Quyển
4 Nghệ Thuật Sống
Chương
1 Nền giáo dục của Ðức Bổn Sư Phật Thích Ca
Chương
2 Bốn loại Phật Giáo ngày nay
Chương
3 Nghệ thuật sống
Chương
4 Quy Y Tam Bảo
Chương
5 Người nội trợ tu tập Bồ Tát Ðạo trong đời sống hằng
ngày
Chương
6 Những tâm niệm của người đệ tử Phật trong đời sống
hằng ngày
Quyển
4
Nghệ
thuật sống
(The
Art of Living)
(Giảng
tại Thành phố Houston, Tiểu bang Texas, Hoa Kỳ)
Chương
Một: Nền giáo dục của Ðức Bổn Sư Phật Thích Ca
"Giáo
dục: lãnh vực nghiên cứu về sự dạy học và sự học".
The
American Heritage Dictionary.
Phật
giáo là nền giáo dục về môi trường sống và con người.
Ðức Phật dạy chúng ta biết về chính mình, về những nghiệp
thân, khẩu, ý và nghiệp quả. Ðiều quan trọng nhất là Ðức
Phật muốn chúng ta khôi phục trí huệ nguyên thủy viên mãn
của mình. Ngài dạy rằng mọi người đều có khả năng đạt
hiểu biết trọn vẹn về đời sống và vũ trụ, và chỉ
vì vô minh mà chúng ta đã không biết về khả năng này. Chúng
ta muø quáng vì tâm phân biệt, vì những ý nghĩ tán loạn,
vì tham dục, và đã quên chân tánh thanh tịnh của mình. Ðó
là lý do chúng ta đã gây ra cho mình nhiều đau khổ.
Ðức
Phật cũng dạy chúng ta phải quan sát khung cảnh hay môi trường
của mình một cách rõ rệt. Khung cảnh ở đây là những người
và những sự vật mà chúng ta gặp hằng ngày. Khi tâm trí
không còn những ý nghĩ phân biệt và những tham muốn thì
chúng ta sẽ có thể quan sát mọi vật một cách rõ rệt, và
đối xử với chúng một cách đúng đắn. Như vậy chúng ta
có thể sống hòa hợp với người khác và đạt thành công
trong mọi việc.
Ðức
Phật đã có ý gì khi ngài dạy chúng ta tu tập? Ý định chính
yếu của ngài là giúp chúng ta giải trừ vô minh và ái dục.
Nếu thu tóm sáu Ba la mật tức sáu hạnh hoàn hảo lại làm
một thì chúng ta sẽ chỉ có hạnh bố thí. Bố thí chỉ có
nghĩa là buông bỏ. Nếu có thể buông bỏ được tham, sân,
si, và kiêu ngạo, chúng ta sẽ luôn luôn an trụ trong tâm thanh
tịnh. Nếu có thể buông bỏ được mọi phân biệt, phiền
não, và tham muốn, chúng ta sẽ đạt an tĩnh, giải thoát, khỏe
mạnh và trường thọ. Nếu có thể buông bỏ mọi quan kiến
riêng để cùng nhau làm việc vì lợi ích của mọi người,
chúng ta sẽ đạt sự hòa hợp với người khác, sự hòa hợp
trong xã hội, và rốt cuộc đạt được hòa bình thế giới.
Vậy, chúng ta có thể thấy rằng việc tu tập, chính yếu
giáo lý của Ðức Phật không là gì khác hơn bố thí, là
buông bỏ.
Khi
Ðức Phật tại thế, ngài không chỉ dùng ngôn từ để dạy
đạo mà còn làm gương để chúng sanh noi theo. Ngài buông bỏ
mọi ái dục, mọi thú vui trần tục, moïi danh vọng và của
cải để sống đời sống của người xuất gia. Ngài sống
một đời sống đơn sơ, thân tâm thanh tịnh, và phúc lạc.
Phàm nhân có thể cho rằng lối sống như vậy là một sự
khổ hạnh, nhưng đó là do họ không hiểu biết. Người hiểu
biết sẽ có ý kiến khác, vì với trí huệ họ sẽ thấy
rằng cuộc đời của Ðức Phật là sự giải thoát, phúc
lạc và thành tựu viên mãn thực sự. Ðức Phật không còn
vọng tưởng, phân biệt, chấp thủ, hay phieàn não. Ngài thật
là an nhiên, tự tại! Ngài hòa hợp với mọi hoàn cảnh và
biểu lộ trí huệ trong mọi ý nghĩ và hành vi để hướng
dẫn chúng sanh ở thế gian này.
Chư
Phật sống đời sống trí huệ, còn phàm nhân thì sống đời
sống phiền não. Giáo lý của Ðức Phật cho chúng ta thấy
rằng có thể chuyển đời sống phiền não thành đời sống
trí huệ lớn, khôi phục trí huệ viên mãn và vô thượng
cũng như những khả năng của chân tính, đạt hạnh phúc và
thịnh vượng đích thực. Ðây chính là nền giáo dục của
Ðức Phật.
Chương
hai
Bốn
loại Phật Giáo ngày nay
Trong
thế giới của chúng ta ngày nay, có ít nhất là bốn loại
Phật giáo khác nhau. Thứ nhất là Phật giáo đích thực, nền
giáo dục về sự hiểu biết chân lý của đời sống và vũ
trụ mà Ðức Phật đã truyền dạy. Có điều không may mắn
là ngày nay chúng ta khó gặp được nền giáo dục đích thực
này. Những loại Phật giáo khác không phải là Phật giáo
đích thực mà có phần nào sai lạc giáo lý nguyên thủy của
Ðức Phật.
Loại
thứ nhì là Phật giáo có tính cách tôn giáo. Ban đầu, Phật
giáo không phải là một tôn giáo, nhưng bây giờ đã trở
thành một tôn giáo. Chuùng ta không thể chối cãi rằng không
có tôn giáo Phật giáo, vì nhìn ở đâu chúng ta cũng thấy
Phật giáo được người ta phô bày như một tôn giáo,
đặc biệt là ở Á Châu. Không giống như những tu viện
ngày xưa, với tám giơø học giáo lý mỗi ngày, thêm tám giờ
tu tập, các chùa Phật giáo ngày nay không còn giữ sự tinh
tấn tu học Phật Pháp như vậy. Ngày nay chúng ta chỉ thấy
mọi người dâng cúng và lễ bái những bức tượng Phật,
cầu nguyện cho mình được phước lộc. Như vậy, Phật giáo
đã lầm lạc biến thành một tôn giáo.
Loại
Phật Giáo thứ ba là việc nghiên cứu có tính cách triết
học về giáo lý của Ðức Phật. Nhiều trường đại học
ngày nay mở những khóa nghieân cứu kinh điển Phật giáo,
xem giáo lý Phật giáo là một triết lý. Nội dung của nền
giáo dục của Ðức Phật chính là một chương trình đại
học hoàn bị về kiến thức và trí huệ. Triết học chỉ
là một trong những môn học của Phật giáo. Vì vậy, nếu
cho rằng nền giáo dục của Ðức Phật chỉ là một triết
lý cũng sai lầm như xem chương trình đại học chỉ là một
môn học. Nền giáo dục của Ðức Phật có thể giúp chúng
ta giải quyết những vấn đề của mình, từ những khó khăn
trong gia đình cho tới đề tài lớn sự sống và sự chết.
Những giáo lý thâm diệu và rộng lớn của Ðức Phật dạy
chúng ta về đời sống và vũ trụ. Không nên hiểu lầm giáo
lý của ngài chỉ là một môn triết học.
