Tịnh
Độ là một trong mười tông phái của Phật giáo Trung Hoa.
Đây là tông phái siêu việt, với nhiều đặc thù thuộc Đại
thừa viên đốn. Gọi Đại thừa bởi tông này lấy tâm Bồ
đề làm nhân, lấy quả vị cứu cánh Phật làm quả. Viên,
bởi tông này lý sự vẹn toàn, tóm thâu cả Tiểu thừa giáo,
Đại thừa thỉ giáo, Đại thừa chung giáo và Đại thừa
đốn giáo. Đốn, vì tông này không luận bàn về pháp tướng
mà chỉ chuyên về chân tánh, không cần trải qua nhiều thứ
lớp, tu tập trong một đời có thể chứng lên quả vị Bất
thối chuyển. Đây chính là những điểm siêu xuất, đặc
thù của tông Tịnh Độ.
Giáo
nghĩa Tịnh Độ được y cứ trên ba bộ kinh và một bộ luận
làm cơ sở nòng cốt để phát huy gồm: Phật Thuyết A Di Đà
kinh, Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ kinh (còn gọi
Thập Lục Quán kinh) và một bộ luận là Tịnh độ vãng sanh
luận của Bồ tát Thế thân.
Kinh
A Di Đà được đức Thế Tôn tuyên thuyết tại tinh xá Kỳ
Viên thuộc nước Xá Vệ, nội dung giới thiệu vị giáo chủ
và y báo trang nghiêm ở cõi Cực Lạc, khuyên chúng sanh phát
nguyện sanh về thế giới ấy bằng phương pháp chuyên trì
danh hiệu Phật A Di Đà, đồng thời dẫn lời tán dương và
ấn chứng của mười phương chư Phật để làm tăng tiến
niềm tin cho người niệm Phật.
Ở
núi Kỳ Xà Quật, thuộc thành Vương Xá, Ngài tuyên thuyết
kinh Vô Lượng Thọ, diễn tả quá trình hành Bồ tát đạo
của Tỳ kheo Pháp Tạng (tiền thân Phật A Di Đà), trong khi
tu nhân đã đối trước Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai
phát bốn mươi tám đại nguyện thù thắng cao cả để trang
nghiêm Phật độ, nhiếp hóa quần sanh. Kế đó nói về công
đức tu hành, trí tuệ thần biến của Thánh chúng cõi ấy,
khiến chúng sanh sanh tâm khát ngưỡng phát nguyện quay về.
Tại
vương cung Tần Bà Sa La thuộc thành Vương Xá, do sự thỉnh
cầu của hoàng hậu Vi Đề Hy, Ngài tuyên thuyết kinh Quán
Vô Lượng Thọ, chỉ bày mười sáu pháp quán làm cơ sở vãng
sanh Tịnh độ.
Sau
này Bồ tát Thế Thân nương vào kinh Vô Lượng Thọ tạo bộ
Tịnh độ vãng sanh luận, tán dương cảnh giới trang nghiêm
thù thắng của Cực Lạc và xiển dương pháp tu Ngũ niệm
môn (lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán tưởng và hồi hướng)
làm nhân tố cầu vãng sanh. Ngoài ba kinh và một luận trên,
còn có rất nhiều kinh luận Đại thừa khác như Hoa Nghiêm,
Pháp Hoa, Bảo Tích… Đại trí độ, Đại Tỳ bà sa… cũng
đều tán thán và đề cao tư tưởng cầu sanh Tịnh độ của
Phật A Di Đà.
Pháp
môn Tịnh độ còn gọi là pháp môn Niệm Phật. Ý nghĩa niệm
Phật là đem tâm thanh tịnh mà tưởng nhớ đến danh hiệu,
công đức mầu nhiệm và thân tướng trang nghiêm của chư
Phật. Niệm là nhớ nghĩ, buộc tâm vào một đối tượng
Chánh pháp, không rong ruổi theo niệm trần, thường tỉnh thường
giác hiện rõ trước mặt. Niệm Phật là quán tưởng thân
tướng hay niệm danh hiệu Phật, danh này bao trùm các công
đức, trí tuệ, từ bi… của các Đức Phật. Lấy danh hiệu
làm đối tượng niệm, tâm thanh tịnh làm chủ thể niệm,
thường trụ vào bản tánh bất sanh bất diệt ấy tất sẽ
đạt đến cảnh giới an vui chân thật.
