trò của mọi người đều quan trọng và cần
thiết như nhau. Không có vị trí tốt hay xấu, cao hay thấp,
mà chỉ có những nhiệm vụ khác nhau.
Trong
phẩm tựa của Kinh Hoa Nghiêm, có giới thiệu hai trăm bảy
mươi lăm nhoùm thuộc các loài sinh linh khác nhau trong ba ngàn
đại thiên thế giới tham dự một cuộc tụ họp. Ðây là
một cuộc tập họp đa văn hóa của các loài thuộc những
thế giới và những tín ngưỡng khác nhau. Ðể giúp chúng
ta đạt được sự hòa hợp này, chư Phật, Bồ Tát đều
trước hết dạy rằng toàn thể vũ trụ là một thực thể
đơn nhất.
Cuốn
Kinh Dịch của Trung Hoa đã có từ ba ngàn năm trước viết
rằng trời và đất, bốn mùa và vạn vật đều được tạo
thành bởi những hạt nhỏ vô cùng. Lão Tử cũng nói rằng
vũ trụ và chúng ta có cùng nguồn gốc, vạn vật và chúng
ta là một thực thể. Như Ðức Phật đã dạy, tất cả chúng
ta có cùng một chân tính.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh có kể một truyện về Ðức Phật và
Ma Vương, hiện thân của tất cả những điều xấu. Ma Vương
là đối thủ mà Ðức Phật đã chiến thắng trong đêm Ðức
Phật thành đạo dưới cội cây Bồ Ðề.
Một
hôm, khi Ðức Phật đang ở trong hang và thị giả của ngài
là Ananda đứng ở ngoài cửa thì Ma Vương xuất hiện. Ananda
kinh ngạc và kêu Ma Vương hãy biến đi, nhưng Ma Vương tiến
tới, bảo ông vào trình với Ðức Phật rằng Ma Vương có
ý tới thăm. Ananda nói với Ma Vương: "Ngươi tới đây làm
gì? Ngươi không nhớ là Ðức Phật đã đánh bại ngươi ở
dưới gốc bồ đề hay sao? Ngươi không biết hổ thẹn hay
sao mà còn đến đây làm gì ? Ðức Phật sẽ không gặp ngươi
đâu. Ngươi là ma qủy. Ngươi là kẻ đối nghịch của ngài”
Khi
nghe Ananda nói như vậy, Ma Vương cười rồi hỏi: "Ông có
muốn nói là thầy của ông đã nói với ông “rằng ông ta
có kẻ thù địch hay không?"
Tôn
giả Ananda không nói được gì cả, và phải đi trình với
Ðức Phật là có Ma Vương tới thăm, chỉ mong Ðức Phật
sẽ bảo: "Ra nói với Ma Vương là ta không có ở đây. Cứ
nói là ta đang bận việc". Nhưng Ðức Phật không bảo như
vậy, mà ngài rất vui khi nghe ông bạn cũ Ma Vương tới thăm
mình. Ngài nói: Thật không? Ông ta tới đây thật hả?" Rồi
ngài đi ra gặp Ma Vương, cúi chào và nắm tay y một cách thân
mật. Ngài nói: "Chào ông! Hồi này ra sao? Mọi việc đều
tốt đẹp cả chứ?"
Ma
Vương không nói gì cả, vì vậy Ðức Phật đưa y vào trong
hang, mời y ngồi, rồi bảo tôn giả Ananda đi pha trà. Ananda
đi ra ngoài nhưng vẫn để ý nghe ngóng hai người nói chuyện.
Ðức Phật lại thân mật hỏi: "Hồi này ra sao? Công việc
của ông tới đâu rồi?"
Ma
Vương đáp: "Mọi việc không được tốt lắm. Tôi cảm thấy
chán làm Ma Vương rồi. Chỉ muốn làm một việc gì khác.
Ông cũng biết là làm Ma Vương không phải dễ. Khi nói thì
phải nói theo kiểu câu đố. Khi làm thì phải làm theo kiểu
maùnh mung và phải có vẻ gian ác. Sự thật là tôi thấy chán
tất cả. Nhưng cái mà tôi ngán nhất chính là bọn đệ tử
của tôi. Hồi này chúng nó toàn nói tới bất công, hòa bình,
bình đẳng, giải phóng, với lại bất bạo động. Nghe mà
phát ngán. Có lẽ tôi nên giao hết tụi nó cho Ngài. Tôi muốn
làm việc khác".
Ðức
Phật lắng nghe và rất thông cảm với Ma Vương. Sau cùng ngài
ôn tồn nói: "Như vậy ông tưởng làm Phật là vui lắm hay
sao? Ông không biết là các đệ tử của tôi đã làm những
chuyện gì. Họ gán cho tôi những lời mà tôi chưa bao giờ
nói. Họ xây những cái chùa lòe loẹt rồi đặt những bức
tượng của tôi lên bàn thờ để oản và chuối; để họ
hưởng, chứ tôi nào có đụng vào mấy thứ đó. Rồi họ
đóng gói tôi, biến giáo lý của tôi thành món hàng thương
mại. Nếu ông biết làm Phật thật sự là như thế nào thì
chắc chắn ông sẽ không muốn làm Phật nữa”.
Một
trong những điều mà Ðức Phật và Ma Vương nói tới là tính
vị kỷ. Do vị kỷ mà chúng ta sẵn sàng làm hại người khác
để làm lợi cho mình. Tư tưởng vị kỷ gây ra tranh chấp
giữa mọi người, giữa những gia đình, và giữa những quốc
gia. Sự vị kỷ là nguyên nhân chính yếu của những tai họa
tự nhiên cũng như những tai họa do con người gây ra. Khi quan
sát thế giới, có thể chúng ta sẽ thắc mắc là vì đâu
có những tai họa mỗi lúc mỗi gia tăng này. Nguyên nhân là
tính vị kỷ mỗi lúc mỗi gia tăng của chúng ta. Như Ðức
Phật đã dạy, tất cả đều là hậu quả của vô minh, mê
muội, và tà kiến.