Loại
Phật giáo thứ tư mà chúng ta thấy ở trên thế giới ngày
nay là một thứ Phật giáo đổi khác và có tính cách ngoại
nhập. Hình thức Phật giáo biến dạng rất không may mắn
này chỉ xuất hiện khoảng bốn mươi năm nay. Loại Phật
giáo tôn giáo khuyến khích người ta trở thành người tốt,
còn loại Phật giáo triết học thì tìm hiểu chân lý. Hai
loại này không có hại nhiều cho xã hội. Nhưng nếu Phật
giáo biến thành một thứ pháp môn sai lạc ngoại nhập, dùng
sự yếu đuối của nhân tính để đánh lừa và hại chúng
sinh, phá rối hòa bình và an ninh xã hội thì sự biến đổi
này đã đi quá xa. Ngôn từ và hành vi của những pháp môn
sai lạc và bên ngoài này có thể rất hấp dẫn và lôi cuốn.
Người ta không để cho những pháp môn này dẫn dắt mình
một cách sai lầm để rồi khi hối hận thì đã quá trễ.
Bốn
loại Phật giáo này hiện hữu trong xã hội chúng ta ngày nay.
Chúng ta nên biết rõ về tính chất của bốn loại này, và
cẩn thận chọn con đường nào tốt cho mình nhất để đi
theo.
Chương
ba: Nghệ thuật sống
Mục
đích của việc nghiên cứu Phật giáo của chúng ta là khai
mở trí huệ. Ðể đạt mục tiêu này, chúng ta phải tu sửa
cho tâm trí được thanh tịnh. Trong xã hội ngày nay, những
chướng ngại lớn nhất của chúng ta là truyền hình, truyền
thanh, và báo chí. Tất cả những thứ này đều chứa những
nội dung có thể gây ô nhiễm cho tâm trí. Tôi thường khuyên
mọi người nên thận trọng đối với những phương tiện
truyền thông này. Khi tâm trí thoát khỏi những phiền não
vô dụng này, chúng ta sẽ sống mỗi ngày trong an lạc và hạnh
phúc, và như vậy tâm trí của chúng ta sẽ đạt trở lại
trạng thái thanh tịnh. Với tâm trong sáng, người ta sẽ nhìn
thấy sự vật rõ ràng hơn và sâu xa hơn người khác, vì tâm
ổn định chính là tâm trí huệ. Ðiều then chốt trong việc
tu tập giáo lý của Ðức Phật là đạt được tâm ổn định.
Trong việc thực hành pháp môn Tịnh Ðộ, tâm thanh tịnh là
điều quan trọng nhất.
Kinh
Vô Lượng Thọ dạy chúng ta gây dựng sự thanh tịnh, bình
đẳng, và giác ngộ. Nghĩ nhớ tới Phật A Di Ðà là việc
cần được tu tập trên hết, vì Phật A Di Ðà là thanh
tịnh, bình đẳng, và giác ngộ. Niệm danh Phật A Di Ðà là
tự nhắc nhở mình về những phẩm tính này.
Ở
Trung Hoa, Phật Giáo được chia thành mười tông phái, gồm
hai tông phái Tiểu Thừa đã suy tàn, và tám tông phái Ðại
Thừa. Hai phái Thiền Tông và Mật Tông nhập vào giáo lý của
Ðức Phật qua pháp "Giác Ngộ". Họ tìm sự giác ngộ để
hiểu biết về tâm trí và chứng ngộ chân tính. Thông thường
những người kém khả năng tự giác ngộ rất khó thành tựu
pháp môn này. Việc thực hành Thiền Tông đòi hỏi trình độ
trí huệ và khả năng cao cùng với tâm trí thanh tịnh. Nếu
không có những điều kiện này thì hành giả phải học lại
những giáo lý căn bản của Ðức Phật.
Việc
học những giáo lý này sẽ giúp thiết lập tri kiến đúng
đắn. Như vậy, pháp "Chánh Tri Kiến" được dùng để nhập
vào giáo lý của Ðức Phật. Có bốn tông phái thuộc loại
này, đó là Thiên Thai Tông, Mật Tông,Pháp Tướng Tông, và
Tam Luận Tông. Các hành giả thuộc những tông phái này học
và thực hành giáo lý của Ðức Phật để sửa chữa những
quan điểm, ý nghĩ, và hành vi sai lầm của mình. Ða số Phật
tử có khả năng thực hành phương pháp này, nhưng đây là
một hành trình lâu dài, giống như đi tới trường học để
học qua các lớp tiểu học, trung học, và đại học. Học
xong lớp nào thì chỉ đạt lợi ích của riêng lớp đó.
Sau
cùng là hai phái Tịnh Ðộ Tông và Mật Tông. Hai phái này
chú trọng việc gây dựng tâm thanh tịnh, vì vậy phương pháp
thực hành giáo lý của họ là qua sự thanh tịnh. Mọi người
thuộc mọi khả năng, dù thông minh hay kém thông minh đều
có thể thực hành theo Tịnh Ðộ Tông và đạt thành tựu
trong việc tu tập theo phương pháp của phái này. Trong khi đó
Mật Tông đòi hỏi mức thanh tịnh tâm trí cao hơn, vì vậy
hành giả rất khó thành tựu trong việc tu tập pháp môn này.
Về
mặt tu tập, Tịnh Ðộ Tông và Mật Tông khác nhau ở chỗ
Tịnh Ðộ dạy chúng ta tu luyện sự thanh tịnh tâm trí, tránh
xa ô trược, còn Mật Tông thì dạy chúng ta tịnh hóa tâm
trí ở giữa ô trược. Hành giả ở trong trạng thái chìm
trong ô trược nhưng lại không nhiễm ô. Tất nhiên, đối
với đa số người trạng thái này rất khó đạt được.
Trí
huệ đích thực chỉ phát xuất từ sự thanh tịnh của tâm
trí, vì vậy, trí huệ mà giáo lý của Ðức Phật nói tới
thì không thể đạt được chỉ bằng việc đọc và nghiên
cứu kinh sách. Trí huệ mà chúng ta đạt được bằng cách
đọc sách và nghiên cứu thì chỉ là trí thức thế gian chứ
không phải là chân trí huệ.
Trí
huệ đích thực là công năng của chân tính. Chân tính của
chúng ta bao gồm trí huệ vô lượng, đức hạnh và quyền
năng, tức bi, trí và dũng. Những phẩm tính này có ở trong
chân tính của mỗi người chúng ta. Chúng ta cần phải biết
cách làm cho những phẩm tính này hiển lộ.
"Phật"
là Thanh Tịnh, Bình Ðẳng, và Giác Ngộ. Giáo lý của Ðức
Phật có thể được tóm tắt một cách đơn giản như sau:
Chân Thành với người khác, Thanh Tịnh trong tâm, Bình Ðẳng
trong mọi vật, Tri Kiến đúng đắn về cuộc đời và vũ
trụ vạn vật, Từ Bi giúp đỡ người khác một cách khôn
ngoan, vô tư, và vô điều kiện, Nhìn Thấu lý vô thường,
Buông Bỏ mọi vọng niệm và tham dục, Ðạt Tự Do tâm trí
và tinh thần, Hòa Hợp với mọi hoàn cảnh, Quán Niệm Phật
A Di Ðà, làm theo lời dạy của ngài và nguyện vãng sanh Tịnh
Ðộ.
Năm
điều đầu tiên là tâm của Phật và là đức hạnh của
chân tính của chúng ta. Hiện tại chúng ta không thể biểu
lộ trọn vẹn những phẩm tính này, vì thiếu tu tập năm
điều sau. Chúng ta cần phải tinh tấn tu luyện để làm biểu
lộ những đức hạnh của Phật tánh bên trong mỗi người
chúng ta.
