Quyển
1 Phật Giáo Là Một Nền Giáo Dục
Chương
1 Nguyên nhân của sự hỗn loạn trong thế giới ngày nay
Chương
2 Phật giáo như là một nền giáo dục
Chương
3 Kinh nghiệm bản thân của tác giả về Phật giáo
Chương
4 Phương pháp học và biểu tượng học Phật giáo
Chương
5 Phối hợp Khổng giáo và Phật giáo
Chương
6 Phật Giáo dành cho mọi người
Chương
7 Chìa khóa mở cửa kho tàng lớn nhất
Quyển
1
Phật
giáo như một nền giáo dục
Chương
một: Nguyên nhân của sự hỗn loạn trong thế giới ngày nay
Ngày
nay, xã hội Ðài Loan và những nơi khác trên thế giới đã
trở nên không bình thường, một hiện tượng chưa hề có
trước đây, dù ở Tây phương hay Ðông phương. Một vài người
Tây phương tiên đoán rằng tận thế diễn ra vào năm 1999,
và Chúa Giê-Su sẽ trở lại thế gian trong ngày phán xét. Người
Ðông phương cũng tiên tri về những tai họa sắp xảy ra tương
tự như những lời tiên tri của Tây phương, chỉ khác nhau
về thời gian, tức là khoảng hai mươi năm sau nữa. Một số
lời tiên tri như thế đã có từ thời xưa, và chúng ta không
nên quá coi trọng những lời này. Tuy nhiên nếu xét một cách
khách quan, chúng ta sẽ thấy thế giới này đang ở trong tình
trạng nguy hiểm thực sự.
Ô
nhiễm môi trường đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng,
ngày nay loài người đã bắt đầu hiểu sự cần thiết phải
bảo vệ môi trường của mình. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm
tâm linh còn nghiêm trọng hơn vấn đề ô nhiễm môi trường
bên ngoài. Ðây là nguồn gốc của những tệ nạn đang diễn
ra trên thế giới mà ít có ai nhận ra được. Người Trung
Hoa có câu nói: “Giáo dục là điều cần thiết để thành
lập một quốc gia, để huấn luyện người lãnh đạo cũng
như người dân”. Trong nhiều thế kỷ người Trung Hoa đã
luôn luôn tin vào sự quan trọng hàng đầu của giáo dục,
vốn được coi là nền móng của một xã hội hòa bình và
thịnh vượng. Giáo dục sẽ cung cấp cho chúng ta cách giải
quyết vô số những tệ nạn của xã hội, và sẽ hướng
dẫn cách chuyển khổ đau thành phúc lạc cho mỗi người.
Giáo dục có sức tác động mạnh mẽ vào quốc gia và dân
tộc. Thêm nữa trường sơ học là nền tảng của một hệ
thống giáo dục.
Chương
hai: Phật giáo như là một nền giáo dục
Phật
giáo chính thức truyền vào Trung Hoa vào 67 Tây lịch. Hoàng
đế Trung Hoa đã cử một đoàn sứ giả đặc biệt đi Ấn
Ðộ cung thỉnh các Tăng sĩ Phật giáo đến Trung Hoa để truyền
bá lời Phật dạy mà vào thời đó được coi là một hệ
thống giáo dục chứ không phải là một tôn giáo. Có điều
đáng tiếc là khoảng hai trăm năm trước đây việc tu hành
đã trở thành như một tôn giáo.Vì vậy, mục đích của bài
này là để điều chỉnh lại sự hiểu lầm này bằng cách
đưa chúng ta trở về với hình thức Phật giáo nguyên thủy
như Phật Thích Ca đã truyền dạy.
Mục
đích của lời dạy của Ðức Phật
Phật
giáo là một hệ thống giáo dục của Phật Thích Ca, tương
tự như nền giáo dục của Khổng Tử, vì cả hai hệ thống
này trình bày những quan điểm và những phương pháp giống
nhau. Mục tiêu của nền giáo dục Phật giáo là đạt tới
trí tuệ. Trong Sanskrit, cổ ngữ của Ấn Ðộ, trí tuệ Phật
giáo được gọi là “Anuttara-Sanyak-sambhodi”, tức “Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác” hay “trí tuệ của hoàn
hảo tối thượng”. Ðức Phật dạy rằng mục đích chính
yếu của việc tu tập là đạt trí tuệ vô thượng này. Ngài
còn dạy rằng ai cũng có tiềm năng chứng ngộ trạng thái
trí tuệ tối thượng, vì nó là một thành phần cốt yếu
trong chân tính của con người, chứ không phải là một cái
gì ở bên ngoài để người ta thủ đắc. Nhưng vì đại đa
số chúng sinh quá vô minh nên đã khoâng biết tới tiềm năng
này. Vì vậy nếu biết giải trừ vô minh lầm chấp thì chúng
ta sẽ chứng ngộ được phần cốt yếu trong chân tính của
mình. Vậy, Phật giáo là một hệ thống giáo dục nhắm tới
việc chứng ngộ chân tính. Phaät giáo cũng dạy về sự bình
đẳng tuyệt đối, vì Ðức Phật nói rằng tất cả chúng
sinh đều có Phật tánh tức là chân tính và trí tuệ vô thượng.
Vì thế không có sự khác biệt thực sự nào giữa chúng sinh.
Hiện tại chúng ta thấy mọi người có sự sai biệt khác
nhau, đó là vì chúng ta không nhận ra chân tính của mình và
đã trở nên vô minh, mức độ thông minh của mỗi người
tùy thuộc vào mức độ vô minh chứ không liên quan gì tới
chân tính của người đó. Giáo lý của Ðức Phật giúp chúng
ta nhận ra trí tuệ nội tại, hoàn hảo, và vô thượng của
mình. Với trí tuệ, chúng ta có thể giải quyết mọi vấn
đề và chuyển khổ đau thành phúc lạc. Do thiếu trí tuệ
mà chúng ta đã có nhận thức, ý kiến và hành vi sai lầm,
và do đó phải chuốc lấy những nghiệp quả xấu. Nếu có
trí tuệ thì ý nghĩ, quan điểm và hành vi của chúng ta đúng
đắn, và như vậy ta sẽ không phải chịu sự hành hạ của
đau khổ, vaø tất nhiên ta sẽ hưởng những niềm vui. Từ
đây chúng ta có thể thấy rằng vô minh là nguyên nhân của
đau khổ, và chứng ngộ trí huệ là gốc rễ của phúc lạc.
Cốt
tủy của Ðạo Phật
Giáo
lý của Ðức Phật có ba điểm chính yếu, đó là trì giới,
thiền định và trí tuệ. Trí tuệ là mục tiêu, còn thiền
định là tiến trình cần yếu để đạt trí tuệ. Trì giới
là phương tiện giúp hành giả đạt trạng thái tâm ổn định
và khi đó hành giả tự nhiên sẽ chưùng ngộ trí tuệ. Toàn
bộ hệ thống giáo lý Ðạo Phật được bảo tồn trong kinh
điển không bao giờ xa rời ba điểm này. Phật giáo được
bao gồm trong ba Tạng Kinh Ðiển, tức là ba Tạng Kinh, Luật
và Luận, nói về thiền định, trì giới, và trí tuệ, theo
thứ tự như vậy.
Tổ
chức giáo dục Phật giáo ở Trung Hoa
Nền
giáo dục Phật giáo có nền móng là sự hiếu thảo, giống
như nền văn hóa Trung Hoa vậy. Trước khi Phật giáo du nhập
vào Trung Quốc, sự hiếu để đã là cột trụ của xã hội
và đã được ủng hộ bởi các nhà thông thái của Trung Hoa
thời xưa. Khi các Tăng sĩ từ Ấn Ðộ tới Trung Hoa và bắt
đầu thuyết pháp cho các quan chức thì mọi người nhận thấy
ngay rằng Phật giaùo có vô số điểm tương đồng với truyền
thống Khổng giáo bản địa. Kết quả là triều đình
Trung Hoa đã tiếp nhận Phật giáo và thỉnh cầu các Tăng
sĩ ở lại quốc gia này lâu dài.
Hai
Tăng sĩ Ấn Ðộ đầu tiến đến Trung Quốc laø Ma Ðằng
và Trúc Pháp Lan. Hai vị này được Hồng Lô Tự (Hong Lu Si)
đón tiếp một cách nồng hậu. Hồng Lô Tự tương đương
như Bộ Ngoại Giao hay Bộ Nội Vụ ngày nay. “Tự” có nghĩa
là một bộ của chính phủ. Vị đứng đầu Hồng Lô Tự
tương đương như Bộ Trưởng Ngoại Giao hay Bộ Trưởng
Bộ Nội Vụ. Tuy nhiên, Hồng Lô Tự chỉ có thể đón tiếp
các khách ngoại giao một thời gian ngắn, vì vậy để các
vị khách có thể ở lại thường trực, Hoàng đế Trung Hoa
đã thành lập thêm một bộ nữa là, đó là “Bạch Mã Tự”,
phụ trách về Phật học. Như vậy lúc đầu, “Tự” không
có nghĩa là một ngôi chùa, mà là một bộ của chính quyền.
Chỉ về sau này ở Trung Hoa, "Tự” mới của nghĩa là “chùa”.
Vậy có hai bộ phụ trách về giáo dục, đó là “Bộ Lễ”
và “ Bạch Mã Tự”. Bộ Lễ trực thuộc tể tướng, và
phụ trách Khổng học, hệ thống giáo dục truyền thống của
Trung Hoa. Bộ Lễ tồn tại cho tới đầu thế kỷ hai mươi.
Do hoàng đế Trung Hoa giúp đỡ rất nhiều cho Bạch Mã Tự
nên Phật học mau chóng lan truyền khắp Trung Hoa. Có những
nơi Phật học có ảnh hưởng đến dân chúng nhiều hơn là
nền giáo dục truyền thống của Bộ Lễ. Kết quả cho thấy,
không phải ở làng nào, xóm nào cũng có trường Khổng giáo,
nhưng ngược lại ở đâu cũng có “Tự”, tức là ngôi chùa
Phật giáo. Trong thời gian đầu tiên, chùa Phật là nơi giáo
dục hay là học viện và không cử hành bất kỳ lễ nghi tôn
giáo nào, không giống như ngôi chùa ngày nay.
Một
nhiệm vụ khác của ngôi “Tự” nguyên thủy là dịch thuật
kinh sách. Nỗ lực dịch thuật này rất lớn mà người ngày
nay khó có thể tưởng tượng được. Trong thế kỷ thứ bảy,
Pháp sư Huyền Trang đã trông coi sáu trăm học giả trong việc
dịch kinh sách. Trước đó một nhà phiên dịch kinh tạng khác
là Ngài Cưu Ma La Thập (Kumaraja) đã có một nhóm dịch thuật
gồm bốn trăm học giả. Như vậy, “Tự” là một tổ
chức lớn của chính quyền. Nhưng không may là khoảng hai trăm
năm trước “ Tự” đã hoàn toàn biến thành nơi mê
tín. Tính chất giáo dục và học thuật của “ Tự” đã
hoàn toàn không còn nữa, thật là một điều đáng buồn.
Bốn
loại Phật Giáo Ngày nay
Ngày
nay có bốn loại Phật giáo đang được thực hành. Thứ nhất
là tôn giáo Phật giáo mà người ta có thể thấy trong các
chùa ở Ðài Loan. Loại hình này không phải là Phật giáo
chính thống. Thứ hai là Phật giáo kinh viện, được dạy
ở các trường đại học ngày nay, nơi Phật giáo chỉ được
xem như một triết lý, một môn học, đặc biệt là ở Nhật
bản . Ðây không phải là nền giáo dục thật sự của Ðức
Phật.Thứ ba, và không may mắn nhất là sự thoái hóa hoàn
toàn của Phật giáo thành một loại hình mê tín. Loại Phật
giáo thứ ba này làm tổn hại nhiều cho quần chúng hơn
là hai loại trên. Sau cùng là loại Phật giáo chân truyền,
cốt tủy của những lời dạy của Ðức Phật,
rất hiếm có trong thời đại của chúng ta.