Nếu
so sánh một cái cây với vũ trụ, những chiếc lá là những
cá nhân, chúng ta sẽ thấy lá cây tuy khác nhau nhưng thật
ra là một thành phần của toàn thể cái cây, cũng như mỗi
cá nhân là một thành phần của toàn thể vũ trụ. Khi phân
biệt mình với người khác, chúng ta đã tạo ra những rào
cản và những sự tranh chấp. Toàn thể chúng ta là một thực
thể, cũng giống như lá cành, thân, và rễ của cái cây là
một thực thể.
Khi
chúng ta hiểu như vậy, mọi sự tranh chấp sẽ tan biến, từ
bi tự nhiên sẽ xuất hiện, và chúng ta sẽ nghĩ tới người
khác như nghĩ tới bản thân. Chúng ta có thể giúp việc giáo
dục mọi người không tham muốn hay chấp thủ mà biết vui
hưởng hạnh phúc một cách an nhiên, tự tại. Nếu chúng ta
không đủ sức để cứu độ toàn thể chúng sinh trong vũ
trụ thì chúng ta cũng có thể hướng dẫn mọi người trên
thế giới này.
Là
đệ tử của Ðức Phật, chúng ta có bổn phận truyền bá
giáo lý Phật Giáo một cách đúng đắn để hướng dẫn chúng
sinh. Có những người căn cơ cao có thể dễ dàng chấp nhận
giáo lý. Mà cũng có những người căn cơ thấp không hiểu
giáo lý, dù chúng ta có ra sức giảng giải nhiều bao nhiêu.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng không nên phê phán người khác, mà
nên xét xem cách trình bày Giáo Pháp của mình có đúng hay
không, phương pháp truyền bá của mình có khéo léo hay không.
Trong việc hướng dẫn người khác chúng ta cần phải biết
chọn những cách nào thích hợp với lối sống và trình độ
của hoï.
Ở
đây, vấn đề quan trọng nhất là không có sự thành tâm.
Tâm trí của chúng ta có thể thiếu chân thành. Nếu có sự
chân thành thì chúng ta có thể xuyên phá được cả đá cứng,
có thể cảm động được người khác và do đoù có thể
giúp cho họ học giáo lý của Ðức Phật. Nhưng chúng ta không
thể thay đổi niềm tin tôn giáo của người khác mà cũng
không nên tìm cách làm như vậy. Có một người đồng đạo
nói với Hòa Thượng Tịnh Không rằng người ta đã hỏi ông
về cách làm cho những người Gia Tô giáo trở thành Phật
tử, nhưng Hòa Thượng và ông ta đều quyết định việc làm
này là sai lầm. Ngược lại, chúng ta cần phải giúp tín đồ
Gia Tô giáo trở thành người Gia Tô giáo tốt, tín đồ Hồi
giáo trở thành trở thành người Hồi giáo tốt, tín đồ
Ấn giáo trở thành người Ấn giáo tốt. Làm sao chúng ta có
thể biến một người Gia Tô giáo thành đệ tử Phật?
Làm sao chúng ta có thể hủy diệt được niềm tin tôn giáo
của người khác? Làm sao chúng ta có thể phản đối những
gì mà cha mẹ của họ đã dạy họ? Làm như vậy là sai lầm.
Còn nếu chúng ta khuyến khích những người Gia Tô giáo, những
người Hồi giáo, những người Ấn giáo đó trở thành những
Bồ Tát giúp đỡ chúng sinh thì như vậy là chúng ta làm điều
tốt. Chúng ta không thể giúp đỡ người khác bằng cách thay
đổi niềm tin tôn giáo của họ. Phật giáo là một nền giáo
dục minh triết có khả năng giúp mọi người hiểu chân lý
của đời sống và vũ trụ. Mọi người cần phải hiểu chân
lý, nhưng không cần phải thay đổi niềm tin tôn giáo để
có thể hiểu chân lý.
Chúng
ta không thể yêu cầu người khác bỏ niềm tin của họ, phản
lại cha mẹ và thần thánh của họ. Phật giáo không thể
phá bỏ phong tục và tập quán của thế gian này. Nếu chúng
ta biến người khác thành người của Phật giáo, có nghĩa
là chúng ta hủy diệt đạo pháp. Xin hiểu rằng Phật giáo
không phải là một tôn giáo. Phật giáo là một nền giáo
dục, và chúng ta là những học trò của Ðức Phật. Chúng
ta không phải là những tín đồ tôn giáo.
Kinh
Hoa Nghiêm có nói về một nhà lãnh đạo tôn giáo người Bà
La Môn. Thật ra vị này là một Bồ Tát thị hiện như một
tu sĩ để hóa độ chúng sinh. Nếu một vị Bồ Tát muốn
giúp đỡ người Gia Tô giáo, ngài sẽ xuất hiện như một
nhà lãnh đạo Gia Tô giáo, ngài có thể xuất hiện như một
nhà lãnh tụ của Hồi giáo. Bằng cách như vậy, các vị Bồ
Tát có thể hướng dẫn mọi người trở thành những công
dân tốt.
Nhưng
nếu chúng ta có đầu óc chật hẹp, phân biệt tôn giáo theo
kiểu "đạo của tôi tốt hơn đạo của anh", là hoàn toàn
sai lầm, bởi vì với lối nghĩ như vậy chúng ta sẽ không
thể giải quyết được những vấn đề chung của mọi người,
mà chỉ gây thêm bất hòa và tranh chấp. Ðức Phật đã dùng
bốn nguyên tắc đeå giúp đỡ người khác, trong đó đáng
kể nhất là làm cho người khác được vui, vì nếu người
khác không vui với chúng ta thì chúng ta sẽ không có mối liên
hệ tốt với họ. Nếu muốn giúp đỡ người khác, chúng
ta cần phải có liên hệ tốt để họ dễ chấp nhận những
gì chúng ta trình bày.