Hành
giả an trụ vào câu Phật hiệu hay quán tưởng thân tướng
trang nghiêm của Phật với tâm thanh tịnh sẽ tạo thành một
năng lực mầu nhiệm, quét sạch mọi vọng tưởng điên đảo,
khơi dậy tự tánh Di Đà bên trong mỗi chúng sanh. Từ đây
vọng tưởng quyết dứt trừ, cảnh giới an vui thanh tịnh
nhiệm mầu sẽ hiển lộ. Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy: “Chư
Phật Như Lai là thân pháp giới vào trong tâm tưởng chúng
sanh, cho nên tâm các người nhớ nghĩ Phật thì tâm ấy là
ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, tâm ấy là Phật.
Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh,
vì thế các ông phải nhớ nghĩ và quán tưởng sâu sắc thân
của Đức Phật kia”.
Lập
trường căn bản của tông Tịnh Độ được kiến lập trên
nền tảng nhân quả, tức có tạo nhân mới mong hưởng quả.
Điều này xác quyết, nếu muốn về sau làm Thánh chúng nơi
cảnh giới Cực Lạc thì ngày hôm nay hành giả phải có tư
cách của bậc Thánh. Vì vậy, trong cuộc sống hiện tại,
cần phải thường xuyên chuyển hóa ba nghiệp thân khẩu ý
hướng đến thanh tịnh. Ví như học trò đi học phải có
sự tiến bộ theo thứ lớp, có như vậy mới mong có ngày
thành tài đỗ đạt. Người niệm Phật cũng thế, nếu hôm
nay cứ sống trong sự buông thả, không chịu nỗ lực tinh
tấn tu hành, mà cứ van xin và tin rằng ngày mai Phật sẽ cứu
độ; nếu tin như thế thì thật trái với lý nhân quả, chẳng
khác nào luận thuyết của ngoại đạo và hoàn toàn không
phù hợp với giáo lý nhà Phật.
Như
vậy, người niệm Phật muốn vãng sanh Tịnh độ, ngoài năng
lực hộ trì và tiếp dẫn của Phật, cần phải tự lực
tu tập tức phải có chánh nhân Tịnh độ. Theo kinh Quán Vô
Lượng Thọ, hành giả muốn được vãng sanh Tịnh độ phải
hội đủ ba điều kiện: “Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng
thờ sư trưởng, giữ lòng từ không sát hại, tu tập mười
nghiệp lành. Hai là thọ trì ba pháp quy y, đầy đủ các giới
không phạm oai nghi. Ba là phát Bồ đề tâm, tin sâu lý nhân
quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác
cùng tu”. Ba điều trên đây gọi là chánh nhân Tịnh độ,
có thể tóm thâu vào hai vấn đề chính là phát Bồ đề tâm
và nghiêm trì tịnh giới.
Việc
đầu tiên của người niệm Phật là phát Bồ đề tâm. Thế
nào là phát Bồ đề tâm? Tức phát tâm trên mong cầu quả
vị Phật, dưới nguyện hóa độ các loài chúng sanh. Người
tu Phật nếu không phát Bồ đề tâm dẫu có tinh tấn tu trì
thực hành các hạnh lành cũng chỉ là nhọc công vô ích. Điều
này trong kinh Hoa Nghiêm có dạy: “Quên mất tâm Bồ đề,
dẫu tu các hạnh lành, cũng đều là nghiệp ma”. Vì vậy
hành giả muốn được vãng sanh thì phải phát tâm Bồ đề,
đây là điểm quan trọng không thể thiếu đối với người
tu Phật nói chung và Tịnh độ nói riêng.
Thứ
hai là nghiêm trì tịnh giới, tức mỗi người tu tùy theo giới
luật bản thân đã thọ mà hành trì. Bất kỳ tông phái nào
trong đạo Phật cũng không thể ly khai giới luật vì giới
là nền tảng nhập đạo, là thọ mạng của Phật pháp. Nếu
không có giới thì định tuệ cũng không thể phát sanh. Giới
định tuệ đã không phát sanh thì Pháp thân huệ mạng biết
nương vào đâu để thành tựu?
Có
thể nói Luật tông và Tịnh Độ tông là hai tông phái hỗ
tương và bao trùm và không thể tách rời nhau. Hai tông này
tóm thâu toàn bộ tám tông khác của Đại thừa, như Đại
sư Thái Hư nói: “Luật là nền tảng của tam thừa, Tịnh
Độ là mái che chung tam thừa”. Hành giả nghiêm trì giới
luật, từ đó câu niệm Phật mới hiển lộ hết công năng
mầu nhiệm, như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có dạy: “Một
câu niệm Phật có thể tiêu trừ tám mươi vạn ức kiếp
sanh tử trọng tội”.
Trên
nền tảng của việc phát Bồ đề tâm và nghiêm trì tịnh
giới, hành giả phát tâm khát ngưỡng cầu sanh Tịnh độ.
Tâm cầu sanh Tịnh độ này phải hội đủ ba đức tính quyết
định là tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên.