Mục
tiêu tối thượng trong việc tu học Phật giáo là sự đạt
đến giác ngộ viên mãn. Trong mọi lãnh vực của đời sống,
chư Phật, Bồ Tát là khuôn mẫu cho mọi người noi theo. Ðệ
tử của Ðức Phật có thể là tấm gương sáng cho người
khác. Những gia đình nào thực hành lời dạy của Ðức Phật
có thể hành xử một cách xứng đáng với vai trò khuôn mẫu
cho tất cả những gia đình khác. Khi còn là một học sinh,
việc học hạnh kiểm, và sức khỏe của người ta là tấm
gương cho các bạn học, còn bÂy giờ chúng ta là học trò
của Ðức Phật. Trong việc làm hay công việc kinh doanh, người
ta có thể trở thành khuôn mẫu cho các đồng nghiệp. Vậy,
tất cả những gì ở trong Phật Pháp cũng có thể là cái
tốt nhất. Một gia đình cư xử với trí huệ hoàn hảo là
gia đình hạnh phúc, may mắn và mãn nguyện nhất thế giới.
Trong
Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Ba Ðiều Kiện là nền móng của
việc tu tập theo Phật Giáo. Khi Ba Ðiều Kiện được hoàn
hảo, hành giả sẽ có trí huệ, cơ duyên, và đức hạnh hoàn
hảo.
Ðiều
kiện thứ nhất bao gồm bốn pháp dựa trên luân lý của loài
người: 1.- Hiếu kính cha mẹ; 2.- Tôn kính thầy và các bậc
trưởng thượng; 3.- Từ bi không sát sinh; 4.- Làm Mười Ðiều
Lành (Thập Thiện).
Ðiều
kiện thứ nhì bao gồm ba pháp tu luyện bản thân: 5.- Quy Y
Tam Bảo; 6.- Gìn giữ các giới đã thọ 7.- Có hành vi đúng
đắn và nghiêm chỉnh.
Ðiều
kiện thứ ba bao gồm pháp dựa trên các pháp thực hành của
bậc Bồ Tát: 8.- Phát Bồ đề tâm.
9.-
Tin sâu giáo luật nhân quả, 10.- Tụng niệm và đề cao kinh
điển Ðại Thừa,11.- Khuyên người khác đi theo đường đạo
Giác Ngộ.
Tất
cả mười một pháp này đều thâm diệu và đầy ý nghĩa,
và nên được thực hành trong đời sống hằng ngày, vì đây
là nền móng của bốn mươi chín năm hoằng pháp của Ðức
Phật.
Phật
Giáo Ðại Thừa ở Trung Hoa có thể được tượng trưng bằng
bốn vị Ðại Bồ Tát của bốn danh sơn. Thứ nhất, Bồ Tát
Ðịa Tạng ở núi Cửu Hoa tượng trưng hiếu kính. Thứ nhì,
Bồ Tát Quan Âm ở núi Phổ Ðà, tượng trưng cho lòng từ
bi. Thứ ba, Bồ Tát Văn Thù ở núi Ngũ Ðài, tượng trưng
trí huệ. Thứ tư, Bồ Tát Phổ Hiền ở núi Nga Mi, tượng
trưng pháp tu tập chân chính. Bốn vị Ðại Bồ Tát này tượng
trưng cốt tủy của việc thực hành tu tập. Là những người
sơ cơ, chúng ta sẽ bắt đầu học từ Bồ Tát Ðịa Tạng,
vì đất là nguồn gốc sự sống của chúng sinh. Vì đất
lớn nuôi dưỡng chúng sinh và là kho tàng chứa tất cả những
gì quý báu nên Ðức Phật lấy đất tượng trưng cho "tâm
địa" của chúng ta. Chân tâm hay bản tính của chúng ta gồm
có trí huệ, đức hạnh, và tài năng vô tận, vậy chúng ta
nên biết cách khai mở kho tàng này để dùng lợi ích của
nó. Bồ Tát Ðịa Tạng dạy chúng ta có hiếu với cha mẹ
và tôn kính các vị thầy, vì đó là chìa khóa mở cửa kho
tàng chân tâm của mình.
Lãnh
vực hiếu kính rất rộng lớn. Cha mẹ của chúng ta đã biểu
lộ tâm từ bi lớn khi các vị nuôi dưỡng và giáo dục chúng
ta, vì vậy chúng ta không những phải phụng dưỡng các vị
trong tuổi già mà còn phải chăm lo cho các vị được phúc
lạc về mặt tâm trí và tinh thần. Ðó là thực hành đạo
hiếu.
Về
việc thực hành hiếu để, chúng ta nên hết sức cố gắng
sống đúng theo ý nguyện của cha mẹ. Khi các vị muốn chúng
ta trở thành người tốt, chúng ta phải làm theo ý nguyện
này, nếu không thì sẽ là những đứa con bất hiếu. Trẻ
con đi học ở trường mà học kém làm cho cha mẹ lo buồn,
như vậy là không có hiếu. Hạnh kiểm xấu, không giữ gìn
sức khỏe, không tôn kính thầy, hay không hòa hợp vơùi người
khác cũng là bất hiếu. Khi trưởng thành, sống trong xã hội
mà chống đối cấp trên và bất hòa với đồng nghiệp, như
vậy cũng là bất hiếu. Từ những điều này, chúng ta thấy
lãnh vực gây dựng lòng hiếu kính quả là rất rộng lớn,
và toàn thể Phật Pháp thực sự chỉ giảng dạy đạo hiếu.
Trong Phật giáo, lòng hiếu kính hoàn hảo chỉ được thành
tựu khi người ta đắc Phật Quả Giác Ngộ Vô Thượng.
Ngày
nay, loài người đã bị ô nhiễm nặng trong tâm trí, ý nghĩ,
quan kiến, tinh thần, và thể xác, vì vậy mà nhiều căn bệnh
kỳ lạ đã xuất hiện. Nguyên nhân của bệnh tật là sợ
nhiễm ô của tâm trí. Nếu thân thể và tâm trí trong sạch
thì người ta sẽ không bị bệnh tật hay già lão. Không bệnh
tật và già lão là hạnh phúc đích thực. Ðể đạt mục
tiêu này, chúng ta chỉ cần phải học và tu tập theo giáo
lý của Ðức Phật.
Thế
giới ngày nay, khi thực phẩm đã bị nhiễm độc chất, chúng
ta nên trưởng dưỡng lòng từ bi, vì từ bi là thuốc đối
trị mọi loại chất độc. Tâm từ bi đích thực có thể
hóa giải tất cả các loại độc chất. Ðức Phật đã nói:
" Mọi vật đều do tâm tạo ra". Vậy, tâm trí thanh tịnh,
bình đẳng, và giác ngộ tự nhiên sẽ mang lại sức khỏe
cho thân thể.
Khi
chúng ta tụng niệm sáng chiều trước tượng Phật, Bồ Tát
thì như vậy cũng giống như trong sự hiện diện của chư
Phật, Bồ Tát chúng ta phát nguyện làm theo lời dạy của
các ngài. Tụng niệm buổi sáng là sự nhắc nhở chúng ta
không quên giáo lý của Ðức Phật và hành xử đúng đắn
trong ngày. Tụng niệm buổi tối là xem lại những hành vi
trong ngày của mình, để biết mình có làm theo lời dạy của
Ðức Phật hay không. Nếu đã làm theo thì chúng ta có thể
cố gắng nhiều hơn nữa trong những ngày sau, còn nếu không
thì chúng ta cần phải sửa đổi bản thân mỗi ngày. Chỉ
bằng cách thực hành như vậy, chúng ta mới có thể đạt
được lợi ích thực sự. Tụng niệm sáng tối là pháp tu
tập căn bản trong việc tu học Phật Pháp. Chúng ta cần phải
nhắc nhở mình mỗi ngày, suy xét và tu sửa.
Người
nào muốn trở thành đệ tử của Ðức Phật thì trước hết
phải học theo Bồ Tát Di Lặc, mà ở Hoa Kỳ được gọi là
"Phật Phúc Lạc". Bồ Tát Di Lặc tượng trưng cho những điều
kiện căn bản nhất cần phải có để trở thành một Phật
tử, đó là một khuôn mặt tươi cười và một tấm lòng
bao dung, được tượng trưng bằng cái bụng lớn của ngài.
Tất cả những bức tranh và những bức tượng Phật có mục
đích nhắc nhở chúng ta về những lời dạy của chư Phật,
Bồ Tát chứ không phải là những pho tượng để thờ phụng.