Trong
tiệc Từ Thiện mừng năm mới, có hơn ba ngàn vị khách thuộc
các tôn giáo và các nền văn hóa khác nhau. Chúng ta cũng dự
tiệc với nhau nhưng lại dùng những món ăn khác nhau. Trong
khi chúng ta dùng đồ chay thì các vị khách người Mã Lai dùng
những món hợp với khẩu vị của họ. Chúng ta mời họ những
món ăn mà họ thích và đã quen dùng. Chúng ta không mong họ
ăn giống như mình.
Ðeå
giúp đỡ người khác, để mang lại sự yên lành và hòa bình
cho thế giới, chúng ta cần phải hiểu rõ về người khác,
cần phải biết họ là ai, họ thích cái gì và không thích
cái gì. Như vậy chúng ta sẽ biết cách tôn trọng tập quán
và ý hướng của họ. Chúng ta phải cho thấy là mình quan
tâm và có lòng từ bi đối với tất cả mọi người. Chúng
ta nên tìm hiểu giáo lý của tất cả những tôn giáo khác.
Khi đó chúng ta sẽ có thể nói về Phật giáo cho người khác,
nếu họ muốn biết. Chúng ta sẽ phạm sai lầm khi muốn người
khác từ bỏ tín ngưỡng của họ. Vì vậy, chúng ta cần phải
biết quan tâm tới ý tưởng của người khác, tìm cách giúp
họ đạt được mục đích mà họ đã nhắm tới, đáp ứng
nhu cầu của họ, giúp họ truyền bá tôn giáo của chính họ.
Như vậy họ sẽ vui lòng và mãn nguyện.
Mới
đây, khi viếng thăm những viện dưỡng lão và nhà nuôi trẻ
của người Hồi giáo và Ấn giáo, chúng ta đã tặng họ thực
phẩm và giúp họ về tài chánh. Chúng ta làm như vậy vì chúng
ta có khả năng và vì tất cả mọi người là một. Chúng
ta phải biết hợp tác với nhau, bởi vì nếu có sự giao tiếp
tốt đẹp, chúng ta sẽ thiết lập và phát triển được mối
liên hệ lâu bền.
Ðể
thực hiện điều này, chúng ta thực hành hạnh bố thí, một
trong sáu Ba la mật tức sáu hạnh hoàn hảo của bậc Bồ Tát.
Bố thí có ba loại là: bố thí tài vật, bố thí giáo pháp,
và bố thí sự vô úy. Loại bố thí cao nhất là bố thí giáo
pháp với những lời nói tử tế. Khi quan tâm tới người
khác và nói chuyện với họ, chúng ta dùng những lời từ
bi, nhưng không phải là những lời ngọt ngào mà rỗng tuếch.
Chúng ta dùng những lời nói cho thấy mình thành thực quan
tâm tới người khác.
Ðiều
kế tiếp là chúng ta làm việc cùng với người khác. Thí
dụ, hoạt động kế tiếp mà chúng ta dã dự định là tổ
chức một đại hội đa văn hóa và đa chủng tộc. Dựa theo
Kinh Hoa Nghiêm, vốn là pháp môn chân chính đa văn hóa, là
thế giới đích thực có tính chất chân, thiện, mỹ, và đức
hạnh. Tịnh Ðộ Tây Phương và Thế giới Hoa Tạng sống trong
bầu không khí đa văn hóa mỗi ngày.
Trong
Phật giáo, khi học được điều gì giá trị, chúng ta phải
thực hành điều đó ngay. Vậy, chúng ta phải đưa giáo pháp
vào thực hành. Chúng ta phải thành tâm giúp chúng sinh trở
thành Phật và Bồ Tát. Coù sự đồng nhất trong sự đa tạp,
và có sự đa tạp trong sự đồng nhất. Vậy, trong sự đồng
nhất, tất cả chúng ta chia sẻ sự minh triết và những giáo
lý chung. Sự đồng nhất không gây hại cho sự đa tạp, và
sự đa tạp không làm hại sự đồng nhất. Hai điều này
cộng lại là vẻ đẹp, hạnh phúc, và sự hòa hợp đích
thực.
Là
những người bình thường, chúng ta rất hay làm một việc
sai lầm là cưỡng bách người khác phải giống như mình.
Chúng ta phải bỏ ý muốn kiểm soát và điều khiển người
khác, coi người khác là thuộc quyền sở hữu của mình. Chỉ
có như vậy chúng ta mới có thể tham dự đại hội của chư
Phật, Bồ Tát. Nếu vẫn còn ý định kiểm soát người khác,
chúng ta sẽ vẫn còn lăn trôi sinh tử trong sáu cõi luân hồi,
không thể nhập vào cõi Phật. Khi sống với chư Phật, chúng
ta sẽ biết sống hòa hợp với những thuộc tất cả các
nền văn hóa, các chủng tộc và các tôn giáo. Hiện tại chúng
ta thấy có những mâu thuẫn và nhiều chiến tranh trên khắp
thế giới. Tại sao loài người chúng ta lại thù ghét nhau
đánh giết lẫn nhau? Tại vì chúng ta thấy có những nền
văn hóa và những tín ngưỡng khác nhau, nhưng làm sao chúng
ta có thể nghĩ rằng chiến tranh sẽ giải quyết những vấn
đề của loài người?
Ðức
Phật đã từ bỏ đời sống xa hoa của bậc vua chúa để
làm một tu sĩ. Ngài là một hoàng tử nhưng ngài nhận thấy
rằng mình không thể đạt an lạc bằng cách hoạt động chính
trị. Ngài là một chiến sĩ giỏi, nhưng ngài biết rằng mình
không thể đạt được an lạc thật sự bằng chiến tranh.