Chương
ba: Kinh nghiệm bản thân của tác giả về Phật giáo
Khi
còn là một sinh viên trẻ tuổi ở Nam Kinh, tôi không tin vào
một tôn giaùo nào cả. Tôi đã đến nhà thờ cùng với một
số bạn học để tìm hiểu về Gia Tô giáo. Nhưng dù cố
gắng đến đâu tôi cũng không thấy có cách gì để chấp
nhận tôn giáo này. Lúc đó tôn giáo mà tôi ưa thích là Hồi
giáo, vì Hồi giáo chú trọng đến những nguyên tắc luân
lý và đạo đức, và tôi nghĩ rằng đây là điều hiếm có
trong các đạo giáo. Khi tôi biết Phật giáo vào thời đó
thì các tăng sĩ đã không thuyết phục được tôi, vì vậy
tôi cũng không chấp nhận PG, và đây là tôn giáo mà tôi đối
kháng nhiều nhất. Lúc đó tôi còn quá trẻ, và lại không
gặp được một bậc thiện hữu tri thức nào.
Sau
khi tới Ðài Loan tôi được nghe nhiều về giáo sư Ðông Mỹ
Phương (Dong Mei Fang), lúc đó là một triết gia nổi tiếng
và là một giáo sư thuộc viện Ðại học Quốc gia Ðài Loan.
Với lòng ngưỡng mộ, tôi viết cho ông một bức thư để
hỏi về việc theo học một lớp của ông ở trường đại
học. Lúc đó giáo sư Phương khoảng chừng bốn mươi tuổi.
Ông mời tôi đến nhà và nói với tôi rằng “ngày nay ở
trường học, thầy không phải là thầy, mà trò cũng không
phải là trò, nếu cậu tới trường để mong học được
cái gì đó thì cậu sẽ thất vọng”. Nghe ông nói vậy tôi
hơi bối rối như thể ông đã dội nước lạnh vào những
dự tính của tôi. Sau cùng ông lại nói: “ tại sao cậu không
đến nhà tôi vào mỗi chủ nhật, rồi tôi sẽ hướng dẫn
riêng cho caäu trong khoảng hai tiếng đồng hồ”. Tôi đã
không tin là ông lại quá tốt với mình như vậy. Thế là
tôi học được từng triết lý một ở cái bàn nhỏ trong
phòng khách hẹp của giáo sư Phương, và điều này rất quý
báu đối với tôi. Ông dạy về triết học Tây Phương, Trung
Hoa, Ấn Ðộ và sau cùng là Phật giáo. Ông dạy tôi rằng
Phật giáo là đỉnh cao của triết học thế giới và Phật
giáo đã dâng tặng hạnh phúc tối thượng cho loài người.
Những gì ông nói với tôi rất hấp dẫn và chẳng bao lâu
sau tôi nhận ra rằng Phật giáo chứa đựng một cái gì đó
rất tuyệt vời. Tôi bắt đầu đi thăm các chùa ở Ðài Bắc.
Tuy nhiên với một người đa nghi như tôi thì các tăng sĩ
ở những chùa này không có khả năng trình bày Phật giáo
một cách rõ ràng. May mắn thay ngày nay tăng sĩ có thể truyền
dạy giáo lý tốt hơn xưa rất nhiều. Sau đó tôi đến
thăm San Dao Si (Sơn Ðảo Tự), một ngôi chùa lớn ở Ðài
Bắc có rất nhiều kinh sách. Trong thời đó rất hiếm sách
Phật giáo được xuất bản và lưu hành. Các Tăng sĩ ở Shan-Dao-Si
đã rất tốt với tôi, cho phép tôi mượn nhiều kinh sách
quý và hiếm. Ðiều này rất lợi ích đối với tôi.
Ít
lâu sau khi bắt đầu nghiên cứu Phật giáo một cách nghiêm
chỉnh, tôi đã được may mắn gặp Ðại Sư Chương Gia (Zhang
Jia). Ngài là một hành giả Mật Tông thành tựu, người đã
dạy và hướng dẫn tôi trong việc học cũng như thưïc hành.
Giống như giáo sư Phương, đại sư dạy tôi hai giờ mỗi
tuần trong ba năm, cho tới khi ngài qua đời. Sau đó tôi đi
Ðài Trung để học và thực hành với pháp sư Lý Bỉnh Nam
( Lee Bing Nan).
Phật
giáo là một loại tri thức đaëc biệt chứ không phải là
tôn giáo. Ðể đạt được lợi ích thực sự, chúng ta phải
hiểu tính chân thật của Phật giáo. Tôi đã hết sức tôn
trọng Phật giáo, và tin rằng Phật Thích Ca là một nhà giáo
dục bậc nhất trong lịch sử thế giới. Ðức Phật giống
như đức Khổng Tử ở chỗ dạy mọi người một cách không
mệt mỏi và phân biệt.
Chương
bốn: Phương pháp học và biểu tượng học Phật giáo
Hệ
thống giáo dục liên tục dành cho các vị xuất gia
Phật
Thích Ca là người đầu tiên thiết lập hệ thống giáo dục
liên tục cho các đệ tử xuất gia. Nhiều đệ tử của Ðức
Phật đã thành tựu dưới sự hướng dẫn của Ngài. Mỗi
năm, những đệ tử này được chỉ định dạy giáo lý ở
các nơi khác nhau trong chín tháng. Ở Ấn Ðộ mùa mưa kéo
dài từ tháng ba đến giữa tháng bảy, gây bất tiện cho việc
đi lại và việc học trong ba tháng. Vì vậy, tất cả các
đệ tử trở về với Ðức Phật để học thêm giáo lý và
học hỏi lẫn nhau trong các giờ học. Khoảng thời gian này
được gọi là Mùa an cư kiết hạ, và tương ứng với cái
mà bây giờ gọi là giáo dục liên tục cho giáo viên. Hệ
thống giáo dục ngày nay là việc cần thiết do có sự tiến
bộ về kỹ thuật, nhưng hai ngàn năm trăm trước, Ðức Phật
đã thực hiện điều này để đưa các đệ tử của ngài
trở về để học thêm giáo lý.
Mỹ
thuật Phật giáo
Phật
giáo có những biểu tượng mỹ thuật. Khởi thủy Phật giáo
là một nền giáo dục, phối hợp những cái tương ứng với
hệ thống trường học và viện bảo tàng ngày nay. Vậy “chùa”
là bao gồm trường học, thư viện và viện bảo tàng. Ngày
xưa ở Trung Hoa, hệ thống trường học truyền thống không
được phổ biến rộng rãi nên đa số học sinh đến một
chùa để học, vì ở đây thường có đủ sách vở, giống
như một thư viện ngày nay, và không chỉ có toàn kinh điển,
mà còn có gần như tất cả những loại sách khác. Các tăng
sĩ học Phật giáo , Khổng giáo, Lão giáo và các sách cổ
của Trung Hoa, họ có khả năng trả lời các câu hỏi và thông
thạo về các đề tài khác nhau. Kết quả là các học viện
Phật giáo giữ nhiệm vụ giáo dục cho xứ sở này.
Những
ngôi tự viện Phật giáo là sự biểu lộ mỹ thuật được
gọi là “Phật giáo biểu hiện”. Tuy nhiên những bức tượng
Phật và Bồ Tát không phải là sự biểu lộ của đa thần
giáo. Mỗi bức tượng đều có tính chiêu cảm trí tuệ và
giác ngộ trong mỗi người chúng ta. Những bức tượng này
cũng tượng trưng một số phương diện của PG, nhắc nhở
các hành giả về một giáo lý nào đó. Thí dụ bồ tát Quan
Âm, vị Bồ Tát phổ biến nhất ở Trung Hoa, tượng trưng
cho lòng từ bi, tượng Quan Âm sẽ nhắc nhở chúng ta phát
tâm từ bi đối với thế gian, với mọi người và vạn vật.
Nhưng ngày nay người ta thờ Bồ Tát Quan Âm như một vị thần
và cầu nguyện với ngài để được cứu khổ cứu nạn.
Ðây là một sự mê tín và sai lầm, vì người ta quên rằng
những bức tượng này tượng trưng cho những ý niệm trong
Phật giáo.
Kiến
trúc Phật giáo cũng là một sự biểu hiện mỹ thuật. Ngôi
chánh điện tương ưùng với một phòng học hay một phòng
họp lớn, và nhìn từ bên ngoài có vẻ như có hai tầng nhưng
ở bên trong chỉ có một tầng. Hai tầng bên ngoài tượng
trưng cho Chân đế và Tục đế hay chân lý tuyệt đối và
chân lý tương đối. Chân đế là sự thật của đời sống
trong vũ trụ, còn Tục đế là kiến giải thế tục vẫn còn
vô minh. Tầng độc nhất bên trong muốn nói rằng Chân đế
và Tục đế chỉ là một chân lý. Với người vô minh thì
Chân đế và Tục đeá là hai điều khác nhau, còn đối với
người giác ngộ thì Chân đế và Tục đế là một.
Ở
giữa chánh điện có một tượng Phật và hai tượng Bồ Tát.
Tượng Phật tượng trưng tính chất thật của vũ trụ và
con người, được gọi là “Phật tính” hay “chân tâm”.
“ Phật”, tiếng Sanskrit có nghĩa là “người đã giác ngộ
viên mãn”. Tượng Phật biểu trưng cho sự giác ngộ nguyên
thủy của chúng ta, còn hai bức tượng Bồ tát thì biểu trưng
sự ứng dụng tâm giác ngộ nguyên thủy này. Tất cả những
biểu tượng và những ý nghĩa nhiều vô số có thể được
chia làm hai loại: Trí tuệ và Thực hành. Thí dụ: Tịnh Ðộ
Tông thờ một vị Phật và hai Bồ Tát của Tịnh Ðộ Tây
Phương. Phật A Di Ðà (Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ)
tượng trưng sự giác ngộ vốn là một phần chân tính của
chúng ta. Bồ tát Quan Âm tượng trưng lòng từ bi, và Bồ Tát
Ðại Thế Chí tượng trưng cho đại trí tuệ. Chúng ta nên
từ bi với chúng sanh, nên có ý nghĩ, kiến giải và hành vi
hợp lý, chứ không nghĩ, nói và làm theo tình cảm riêng tư,
để chỉ gây ra phiền não. Vì vậy chúng ta không nên coi Ðức
Phật và các Bồ Tát là những vị thần, Nhưng các ngài có
gia hộ cho chúng ta không? Có, các ngài sẽ trao cho chúng ta
những tri kiến để biết cách giải trừ phiền não và thoát
khổ. Khi đã biết ý nghĩa của kiến trúc, âm nhạc, tranh
và tượng Phật giáo, chúng ta sẽ có được kinh nghiệm phong
phuù khi viếng thăm một ngôi chùa.
Tuy
nhiên ngày nay có nhiều người không hiểu ý nghĩa và giáo
lý của Phật giáo, nên họ cho rằng tranh và tượng Phật,
Bồ Tát là dấu hiệu của Ða Thần Giáo. Thật ra trong Phật
giáo, hình tượng chỉ là phương tiện để hỗ trợ việc
học đạo chứ không phải là tượng thần linh để phụng
thờ và cầu xin. Chúng ta có vô số khả năng ẩn sâu trong
chân tánh bất tư nghì của mình, vì vậy chúng ta có vô số
biểu tượng để tương ứng, giống như ngày nay một người
có thể có nhiều chức vụ và tước vị ghi trên tấm danh
thiếp để cho thấy những địa vị và những thành tựu mà
họ đạt được. Chư Phật, Bồ Tát là những biểu tượng
của chân tánh bên trong chúng ta. Phật tượng trưng cho chân
tâm, các Bồ Tát tượng trưng những đức tánh đạt được
ngang qua việc tu luyện. Tất cả chúng ta đều có những phẩm
tính này. Chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa của biểu tượng
học Phật giáo để có thể cảm nhận được sự phong phú
và hoàn hảo của nền giáo dục Phật giáo.