"Phật Phúc Lạc" dạy chúng ta phát tâm vô phân biệt và an
lạc để có thể đi vào Phật Ðạo.
Giáo
lý của Ðức Phật thâm diệu và rộng lớn vô cùng, không
thể nào nói hết được, vì phần giáo lý tinh yếu là vô
lượng. Khi thông hiểu giáo lý của Ðức Phật, chúng ta sẽ
đạt lợi ích trong đời sống, trong công việc và trong sự
tương tác với mọi người và mọi sự việc. Phật Giáo thực
sự vượt qua tất cả mọi ranh giới, quốc gia, chủng tộc,
và tôn giáo. Giáo lý của Ðức Phật thực sự là một nền
giáo dục hoàn hảo.
Chương
bốn: Quy Y Tam Bảo
Quy
y có nghĩa là trở về nương tựa. Khi quy y Phật, chúng ta,
quay trở về lại từ trạng thái tâm mê muội và tương tựa
vào tâm giác ngộ. Khi quy y Pháp, chúng ta quay trở về từ
những tà kiến và nương tựa vào chánh kiến và sự hiểu
biết. Khi quy y Tăng, chúng ta quay trở về từ nhiễm ô và
bất hòa để nương tựa vào tâm thanh tịnh và sáu nguyên
tắc sống hòa hợp, hay lục hòa. Quy y Tam Bảo là khôi phục
lại trí huệ hoàn hảo và những khả năng chân tính của
chúng ta. Chúng ta sẽ đạt được thanh tịnh, bình đẳng,
chân thực, tự do, từ bi, và nhất là chân hạnh phúc ngay
trong đời sống này.
Phật
Bảo: "Phật", tiếng Sanskrit gọi là Buddha, có nghĩa là "bậc
Giác Ngộ viên mãn". Khi quy y Phật, chúng ta trở về từ niềm
tin mù quáng và sự mê muội để nương tựa vào tri giác như
một lối sống. Hình tượng Ðức Phật được dùng để nhắc
nhở chúng ta thực hành tu tập với tri giác chứ không phải
là những thần tượng để thờ phụng. Lễ bái những hình
tượng này chỉ là một cách đối trị tính kiêu ngạo, gây
dựng lòng khiêm hạ của chúng ta. Ðó là quy y Phật.
Pháp
Bảo: "Pháp", tiếng Sanskrit là Dharma, có nghĩa là "Tri Kiến
Chân Chính". Tâm vô minh làm cho chúng ta không trông thấy chân
tính của con người cũng như chân lý ẩn ở phía sau sự vật,
vì vậy chúng ta đã nhìn cuộc đời và vũ trụ một cách
sai lầm. Khi vô minh được giải trừ và tâm trí được trong
sạch tới một mức độ nào đó, trí tuệ của chúng ta sẽ
khai mở. Với trí huệ, chúng ta sẽ nhìn thấy người và sự
vật một cách trọn vẹn và rõ ràng. Khi tâm trí thanh tịnh,
chúng ta có thể trông thấy quá khứ, hiện tại, cũng như
tương lai. Chỉ khi nào trông thấy rõ được tri kiến
của chúng ta mới được coi là chân chánh.
Tâm
của Ðức Phật luôn thanh tịnh không một chút ô trược,
vì vậy mà trông thấy vạn vật một cách rõ ràng và trọn
vẹn. Chúng ta có thể nương tựa vào kinh sách ghi chép những
lời dạy của Ðức Phật, vì kinh sách nói lên tất cả những
sự thật mà Ðức Phật đã trông thấy. Kinh sách dạy chúng
ta cách đạt đến tâm thanh tịnh, trông thấy cuộc đời và
vũ trụ một cách rõ ràng. Khi trông thấy kinh sách chúng ta
nên phát tâm tôn kính và tự nhắc nhở mình tu tập để đạt
Chánh tri kiến. Quy y Pháp là như vậy.
Tăng
Bảo: "Tăng", tiếng Sanskrit gọi là Sangha có nghĩa là thanh
tịnh và hòa hợp. Thế giới ngày nay đầy ô trược; ô trược
từ trong tâm trí, tinh thần, quan kiến, và thân thể. Cả trái
đất và bầu khí quyển cũng bị nhiễm ô một cách tệ hại.
Ðức Phật dạy: "Hoàn cảnh biến đổi theo tâm". Chúng ta
nên quay trở về từ những trược dơ này để nương tựa
vào tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là điều kiện để cứu
vãn trái đất của chúng ta.
Có
rất nhiều bất hòa trong thế giới ngày nay, giữa vợ chồng,
gia đình, bạn bè, xã hội, và giữa các quốc gia, gây ra nhiều
tai họa và đau khổ. Ðức Phật dạy chúng ta nương tựa vào
sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp để thiết lập mối liên
hệ hài hòa giữa mình và mọi người.
Tăng
đoàn có nghĩa là một nhóm bốn người hay nhiều người hơn
cùng tu hành Phật Pháp và sống theo lục hòa, tức sáu nguyên
tắc sống chung hòa hợp. Tăng đoàn gồm các Tỳ kheo và các
Tỳ kheo Ni. Khi gặp các vị này, chúng ta liền nên phát tâm
thanh tịnh và hòa hợp. Ðó là quy y Tăng.
Quy
Y Tam Bảo:
Quy
y Phật, Con xin quay về từ vô minh, nương tựa vào tri giác;
Quy
y Pháp,Con xin quay về từ tà kiến, nương tựa vào Chánh tri
kiến;
Quy
y Tăng, Con xin quay về từ ô trược và bất hòa, nương tựa
vào tâm thanh tịnh và lục hòa.
Chương
năm: Người nội trợ tu tập Bồ Tát Ðạo trong đời sống
hằng ngày
Làm
cùng một loại công việc hằng ngày là điều rất mệt nhọc,
đặc biệt là đối với những người nội trợ. Hình như
người ta không thể nào thoát khỏi những công việc trong
nhà, dù chỉ trong một ngày, và nhiều người phải lo nghĩ
rất nhiều vì những bổn phận trong nhà của mình. Tuy nhiên,
nếu biết cách thay đổi lối nhìn sự vật của mình, chúng
ta sẽ có thể làm công việc nhà với niềm vui lớn.
Phần
lớn vấn đề ở đây là người ta thường chấp chặt
vào cái "ta" hay “cái của ta”. Họ thường nghĩ: "Mình đang
làm công việc này; thật là khổ, vì mình mệt quá. Tại sao
mình lại làm việc này cho người khác?". Càng suy nghĩ như
vậy, họ lại càng thêm phiền não. Nếu chúng ta học Bồ
Tát đạo, tức đạo Giác Ngộ, và phát nguyện giúp đỡ chúng
sinh, chúng ta sẽ có quan điểm rất khác.
Khi
đi theo Bồ Tát đạo, điều đầu tiên mà chúng ta cần phải
học là hạnh Bố Thí. Do phục vụ gia đình của mình ở nhà,
vị Bồ Tát nội trợ đã tu dưỡng hạnh Bố Thí rồi. Trong
hạnh Bố Thí có Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí. Tài Thí
có thể được chia thành hai loại là tài sản bên ngoài và
tài sản bên trong. Thí dụ, tài sản bên ngoài là làm ra tiền
bạc để cung cấp phương tiện sống cho gia đình. Tài sản
bên trong là dùng sức lực thể xác và tri thức của mình
để giúp đỡ gia đình. Vậy, chúng ta có thể thực hành Bố
Thí một cách hoàn hảo ở ngay tại nhà của mình.