Ngài là một nhà lãnh đạo có tài, nhưng ngài biết rằng
mình không thể đạt được an lạc thật sự bằng kinh tế.
Ngài là một học giả có khả năng, nhưng ngài biết rằng
mình không thể đạt được an lạc thật sự bằng khoa học.
Ngài biết rằng chỉ bằng giáo dục và tri kiến chân chính
thì mình mới có thể đạt an lạc, và vì vậy ngài trở thành
một bậc thầy.
Chỉ
bằng giáo dục chúng ta mới có thể thực sự giải quyết
được những vấn đề của thế giới. Chỉ bằng cách hợp
tác để dựng xây những mục tiêu chung, chúng ta mới có theå
đạt được hòa bình và hòa hợp. Chỉ bằng việc giúp đỡ
lẫn nhau chúng ta mới có thể cùng nhau sống trong thịnh vượng,
và chỉ khi nào đạt được sự đồng ý kiến thì chúng ta
mới có thể giải trừ được những tai họa đang tiến tơùi
gần.
Nếu
làm được như vậy, chúng ta sẽ thực sự đạt được sự
hợp nhất bất nhị giữa mình và người khác. Lúc đó chúng
ta sẽ hiểu rằng tất cả mọi người đều liên quan với
nhau, và là một. Chúng ta sẽ hiểu rằng vũ trụ là một đại
gia đình lý tưởng, và tất cả các nhóm khác nhau chính là
một nền văn hóa đa dạng. Khi chúng ta có đầu óc rộng rãi
như vậy, mọi sự tranh chấp giữa người khác và chúng ta
sẽ không còn. Những người nào có đầu óc quảng đại và
hiểu biết này là những bậc giác ngộ giống như các vị
Phật và các vị Bồ Tát vậy. Những người như vậy không
còn có ý muốn điều khiển người khác nữa. Họ đã loại
bỏ tính vị kỷ và ganh tị. Họ không còn tham muốn và bám
giữ về mặt tình cảm nữa. Họ không đổ lỗi cho người
khác khi gặp vấn đề khó khăn. Họ không nghĩ tới phước
báo cho mình, và không còn những ý nghĩ vị kỷ. Họ hiểu
rằng tất cả mọi sinh linh và mọi vật trong vũ trụ
đều chịu sự chi phối của luật nhân quả. Họ hiểu rằng
mọi hành động đều sinh ra nghiệp quả. Họ hiểu rằng chính
mình chịu trách nhiệm cho tất cả những gì xảy ra cho mình.
Họ hiểu rằng tất cả đều là ảo ảnh, không có gì để
nắm giữ, không có gì để được hay mất.
Tất
cả những nguyên tắc và những pháp môn mà Ðức Phật đã
dạy đều hợp lý và thực tế. Giáo lý của ngài là một
kho tàng quý báu của loài người, là tinh túy của các neàn
văn hóa thế tục cũng như các nền văn hóa tôn giáo của
chúng ta. Trí huệ Phật là sự hoàn hảo của vũ trụ, có
thể khả năng giải quyết một cách hoàn hảo tất cả những
vấn đề của chúng ta.
Chúng
ta cần phải thực hành lòng tốt và sự hiền từ với người
khác và không vị kỷ. Chúng ta cần phải nhập vào trạng
thái an lạc và thanh tịnh của bậc giác ngộ. Khi làm như
vậy, chúng ta sẽ mang lại sự hiểu biết, sự thức tỉnh,
và hòa bình đích thực cho thế giới cũng như cho toàn thể
vũ trụ.
(Theo
tài liệu của TT Wu Ling, đệ tử của HT Tịnh Không)
Volume
V
THE
IMMUTABILTY OF CAUSE AND EFFECT
by
Venerable Wu Lin
Respected
Dharma Masters, respected practitioners and guests. Over the past few hundred
years, the face of Buddhism has undergone several changes. First, it began
to be regarded by some as a religion. Then, it was looked upon as a philosophy.
Some even twisted it almost beyond recognition until it became more of
a cult. And recently it has come to be portrayed by some as a show.
Some
of these misunderstandings have been honest ones, often occurring as people
have tried to understand and respect the teachings. Some of these misunderstandings
occurred as people strove to benefit themselves at the expense of others.
If we want to really understand and benefit from Buddhism, we need to go
back to its original form.
Approximately
two thousand years ago, in 67 AD, Buddhism officially came to China and
since then, has spread and flourished throughout the country. The Emperor
had sent special envoys to India to invite Buddhist monks to come to China
to teach Buddhism, which at that time was understood to be an education.
The
sutras, recorded teachings of Buddha Shakyamuni, address him as our “Original
Teacher”. Those who listened to him were called students, which is what
we call ourselves today. This teacher-student relationship is only found
in education. Another reason that Buddhism is an education is also to be
found in the sutras, where we learn that the students would ask questions
of the Buddha, who would then answer them. If the students did not thoroughly
understand, or thought that we would not thoroughly understand, they would
ask for further clarification, which the Buddha would provide. This is
essentially a classroom discussion. Please understand that Buddha Shakyamuni
simply taught. He conducted neither ceremonies or rites.
Buddhism
is Buddha Shakyamuni’s educational system, which is similar to that of
Confucius for both presented similar viewpoints and methods. The goal of
Buddhist education is to attain wisdom. In Sanskrit, the language of ancient
India, this wisdom was called “Anuttara-smyak-sambhodi” meaning the
perfect complete wisdom. The Buddha taught us that the main objective of
our learning and cultivation is to achieve this ultimate wisdom.