Ngày
nay, những tự viện tiêu biểu rất hiếm thấy. Ngôi điện
đầu tiên của chùa là Ðiện Hộ Pháp. Ở giữa điện này
là tượng Bồ Tát Di Lặc được tạc theo hình ảnh của Bố
Ðại Hòa Thượng. Nụ cười lớn của tượng Di Lặc hàm
ý để thông hiểu Phật Pháp, người ta phải biết vui vẻ
và hòa nhã với tất cả mọi người và mọi sự vật.
Cái bụng to tướng của Ngài là tượng trưng sự công bằng,
uyển chuyển, không thiên lệch, nhẫn nhục và tính khoan
dung.
Bên
cạnh tượng Di Lặc là bốn tượng Hộ Pháp, tượng trưng
cho sự bảo hộ những ai thọ trì Phật pháp. Các Ngài bảo
hộ chúng ta bằng cách nhắc nhở chúng ta tu học và gìn giữ
chánh kiến của mình. Mỗi vị Hộ Pháp biểu trưng cho mỗi
ý nghĩ hay hành vi.
Hộ
Pháp Ðông Phương (cầm cây đàn) tượng trưng cho bổn phận
và sự bảo đảm lãnh thổ, nghĩa là tất cả chúng ta phải
có bổn phận với bản thân, gia đình, xã hội, và tổ quốc.
Nếu mỗi người chúng ta làm tốt bổn phận và làm tròn những
nhiệm vụ của mình thì như vậy là chúng ta hỗ trợ lẫn
nhau cũng như phục vụ chính mình. Hộ Pháp Nam Phương (cầm
kiếm) tượng trưng sự tiến bộ và dạy chúng ta phải tinh
tấn. Ngài nhấn mạnh sự quan trọng của việc tu sửa liên
tục để gia tăng đức hạnh, trí huệ, và kiến thức, phát
triển khả năng thi hành những bổn phận của mình. Ðiều
này giống như là dạy người ta nên tu sửa mỗi ngày của
Khổng Giáo.
Hộ
Pháp Tây Phương (cầm con rồng) tượng trưng tri kiến bao quát
về thế gian. Chúng ta cần phải mở mắt quan sát con người
và vạn vật, phát triển tri kiến, và biết phân biệt phải
trái, xấu tốt. Hộ Pháp Bắc Phương (cầm lộng) tượng trưng
sự học bao la. Hai vị Hộ Pháp này chỉ dạy cách thực hành
và đạt đến thành tựu trong việc thi hành bổn phận và
tu sửa bản thân. Cổ nhân có câu "Ðọc vạn cuốn sách, đi
vạn dặm đường". Chúng ta đọc sách để gia tăng kiến thức,
và đi đây đó để quan sát sự vật. Như vậy chúng ta sẽ
có khả năng tự tu sửa và thi hành bổn phận của mình hiệu
quả hơn.
Ngày
nay, người ta vào Ðiện Hộ Pháp để đốt nhang, lễ bái
và dâng hoa quả để mong được phù hộ về tài lộc và phúc
lạc. Như vậy là mê tín, vì tất cả những tiện nghi, những
tranh tượng Phật, Bồ Tát, những nghi thức dâng cúng chỉ
là những phương tiện giáo hóa, gây cảm hứng cho tâm trí
của chúng ta, nhắc nhở chúng ta cần phải đạt giác ngộ,
thay vì vô minh, trở nên người đức hạnh thay vì tội lỗi,
thanh tịnh thay vì ô trược. Giác ngộ, tri kiến chân chính,
và thanh tịnh là ba nguyên lý của Phật Pháp.
Pháp
môn thực hành
Phật
Giáo có tám mươi tư ngàn pháp môn, tức là có vô số pháp
môn thực hành khác nhau, nhưng tất cả đều đưa tới ba mục
tiêu: giác ngộ, tri kiến chân chánh, và thanh tịnh. Như vậy
tất cả các pháp môn đều bình đẳng, không có pháp nào
cao hơn pháp nào. Người ta có nhiều căn cơ khác nhau, tức
là khả năng và mức thành tựu khác nhau. Thêm nữa, người
ta có hoàn cảnh khác nhau, nên mỗi người phải chọn pháp
môn nào thích hợp với mình nhất. Chúng ta có thể chọn một
trong ba mục tiêu nói trên để tập trung nỗ lực tu tập của
mình vào đó. Khi đạt được một mục tiêu thì hai mục tiêu
kia sẽ tự nhiên xuất hiện.
Phật
Giáo Trung Hoa có mười tông phái khác nhau. Thiền tông chú
trọng việc đạt tâm quang minh hay giác ngộ. Tịnh độ tông
và Phật Giáo Tây Tạng hay Kim Cương Thừa quan tâm tới việc
đạt tâm thanh tịnh, còn các tông phái khác thì tập trung
vào việc tu tập đạt tri kiến chân chánh. Dù chúng ta chọn
một pháp môn nào hay một tông phái nào thì tất cả đều
dẫn tới cùng một kết quả. Nói cách khác, một khi ta đã
quán thông một pháp môn thì chúng ta sẽ quán thông tất cả
các pháp môn khác.
Sự
thanh tịnh của thế gian phát xuất từ sự thanh tịnh nội
tâm của cá nhân. Với tâm thanh tịnh, không phân biệt và
không chấp thủ, chúng ta sẽ đạt được mức trí huệ cao
hơn mà trong đó thế giới xung quanh chúng ta sẽ tự nhiên
hòa hợp. Bằng việc niệm danh hiệu Phật, tham thiền, tụng
kinh, trì chú, và thực hành lời Phật dạy, hành giả sẽ
đạt giác ngộ, tri kiến chân chánh, và tâm thanh tịnh. Tuy
nhiên, với quan niệm sai lầm, hành giả tụng niệm để cầu
xin tài lộc hay thăng quan tiến chức, là tôn giáo mê tín,
trái ngược với lời dạy của Phật Thích Ca.
Từ
ngữ Phật học cho thấy Phật giáo là một nền giáo dục
Phật
Giáo (Buddhism) là giáo lý của Phật Thích Ca, vị sáng lập
Ðạo Phật. Chúng ta gọi ngài là "Ðức Bổn Sư", giống như
người Trung Hoa gọi Khổng Tử là vị thầy và là triết gia
vĩ đại nhất. Liên hệ giữa Ðức Phật và chúng ta là liên
hệ thầy trò, và mối liên hệ này không có tính cách tôn
giáo. Trong tôn giáo, không có liên hệ thầy trò, mà chỉ có
liên hệ cha con hay liên hệ chủ tớ.
Khoảng
hai mươi năm trước, tôi đã thực hiện một loạt những
bài diễn thuyết ở đại học Gia Tô Giáo Fu Ren và dạy ở
tu viện Thomas một khóa. Tôi nói với các sinh viên, đa số
là tu sĩ, rằng họ hãy quy y với Ðức Phật và học thấu
đáo Phật Pháp. Tuyệt đối không có sự mâu thuẫn nào giữa
Phật Giáo và tôn giáo, vì một bên là liên hệ thầy trò,
và một bên là liên hệ cha con. Nếu các tu sĩ đó theo Phật
Giáo và bỏ tôn giáo của họ thì tôi tin rằng Ðức Phật
cũng không chấp nhận họ, vì bỏ cha mẹ để theo vị thầy
là trái luân thường đạo lý. Vì vậy, các tín đồ tôn giáo
sẽ đạt được lợi ích nếu học thực hành Phật giáo.
Khi tu tập chúng ta sẽ đạt được trí huệ để biết Thiên
Ðường thực sự, và sẽ có khả năng quyết định khi nào
mình muốn đi lên Thiên Ðường và đi bằng cách nào. Vậy,
Phật giáo chỉ một đạo đưa đường dẫn lối cho chúng
ta đạt lại trí huệ thực sự của mình.
Khi
một Tăng sĩ được gọi là Hòa Thượng (He-Shang) thì vị
đó tương đương với giám hiệu của một trường học ngày
nay, vì ngài là người chăm lo về đường hướng giáo dục.
Tất cả các vị khác trong trường học là các giáo sư thi
hành đường lối giáo dục của vị giám hiệu, và giữ vai
trò khuoân mẫu về hành vi và ngôn từ cho các học sinh noi
theo. Người thầy quá cố của tôi là giáo sư Phương luôn
nói với tôi rằng Phật Giáo là một nền giáo dục (Buddhism
is an education). Về sau, khi nghiên cứu kinh sách, tôi đã tái
khẳng định lời nói của ngài, rằng Phật giáo là đỉnh
điểm trí huệ của thế giới. Phật giáo mang lại niềm vui
lớn nhất cho loài người. Tôi đã chứng nghiệm niềm hân
hoan tối thượng này khi thoát khỏi phiền não, mê muội và
vọng niệm. Thân thể và tâm trí của tôi thanh tịnh, hoàn
toàn dễ chịu. Tôi là người hạnh phúc nhất thế gian. Vì
vậy tôi cảm thấy mình chịu ơn giáo sư Phương, vì nếu
không có ngài thì tôi đã không nghiên cứu Phật Pháp vaø
đã không đạt được phúc lạc viên mãn như ngày hôm nay
nhờ việc tu theo lời Phật dạy.
Chương
năm: Phối hợp Khổng giáo và Phật giáo
Phật
giáo đã hội nhập thành công vào nền văn hóa Trung Hoa, và
đã trở thành bất khả phân ly với nền văn hóa này. Văn
hóa Trung Hoa và Phật giáo có chung một ý niệm căn bản, đó
là từ bỏ quyền lợi của bản thân vì quyền lợi của người
khác. Khổng giáo và Phật giáo chủ trương phát huy và tôn
vinh đạo hiếu, tức là sự tôn kính đối với cha mẹ và
các vị thầy của mình. Hiếu để là một thành tố quan trọng
trong việc kiến tạo nền hòa bình trên thế giới.
Giáo
dục nghĩa là gì? Giáo dục là ý nghĩa và giá trị của đời
người, nhưõng liên hệ giữa mọi người cũng như giữa con
người với vũ trụ. Khổng Giáo bao gồm ba điểm chính sau
đây: Thứ nhất là cần phải hiểu mối liên hệ giữa mọi
người để biết yêu thương người khác. Thứ nhì là cần
phải hiểu mối liên hệ giữa con người và vũ trụ để
biết kính trọng thần linh. Thứ ba là cần phải hiểu mối
liên hệ giữa con người và môi trường để biết cách bảo
vệ môi trường và vạn vật. Trong Khổng giáo có bốn môn
học là đạo đức, ngôn từ, khả năng kiếm sống, và nghệ
thuật. Ðiều cốt tủy của Khổng giáo là dạy đạo đức.
Ðây là việc quan trọng hàng đầu, vì không có đạo đức
và luân lý thì người ta trở nên vị kỷ, chỉ nghĩ tới
bản thân mà không quan tâm tới xã hội, và thái độ này
có thể gây ra tình trạng hỗn loạn trên thế giới. Nền
giáo dục ngày nay không coi trọng việc dạy đạo đức nữa.
Các trường học chỉ dạy về các nghề nghiệp chuyên môn,
và như vậy chỉ là phương diện bên ngoài chứ không phải
là gốc rễ của giáo dục. Khi gốc rễ bị hỏng thì nền
tảng xã hội bị lung lay, và xã hội bị xáo trộn như tình
trạng ngày nay. Trường tiểu học giống như gốc rễ của
giáo dục, còn trường trung học và đại học thì giống như
lá và hoa. Các giáo viên nên dạy về đạo hiếu cho con em
càng sớm càng tốt.