Tín
là đức tin, là cánh cửa quan trọng để vào đạo, là cội
nguồn của mọi công đức. Người tu Phật thiếu đức tin
sẽ không thoát ly sanh tử, đạt kết quả an vui giải thoát.
Bởi tất cả công đức vô lậu đều nương nơi tín mà lập
và do tín mà thành. Hành giả niệm Phật ngoài đức tin trong
sạch tuyệt đối với Tam bảo, với sự tìm hiểu bằng kiến
chiếu của trí tuệ Bát nhã sáng suốt kiên định không ngờ
vực, gia thêm lòng tin kiên cố vào pháp môn niệm Phật. Đức
tin này được dựng lập trên ba điểm.
Thứ
nhất hành giả tin tưởng Đức Phật Thích Ca là bậc đã
thân chứng cảnh giới Tịnh độ, những lời dạy của Ngài
về cảnh giới Cực Lạc và khuyên chúng sanh phát nguyện cầu
sanh Tây phương là có thật. Hai là tin Đức Phật A Di Đà
với bốn mươi tám đại nguyện tiếp độ chúng sanh, nếu
ai có tâm mong về thế giới của Ngài thì người ấy sẽ
được Phật tiếp độ. Ba là tin vào tự tánh thanh tịnh,
vào khả năng giác ngộ sẵn có của mình, nếu hiện đời
phát tâm niệm Phật thì mai hậu quyết định sẽ được vãng
sanh Tịnh độ.
Trên
cơ sở của tín, hành giả cầu sanh Tịnh độ cần phải có
đủ yếu tố thứ hai là khẩn thiết phát nguyện. Trong Phát
Bồ đề tâm văn của Đại sư Tĩnh Am có dạy: “Cửa chính
yếu vào đạo là lấy sự phát tâm làm trước, việc cấp
thiết tu hành lấy sự lập nguyện làm đầu, nguyện có lập
thì chúng sanh mới độ, tâm có phát thì Phật đạo mới thành”,
lời dạy ấy của Tổ sư đã cho chúng ta thấy được tầm
quan trọng của sự phát nguyện đối với việc tu hành.
Tâm
nguyện cầu sanh Tây phương theo Thiên Thai Trí Giả đại sư
gồm hai điều là yểm ly và hân nguyện. Tâm yểm ly là tâm
chán lìa. Hành giả phải luôn quán niệm sắc thân này vốn
là hư vọng, chỉ là tổ hợp của năm uẩn chứa đựng khổ
đau và bất tịnh. Phiền não cuộc đời luôn cấu xé tâm
can, như những mũi tên độc đâm vào da thịt. Nhờ thường
xuyên quán sát như thế, hành giả sẽ sanh tâm nhàm chán, đối
với thân xác và mọi thú vui dục lạc ở đời sẽ không
sanh tâm đắm nhiễm. Tâm chán bỏ thế giới Ta Bà càng lớn
thì chí nguyện cầu sanh càng mạnh. Người niệm Phật trước
sau chỉ có một ước nguyện duy nhất là mong cầu sớm thoát
khỏi lao tù Ta Bà hiện tại, nguyện thác sanh về Cực Lạc
ngày mai chính là hân nguyện. Tâm tha thiết cầu sanh đó chẳng
khác nào như kẻ tha phương trông ngóng cố hương, người
xa cha mẹ mong ngày đoàn tụ, như trong Di Đà sớ sao có dạy:
“Trông về Cực lạc như nhớ cố hương, ngưỡng mến Đức
Từ Tôn như cha mẹ”.
Tín
nguyện đã đầy đủ nhưng thiếu phần hạnh, người tu Tịnh
độ cũng khó thành tựu, vì vậy cần phải chú trọng vấn
đề hành trì. Đại sư Ngẫu Ích từng dạy: “Được vãng
sanh đều do ở tín và nguyện; phẩm vị cao hay thấp là bởi
ở chỗ hành trì có cạn hoặc sâu”. Ngoài việc tu tạo phước
đức, trí tuệ và giữ gìn giới luật làm trợ hạnh vãng
sanh, hành giả phải thực hành chánh hạnh. Chánh hạnh ở
đây là phát tâm thanh tịnh thường trì Thánh hiệu Phật.
Theo pháp môn Tịnh độ thì việc niệm Phật bao gồm bốn
môn then chốt là Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng niệm
Phật, Quán tượng niệm Phật và Trì danh niệm Phật.
Thật
tướng niệm Phật là thể nhập vào Đệ nhất nghĩa đế,
niệm tánh Phật bản lai của mình. Bản thể xưa nay vốn thanh
tịnh vắng lặng, không bị phiền não cấu nhiễm. Hành giả
trụ tâm vào tánh Phật bản lai đó, khiến tâm không vọng
động, không chạy theo niệm trần, tâm lần hồi trong sáng
thể nhập vào cảnh giới nhất tâm.