He
further taught us that everyone has the potential to realize this state
of ultimate wisdom, because it is an intrinsic part of our nature. It is
not something we can obtain externally. However, most of us have become
confused through general misconceptions and therefore, are unable to realize
this potential. However, if we can break through this confusion, we will
realize this intrinsic part of our nature. Thus, Buddhism is an educational
system aimed at regaining our own original, intrinsic self-nature.
It
also teaches absolute equality, which stemmed from the Buddha’s recognition
that all sentient beings possess this innate wisdom and nature. Therefore,
there really is no inherent difference among beings. Everyone is different
now because we have lost our true nature and have become confused. The
degree of wisdom exhibited by individuals depends on the degree of delusion
and has nothing to do with the original true nature of the individual.
The Buddha’s teachings help us to realize this innate, perfect, ultimate
wisdom. With this wisdom, we can solve all of our problems and turn our
suffering into happiness.
Due
to our lack of wisdom, we perceive and behave foolishly, and thus suffer
the consequences evoked by our incorrect thoughts, speech and behaviour.
If we have wisdom, our thoughts, speech and behaviour will be correct;
how then can we suffer where there are no ill consequences to suffer from?
Of course, we will be happy. From here, we can see that suffering is caused
by our delusion and the source of happiness is our own realization of wisdom.
The
Buddha’s educational system can also be witnessed today in lecture hall,
in which we can see many teaching aids. When we enter the hall or classroom,
we see the image of a Buddha, which symbolizes our original self-nature.
We may see a container of water on the Buddha table. The clear water symbolizes
the principle that our minds need to be as pure as the water; to be void
of greed, anger and ignorance. It is calm without a single ripple indicating
that we interact with people and matters with the serene and non-discriminating
mind of equality. Furthermore, it is pure and calm, reflecting clearly
and thoroughly just as we would see everything around us in a mirror.
Offerings
of flowers symbolize the cause as the blossoms result in the bearing of
fruit, reminding us that there are consequences to our every thought, word
and action. Lamps or candles symbolize wisdom and brightness illuminating
the darkness of our ignorance. The images of lotus flowers symbolize transcending
the ten realms of existence. First, it rises through the mud at the bottom
of the pond, which symbolizes the six realms of birth and death. Then it
rises through the water, which symbolizes the four sage realms. Finally,
it breaks through the surface of the water completely transcending the
ten realms, reaching the one true Dharma realm, the stage of ultimate enlightenment.
The
lotus flower teaches us that although we live in the world, we should not
become polluted by our surroundings. The lotus flower above the water symbolizes
that one day, all beings, from those in the hell realms to those who are
Bodhisattvas, will become Buddha’s; beings with perfect complete enlightenment.
The Buddha realm exceeds the ten realms and to become a Buddha is the ultimate
goal of our teachings. So, when we see the lotus flower, we are reminded
to practice the teachings as well as to transcend the ten realms.
Today,
when we see images of Buddha Shakyamuni, we are reminded that we need to
feel gratitude for his forty-nine years of teaching. The Buddha, a voluntary
social educator, dedicated his whole life to teaching us how to cut off
our afflictions to attain perfect complete wisdom and true happiness. He
was an ordinary person who saw the sufferings of birth, old age, sickness
and death, but did not know how to solve these problems. He was deluded
but became awakened. He learned, through cultivation, the truth of life
and the universe and then taught us how to become awakened by using himself
as an example so that we could learn from his experiences. So, that we
too can become awakened and thus live happy and fulfilling lives.
In
the world today there are many beliefs, religions and cultures, manu different
viewpoints of how to explain our world and our relationship to it. But
although we seem to have so many differences, we really have so many similarities.
Do not kill, do not steal, do not lie. Do all that is good and nothing
that is bad. Do unto others as you would have done unto you. Remember the
kindness of others and repay the kindness with gratitude.
Whether
we call it caring for and respecting others or loving kindness or compassion,
we believe in helping others, in giving of what we have or who we are,
to those who need our help or our wisdom. Today, many people are searching
for wisdom, for the understanding of why we are born, why we live and why
we die. We are compelled by conflicting emotions. We are compelled by logic.
When we hear of other beliefs the feelings of many people range from fear
to curiosity, from surprise to fascination, from suspicion to cooperation.
Everywhere
we look we see societies with greater diverse cultures, societies with
more differences, societies that often emphasize these differences. Today
many people look outside of themselves, to these differences, believing
that they are the reason why so many are so unhappy. But the reason lies
within us. As human beings, we undergo the sufferings of birth, old age,
sickness and death. We suffer hardships, do not attain what we seek, are
parted from our loved ones and find ourselves in the presence of those
whom we resent or even hate. The failure of people to understand the real
cause of their unhappiness, their suffering is increasing this very suffering.
We
all know people who regularly have to take tranquilizers to be able to
sleep. Why? They feel their lives are out of control. They wish to control
other people and to possess more things. Fifty years ago, people had time
to appreciate nature, time to study the works of wise people. Today we
have no time for nature, no time for contemplation. Our lives are much
more comfortable than were those of our predecessors but we have virtually
no spiritual life. So, we search for excitement or take pills o paralyse
our feelings, to cover our inability to cope with life.
How
can we fix this? Reduce our time at work, at play. With purity of mind,
we will need less. Our lives are wasted in our attempts to attain things.
We brought nothing into this life. We will take nothing when we leave it.
What we need is a simple manner of living. Buddha Shakyamuni lived a simple
life with merely the essentials; one meal a day, three clothes, sleeping
under a tree at night, yet he lived a happy, content life.
By
following his example and living a simple lifestyle we can reduce our attachments
and likewise lead contented lives. Work one year, take off one year. A
simple manner of living brings us happiness and serenity. If we do not
attach to giving or receiving, we will enter the awakened being’s state
of quiet joy, tranquillity, serenity, gentleness.