Khi
nghiên cứu nguồn gốc chữ viết của người Trung Hoa, chúng
ta không thể không khâm phục trình độ trí huệ cao siêu của
tổ tiên. Chúng ta biết ơn các ngài đã ban cho ta một tài
sản quý báu như vậy. Chữ “hiếu” của Trung Hoa hàm
chứa tinh thần của Phật giáo và nền móng của giáo dục,
vì trong chữ này có chữ "lão" và chữ "tử" (nghĩa là "con").
Ngày nay, người ta nói đến hố sâu thế hệ giữa cha mẹ
và con cái mà truyền thống gia đình không hề có trước kia.
Theo truyền thống Trung Hoa không chỉ có mối liên hệ chặt
chẽ giữa cha mẹ và con cái, mà còn coù những mối liên hệ
khác như ông bà và các cháu nội ngoại v.v..., tất cả đều
là những thành phần của một dòng liên tục. Ðây là một
ý niệm độc đáo. Người Tây phương thường hỏi là tại
sao người Trung Hoa lại thờ kính những tổ tiên mà mình không
được biết rõ. Thờ kính tổ tiên là nền móng của Khổng
giáo và Phật giáo, và là nguồn gốc của hòa hợp xã hội
và hòa bình thế giới.
Ngày
nay mọi người đều mong muốn thế giới được hòa bình,
nhưng để có hòa bình chúng ta phải bắt đầu từ nền móng
hiếu kính. Phật giáo chú trọng tâm từ bi vô điều kiện
đối với chúng sinh trong vũ trụ, cả trong quá khứ, hiện
tại, cũng như tương lai. Dòng liên tục thời gian và không
gian là bất khả phân ly với bản thân mỗi chúng sinh, vì
Tất Cả Chúng Ta Là Một Thực Thể (We are all one Entity). Ý
niệm bao quát này không có ở trong tôn giáo. "Như Lai", một
trong mười danh hiệu Phật, hàm ý một đấng giaùc ngộ vốn
là bản tính của chúng ta và cũng là tính chất thật của
vũ trụ và đời người. Ý niệm này được thể hiện bởi
chữ "hiếu" của Trung Hoa và danh hiệu Phật A Di Ðà trong Tông
Tịnh Ðộ. Những danh từ này có thể khác nhau nhưng ý nghĩ
vẫn là một, đó là: tình yêu vô điều kiện dành cho mọi
sinh linh, vượt thời gian và vượt không gian.
Năm
mối liên hệ của loài người
Khổng
Giáo có nền móng là năm mối liên hệ của loài người, tức
"Ngũ Thường", được thiết lập trên những nguyên tắc đạo
đức. Năm mối liên hệ này là liên hệ vợ chồng, liên hệ
cha mẹ với con cái, liên hệ anh chị em, liên hệ bạn bè,
và liên hệ chính quyền với người dân. Trong những liên
hệ này thì liên hệ vợ chồng là nhỏ nhất và mật thiết
nhất. Sau đó gia đình mở rộng, gồm mối liên hệ giữa
cha mẹ và con cái, và mối liên hệ giữa anh chị em. Bên ngoài
gia đình là xã hội, gồm mối liên hệ bạn bè và mối liên
hệ giữa cá nhân và chính quyền. Ngày nay chúng ta thường
nói tới sự cần thiết phải đoàn kết nhân dân. Ngày xưa
người Trung Hoa không cần dùng chữ "đoàn kết", vì năm mối
liên hệ, hay "ngũ thường" chính là sự đoàn kết giữa mọi
người. Mọi người trên trái đất này đều là anh, chị,
em của chúng ta. Mỗi người có bổn phận đối với người
khác; cha mẹ hiền từ với các con; các con có hiếu với cha
mẹ; anh, chị, em và bạn bè kính trọng lẫn nhau. Như vậy,
đất nước và nhân dân dân đã có sự đoàn kết hoàn hảo.
Những mối liên hệ giữa mọi người cũng nói lên những
bổn phận của một người đối với người khác. Người
nào cũng có bổn phận và nhiệm vụ của mình để thi hành.
Thực
hành Khổng Giáo và Phật Giáo
Con
người khác con vật ở chỗ biết biết sống theo luân thường
và đạo lý. Việc thực hành Khổng Giáo có nền móng là ý
nghĩ chân thành, hành vi chân chính, gia đình và đất nước
có tổ chức tốt và hòa hợp, và có hòa bình cho mọi người.
Phật giáo cũng chú trọng việc học và thực hành, bắt đầu
với việc phát Bồ Ðề Tâm, hay tâm giác ngộ, nguyện đạt
giải thoát để có khả năng giúp đỡ người khác. Việc
này giống như tâm chân thành của Khổng giáo. Có người định
nghĩa "thành tâm là không có ý nghĩ nào cả". Ðúng như vậy,
người ta sẽ không có sự thành thật khi nào còn có những
ý nghĩ xấu, những ý nghĩ xao lãng, hay cả khi có một ý nghĩ
phát khởi. Lục Tổ Huệ Năng có lần nói rằng khi tâm thanh
tịnh không chứa đựng gì cả thì nó sẽ không bị bụi bám
vào. Tuy nhiên tâm trí người ta thường xao động với nhiều
ý nghĩ, vậy làm sao để loại bỏ những ý nghĩ xao lãng này?
Khổng Tử nói rằng khi chống lại những dục vọng phát khởi,
người ta sẽ đạt được trí huệ. Phương pháp này được
nói tới trong trường sơ học của nền giáo dục Khổng Giáo.
Ðức Phật cũng nói rằng muốn giải trừ mọi phiền não
người ta phải đoạn lìa ác dục.
Hệ
thống sơ học Khổng Giáo:
Ngày
xưa, các học sinh trường sơ học ở Trung Hoa được dạy
cách phòng vệ chống lại sự phát khởi của ái dục. Trường
học chú trọng tới việc huấn luyện học sinh cách định
tâm và đạt trí huệ. Học sinh bắt đầu đi học vào năm
lên bảy tuổi. Họ sống ở trường và chỉ trở về nhà
vào những dịp lễ, tết. Họ được dạy cách cư xử trong
đời sống hằng ngày, có cử chỉ lễ phép đối với thầy
giáo và các bạn học lớn tuổi hơn mình. Ðây là sự giáo
dục về đạo đức và luân lý. Ở nhà của mình, học sinh
sẽ cư xử với cha mẹ và anh chị em một cách hiếu để
và thành kính.
Từ
năm lên bảy cho tới mười hai tuổi, các học sinh phải học
thuộc lòng những kinh sách cổ điển. Vị thầy chọn những
bài học chứa đựng những lời dạy thâm thúy của thánh
hiền để các học sinh tụng đọc một hay hai trăm lần mỗi
ngày. Việc này cũng có mục đích là để tâm trí của các
em không xao lãng mà có sự tập trung, đạt thanh tịnh và trí
huệ, dù có thể các em không hiểu ý nghĩa của những lời
dạy. Tuy nhiên, kể từ cuộc cách mạng năm 1911 lối giáo
dục hiện tại đã bỏ truyền thống có từ hai ngàn năm trước
để thu nhận nền giáo dục Tây Phương. Khi xét kỹ, người
ta sẽ thấy sự thay đổi này đưa tới nguyên nhân của những
vấn đề xã hội ở Trung Hoa ngày nay.
Hệ
thống Ðại Học Khổng giáo:
Vào
năm mười ba tuổi, các học sinh tới học ở trường Ðại
Học. Ở Trung Hoa ngày xưa không có trường tiểu học hay trung
học. Trường Ðại Học chú trọng việc diễn giải và thảo
luận về những kinh sách mà các học sinh đã học thuộc lòng
ở trường sơ học. Các vị thầy là những học giả chuyên
nghề dạy học. Mỗi vị dạy một lớp học nhỏ với khoảng
từ mười tới hai mươi học sinh, và vị thầy không nhất
thiết phải giảng bài trong phòng học với sách giáo khoa.
Thời đó tất cả các sách giáo khoa đều được in với hình
thức chung là hai mươi chữ một cột và mười cột một trang,
không có khoảng trống giữa các chữ và các cột. Ðây là
tiêu chuẩn toàn quốc, bất kể là nhà in hay nhà xuất bản
nào. Cả thầy lẫn trò đều thuộc lòng kinh sách tới mức
họ biết đúng bài học nằm ở trong phần nào của cuốn
sách nào. Vì tất cả đều đã được học thuộc lòng trong
giai đoạn sơ học nên sau đó các học sinh không cần phải
có kinh sách để tham khảo.
Vị
thầy thường đưa các học trò của mình đi đây đó để
mở mang kiến thức và thêm kinh nghiệm. Các học sinh học
hỏi trên đường đi. Như vậy trong những chuyến đi này họ
không mang theo sách vở và không có kỷ luật gò bó, nhưng
lại có rượu, thực phẩm, và đầy vui thú. Các học sinh
cũng vui lòng hầu hạ thầy. Khi kết thúc những chuyến đi
tới những nơi danh lam thắng cảnh thì khóa hoïc cũng chấm
dứt. Ðối với nhiều người thì học Ðại Học là khoảng
thời gian vui sướng nhất trong đời của họ.
Ở
Ðài Loan, những vị ở tuổi tám mươi hay chín mươi có thể
đã trải qua lối giáo dục Ðại Học này. Vị thầy quá cố
của tôi là ông Lee lúc đó đã ngoài chín mươi tuổi khi viết
bài đăng báo vẫn cho vào những lời dạy của thánh hiền
mà ông đã học thuộc lòng lúc theo học trường sơ học,
không còn phải tham khảo kinh sách. Ðây là phương phaùp mà
ông đã dùng để đắc trí huệ phát sinh từ tâm thanh tịnh.
Khi tâm trí thanh tịnh thì trí huệ đích thực sẽ xuất hiện.
Có trí huệ đích thực là biết về quá khứ cũng như tương
lai của mình và giác ngộ luật nhân quả. Người ta không
nên phán xét sự vật bằng vẻ bề ngoài của chúng, mà cần
phải hiểu là chúng đã xuất hiện như thế nào. Trí huệ
giác ngộ tính không trong Phật Giáo là trí huệ nguyên thủy.
Chỉ khi nào có tâm thanh tịnh, không chứa đựng gì cả thì
người ta mới biết mọi sự vật khi tiếp xúc với thế giới
bên ngoài. Vì vậy việc học và thực hành Phật Giáo bắt
đầu với việc giải trừ mọi ý nghĩ để đạt tâm thanh
tịnh.
Tất
cả những điều này làm cho tôi nghĩ tới trẻ em, những con
người nhỏ bé rất trong sạch, ngây thơ và vô tội trong ý
nghĩ của chúng. Vì vậy chúng ta nên cho con em của mình học
Phật Học sớm trong tuổi ấu thơ, với một chút nỗ lực,
trẻ em có thể dễ dàng đạt lợi ích trong việc này. Những
chứng nghiệm của người có tâm thanh tịnh thì rất khác
lạ và sâu xa mà không có người thường nào có thể cảm
nhận được.
Ðạt
hòa bình thế giới với thân tâm được tu luyện, gia đình
hòa hợp, và xứ sở thịnh vượng:
Một
hành giả thực sự sẽ giữ cho mình không tham, sân, si, và
kiêu ngạo đối với người khác cũng như đối với môi trường
sống. Nếu còn có một phiền não nào nói trên thì hành giả
không phải là ngươøi thành thực và chân chính. Thành thực
và có ý kiến chân chính là hai điều căn bản của việc
luyện tâm. Người nào có thân thể và tâm trí trong sạch
thì sẽ không bị bệnh tật, vì vậy khi chúng ta đau ốm thì
đó là do tâm trí có đầy vọng niệm và phiền não phát xuất
từ tham, sân, si, và kiêu ngạo.