Khi
chúng ta tổ chức và làm công việc trong nhà một cách cẩn
thận, ngăn nắp và sạch sẽ thì mọi người trong gia đình
sẽ có tiện nghi, dễ chịu, và bản thân chúng ta sẽ được
hàng xóm khen ngợi. Ðó là tu tập hạnh Trì Giơùi. Trì Giới
có ý nghĩa đơn giản là tuân thủ luật lệ của quốc gia,
xã hội, và gia đình, và làm mọi việc một cách đúng đắn
và có tổ chức. Kiên nhẫn làm công việc của mình không
than phiền hay mệt mỏi là tu tập hạnh Nhaãn Nhục. Khi chúng
ta cố gắng cải tiến mỗi ngày, hy vọng ngày mai mình sẽ
đạt thành tựu nhiều hơn hôm nay, thì đó là tu tập hạnh
Tinh Tấn. Làm mọi bổn phận hằng ngày mà vẫn giữ cho tâm
trí được thanh tịnh thì đó là tu tập hạnh Thiền định,
xả ly mọi vọng niệm và tham dục. Khi tâm trí thanh tịnh,
trí huệ sẽ phát sinh, người ta sẽ có đầy an lạc nội
tâm, và đó là tu tập hạnh Trí huệ. Vậy, do hiểu biết
đúng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng Sáu Hạnh Hoàn Hảo Ba
La Mật của bậc Bồ Tát gồm Bố thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục,
Tinh Tấn, Thiền Ðịnh và Trí Huệ, có thể được thực hành
một cách trọn vẹn trong những hoạt động hằng ngày như
lau chùi quét dọn, giặt quần áo, và nấu ăn.
Khi
làm tròn bổn phận của mình chúng ta sẽ trở thành khuôn
mẫu cho những người nội trợ trên khắp thế giới và là
tấm gương cho mọi gia đình noi theo. Vậy, không những chúng
ta có thể giúp ích cho hàng xóm mà lại còn có thể ảnh hưởng
tới xã hội, xứ sở, và cả thế giới này một cách tích
cực. Từ những điều ấy, chúng ta thấy rằng khi lau chùi,
quét dọn, giặt quần áo và nấu ăn, vị Bồ Tát nội trợ
đang thực sự thi hành đại nguyện giúp đỡ chúng sinh, và
cũng chính là đệ tử thực sự của Ðức Phật. Vì vậy,
nếu suy ngẫm về những bổn phận của mình như trên, chúng
ta sẽ cảm thấy an lạc ngay trong công việc của mình, và
như vậy thì có cái gì có thể làm cho chúng ta ưu phiền?
Ðiều
quan trọng nhất trong việc học và thực hành giáo lý của
Ðức Phật, người ta có thực hành những giáo lý này trong
đời sống hằng ngày hay không. Vì vậy, chúng ta có thể thực
hành Sáu Pháp Ba La Mật trong công việc và trong bổn phận
của mình. Một Bồ Tát, trong mọi lĩnh vực của đời sống,
nam hay nữ, già hay trẻ, sẽ tu tập bằng cách làm tròn những
bổn phận của mình. Tu tập và sinh hoạt hằng ngày chính
là một, và cũng là đời sống của những người giác ngộ.
Chương
sáu: Những tâm niệm của người đệ tử Phật
trong
đời sống hằng ngày
*
Phật Giáo là một nền giáo dục chứ không phải là một
tôn giáo. Chúng ta không thờ phụng Ðức Phật, mà chúng ta
tôn kính ngài như một vị thầy. Giáo lý của ngài giúp chúng
ta thoát khổ, đạt đến chân hạnh phúc.
* Chúng
ta nên cư xử với mọi người một cách tôn kính và chân
thành, có trách nhiệm với những hành vi của mình, và thận
trọng với tài sản của người khác. Nên cẩn thận trong
lời nói và việc làm để tránh gây tai hại cho người khác.
* Nên
tỏ lòng biết ơn với những người đã gia ơn cho mình, như
cha mẹ, thầy tổ, và cả xã hội nữa. Mọi người trong xã
hội đều tương thuộc và tương liên với nhau; để trả
ơn cho mọi người, chúng ta có thể làm những việc tốt.
* Có
bao nhiêu người biết ơn cha mẹ của mình? Người ta thường
không biết tới công ơn của cha mẹ cho tới khi chính mình
trở thành cha mẹ, hay cho tới khi cha mẹ của mình qua đời.
Chúng ta có thể thực hành đạo hiếu để tỏ lòng biết
ơn cha mẹ bằng cách làm tròn bổn phận, biết nghĩ tới cha
mẹ, và làm theo ý của cha mẹ.
* Thà
làm người nghèo mà an lạc còn hơn làm người giàu mà phiền
não với nhiều tham vọng.
* Phật
giáo là một nền giáo huấn, dạy chúng ta biết cách sống
một đời sống hạnh phúc và mãn nguyện.
* Tình
yêu đích thực thì không phân biệt, không chấp thủ, và không
điều kiện. Chúng ta có thể chia xẻ tình yêu này với toàn
thể chúng sinh. Tình yêu như vậy được gọi là từ bi.
* Nếu
muốn mang lại hòa bình cho thế giới, chúng ta cần phải bắt
đầu bằng cách sửa đổi những sai lầm của mình. Hòa bình
thế giới phát xuất từ an lạc nội tâm.
* Chúng
ta học và thực hành giáo lý của Ðức Phật là để hiểu
biết trọn vẹn về cuộc đời và vũ trụ.
* Nên
có ý thức và sự tử tế trong lời nói. Nói xấu người
khác chỉ là phô bày tính kiêu ngạo và thiếu tự tin của
mình.
* Cuộc
đời này ngắn ngủi và mong manh, vậy tại sao chúng ta lại
không trưởng dưỡng tâm từ bi thay vì làm những việc có
hại cho chúng sinh cũng như cho bản thân ta ?
* Xây
dựng nếp sống đức hạnh là giữ lòng tử tế, nói lời
tử tế, và làm điều tử tế vì lợi ích của người khác.
* Người
khôn ngoan thì không nghĩ tới chuyện mình được lợi hay không
được lợi, được như vậy người đó luôn luôn sống trong
an lạc nội tâm.
* Chúng
ta thực hành hạnh bố thí là để giải trừ tham, sân, si,
và kiêu ngạo.
* Khi
giúp đỡ người khác, chúng ta nên nghĩ tới việc làm lợi
ích cho xã hội hay toàn thế giới chứ không chỉ giúp đỡ
những người nào mình thích. Mở rộng sự quan tâm của mình
thêm ý nghĩa, tự do, và hạnh phúc.
* Những
lời dạy của Ðức Phật là giáo lý của trí huệ. Sống
theo Phật pháp là làm cho cuộc đời cuûa mình trở nên minh
triết và an lạc.
* Trong
bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải tự xét mình trước
hết. Khổng Tử nói: “ kỷ sở bất dục, vật thi ư nhơn”,
có nghĩa là: 'Những điều gì mình không muốn, đừng bao giờ
làm cho người khác"( Do not give to others what you yourself
do not desire). Câu này muốn nói rằng chúng ta phải có lòng
nhân đạo và thành thực. Nếu muốn người khác cười với
mình thì mình phải cười với họ trước. Trong xử sự chúng
ta không nên tìm lợi lộc cho riêng mình, mà nên làm việc
vì lợi ích chung.
* Một
hành giả chân chính thì không bao giờ tìm lỗi người khác.
Khi nghĩ tới tội lỗi của người khác thì đó chính là sự
phiền não của mình. Người nào cũng có những mặt tốt và
những mặt xấu, nhưng chúng ta nên tập nhìn vào những điều
tốt của người khác và cố gắng tôn trọng mọi người.
“THE
ART OF LIVING’
HOUSTON,
TEXAS
CHAPTER
ONE
THE
EDUCATION OF BUDDHA SHAKYAMUNI,
OUR
ORIGINAL TEACHER
“Education
– The field of study concerned with teaching and learning.”