How
can we change the direction in which we are headed? By learning how to
overcome our greed, anger, ignorance and arrogance so that our minds will
no longer be deluded by awakened. By understanding the Law of Cause and
Effect. It has been said that Bodhisattvas, who are beings who help others
to reach realization after achieving their own, fear causes while sentient
beings fear effects. Understanding this as they do, Bodhisattvas fear committing
ill effects and therefore, they take steps to avoid creating all negative
causes. In so doing, they eradicate the debts; the karmic obstacles generated
from their previous wrongdoings as well as accumulate perfect merits and
virtues until they reach the state of Buddhahood.
Whether
worldly dharma, which includes things, events, phenomena, everything of
this world, or Buddha Dharma, which is the teaching of the Buddhas; nothing
is beyond the Law of Cause and Effect. It is said that everything is empty
and unreal, an eternally impermanent element. But the Law of Cause and
Effect is unchangeable and real, an eternally permanent element.
Both
cause and effect are closely related as they co-exist mutually. A causal
action becomes a consequential effect and this effect in turn gives rise
to another causal action. From this endless cycle, we can see that a particular
causal action is not fixed. Neither is a single effect the only effect.
The combination of cause and effect forms a vicious cycle, the cycle of
reincarnation.
A Bodhisattva
is an awakened, understanding being and is therefore well aware that every
single causal action produces an effect. Because of this, they are very
cautious in their every thought, word and action. Fearful that a causal
action will become a negative karmic effect in the future. For they will
certainly have to personally bear the consequences.
Unlike
Bodhisattvas, sentient beings do not understand the principles and the
realities of life. The little knowledge we may have is limited and vague,
far from complete. Consequently, we carelessly commit causal actions and
do not understand, when the effects occur later, why they happened. It
is then too late for us to regret. And for most of us, not only do we not
feel remorse, but also we blame others for our misfortune. This in turn
creates more bad effects. Cause and effect is constantly being played out
all around us. If we are unable to connect the occurrences, it is because
we are not mindful, rather we are rash and careless, not yet truly understanding.
Regardless
of the method we practice, the method of practicing Buddha name recitation
while seeking birth into the Western Pure Land, adheres to the Law of Cause
and Effect. For our own sake, we do not want to not create any more bad
deeds or causes, to only cultivate kind deeds, which is what ancient masters,
sages and the patriarchs tired so hard to encourage us to do.
The
Pure Land method allows us to carry our existing karma to the Western Pure
Land. However, it is crucial that we understand that existing karma refers
to the “old” and not the “new”. This “new” existing karma,
which is created in the present, cannot be brought to the Pure Land. Actually,
this new karma will be one of the impediments obstructing us from reaching
the Pure Land. Carrying over our “old” existing karma means carrying
over the negative karma that was created before we began to learn and practice
Buddhism.
With
this understanding, we must resolve not to create any more negative karma.
Only then can we be totally liberated. It would be wrong to think that
we can still be born in the Pure Land even if we continue to do bad deeds,
that chanting alone will be enough. It has been said that out of ten thousand
people, who practice the Buddha Name Recitation Method, only a handful
are able to obtain birth into the Pure Land. Why? They did not stop creating
negative karma in the present lifetime. In the end, regardless of all their
chanting they were unable to obtain birth into the Pure Land. They still
bore their consequences in the six realms of reincarnation. It is crucial
that we understand this.
To
practice Buddhism, we need to bring forth the Bodhi mind. What is the Bodhi
mind? The awakened mind. The mind that clearly understands the principles
and true reality of life and the universe. The great, compassionate mind,
with every thought to attain complete realization for self and to help
all others to do so as well. The mind with perfect determination to cease
committing all wrongdoings, to cultivate only kind deeds, to practice only
virtuous ways.
The
great compassionate and sincere Bodhi Mind is to offer without selfishness.
It is a mind without self-regard. The mind with no expectation of reward.
With this mind, we will be able to care for all beings as we are for ourselves,
for our family. Practicing with this Bodhi mind our karmic debts can be
eradicated. The Buddha has explained it in this manner so that we are able
to understand.
In
truth, our karmic debts cannot be eradicated but can only be transformed
into good fortune, which is happiness, intelligence, wellbeing, prosperity,
etc. It is the great benefit of the human and celestial realms, therefore,
it is only temporary and still subject to birth and death. However, transformation
is equivalent to elimination to transform our afflictions into the Bodhi
mind. It is to transform the cycle of birth and death into the state of
Nirvana. In the process of transformation, our merits and virtues become
flawless and reach completion as we attain Buddhahood, the ultimate perfection.
In
the Flower Adornment Sutra, the Buddha tells us that all sentient beings
inherently possess the virtuous abilities and innate wisdom of the Buddhas.
In other words, all sentient beings have the same Buddha nature, the same
self-nature, our original, true self that we still have, but which is currently
obstructed, currently covered by our deluded thoughts, our wandering and
discriminatory thoughts and attachments. But this
original self-nature is not permanently lost. To uncover this original
nature is to attain Buddhahood. To attain the state of perfect and faultless
wisdom. Our virtues, talents, abilities and good fortune are also perfect.
Thus, when our every aspect is perfect, we become Buddhas.
Why
then are we presently leading such difficult lives? Because of wandering
and discriminatory thoughts, attachments: afflictions. Afflictions are
all the conditions that cause pain; distress and suffering which disturb
the body and mind. Attachments are fixations to certain ideas or objects.
They result in our having desires, having strong feelings of selfishness
and jealousy, having the longing to control, the longing to possess others.
Because of these we dwell on thoughts of what has occurred, what we have
remembered, what we have imagined. We are led by these thoughts, unable
to stop them.
It
is crucial that we cease these attachments, which have made us sad or angry,
those that have caused us to have strong emotions for due to these attachments,
we cannot stop thinking of ourselves, of what we want. What can we do?
As ordinary people, we are still subject to thoughts and feelings of attachment.