Như
đã nói ở trên, thành thực và chân chính là nền móng của
việc thanh lọc tâm trí. Tâm thanh tịnh sẽ đưa tới thân
trong sạch, và do đó, người ta sẽ tự nhiên miễn nhiễm
đối với bệnh tật. Như vậy, một hành giả thành tựu sẽ
không bao giờ bị bệnh nặng. Thêm nữa, khi đã quyết tâm
đi theo con đường của Ðức Phật thì người ta sẽ không
phải chết một cách thông thường. Chết thông thường có
nghĩa là người ta không biết mình sẽ lìa đời lúc nào,
và sẽ đi đâu sau đó. Ngược lại, những hành giả chân
chính, tin tưởng vào bản thân và vào Phật A Di Ðà, tu tập
theo lời dạy của Ðức Phật, thì sẽ có khả năng lúc
nào quyết định lúc nào mình từ giã thế gian và lúc nào
mình tái sinh vào Tịnh độ Tây Phương. Ðây không phải là
truyện kỳ dị hay truyện thần tiên mà là một sự thật
đơn giản, có thể đạt được bằng cách tu tâm luyện tính
và phát nguyện vãng sinh Tịnh độ Tây Phương. Vì vậy, cần
phải biết rằng việc giải trừ phiền não và ái dục là
rất quan trọng. Mỗi Phật tử nên giữ cho tâm trí và thân
thể luôn luôn trong sạch, đối xử vơùi mọi người và mọi
vật một cách bình đẳng và bình tĩnh. Chỉ có như vậy thì
gia đình mới hòa hợp, xã hội mới đoàn kết, và thế giới
mới hòa bình. Chúng ta sẽ không còn bất hòa tranh chấp, và
chiến tranh. Hòa bình và hạnh phúc mà tất cả chúng ta đều
mong muốn ngày nay sẽ không còn là một giấc mộng mà sẽ
trở thành sự thật nếu chúng ta biết phối hợp Khổng giáo
và pháp giới vào hệ thống giáo dục của mình.
Tám
đức tánh căn bản của Khổng giáo
Trung
thành, hiếu để, từ bi, bác ái, đáng tin cậy, có trách nhiệm,
hòa hợp và bình đẳng là tám nguyên tắc đạo đức căn
bản của Khổng giáo, và được tượng trưng bằng bốn vị
Bồ Tát trong Phật giáo. Bồ Tát Ðịa Tạng Vương tương trưng
hiếu để, và vì vậy mà Kinh Ðịa Tạng còn được gọi
là Hiếu Kinh. Cuốn kinh này dạy lòng hiếu kính đối với
cha mẹ cũng như thầy dạy học của mình. Các vị này đều
được kính trọng ngang nhau trong Phật giáo và Khổng giáo.
Có hiếu với cha mẹ và tôn kính các vị thầy là đức tính
tự nhiên của con người. Mục đích của Phật giáo là dạy
người ta nhận biết tính chất thật của tâm trí bằng cách
khám phá những đức tính của nó, nếu không như vậy thì
người ta sẽ không thể giác ngộ.
Bồ
Tát Quan Âm tượng trưng bi tâm và từ ái. Bồ Tát Văn Thù
tượng trưng trí huệ, tín tâm và lòng trung thành. Bồ Tát
Phổ Hiền tượng trưng đại nguyện thực hành giáo lý của
Ðưùc Phật bao gồm hiếu để, từ bi và trí huệ. Ngài cũng
tượng trưng sự hòa hợp và bình đẳng. Có từ bi và trí
huệ thì có thể tạo công đức. Hạnh phúc lớn nhất của
con người là hưởng công đức xây dựng trên nền móng thanh
tịnh và bình đẳng với mọi người. Người Trung Hoa nói
tới ba điều chân, thiện, và mỹ. Ba điều này có nghĩa là
trưởng dưỡng công đức trong tuổi ấu thơ, tạo công đức
tuổi trung niên, và hưởng công đức trong tuổi già. Người
nào hưởng công đức trong tuổi già thì được gọi là người
hoàn toàn, giống như một vị Phật vậy. Chúng ta cần phải
hiểu rằng chư Phật, Bồ Tát không phải là những vị thần,
mà là những người hoàn hảo nhất và phúc lạc nhất đeå
chúng ta noi gương.
Các
bậc tiên hiền của Trung Hoa ngày xưa đã nói tới những nguyên
tắc đạo đức này trước khi Phật giáo du nhập Trung Quốc.
Phật Thích Ca, Khổng Tử, và Mạnh Tử không bao giờ gặp
nhau, nhưng các vị đều có giáo lý và phương pháp giống
nhau, và đây là một sự tình cờ, như người Trung Hoa nói
"Anh hùng tương ngộ" và người Tây phương nói "Chí lớn gặp
nhau".
Chương
sáu: Phật Giáo dành cho mọi người
Mới
đây một sinh viên tới gặp tôi để hỏi về cách thực hành
Phật giáo. Câu trả lời là bốn lời nguyện của chư Phật,
Bồ Tát sau đây:
"Chúng
sinh vô biên, thệ nguyện độ.
Phiền
não vô tận, thệ nguyện đoạn.
Pháp
môn vô lượng, thệ nguyện học.
Phật
Ðaïo vô thượng, thệ nguyện đạt".
Giúp
đỡ người khác có nghĩa là hết sức giúp họ giải trừ
vô minh, đạt giác ngộ, như vậy họ sẽ thoát khổ và hưởng
phúc lạc thực sự. Ðể có khả năng cứu độ chúng sanh,
người ta phải tu tập tốt, có học và có đức hạnh cao.
Hành giả phải luôn luôn cảnh giác với những hành vi thân,
khẩu, ý của mình, tức là hành động, lời nói, và ý nghĩ.
Trước hết hành giả gây dựng đức tính bằng cách giải
trừ những phiền não tham, sân, si, và kiêu ngạo, vì chúng
là nguồn gốc của mọi ái dục và vô minh. Trí huệ đích
thực là kết quả của việc tu tập đức tính cao cấp, phát
xuất từ tâm trí thanh tịnh, từ bi, và vô phân biệt, chứ
không phải là từ kiến thức sách vở. Nếu không có tâm
trong sạch thì kiến thức góp nhặt được chỉ dẫn tới
quan kiến sai lầm. Vì vậy trong việc thực hành Phật giáo
thì điều tiên quyết là thanh lọc tâm trí và đoạn lìa mọi
chấp thủ vào những tà kiến. Với tâm thanh tịnh chúng ta
có thể trông thấy sự vật một cách rõ ràng hiểu biết
tất cả, và như vậy đạt trí huệ đích thực và giác ngộ.
Phật
giáo là nền giáo dục dành cho mọi người, không phân biệt
nam nữ, nghề nghiệp, chủng tộc, hay tôn giáo. Người nào
cũng có thể học và thực hành Phật giáo, vì đây là trí
huệ viên mãn, tối thượng. Bất cứ nơi nào ở trên thế
giới này cũng cần phải có giáo lý của Ðức Phật. Tuy nhiên,
không dễ gì tìm được những vị thầy Phật giáo có khả
năng, vì đa số vẫn bám giữ vào danh và lợi, vốn là những
chướng ngại chính yếu trong việc học và thực hành Phật
giáo. Tâm trí không thanh tịnh thì không thể nào hiểu đúng
giáo lý của Ðức Phật và hiểu rõ những nguyên nhân của
mọi vấn đề trên thế gian này. Trong khi đó nếu không có
công đức và nhân duyên tốt thì hành giả không tìm được
một vị thầy có khả năng. Vì vậy, tôi luôn luôn khuyên
các hành giả trẻ tuổi hãy quyết định ra sức phục vụ
tổ quốc và thế giới.
Chương
bảy: Chìa khóa mở cửa kho tàng lớn nhất
Mới
đây chúng ta đã thiết lập một Trung Tâm Tịnh Ðộ Học
ở Hoa Kỳ, mục đích là để giới thiệu văn hóa Trung Hoa
truyền thống với người Tây Phương và để giúp họ thực
hành Phật Giáo. Tổ tiên của chúng ta đã phát sinh một công
cụ vượt thời gian quý báu nhất, đó là cổ ngữ Trung Hoa
được gọi là "Wen-Yen-Wen", để di truyền văn hóa cổ cho
các thế hệ tương lai và cho chúng ta. Với công cụ mạnh
mẽ này, chúng ta có thể đọc được các sách của Khổng
Tử hay Mạnh Tử vốn đã được viết từ hai ngàn năm trăm
năm trước. Vì biết rằng ngôn ngữ biến đổi theo thời
gian nên tổ tiên của chúng ta đã dùng loại cổ ngữ Trung
Hoa này để truyền trí huệ, tư tưởng, xảo năng, và kinh
nghiệm của các ngài. Việc học Wen-Yen-Wen không phải
là khó. Thầy của tôi là ông Lee đã dạy chúng tôi bí quyết
đọc loại cổ ngữ này, chỉ cần đọc thành thạo năm mươi
chương cổ văn Trung Hoa. Ðể có thể viết cổ ngữ Trung Hoa,
cần phải ghi nhớ một trăm chương. Với chìa khóa Wen-Yen-Wen
này, chúng ta có thể tiếp cận và học Phật giáo cũng như
minh triết cổ truyền Trung Hoa, vì những bản dịch mới nhất
của các kinh Phật giáo là bằng loại cổ ngữ này. Cùng với
tâm thanh tịnh, vô phân biệt, và từ bi, chúng ta có thể mở
khoa học tàng trí huệ vô thượng của mình.
Tôi
đã khuyến khích các Phật tử đọc kinh Vô Lượng Thọ, được
viết với hình thức đơn giản của loại cổ ngữ Trung Hoa
này. Mọi người sẽ dễ dàng hiểu tới tám mươi phần trăm
nội dung cuốn kinh này. Bản Kinh Vô Lượng Thọ này chỉ có
bốn mươi tám chương, tương đương với số lượng chương
mà ông Lee đã yêu cầu chúng ta ghi nhớ. Ðây là một phương
pháp tốt để học loại cổ ngữ này. Sau khi đọc và ghi
nhớ cuốn kinh này, tôi tin rằng sẽ không còn chướng ngại
nào trong việc đọc các kinh Phật giáo. Tôi mạnh mẽ khuyến
khích không những các tín đồ mà cả những người Tây phương
muốn học văn hóa Trung Hoa và Phật giáo hãy học thuộc năm
mươi chương Wen-Yen-Wen hay Kinh Vô Lượng Thọ. Với nỗ lực
trong hai hay ba năm, hành giả có thể thủ đắc chìa khoá khám
phá sự kỳ diệu của minh triết Trung Hoa cổ truyền và đồng
thời có thể chuyển hóa kinh sách Phật giáo thành kho tàng
trí huệ của mình. Nếu không có chìa khóa này thì dù có
tất cả kinh sách và cổ văn Trung Hoa cũng vô ích, vì không
có cách nào để bước vào kho tàng này.
Thưa
quý vị, các phụ huynh và các em học sinh, trường sơ học
là nền móng của hạnh phúc trong đời sống, là gốc rễ
tương lai của đất nước, và là cơ sở đảm nhiệm xã hội
tương lai. Quý vị đã cống hiến nhiều cho công tác vĩ đại
nhất này trong đời sống và trong xã hội. Trưởng dưỡng
thế hệ trẻ có năng lực và đức hạnh là việc làm có
ý nghĩa nhất và giá trị nhất của xã hội. Tôi xin có lời
cảm tạ với sự tôn kính cao nhất tới quý vị. Tôi xin chúc
quý vị an lạc và hạnh phúc. Nguyện cầu mọi người an khang
và thịnh vượng.