-THE
AMERICAN HERITAGE DICTIONARY
Buddhism is an education about our living environment and us. The Buddha
teaches us to recognise ourselves; our thought, speech, and actions and
the consequences they evoke. Most importantly, the Buddha wants us to restore
our original and complete wisdom. He teaches that everyone possesses the
ability to attain complete understanding of life and the universe, and
it is only because of delusion that we are unable to realize it. We are
blinded by discrimination, wandering thoughts and attachments, and forget
the original pure mind of our self-nature. In this way, we have caused
ourselves much unneeded suffering.
The Buddha also teaches us to view our environment clearly. Environment
refers to the people, matters, and objects we come across everyday. When
our hearts are free from discriminatory thoughts and attachments, we will
be able to view everything clearly and deal with them appropriately. Thus,
we can live in harmony with others and succeed in all our endeavours.
What did the Buddha mean when he taught us to cultivate? His intent was
mainly to rid us of our delusions and attachments. If we drew together
the Six Principles of practice taught by the Buddha, we would only end
p with the practice of giving. Giving simply means to let go. If we can
let go of our greed, anger, ignorance and arrogance, then we would always
dwell in purity of mind. If we can let go of all discriminations, worries
and attachments, then we would attain peace, spiritual liberation, health
and longevity. If we can let go of our own views and work together for
the benefit of others, then we can achieve harmony with others, harmony
in society, and ultimately, world peace. From this, we can see that the
main practice of the Buddha’s teaching is none other than giving.
When Buddha Shakyamuni was in the world, he not only used words to teach,
but made an example of himself for all living beings to follow. He let
go of all desires, worldly enjoyments, fame and wealth to lead the life
of a left-home person. He lived a life of simplicity, purity of mind and
body, and happiness. Ordinary people might see this as bitter and miserable,
but this is only due to their lack of understanding. One with wisdom would
view things differently. The wise would see the Buddha’s life as one
of true liberation, happiness and fulfilment. The Buddha does not have
useless thoughts, discriminations, attachments, or worries. How at ease
he is! He accords with all conditions and emanates wisdom in every thought
and action to teach sentient beings in this world.
The Buddha live lives if wisdom, while ordinary people live lives of affliction.
Buddha Shakyamuni’s teachings show us how to change afflicted lives into
ones of great wisdom. From these teachers, we will learn how to restore
the ultimate and complete wisdom and abilities of our self-nature; allowing
us to attain true happiness and prosperity. This, is the Buddha’s Education.
CHAPTER
TWO
THE
FOUR KINDS OF BUDDHISM TODAY
In our world today, there are at least four different types of Buddhism.
The first is the authentic Buddhism, the education of understanding the
true reality of life and the universe originally taught by Buddha Shakyamuni.
Unfortunately, the authentic education is rare and difficult to encounter
nowadays. The remaining types of Buddhism are more or less distortions
of the original teachings.
The second type is the religious Buddhism. Originally, Buddhism was not
a religion, but now it has become one. We can no longer deny that there
is a Buddhist religion because everywhere we look, especially in Asia,
it is displayed as a religion. Unlike the monasteries in the past, which
held eight-hour classes per day and provided another eight hours for self-cultivation,
today’s Buddhist temples no longer uphold such a perseverance of the
Buddha’s Teachings. Today we mainly see people making offerings to the
Buddha statues and praying for blessings and fortune. In this way, Buddhism
has been wrongly changed into a religion.
The third type of Buddhism is the philosophical study of the Buddha’s
teachings. Many universities today offer courses on the study of Buddhist
Sutras, considering the teaching as a philosophy. The content of the Buddha’s
education is actually a complete university of knowledge and wisdom. Philosophy
is only one of its courses. Just as it is wrong to recognize a university
as a single course, it is also inappropriate to think of and limit the
Buddha’s education to only a philosophy. The Buddha’s education can
help us resolve our problems – from family difficulties to the great
issue of life and death. The Buddha’s teachings are profound and vast,
and teach us the truths of life and the universe. It should not be mistaken
as only a philosophy.
The fourth type of Buddhism we see in our world today is the deviant and
externalist Buddhism. This is an extremely unfortunate distortion, which
only came to be in the past thirty to forty years. Religious Buddhism persuades
people to be decent and philosophical Buddhism pursues truth, neither cause
much harm to society. However, if Buddhism is changed into a deviant and
externalist path, using the weakness of human nature to cheat and harm
living beings, disturbing the peace and safety of society, then this conversion
has gone too far. The speech and actions of these deviant and external
paths can be very attractive and enticing. One should be very careful as
not to be misled by these deviant ways or regretting it would be too late.
These four types of Buddhism exist in our society today, we should recognize
them for what they are and think carefully as to which way is most beneficial
to us and the one we will ultimately follow.
CHAPTER
THREE
THE
ART OF LIVING / SELECTED PASSAGES
Our goal in studying Buddhism is to open up our wisdom; to attain this
goal, we cultivate purity of mind. In today’s society, our greatest obstacles
are TV, radio, newspapers and magazines – these all contain contents
that can pollute our minds. I often persuade people not to read or listen
to these things. When our hearts are free from these unneeded afflictions,
we can live every day in peace and happiness; thus, allowing our minds
to return to purity. With an undeluded mind, one will see matters of life
clearer, more deeply and farther than others. This is because a settled
and concentrated mind is a mind of wisdom. The key in cultivating the Buddha’s
teachings is having a settled and concentrated mind. In practicing the
Pure Land method, purity of mind is a foremost importance.
The Infinite Life Sutra teaches us to cultivate purity, equality and enlightenment.
Being mindful of the Buddha is cultivating the above, for Buddha Amitabha
is purity, equality, and enlightenment. When we recite the Buddha’s name,
we are reminded of these qualities.
In China, Buddhism can be divided into ten schools, Aside from the two
Small Vehicle schools, which have already declined, the eight remaining
schools belong to the Great Vehicle. Two schools (Zen and Shing) enter
the Buddha’s teachings through the method of “Enlightenment”. They
seek the great enlightenment, to understand the heart/mind and uncover
the self-nature. Usually, those of lesser capabilities to become enlightened
on their own have much difficulty in reaching their goals through this
method. Thus, to cultivate the Zen School requires a high level of wisdom,
ability and a considerably pure mind. Without these, one would have to
start learning from the basis of Buddha Shakyamuni’s teachings.
The study of these teachings is to help establish proper understanding
and viewpoints; thus, the method of “Proper Views and Knowledge” is
used here to enter the Buddha’s teachings. There are four schools in
this category (Tian Tai, Shian Shou, Fa Shiang and San Lwun) The practitioners
of these schools study and follow the teachings of Buddha Shakyamuni to
correct their erroneous views, thoughts, and actions. Most people are capable
of learning this method, but it is a long journey, such as going to school.
One must start from elementary school, then gradually advance grade by
grade to junior high, high school, and college. In finishing one grade,
one attains, the benefit of that single grade. The final two schools are
the Pure Land and the Esoteric. These stress the importance of cultivating
purity of mind; thus, their method of practicing the Buddha’s teachings
is through purity. People of all capabilities, regardless of whether they
are intelligent or less able can practice the Pure Land School. All can
practice and succeed in cultivating Pure Land method. On the other hand,
the Esoteric School requires a high level of purity of mind, making it
very difficult to reach attainment.
The difference between the cultivation of purity in the Pure Land School
and the Esoteric School is that the Pure Land School teaches us to cultivate
purity of mind away from pollution, while the Esoteric School teaches us
to cultivate purity of mind in the midst of pollution. The latter involves
a state of being immersed in pollution but not being contaminated; naturally,
this state is too difficult for most people to attain.
True wisdom arises from purity of mind, thus, the wisdom spoken of in the
Buddha’s teachings is not attained from reading and studying books; the
wisdom we attain from reading and studying is only worldly knowledge and
not true wisdom.
True wisdom is the function of our self-nature. Our self-nature is complete
with infinite wisdom, virtues and abilities; qualities that are present
in everyone’s self-nature and we need to know how to bring them out.
“Buddha” is Purity, Equality and Enlightenment. The Buddha’s teachings
can be summarized into ten simple phrases:
True
Sincerity
towards
others.