So, as soon as these thoughts arise, replace them with the “Amituofo”.
As the next thought arises, again replace it with the single thought of
“Amituofo”. In this way, we can practice anywhere, anytime.
The
Buddhas taught us that the universe is generated from our wandering and
discriminatory thoughts, is created from our attachments. These obstacles
represent false beliefs and wrong viewpoints and have created the forty-one
Dharma Body Bodhisattva stages of enlightenment. Why are there different
levels? They manifest from our different degrees of ignorance and wandering
thoughts.
Where
do the Ten Dharma Realms come from? They appear due to the lack of equality,
from our discriminatory thoughts. When we harbour one single differentiating
thought against other beings, matters or objects, then the Ten Dharma Realms
will appear. The highest of these are the Four Sage Realms of Sound-hearer,
Pratyekabuddha, Bodhisattva and Buddha.
When
we cling to attachments, the Six Realms of Reincarnation of the heavens,
asuras, humans and animals, hungry ghosts and hells will appear. And, as
our attachments increase, the Three Evil Realms, being the lower of the
realms will appear. Finally, when our attachments are the most serious
and tenacious, the hell realms will appear. Why are we unable to transcend
the cycle of birth and death? Unable to sever our karmic obstacles? Not
only do we not yet want to correct our faults; we are constantly increasing
them.
How
then do we rid ourselves of these deluded and illusory thoughts to uncover
the original capabilities and virtues of our self-nature? The only way
is by letting go of our wandering and discriminatory thoughts, and attachments.
When we have eliminated all of these, we will not only overcome the cycle
of birth and death in the Six Realms but will surpass the Ten Dharma Realms
as well. And when this happens, we will dwell in the One True Dharma Realm,
the state of the Buddhas. And it is within this reality that the Law of
Cause and Effect lies.
Wandering
and discriminatory thoughts and attachments are causes. Greed and anger
and ignorance are causes. The Ten Dharma Realms, comprised of the Four
Sage Realms and the Six Realms of Reincarnation, are effects. Since wandering
and discriminatory thoughts and attachments generate negative karma, they
ought to be eliminated so that our merits and virtues can then be perfect
and complete. Cultivating a non-discriminatory mind provides the serenity
for practitioners to let go of afflictions. But, it is difficult for most
of us to let go due to our sentimental attachments, due to the injustices
we feel we have suffered and the grudges we thus hold.
However,
feeling this way only puts us at more of a disadvantage because then we
suffer the consequences of our grudges. Inequalities exist in this world
because of our discriminatory minds. Ordinary people only think in terms
of the four forms explained in the Diamond Sutra. “Self, people, other
beings and time”. If we do not think in terms of these four forms, then
we will break through our afflictions with the strength from our cultivation.
Therefore, when we generate emotions we need to remind ourselves of these
four forms and remember that they are only an illusion. When we do this,
we will be truly happy, according with conditions and being joyful in the
good deeds of others.
The
accumulation of merits depends on our cultivation. What is this cultivation?
The ability to let go of wandering and discriminatory thoughts, to let
go of attachments, to correct our erroneous thoughts and ways. What are
virtues? Virtues arise from having accomplished deep concentration, wisdom
and the One True Dharma Realm. It is therefore important to understand
the meaning of merits and virtues. For the attainment of beneficial merits
and virtues is the perfect attainment of Buddhahood.
The
merits and virtues bestowed upon the highest levels of Bodhisattvas are
not yet perfect. Why? Because they have chosen not to break through the
last remaining degree of the illusion of phenomenal existence. They have
not relinquished the thinnest shred, the last degree of wandering thoughts
and this is why their merits and virtues are not yet perfect. Upon breaking
through this last degree of illusion, of ignorance, their merits and virtues
will be the perfect completeness, which manifests the attainment of Buddhahood.
Sentient
beings commit wrongdoings due to deluded minds and deviated viewpoints.
When interacting with people, maters and affairs, we usually act from greed,
anger, arrogance, from selfishness, from the wish to be in control of our
surroundings. Therefore, to go along with our true nature, we need to give
up trying to control and dominate others, to replace thoughts of ourselves
with thoughts of all others. Then our purity of mind will increase and
our afflictions will decrease. If we achieve this state of mind, we would
do well to help others to achieve it as well.
But
as long as we still have these thoughts of greed, anger, arrogance, the
wish to control others, we still have the causes that will generate our
birth into the Three Bad Realms of animals, hungry ghosts and hells. Why
are we born into the animal realms? Ignorance. Greed is the reason we are
born into the hungry ghost realms. And anger is the cause of our birth
into the hell realms.
There
is no way to avoid the effects of negative karma once the wrongdoing has
been committed. We ourselves have to bear the consequences, the retribution
arising from our misdeeds. No person, god or Buddha can help to reduce
our suffering or bear the karmic effects on our behalf. They have neither
the authority nor the power to do so. The reality is that we alone must
suffer the consequences of our misdeeds. To hope otherwise is like trying
to run away from our own shadow. In doing so, we will just perpetrate more
wrong conduct.
There
are many instances evidencing this phenomenon. Take the example of an ignorant
person. Having done a small good deed, he or she hopes to obtain good fortune.
This is wishful thinking, wistful dreaming. It is true that we will receive
good fortune after doing a virtuous deed. However, such good fortune may
not show itself immediately. Why? Because our transgressions are too heavy
to be compensated by just one small virtuous deed.
Not
understanding this, when things do not go well, we begin to doubt the teachings
and question why the Buddha’s words are not true? Why do I do good deeds
and receive misfortune when others commit wrongdoings and obtain good fortune?
We then begin to doubt the Law of Cause and Effect. Consequently, we begin
to doubt and inadvertently slander the teachings of the Buddhas. But by
so doing, we further increase the severity of our wrongdoings.