Buddhism
as an education
Chapter
1: The Cause of Our Chaotic World
Today's
societies in Taiwan and elsewhere in the world are rather abnormal, a phenomenon
that has not been witnessed before either in the West or the East. Some
Westerners have predicted that the end of the world will occur in 1999
and that Christ will return to earth for Judgement Day. Easterners have
also predicted impending disasters that are similar to those predictions
in the West, the only difference being the time frame, which is some twenty
years later. Some of these are ancient prophecies, which we should not
place too much importance on. However, if we view our environment objectively,
we will realize that this world is really in danger.
Environmental
pollution has become a serious problem and now humankind has finally begun
to understand the need for protecting our environment. However, the problem
of mental or spiritual pollution is many times more serious than that of
the environment. This is the source of worldly ills that not many people
realize. The Chinese have a saying, "Education is most essential to establish
a nation, train its leaders and its people." For centuries, the Chinese
have always believed in the primacy of education, which is considered the
foundation for a peaceful and prosperous society. It provides the solution
to a myriad of social ills and leads the way to changing one's suffering
into happiness. Education has a strong impact on the nation and its people.
Moreover, elementary school is the foundation, the basic building block
in an educational system.
Chapter
2: Buddhism as an Education
Buddhism
officially came to China in 67 AD. The Emperor had sent special envoys
to India to invite Buddhist monks to come to China to teach Buddhism, which
in that period, was regarded as an educational system, and not as a religion.
Regretfully, about two hundred years ago, the practice of Buddhism had
taken on a more religious facade. Therefore, the purpose of this talk is
to correct this misunderstanding, by leading us back to the original form
of Buddhism as taught by Buddha Shakyamuni.
The
Goal of the Buddha's Teaching
Buddhism
is Buddha Shakyamuni's educational system, which is similar to that of
Confucius for both presented similar viewpoints and methods. The goal of
Buddhist education is to attain wisdom. In Sanskrit, the language of ancient
India, the Buddhist wisdom was called "Anuttara-samyak-sambhodi" meaning
the perfect ultimate wisdom. The Buddha taught us that the main objective
of our practice or cultivation was to achieve this ultimate wisdom. He
further taught us that everyone has the potential to realize this state
of ultimate wisdom, as it is an intrinsic part of our nature, not something
one obtains externally. However, most of us have become confused through
general misconceptions and therefore, are not able to realize this potential.
Therefore, if we break through this confusion, we will realize this intrinsic
part of our nature. Thus, Buddhism is an educational system aimed at regaining
our own intrinsic nature. It also teaches absolute equality which stemmed
from Buddha's recognition that all sentient beings possess this innate
wisdom and nature. Therefore, there is no inherent difference among beings.
Everyone is different now because we have lost our true nature and have
become confused. The degree of wisdom exhibited by individuals depends
on the degree of delusion and has nothing to do with the true nature of
the individual. The Buddha's teaching helps us to realize that innate,
perfect, ultimate wisdom. With wisdom, we can then solve all our problems
and turn suffering into happiness. Due to our lack of wisdom, we perceive,
view and behave foolishly, and thus suffer the consequences evoked by our
incorrect actions. If we have wisdom, our thoughts, viewpoints and behavior
will be correct; how then can we suffer when there are no ill consequences
to suffer from? Of course, we will be happy. From here, we can see that
suffering is caused by delusion and the source of happiness is our own
realization of wisdom.
The
Core of the Buddha's Teaching
The
Buddha's teaching contains three major points: discipline, meditation and
wisdom. Wisdom is the goal and deep meditation or concentration is the
crucial process toward achieving wisdom. Discipline through observing the
precepts, is the method that helps one to achieve deep meditation; wisdom
will then be realized naturally. Buddha's entire teachings as conveyed
in the sutras never really depart from these three points. Buddhism encompasses
the entire collection of works by Buddha Shakyamuni and is called the Tripitaka.
This can be classified into three categories: sutra, vinaya (precepts or
rules), and sastra (commentaries) which emphasize meditation, discipline,
and wisdom respectively.
The
Buddhist Educational Organization in China
Buddhist
education is based on filial piety, as is the Chinese culture. Prior to
the introduction of Buddhism to China, filial piety was the pillar of society
and was supported by the wise men of ancient China. When Buddhist monks
from India came to China and started to discuss Buddhism with government
officials, it was immediately apparent to everyone that Buddhism shared
numerous similarities with the indigenous Confucian traditions. Consequently,
the government embraced them and requested that the monks stay in China
permanently.
The
first two monks, who came to China, Moton and Chufarlan, were received
by the "Hong-Lu-Si" which is equivalent to our present Foreign Ministry
or State Department. "Si" was designated as a ministry of the government.
The Chief of Hong-Lu-Si is equivalent to a foreign minister or Secretary
of State. However, Hong-Lu-Si could only receive foreign guests temporarily.
In order to allow them to stay permanently, the Emperor added another ministry,
"Bai-Ma-Si," to take charge of Buddhist education. Originally, the "Si"
had nothing to do with a temple, but merely denoted a ministry of the imperial
court, now it denotes a temple in contemporary Chinese. So, there were
two ministries in charge of education. The "Li-Bu," managed by the Prime
Minister, was in charge of the traditional Confucian educational system.
This organization served the same function until the early 1900's. As the
Emperor had given enormous support to the "Bai-Ma-Si," Buddhist education
rapidly spread throughout China. In many instances, it had even far exceeded
the efforts to educate people than the traditional education system of
"Li-Bu." Consequently, there may not have been a Confucian or Manfucian
school in every village, but there was a "Si" everywhere. Again, the Buddhist
"Si", or temple, used to be an educational institution and did not perform
religious ceremonies at all, unlike what often takes place in contemporary
temples nowadays.
Another
important mission for the original "Si" was sutra translation. The scale
of the translation effort is hard to imagine today. During the seventh
century, the famous monk Xuan-Tsuang had supervised six hundred scholars
in sutra translation. Prior to this, a monk named Kumaraja had a translation
team of about four hundred scholars. Therefore, the "Si" was a large governmental
organization. Unfortunately, it was completely transformed into a place
to deal with superstition and spirits around two hundred years ago. Its
educational characteristics totally disappeared, which was truly regretful.
The
Four Current Types of Buddhism
Today,
there are four types of Buddhism being practiced. First, there is the religious
Buddhism, which can be witnessed in temples throughout Taiwan. However,
this does not represent the real Buddhism. Second, there is the academic
Buddhism being taught in many universities today, where we see Buddhism
being treated purely as philosophy, an academic pursuit, especially in
Japan. This is not exactly Buddha's education either. Third, and the most
unfortunate of all, is the total degeneration of Buddhism into a cult.
This third type of Buddhism is much more damaging to the public than the
first two types. Finally, there is the traditional Buddhism, the teachings
of Buddha Shakyamuni in its true essence, which is very rare in our day
and age.
Chapter
3: The Author's Own Experience with Buddhism
When
I was a young student in Nanjing, I did not believe in any religion. I
went to church with some classmates to learn about Christianity. Although
I tried to understand it, I could not find a way to accept it. My favorite
religion at that time was Islam because its emphasis was on moral principles
and ethics, and I thought that this was rare among religions. When I encountered
Buddhism back then, the monks were not very convincing. Therefore, I could
not accept Buddhism either and it was the one I resisted the most. I was
too young at that time and had not met a true practitioner.
After
I arrived in Taiwan, I heard of Professor Dong-Mei Fang, who was then a
famous philosopher and a professor at the National Taiwan University. Having
become an admirer of his, I wrote him a letter asking about taking a class
from him at the university. Professor Fang was only in his forties at that
time. He invited me to his house and told me, "Nowadays in school, professors
do not act like professors, and students do not act like students either.
If you come to the university and expect to learn something, you will be
sorely disappointed." When I heard this, I was pretty upset since he had
basically poured cold water over my plans. Finally, he told me: "Well,
why don't you come to my house every Sunday, and I will give you personal
instruction for two hours." I could not believe that he was so compassionate
towards me. I learned about philosophies at Professor Fang's small table
in his little living room, one on one. This was extremely precious to me.
He introduced the philosophies of the West, China, India and finally Buddhism.
He taught me that Buddhism is the pinnacle of the world's philosophy and
that it provides the greatest enjoyment for humanity. What he told me was
fascinating and soon I realized that Buddhism contained something magnificent.
I started to visit the temples in Taipei. However, the monks I met in those
temples just could not clearly explain Buddhism to an intellectual skeptic
like me. However, the monks are much better in teaching Buddhism today.
Then I set my first sight on Shan-Dao-Si, which was a large temple in Taipei
with a vast collection of sutras. During that period of time, the wide
publication and circulation of Buddhist books was very rare. The monks
at Shan-Dao-Si were extremely kind to me as they allowed me to borrow many
of the precious and rare sutras. This was a great help to me. Soon after
I started to learn Buddhism seriously, I was fortunate to meet Master Zhang-Jia.
He was a well-accomplished Esoteric practitioner who taught and guided
me in my study and practice. Just like Mr. Fang, he taught me two hours
every week for three years until he passed away. I then went to Taizhong
to follow Mr. Bing-Nan Lee and started studying and practicing with him.
Buddhism
is a special kind of knowledge; it is not a religion. In order to derive
true benefit from it, we have to understand it's true nature. I have the
utmost respect for Buddhism and I believe Buddha Shakyamuni to be the foremost
educator in the history of the world. He was just like Confucius in that
he taught everyone tirelessly and without discrimination.
Chapter
4: The Methodology and Symbolism of the Buddhist Educational System
The
Continuing Education System for Teachers
The
continuing education system for teachers was first established by Buddha
Shakyamuni. Many of his students were well accomplished under his instruction.
Every year, these students were assigned to teach at different places for
nine months. In India, the rainy season runs from mid-April to mid-July.
Since it was inconvenient to travel and teach during those three months,
all the students would come back to meet with the Buddha to receive additional
teachings and to learn from each other in class discussions. This was called
the summer retreat and it parallels what is currently known as continuing
education for teachers. The modern continuing educational system is necessitated
by the advancement in technology. However, twenty-five hundred years ago,
Buddha had already adopted this idea in bringing his students back for
additional teachings.
The
Artful Buddhist Teaching
Buddhist
teaching is full of artistic expressions. It was originally an education,
which combined what was equivalent to today's museum and school system.
Therefore, the "Si" combined the traditional school, library and museum.
In ancient China, the traditional school system was not universal. Most
students went to a "Si" to study because it usually had a complete collection
of books, similar to today's library. The collections included not only
sutras, but also almost every kind of publication. The monks were familiar
with Buddhism, Confucianism, Taoism and ancient Chinese texts. They were
capable of answering questions and were well versed on various subjects.
Consequently, Buddhist institutions began to take over the educational
mission for China.
Typical
Buddhist buildings are expressions of art, which are called "Expressions
of Buddhism." However, Buddha and Bodhisattva statues do not represent
polytheism, the worship of more than one god. Each statue serves to inspire
wisdom and awakening in each of us. They also represent certain aspects
of Buddhism, which remind practitioners of the particular topic of teaching.
For example, Guan Yin Bodhisattva, the most popular Bodhisattva in China,
represents Infinite Compassion. When we see this statue, it reminds us
to apply compassion when dealing with the world, its people and surroundings.
However, people nowadays worship Guan Yin Bodhisattva as a god and pray
for the relief of suffering and to eliminate obstacles. This is a superstitious
view and misconception because people forget the fact that the statues
are expressions of concepts in Buddhism.
Buddhist
architecture is also an artistic expression, with the temple's main cultivation
hall being similar to a large meeting or teaching hall. From the exterior,
it appears to have two stories, but there is only one story inside. The
external two stories represent "absolute truth" or the true reality of
life and the universe, and "relative truth" or worldly views still clouded
with delusion. The interior single story illustrates that both are the
same truth. To the deluded, the two appear distinct and different; however,
to the enlightened, they are one and the same.