Purity
of mind
within,
Equality
in
everything we see.
Proper
Understanding
of
life and the universe,
Compassion
in
helping others in a wise, unemotional and unconditional way,
See
through
to
the truth of impermanence,
Let
go
of
all wandering thoughts and attachments,
Attain
Freedom
of
mind and spirit,
Accord
With Conditions
to
go along with the situation,
Be
Mindful of Buddha Amitabha
Following
his teachings and vowing to be born into the Pure Land.
The first five represent the Buddha’s heart and the virtues of our self-nature.
Presently we are unable to completely manifest these qualities due to our
lack of cultivating the latter five. Diligent practice is needed to bring
out these virtues of the Buddha-nature within us.
The ultimate goal in learning Buddhism is the great Perfection. In all
walks of life, Buddhas and Bodhisattvas act as role models for all people
to follow. Students of the Buddha can be good examples of all others. Families
that follow the Buddha’s teachings can behave in a way that is worthy
of being the role model for all families. If one is still a student, then
one’s schoolwork, conduct and health become ane example for one’s classmates.
This is being a student of the Buddha. In going to work or running a business,
one can be a role model for all businesspersons to follow. Thus, everything
in the Buddhadharama can be number one. A family dwelling in perfect wisdom
is the most content, fortunate and happy family in the world.
Buddhism is the education of wisdom; it encompasses all things and exceeds
the boundaries between countries, races and religions. Since Buddhism is
an education, followers of all religions are welcome and can learn and
cultivate this education of true wisdom.
In the Visualization Sutra, the Three Conditions are the foundation of
cultivation in Buddhism. Upon perfecting the Three Conditions, one will
have complete wisdom, fortune and virtue.
The first condition consists of four practices based on the fundamental
moral of humankind:
1)
Being filial to our parents,
2)
Respecting teachings and elders,
3)
Being compassionate and not killing an living being and
4)
Following the Ten Good Conducts.
The
second condition consists of three practices based on cultivating the self:
5)
Taking Refuge in the Triple Jewels,
6)
Abiding by precepts, rules and customs,
7)
Conducting ourselves in a proper and dignified manner.
The
third condition consists of four practices, which follow the practices
of Bodhisattvas:
8)
Generating the Bodhi mind,
9)
Deeply believing in the Law of Cause and Effect,
10)
Reciting and upholding the Mahayana sutras and
11)
Encouraging others on the path to Enlightenment.
Altogether,
these eleven practices, each having its profound and vast meaning, needs
to be put into use in everyday life, for they are the foundation of the
forty-nine years of teachings given by Buddha Shakyamuni.
Great Vehicle Buddhism in China can be represented by the great Bodhisattvas
of the Four Famous Mountains. First is Earth Treasure Bodhisattva of Jiuhua
Mountain representing filial piety and respect. Second is Guan Yin (Great
Compassion) Bodhisattva of Putuo Mountain, representing compassion. Third
is Manjushri Bodhisattva of Wutai Mountain, representing wisdom. Fourth
is Universal Worthy Bodhisattva of Emei Mountain, representing true practice.
These four great Bodhisattvas represent the core of cultivation. As beginners,
we start learning from Earth Treasure, for the earth is the root of life
of all living beings. Because the great earth nurtures all beings and is
the treasury of all that is precious, the Buddha uses it to represent our
“mind ground” or “mind earth”. Our true mind/original nature is
complete with infinite wisdom, virtuous abilities and talents; we must
know how to open this treasury in order to attain its benefits. Earth
Treasure Bodhisattva teaches us to be filial to our parents and respectful
to our teachers, for in these practices lies the key to opening the treasury
of our self-nature.
The field of filial piety is vast. Our parents have shown us great kindness
in bringing us up and in educating us, therefore, we should not only nurture
their aging bodies, but we should also nurture their spiritual well-being
and minds thus helping them to be happy; this is practicing filial piety.
Regarding the practice of filial piety, we should strive to do our best
in living up to our parent’s expectations. When they wish us to be good
persons and the benefit society, we should do so; to act otherwise would
be unfilial. For children going to school, it would be unfilial to do poorly
in schoolwork, causing one’s parents to be worried and disappointed.
It would be unfilial if one’s conduct was poor, of it one’s health
was poor, or if one was disrespectful to one’s teachers or could not
get long with others. After reaching adulthood and entering society, it
would be unfilial to be rebellious towards one’s boss or unable to cooperate
with co-workers, causing one’s parents to worry. From these, we realize
how vast the field of cultivating filial piety really is, and that the
entire Buddhadharma is actually just teaching the Way of Filial Piety.
In Buddhism, the perfection of filial piety is only completed upon reaching
Unsurpassed Enlightenment of Buddhahood.
Nowadays, humankind has been seriously polluted in heart, thoughts, views,
spirit and body, thus leading to the appearance of many strange illnesses.
The root cause of illness and disease is pollution; if one’s body and
mind are pure one will not fall ill or grow old. To not become ill or grow
old is true happiness and good fortune. To attain this goal, we only need
to learn and cultivate according to the Buddha’s teachings.
In our world today, where foods have been polluted by poisons, we should
harbour compassion, for compassion is the antidote for all poisons. A truly
compassionate heart can neutralize all poisons. The Buddha once said, “All
dharmas arise from the mind.” Thus, a pure, equal and enlightened mind/heart
naturally brings health to one’s body.
When we recite morning and evening ceremonies in front of the Buddha and
Bodhisattva images, it is just as if we were vowing to abide by their teachings
right in their presence. Morning recitation acts as a reminder, preventing
us from forgetting the Buddha’s teachings, and reminding us to act accordingly
in the course of the day. Evening recitation is a reflection of the day’s
practice, checking to see if we acted according to the Buddha’s teachings.
If we did, then we can work even harder next time, if not, then we need
to reform, seeking to renew ourselves each day. Only by practicing in this
way can true benefits be attained. Morning and evening recitations are
the most basic practices in learning Buddhism. It is necessary to remind
ourselves each day and reflect and reform.
One who wishes to become a student of the Buddha should first learn from
Maitreya Bodhisattva, better known in America as “The Happy Buddha.”
Maitreya Bodhisattva represents the most basic conditions necessary to
become a Buddhist - a smiling face and a big heart, represented by
his big belly. All the Buddha images serve to remind us of the teachings
and are not idols or gods of worship. “The Happy Buddha” teaches us
to give rise to a non-discriminating mind and to be happy; thus being able
to enter the Buddha Way.
The content of the Buddha’s teachings is infinitely profound and vast;
one is unable to speak of it all, for the essence of it is unfathomable.
Understanding it can bring great help tour living, work and interacting
with all people, matters and affairs. Buddhism truly surpasses the boundaries
of nationality, race and religion – it encompasses everything. The Buddha’s
teaching is truly a perfectly complete education.
CHAPTER
FOUR
TAKING
REFUGE IN THE TRIPLE JEWEL
Taking Refuge means to return and rely. When we take refuge in the Buddha,
we are returning from our deluded state of mind and relying upon an Awakened,
Enlightened Mind. When we take refuge in the Dharma, we are returning from
deviant views and relying upon proper views and understanding. When we
take refuge in the Sangha, we are returning from pollution and disharmony
and relying upon Purity of Mind and the Six Principles of Living in Harmony.
Taking refuge in the Triple Jewels restores the complete wisdom and abilities
of our Self-Nature. We will attain Purity, Equality, Honest, Freedom, Compassion
and overall, True Happiness.
The
Buddha Jewel
Buddha is a Sanskrit meaning Awareness and Enlightenment. When we take
refuge in the Buddha, we vow to return from blind faith and delusion and
rely upon Understanding and Awareness as a way of life. Images of the Buddha
serve as a reminder for us to practice awareness and understanding, and
are not objects of worship. Prostrating and showing respect towards these
images are only ways to counter arrogance and cultivate humility. This
is taking refuge in the Buddha.