There
are three aspects of a karmic effect. First, good fortune arising from
kind deeds or suffering arising from misdeeds may manifest within the present
lifetime. Second, the respective karmic effects may not manifest within
the present lifetime but in the next lifetime. Third, such karmic effects
may not manifest until the third lifetime or they may not show up until
after innumerable lifetimes. So, causal actions do not give rise to various
karmic effects, we just cannot be certain when they will appear.
Under
what circumstances would these karmic effects take effect? Good or bad
karmic results can only be brought about by the existence of a catalystic
condition or circumstance. If the appropriate condition matures in the
present lifetime, the respective karmic effect will then manifest itself
within the present life time. Hence, the first aspect of a karmic effect.
Similarly,
should the catalystic condition mature in the next lifetime, the karmic
effect will manifest itself then. Hence, the second aspect of a karmic
effect. Finally, should the condition fail to arise after numerous lifetimes,
the karmic cause can never be eradicated. Perhaps after the passing of
immeasurable eons, the catalystic condition may finally arise and then
the karmic effect will manifest itself.
Take
for example, a story told by the Buddha in the Lotus Sutra. An old man
had requested to become a monk. For this to happen, one needed to have
good roots, good fortune, virtues and the right conditions. At that time,
all those who became monks under Buddha Shakyamuni’s guidance achieved
attainment. Buddha Shakyamuni tested his student’s ability by asking
them to decide whether to accept the old man as a monk. All of the students
were Arhats and thus, were capable of knowing a person’s past five hundred
lifetimes. They doomed the old man as a prospect, because they thought
that he had not planted the good roots within those lifetimes.
But,
Buddha Shakyamuni told them that infinite eons ago, this old man had been
a woodchopper. One day when he ran into a tiger on the mountain, he climbed
up a tree to escape, calling out, “Homage to the Buddha”, for help.
With only those few words, the old man had planted his cause. When he met
with Buddha Shakyamuni after innumerable eons, the conditions had matured.
Buddha Shakyamuni therefore accepted the man as a monk who later attained
the level of Arhat, a state in which one possesses no erroneous perceptions,
views, speech of behaviour. This is an example of a karmic effect, which
manifested itself after innumerable lifetimes.
Every
thought, word and action arising from our hearts and minds creates a karmic
effect. We reap what we sow. By sowing good causes, we reap good consequences:
sowing bad causes, we reap bad consequences. Even Buddhas and Bodhisattvas
cannot alter this reality. The respective karmic effect will only manifest
itself when the relevant condition ripens. If we do not yet see these results,
it is only because the appropriate time has not matured.
With
thorough understanding of this truth, we will naturally become very watchful
of our every thought, word and action. We will also be able to adopt the
right attitude when interacting with others, matters and affairs to accumulate
more good fortune. When we are yet not able to uncover our virtuous self-nature
due to our lack of awakening, we can only receive the benefits through
virtuous cultivation.
The
guideline for determining good and bad deeds has been clearly defined by
the Buddha. When every thought arising from our mind is dedicated to the
benefit of all sentient beings, we will create good fortune. But when every
thought is solely to benefit ourselves, we will generate negative karma.
We need to stop benefiting ourselves at the expense of hurting others for
such behaviour only creates negative karma that we will have to repay later.
If we do not believe this it will still happen. To correct it, we need
to constantly practice great compassion.
Why
do we use this guideline of whether we are benefiting ourselves or benefiting
others to determine whether we are creating bad or good karma? Remember
that the karmic causes of the Ten Dharma Realms are manifested from wandering
and discriminatory thoughts and attachments. When every thought contains
the element of “self” , is for “us”, our attachments are very severe.
Consequently, we are still lost in the cycle of birth and death. Still
mired in the ten realms of existence. Thus, it is negative karma when every
rising thought is only of us, our family, our group, our country.
Ordinary
people do not understand this, are under the misconception that it is perfectly
natural, even correct to think in this way. They do not realize that such
views are totally contrary to the wisdom of the Buddha. Unlike the Buddha,
we are unable to perceive clearly and thus we have always seen things in
a false light. The Buddha, knowing and understanding all, speaks only the
truth.
Each
and every thought is a karmic act. If a cause arises from wisdom, so then
will the effect. If a cause arises from ignorance, so will the effect.
Unfortunately, we plant causes mainly due to our ignorance and this is
why we have created innumerable transgressions in our past and present
lifetimes. Most of the time our bad deeds outweigh our good ones. If our
good deeds had exceeded the bad ones, we would have already transcended
the cycle of birth and death.
As
long as we remain in this cycle, we will undoubtedly commit more bad than
good deeds. Thus, we ought to be very cautious and mindful. However, the
Buddha tells us that our karma is not fixed and can be transformed. Since
everything arises from our minds, karma also arises from our minds. Since
our wrongdoings are created by our minds, then they can also be transformed
by our minds. Once we have attained purity of mind, our karma will be eradicated.
Often
we fail to understand the full impact of the Buddha’s words. This is
due to our confused minds and deviated viewpoints. We have read in the
sutras that awakened beings, such as Arhats and Bodhisattvas, will be terrified
after listening to these words of the Buddha. They tell us that an Arhat
will sweat blood when they remember the unimaginable suffering they underwent
in their past lives in the Avici Hell, the lowest of the hell realms. Thus,
they are far more vigilant than we are. Since we are not yet capable of
knowing our past lives, we do not know, do not remember any of this. We
too have all been in the hell realms before. And as long as we are still
mired in the cycle of birth and death, we will most certainly go there
again and often.
The
time spent in the hell realms is comprised of infinite eons while the time
spent in the highest level of Heaven is a relatively short eighty thousand
great eons. Although we all have committed heavy wrongdoings, we can still
be helped before falling into the hell realms. But, once we have descended
into them, it is extremely difficult for us to be helped notwithstanding
the prese