In
the center of the main cultivation hall, there are three statues, one Buddha
and two Bodhisattvas. Buddha represents the true nature of the universe
and human life, which is called "Buddha nature" or true mind. "Buddha"
is translated from Sanskrit, and means someone who is totally enlightened.
The Buddha statue represents our original enlightenment and the Bodhisattvas
statues represent the application of our original enlightened mind. All
the representations and applications are infinite and can be classified
into two categories: wisdom and practice. For example, the Pure Land School
pays respect to the Buddha and two Bodhisattvas of the Western Paradise.
Amitabha Buddha (Infinite Life and Infinite Light) represents the infinite
enlightenment that is an intrinsic part of our nature. Bodhisattvas Guan
Yin (Avalokiteshvara) and Da Shi Zhi (Great Strength or Mahasthamaprapta)
respectively portray compassion with kindness and great wisdom. We should
be compassionate and kind toward all beings. Our thoughts, views and behavior
should be rational rather than emotional, for emotional behavior spells
trouble. Therefore, we should not treat the Buddha and Bodhisattvas as
gods. But will they help us? Yes, they will by providing us with the knowledge
of how to protect ourselves from delusion, thereby obtaining release from
suffering. Once we have learned the background of the artistic components
in Buddhist architecture, music and statues, we will gain an enriched experience
when paying a visit to a traditional Buddhist temple.
However,
nowadays many people do not understand the meaning and teachings of Buddhism.
They mistake the multi-representations of Bodhisattvas as a sign of polytheism.
What people fail to understand is the fact that the statues in Buddhism
are teaching aids and not statues of gods. All Buddhas and Bodhisattvas
represent our nature and cultivation of virtue. We have infinite capabilities
within our true nature that cannot be expressed by just one single term.
Therefore, we have multiple representations; for instance, a capable person
today may have many titles on his/her business cards to show his/her positions
and accomplishments. The Buddha and Bodhisattvas are actually representations
of the nature within ourselves: Buddha, as in our true nature of mind,
and the Bodhisattvas, in our virtue of cultivation. We all possess these
qualities. Not until we come to realize the meaning of Buddhist symbolism,
will we appreciate the sophistication and completeness of its education.
Typical
"Si" buildings are rare today. The first hall of a "Si" is the hall of
Heavenly Guardians, also known as Dharma Protectors. Situated in the center
of the hall, facing the front door, is Mi Le Pu Sa (Maitreya Bodhisattva)
who is represented by the image of the historical monk Bu-Dai. Mi Le Pu
Sa has a big smile that conveys the idea that in order to truly learn Buddhism,
one should learn to be cheerful and courteous to all. He also has a huge
belly that represents fairness, flexibility, impartiality, patience and
tolerance.
Standing
beside Mi Le Pu Sa are the four Heavenly Guardians or Dharma Protectors.
They are symbolic guardians of the practitioners of the Buddhist way. Whom
do they protect? They protect us by reminding us to educate ourselves and
to safeguard the proper knowledge, which we should learn. Each guardian
portrays a different aspect of thought or action.
The
Eastern Dharma Protector (holding a lute) symbolizes responsibility and
safeguards the territory, which means that all of us are responsible for
ourselves, our family, society and the country as a whole. If each of us
performs our duties well, fulfilling our obligations, we support each other
and ourselves as well. The Southern Dharma Protector (holding a sword)
symbolizes progress and teaches us diligence. He emphasizes the importance
of constantly cultivating and advancing our virtue, wisdom and knowledge,
and to improve performance in ourselves and our duties. This is similar
to Confucian ideas of daily self-improvement.
The
Western Dharma Protector (holding a dragon or snake) symbolizes comprehensive
vision and knowledge gained through exposure to the world. He represents
the need to open our eyes to observe nature and man, to refine what we
see and learn, and to distinguish good from ill. The Northern Dharma Protector
(holding an umbrella) symbolizes comprehensive study and learning. Both
teach ways of practice and how to achieve the goals in responsibility fulfillment
and self-improvement. As the ancient Chinese have said: "To read ten thousand
books and to travel ten-thousand miles." We read to gain more knowledge
and travel to observe more effectively. We will then be able to improve
ourselves and to perform our duties most effectively.
Today,
people visit the Hall of Dharma Protectors to burn incense, prostrate and
offer flowers and fruit praying for protection and safety. This is superstition.
All the facilities, images of Buddha and Bodhisattvas and any offerings
made are teaching tools designed to inspire our mind and wisdom. They also
serve to remind us of the importance of being enlightened instead of deluded,
virtuous instead of deviated, pure instead of polluted. These are the three
principles of Buddhist teaching and practice
Methods
of Practicing Buddhism
The
ways in practicing Buddhism are numerous, about eighty-four thousand. Each
path is different from the others but ultimately leads to the same goals:
enlightenment, proper thoughts and viewpoints, and purity. As such, all
paths are equal without one being superior to the other. People have different
abilities and levels of accomplishment. Furthermore, they are from different
environments and should choose a path most suited to them. We can choose
any one of the three goals to concentrate our practice on. When we achieve
any one of them, the other two will come naturally.
There
are ten schools of practice in Chinese Buddhism. Zen stresses the pursuit
of the perfect clear mind or enlightenment. The Pure Land and Tibetan Buddhism
or Vajrayana school stress obtaining the pure mind. Other schools concentrate
their practice on proper thoughts and viewpoints. Regardless of which method
or school one chooses, they all lead to the same outcome. In other words,
once we become expert in one method, we will become an expert in all methods.
The
purity of the world comes from an individual's inner purity. With a pure
mind, a mind without discrimination or attachment, a higher level of wisdom
arises in which the world around us naturally comes into harmony. By reciting
the Buddha's name, meditating, reciting sutras or mantras, and practicing
in accordance with Buddha's teaching, one will attain enlightenment, proper
thoughts and viewpoints, and purity of mind thus becoming void of all deluded
thoughts.
On
the other hand, one is totally on the wrong path if one chants Buddha's
name in the hope of gaining a promotion or wealth. That is religion and
superstition, and it goes against the teaching of Shakyamuni Buddha.
How
Buddhist Terminology Illustrate that Buddhism is an Education
Buddhism
is the teaching of Buddha Shakyamuni as he was its founder. We call Him
the "Original teacher," just like the Chinese call Confucius the "Greatest
sage and teacher." The relationship between Buddha and ourselves is a teacher-student
relationship, which is not religious in nature. In religion, there is not
a teacher-student relationship but that of father-son or master-servant.
About
twenty years ago I gave a series of lectures in Fu-Ren Catholic University
and taught in the Thomas Monastery for one semester. I told my students,
who were mainly priests and nuns, to take refuge in the Buddha and to learn
Buddhism well. There is absolutely no conflict between Buddhism and religion,
for one is teacher-student and the other father-son. If the priests and
nuns were to practice Buddhism and in turn abandon their own religion,
I believe that even Buddha would not accept them, for it is against human
ethics to discard the parent for the teacher. Therefore, religious followers
will benefit if they practice Buddhism. As we practice, we will attain
the true wisdom to know exactly what Heaven is like and will be able to
decide when and how we want to go there. Thus, Buddhism is a way of teaching
as it teaches us how to regain our true wisdom.
When
a monk is called "He-Shang," he is equivalent to the principal in today's
school, for he is the director of educational strategies. All other faculty
members are teachers who execute the principal's educational strategies
and act as role models for the students' behavior and speech. My late teacher,
Professor Fang constantly assured me that Buddhism is an education. Later
in my studies of the sutras, I reaffirmed his statement that Buddhism is
the pinnacle of the world's wisdom. It provides the greatest enjoyment
for humankind. I have experienced the unsurpassable joy of being free from
afflictions, delusions and wandering thoughts. My body and mind are clean
and pure, totally at ease. I am the happiest person in the world. Therefore,
I feel indebted to Professor Fang, for without him, I would not have learned
Buddhism nor would I have such complete happiness derived from practicing
Buddha's teaching.
Chapter
Five: The Integration of Confucianism and Buddhism
Buddhism
successfully merged into Chinese culture; they became inseparable. The
basic concept that they share is to give up one's own interest for the
sake of others. Confucianism and Buddhism advocate the enhancement and
glorification of filial piety, the respect and devotion of an individual
for their parents and teachers. Filial piety is a major element in accomplishing
world peace.
What
is education? It is the meaning and the value of human life, the relationships
between human beings as well as those between humans and the universe.
Confucian teaching encompasses three main points. First, it is important
to understand the relationship between humans, once this is understood
we will learn to love people. Second, it is important to understand the
relationship between humans and heaven, once this is understood we will
learn to respect heavenly beings and spirits. Third, it is important to
understand the relationship between humans and the environment, once this
is understood we will learn to take care of the environment and to appreciate
every single thing around us. There are four studies within Confucian teachings:
virtue, speech, skills for earning a living and the arts. The teaching
of virtue is the core of Confucianism; it is absolutely crucial, for without
morality and proper conduct we become selfish and concerned only with ourselves
at the expense of society. Such behavior can result in world chaos. Today,
our education has lost that emphasis. Schools only teach skills that are
superficial and not the root of education. When the root is rotten, it
shakes the foundation of society and causes the chaos that we are experiencing
today. Elementary schools are like the root of education: junior highs,
high schools, and colleges are the flowers and leaves. Teachers can start
teaching filial piety to our children as early as possible.
By
looking at the way Chinese characters were created, we cannot but admire
our ancestor's high level of wisdom. We thank them for having given us
something that is so valuable and exquisite. The Chinese character "piety"
embraces the spirit of Buddhism and the foundation of education as it is
a combination of the characters for "old" and "son." Nowadays, people talk
about the generation gap between parents and children, which is something
traditional families did not have. In the Chinese tradition, not only are
father and son one unit; grandfathers and grandsons, etc. are all part
of the same continuum. This is a unique concept. Westerners often ask why
Chinese people pay respect to ancestors since we barely know them. The
remembrance of our ancestors is the foundation of Confucianism and Buddhism,
which is the source of harmony in society and peace in the world.
Today
everyone longs for world peace, but we need to start from the foundation
of filial piety to obtain it. Buddhism emphasizes unconditional compassion
for all sentient beings in the universe and beyond; in the past, present
and future. The continuum of time and space is inseparable from oneself,
for We Are All One Entity. One does not find this extensive concept in
religion. "Thus Come One", one of the ten names for Buddha, stands
for an enlightened being, which is our basic nature, and also the essence
of the universe and human life. This concept is embodied by the Chinese
character "piety" and the name of Amitabha Buddha in the Pure Land School.
The names may be different but the meanings are the same: unconditional
love for all beings that surpasses space and time.
The
Five Human Relationships
Confucian
teachings are based on five human relationships that are founded on moral
principles. The five human relationships include those between husband/wife,
parent/child, siblings, friends, and political leaders and the public.
Husband/wife represents the smallest and the most intimate circle of human
relationships. Outside the small circle is the extended family, which includes
the relationships between father and son and those among the siblings.
Outside the family there is society which includes additional relationships
between the individual and his leader and circles of friends. We now often
talk about the need to unite people. In ancient times, the Chinese had
no use for the word "unite," for the five human relationships define the
union of all people. Everyone on this earth is our brother. Each is responsible
for the other; parents being compassionate, sons and daughters being filial
to their parents, siblings and friends being respectful to each other.
In this way, the country and its people are already a perfect union. The
relationships between people also define responsibilities from one to the
other. Everyone has his own duty and responsibility to fulfill.