The
Dharma Jewel
Dharma means Proper Understanding and Views. Delusion has obstructed us
from seeing the true face of people and the reality behind matters and
objects. This has caused us to look at life and the universe in a distorted
and deviant way. When delusion is cleared and our minds are pure to an
extent, we give rise to wisdom. With wisdom, we are able to see all people
and matters completely and clearly. When our hearts are pure, we can see
the past, present and future. Only when we have clearly seen the Whole
can our viewpoint and Understanding be considered Proper.
The Buddha’s mind is pure without the slightest pollution and therefore
sees everything clearly and entirely. We can rely upon the Sutras, recorded
teachings of the Buddha, because they speak entirely of the truths the
Buddha has seen. They teach and show us the way to attain Purity of Mind,
to see life and the universe most clearly, and become just like the Buddhas.
When we encounter sutras, we should immediately forth a mind of respect
and remind ourselves to cultivate Right Understanding and Views. This is
taking refuge in the Dharma.
The
Sangha Jewel
Sangha means purity and harmony. Today’s world is filled with pollution;
pollution of mind, spirit, views and body. Even the earth and the atmosphere
are hazardly polluted. The Buddha taught, “The environment changes according
to the mind.” We should return from all these pollution and rely upon
purity of mind. Purity of mind is the key to saving our Earth.
There is also great disharmony in our world today, among spouses, families,
friends, societies and countries which has brought us much suffering and
many disasters. The Buddha taught us to rely upon the Six Principles of
Living in Harmony to establish harmonious relationships between others
and ourselves.
Sangha also refers to a group of four or more persons who practice the
Buddha’s teachings and abides by the Six Principles of Living in Harmony.
This includes the life-home people we may encounter. When we see left-home
people, we should immediately give rise to a mind of purity and harmony.
This is taking refuge in the Sangha.
THE
THREE REFUGES
To
the Buddha I return and rely,
returning
from delusions and
relying
upon
Awareness
and Understanding.
To
the Dharma I return and rely,
returning
from erroneous views and
relying
upon
Proper
Views and Understanding.
To
The Sangha I return and rely,
returning
from pollution and disharmony
and
relying upon
Purity
of Mind and the
Six
Principles of Harmony.
CHAPTER
FIVE
HOW
HOMEMAKERS CAN CULTIVATE THE BODHISATTVA WAY IN EVERYDAY LIFE
It must be very tiresome to do the same kind of work everyday, and especially
for homemakers. It seems as if one cannot be free from household chores
for a single day, and many are greatly troubled by their duties. However,
if we can learn to change our way of looking at things, we will be able
to perform our chores with great joy.
Much of the problem is that ordinary people are very much attached to the
“self”. They think, “I am doing all this work; poor me, I am so tired;
why should I do this for the?” The more they think this way, the more
afflicted they become. If we were to learn the Bodhisattva Way, the Way
of Understanding and Enlightenment, and vow to universally help all living
beings, then our viewpoint would be much different.
In following the Bodhisattva Path, the first thing we learn is the Practice
of Giving. By serving the family at home, the homemaker Bodhisattva is
already cultivating Giving. Giving includes the Giving of Wealth, the Giving
of Teaching and the Giving of Fearlessness. The Giving of Wealth can be
divided into outer wealth and inner wealth. For example, outer wealth refers
to making money for our family and providing the means for living. Inner
wealth refers to using our physical energy and wisdom to support our family.
So, the practice of giving can be completed perfectly at home.
When we do our housework with care and organize our home to be clean and
neat, this is bringing comfort to the family and admiration from our neighbours;
this is cultivating the Practice of Precept Observation. Abiding by precepts
simply means abiding by rules – rules of the country, society and family,
and doing everything in an organized and proper way. Endurance in doing
our chores without complaint or fatigue is cultivating the Practice of
Patience. In seeking improvement everyday, hoping that tomorrow’s attainment
will exceed that of today’s, is cultivating the Practice of Diligence.
In performing one’s various duties daily but still maintaining a pure
and undeluded heart, is cultivating the Practice of Concentration in Purity
of Mind, being apart from discriminating thoughts and attachments. From
within purity of mind, one will give rise to wisdom, and will be filed
with inner peace and happiness, this is cultivating the Practice of Wisdom.
Thus, with true understanding, we will discover that these Six Principles
Cultivated by Bodhisattvas (Giving, Precepts Observation, Patience, Diligence,
Concentration in Purity of Mind and Wisdom) can be practiced to perfection
in the everyday acts of dusting, sweeping, washing and cooking.
Once we have performed our duties well, we become role models for homemakers
all over the world and an example for all families to follow. Thus, not
only can be help our neighbours, but extended, we can influence society,
the country, and even the world in a positive way. From this we come to
see that in dusting, sweeping, washing, and cooking, a homemaker Bodhisattva
is actually carrying out the great vow of helping all living beings. This
is truly being a student of the Buddha. So, if we can contemplate our duties
as described above, we will be filled with peace and happiness in our work.
How then could anything trouble us?
The most important factor in learning and cultivating the Buddha’s teachings
is that one be able to practice them in everyday life. Understanding this,
we would be able to practice the Six Principles Cultivated by Bodhisattvas
at our work and office. A Bodhisattva, in all walks of life, whether appearing
as a man, woman, elder, or child, cultivates by living up to his/her own
responsibilities. Cultivation and living are one – this is the life of
enlightened beings.
CHAPTER
SIX
SELECTED
PASSAGES FROM LIVING BUDDHISM
Buddhism
is an education, not a religion. We do not worship the Buddha, we respect
him as a teacher. His teachings enable us to leave suffering and attain
true happiness.
It
is best to treat all people with respect and sincerity, being responsible
for our actions and careful when handling other’s property. Be conservative
with speech and actions to avoid harming others.
It
is best to show our gratitude to those who have shown us kindness, such
as parents, teachers and even society. Everyone in the society is interdependent
and inter-related; we can practice good deeds to repay them.
How
many people recognize the kindness shown by parents? Usually, people do
not realize until they themselves become parents or lose their parents.
We can show our gratitude through practicing filial piety by being responsible,
considerate and compliant to our parents.
To
be a poor, content, and happy person is better than being one who is rich,
worried, and afflicted with greed.
Buddhism
is a teaching, which shows us how to live a happy, fulfilling, and content
life.
True
love is undiscriminating, unattaching, and unconditional; we can share
this love with all beings. This is called compassion.
If
we wish to bring peace to the world, we need to start by changing our erroneous
ways. World peace stems from inner peace.
Our
goal in studying the Buddha’s teachings and cultivation is to attain
complete understanding of life and the universe.
Be
considerate and kind in your speech. To put down another person is only
proving your own arrogance and lack of self-confidence to others.
Life
is short and fragile, why not cultivate kindness instead of committing
acts which cause harm to living beings and oneself?
Cultivating
virtue is to keep a kind heart, speak kind words and do kind acts to benefit
others.
Wise
persons do not harbour feelings of gain or loss. In this way, they constantly
dwell in the joy of possessing great peace of mind.
The
point of practicing giving and charity is to forsake greed, hatred, ignorance,
and arrogance.
When
helping others, we should think about benefiting the entire society or
even the world instead of limiting our help to just the ones we love. Expanding
the boundaries of our care for others makes our lives more meaningful,
full of freedom and happiness.
The
Buddha’s teachings are a teaching of wisdom. Living Buddhism is to fill
our lives with utmost wisdom and happiness.
In
all circumstances, we must first reflect upon ourselves. Confucius once
said, “Do not give to others what you yourself do not desire”. This
is teaching us to keep a humane and sincere heart. If we want others to
smile at us, we must first smile at others. In dealing with matters, we
must not speak personal gain but should work for the public welfare.
A true
cultivator does not see the faults of others. When we think of others’
faults, it becomes our own affliction. Everyone has their good and bad
sides, but we must learn to look at the good points of others and strive
to respect all beings.