The
Practice of Confucianism and Buddhism
Human
beings differ from animals by adhering to human relationships and basic
moral principles. The practice of Confucianism is based on having sincere
and proper thoughts, correct behavior, a well-organized family and country,
and peace for all. This is identical to the views of Buddhism, which also
emphasizes practicing and learning. It all starts from generating the Bodhicitta
mind. "Bodhi" is a Sanskrit word meaning enlightenment. Enlightenment means
an "awakened" mind. It is similar to the sincere thought and proper mind
advocated by Confucianism. A Chinese government official defined sincerity
very well. He noted that "Sincerity means having no single thought." There
will be no sincerity as long as there are corrupted thoughts, wandering
thoughts, or even the rise of a single thought. His definition is identical
to that of Buddhism. The Sixth Patriarch Hui-Neng once said "...(the pure
mind) contains nothing therefore collects no dust". However, people in
general have a lot of wandering thoughts. How can one be rid of these wandering
thoughts? The Confucian answer is "...to fight against uprising desires
and achieve wisdom." This practice was stressed in the elementary school
of the Confucian system. Buddha said, severing all desires is to stop all
worries and troubles.
The
Confucian Elementary School System
In
the past, the Chinese elementary school students were well trained to guard
against the uprising of desires. Schools emphasized training in student's
concentration and wisdom. Students started school at the age of seven.
They stayed with their teachers and only went home during holidays. They
were taught the correct way to interact with everyday life and the proper
manner to attend to their teachers and elder schoolmates. This was called
the education of moral principles based on human relationships. When the
children went home, they would then treat their parents and siblings with
filial piety and respect.
From
the ages of seven to twelve, students were required to memorize and recite
fluently the ancient texts. The teacher would first select materials which
contained the profound wisdom of sages and saints and then encouraged the
students to read and recite the material up to one or two hundred times
a day. Children would have scattered thoughts if they were not assigned
any tasks to do. The purpose of reciting was to focus their mind so that
they would eventually obtain a pure mind, concentration and wisdom; even
though, they may not have understood the meanings. However, the current
educational system, in existence since the Revolution of 1911, eliminated
this two thousand-year-old tradition and adopted the western educational
system. This change, upon close examination, leads one to the root of modern
China's social problems.
The
Confucian Tai School System
At
the age of thirteen, children were sent to Tai school, as there were no
junior or high schools in ancient China. Tai school emphasized the analysis
and discussion of the materials students had already memorized in elementary
school. The teachers were experts in their fields and would concentrate
on that field throughout their entire career. Each of them taught a small
class with ten to twenty students and the lectures were not necessarily
given in the classroom with textbooks. During that period, all the textbooks
were printed in the universal format: twenty words per column and ten columns
per page, with no space in between. The format was standard for the entire
country regardless of the publisher. Both teacher and students memorized
the textbooks so well that they even knew exactly where the study materials
were located. Since everything had been memorized earlier, there was no
need for books after elementary school.
Teachers
often took their students on field trips to broaden their knowledge and
experience. As they traveled, knowledge was imparted to them along the
way. Thus, the trips were without textbooks or restraints but accompanied
with wine and food and filled with joy. The students would attend to the
needs of the teacher. Therefore, as they concluded their travels to the
many beautiful places, the course would close as well. For many, attending
Tai school was the most joyful time of their lives.
In
Taiwan, those who are in their eighties or nineties may have experienced
this kind of education. My late teacher, Mr. Lee, then in his nineties,
could still apply materials he had memorized in elementary school when
writing articles; no reference materials were needed. This was the method
he used to acquire the original wisdom that comes from the pure mind. With
the pure mind, true wisdom arises. Having true wisdom is to know a person's
past and future and also to understand the laws of cause and effect. One
should not judge things by their appearance, but know and understand how
events came about. The wisdom of knowing nothing emphasized in Buddhism
is the original wisdom. Only when one has a pure mind, which contains nothing,
will he also know everything when he is in contact with the external world.
Therefore, the practicing and studying of Buddhism begins with eliminating
all thoughts in order to obtain a pure mind.
All
this made me think of our children, who are so pure, so innocent and uncontaminated
in their thinking which is why it is best for our children to start learning
Buddhism early in childhood. With little effort, children can truly and
easily benefit from it. The experiences of a person with a pure mind are
so different and profound that no ordinary person can truly appreciate
them.
World
Peace Can be Achieved if the Mind and Body are Well-trained, the Family
is Well-run and the Country is Well-governed.
A
true practitioner will keep himself from being greedy, angry, ignorant
and arrogant toward others and his environment. If one has any of the elements
just mentioned, then he is neither sincere nor proper. Sincerity and proper
thoughts and viewpoints are the basis for training the mind. A person with
a pure mind and body will not become ill. We suffer from illnesses because
our minds are filled with wandering thoughts and worries that are derived
from greed, anger, ignorance and arrogance.
As
mentioned earlier, sincerity and proper thoughts and viewpoints are the
basis for purifying one's mind. A purified mind leads to a purified body
and naturally, a person will become immune from illness; thus, a realized
practitioner would never get seriously ill. Moreover, if a person is determined
to follow the path of Buddha, he or she will not die in the conventional
manner. A conventional death means a person does not know exactly when
they will leave this world, nor where they will go afterwards. On the other
hand, true practitioners with confidence in themselves and in Amitabha
Buddha, who cultivate in accordance with Buddhist teachings, will be capable
of controlling both the time of leaving this world and of being born in
the Western Pure Land. This is neither unusual nor a fairy tale, but the
simple truth, and can be achieved by cultivating the pure mind and vowing
to reach the Western Pure Land. Therefore, one needs to understand how
important it is to be free of worries and attachments. Every Buddhist should
maintain a pure mind and body at all times, treating everyone and everything
with equality and composure. Only then would the family be in harmony,
the society in unity and the world at peace. No longer would we have feuds,
conflicts or wars. The peace and happiness, which we all wish for today,
would no longer be a dream. World peace can be achieved if we combine Confucianism
and Buddhism into our educational system.
The
Eight Basic Confucian Moral Principles
Loyalty,
filial piety, compassion, love, trust-worthiness, responsibility, peace
and equality are the eight basic Confucian moral principles and are represented
by four Bodhisattvas in Buddhism. Di Tsang Wang (Earth Store /Kristigharba)
Bodhisattva represents filial piety and therefore the Di Tsang Sutra is
known as the Filial Piety Sutra. This is because it teaches filial respect
for both parents and teachers, who are both equally important in Buddhism
and Confucianism. To treat one's parents with filial piety and to respect
teachers are the innate virtues of human nature. The goal of Buddhist teaching
is for us to realize the true nature of the mind, which can only be achieved
by discovering its virtuous nature, without which one will never become
enlightened.
Guan
Yin Bodhisattva symbolizes compassion and represents kindness and love.
Wen Shu Shi Li (Manjusri) Bodhisattva symbolizes wisdom and represents
faith and loyalty. Pu Xian (Universal Worthy/Samantabhadra) Bodhisattva
symbolizes great vows and putting the Buddha's teaching into practice including
filial piety, compassion and wisdom. He represents peace and equality.
With compassion and wisdom, one can generate merits. To enjoy merits is
to build upon the foundation of equality and purity - this is the greatest
enjoyment for humankind. To cultivate merits in childhood, generate merits
in middle age and enjoy merits in old age are described in Chinese as truth,
virtue and beauty. One who enjoys merit in old age is called the complete
person, which is similar to Buddha. We must understand that Buddhas and
Bodhisattvas are not gods but the most perfect and happiest beings for
us to learn from. Wise ancestors in China long evoked these principles
long ago before Buddhism was introduced there. Buddha Shakyamuni, Confucius
and Mencius never met, but they all had identical concepts and teaching
methods. That was truly a coincidence and as is said in Chinese, "Heroes
would have similar views" or said in the West, "Great minds think alike".
Chapter
Six: The Buddha's Teachings are for Everyone
Recently
a student came to me and asked how to practice Buddhism. The answer is
the Four Universal Vows of Buddhas and Bodhisattvas:
(1)
Sentient beings are innumerable, I vow to help them all;
(2)
Afflictions are inexhaustible, I vow to end them all;
(3)
Ways to practice are boundless, I vow to master them all;
(4)
Enlightenment is unsurpassable; I vow to attain it.
To
help others is to do our best in assisting them to break through delusion
and become awakened, then they will be able to attain true happiness and
leave suffering behind. In order to help all beings escape from suffering,
one should be a good cultivator, excelling in moral and academic achievements.
A cultivator can learn by upholding the precepts to guard against harmful
consequences created by speech, body and mind, i.e. words, deeds and thoughts.
Before comprehensive learning, however, it is necessary to cultivate good
virtue by ending our afflictions including greed, anger, ignorance and
arrogance, as they are the sources of all desires and delusions. True wisdom
arises from cultivation of high moral character, from a pure, non-discriminatory
and compassionate mind, and not from knowledge gained from books. Without
a pure mind, the knowledge gained leads to deviated views. Therefore, the
first priority in practicing Buddhism is to purify our mind and cut off
all attachments to erroneous ways. With the pure mind we can then reflect
everything clearly and know all, thus attaining true wisdom and enlightenment.
Buddhism
is for everyone, regardless of gender, age, occupation, nationality or
religion. Everyone can learn and practice Buddhism, for it is the teaching
of ultimate, perfect wisdom. There is a need for Buddha's teaching in all
parts of the world. However, it is not easy to nurture Buddhist teachers.
The difficulty lies with the fact that most people cannot renounce their
worldly fame and wealth, which are the major obstacles in learning and
practicing Buddhism. Without a pure mind, there is no way to truly understand
Buddha's teachings and to realize the causes of all the problems in this
world. Meanwhile, without virtue of merits and good causes and conditions,
practitioners cannot find good teachers. Therefore, I always encourage
young practitioners to resolve to save our country and the world.
Chapter
Seven: The Key to the Greatest Treasure
Recently,
we have established a Pure Land Learning Center in the United States. The
goal is to introduce the traditional Chinese culture to Westerners and
to help them practice Buddhism. Our ancestors invented the most precious
and timeless vehicle: a classical Chinese language, called Wen-Yen-Wen,
in order to transmit the ancient culture to future generations and us.
With this powerful vehicle, we can read the publications of Confucius or
Mencius that were written twenty-five hundred years ago. Because our ancestors
realized that language would be changing from time to time, they used this
classical Chinese language to pass on their wisdom, thoughts, skills and
experiences. It is not difficult to learn Wen-Yen-Wen. Mr. Lee, my teacher,
has taught us the secret to reading the classical language; one only has
to recite fluently fifty chapters of ancient Chinese literature. In order
to write in classical Chinese, one needs to memorize one hundred chapters.
With this key, Wen-Yen-Wen, we can have access to and learn Buddhism and
ancient Chinese wisdom, for the latest translations of the Buddhist sutras
were in this classical language. Along with the pure, non-discriminating
and compassionate mind, we can thus unlock our ultimate wisdom.
I have
encouraged practitioners to read the Infinite Life Sutra, which is written
in a simpler form of this classical Chinese language. The public should
easily understand Eighty percent of its content. There are only forty-eight
chapters in this compilation of the Infinite Life Sutra, which is close
to the amount that Mr. Lee required us to memorize. This is a good way
to start learning this classical Chinese language. After reading and memorizing
this sutra, I believe there will be no more obstacles in reading other
Buddhist sutras. I strongly urge not only practitioners but also Westerners
who want to learn the Chinese culture and Buddhism to memorize fifty chapters
of Wen-Yen-Wen or the Infinite Life Sutra. With two or three years of effort,
one can obtain the key to explore the wonders of ancient Chinese wisdom
and at the same time, transform the Buddhist sutras into one's own private
treasure. Without this key, having all these collections of sutras and
ancient Chinese literature would be futile, for there is no entry into
the treasury.
Elementary
School is the Foundation of Happiness
Ladies
and gentlemen, parents and students, elementary school is the foundation
for happiness in human life, the root of the country's future and the caretaker
of the future society. You have made such contributions to this greatest
task in human life and society. It is most meaningful and valuable for
society to nurture capable and virtuous youth. I would like to extend my
gratitude and highest respect to you. I wish all of you inner peace and
happiness. May everyone have great health and prosperity!