Quán
tưởng niệm Phật là hành giả quán tưởng chánh báo và y
báo trang nghiêm của Đức Phật A Di Đà và thế giới Cực
Lạc, cho đến khi mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy cảnh
giới Cực Lạc rõ ràng.
Quán
tượng niệm Phật là người tu luôn nhiếp tâm vào hình tượng
của Phật A Di Đà, cho đến khi có đối trước hay không đối
trước tôn tượng Ngài, hình tướng oai nghiêm của Phật A
Di Đà vẫn hiện ra trước mắt.
Sau
cùng là Trì danh niệm Phật, đó là niệm thầm hay niệm ra
tiếng bốn chữ A Di Đà Phật hay sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật.
Hành giả niệm Phật với tâm tha thiết chí thành không xen
lẫn tạp niệm, chỉ chú tâm vào danh hiệu Phật, lần hồi
sẽ đi vào cảnh giới nhất tâm. So với ba môn trước thì
pháp Trì danh niệm Phật có phần giản dị dễ tu và dễ thành
tựu. Đây quả thật là phương tiện thù thắng trong các phương
tiện, là đường tắt tu hành trong mọi đường tắt.
Vấn
đề quan trọng của pháp niệm Phật là trong khi niệm phải
giữ tâm thanh tịnh, bởi tâm thanh tịnh là nhân tố quyết
định cho việc thành tựu cảnh giới nhất tâm. Muốn đạt
được điều này, theo Tổ sư Ấn Quang: “Khi hành giả đề
khởi câu Phật hiệu, tai phải nghe rõ ràng từng chữ, tâm
phải trụ vào câu Phật hiệu, không chạy theo vọng trần
và nhiếp tâm liên tục, hành giả sẽ tiến sâu vào cảnh
giới chánh định”. Chánh định hay nhất tâm sẽ làm cơ
sở cho tuệ giác bùng phát, theo Đại sư Liễu Nhất: “Khi
tâm chuyên chú vào câu Phật hiệu, quên cả thân tâm ngoại
cảnh, tuyệt cả không gian thời gian, đến lúc vọng hoặc
tiêu tan, tâm thể bừng sáng, hành giả có thể chứng được
niệm Phật tam muội”.
Qua
những điểm khái quát về ba yếu tố tín, nguyện, hạnh của
pháp môn niệm Phật, chúng ta thấy pháp môn này có phần đơn
giản, dễ thực hành mà kết quả lại cao tuyệt. Pháp môn
này là thuyền từ ra khỏi Ta bà, là cửa mầu để vào Phật
đạo (Xuất Ta bà chi bảo phiệt, thành Phật đạo chi huyền
môn). Sự dễ tu dễ chứng so với các pháp môn khác được
các bậc cổ đức đánh giá: “Tu các pháp môn khác, như con
kiến bò dọc theo ống tre, hành trì môn Tịnh độ như con
kiến đục thủng ống tre ra ngoài”.
Vì
tính cách khế lý khế cơ ấy mà từ trước đến nay không
biết bao nhiêu người niệm Phật được kết quả vãng sanh.
Sự mầu nhiệm đó trong Tịnh độ thánh hiền lục đã ghi
lại rõ ràng. Pháp môn này lại bao quát trên từ các bậc
Đẳng giác Bồ tát, các bậc đại đức cao tăng, dưới cho
đến những kẻ cùng hung cực ác, thậm chí đến những loài
súc sanh cũng nhờ trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà được
thoát ly thân cầm thú, sanh về cảnh giới Tịnh độ.
Tại
Việt Nam, pháp môn Tịnh độ đã sớm truyền vào và phát
triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ XI, Thiền sư Tĩnh Lực (thuộc
thiền phái Vô Ngôn Thông) đã chứng niệm Phật tam muội.
Cũng trong thế kỷ này, một vị tướng của Lý Thánh Tông
đã dựng tượng Phật A Di Đà tại núi Lan Kha, huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh. Thiền sư Không Lộ (mất năm 1141) đã từng
dựng tượng Phật A Di Đà ở chùa Quỳnh Lâm. Thảo Đường
quốc sư, vị khai tổ dòng thiền Thảo Đường của Phật
giáo Việt Nam (vào thế kỷ XIII) đã khuyên đồ chúng nên
tu Tịnh độ với bài “Pháp ngữ thị chúng” tuyệt vời.
Huyền Quang tam tổ thiền phái Trúc Lâm cũng đã lập tháp
Cửu phẩm liên đài tại chùa Bút Tháp để khích lệ tứ
chúng cầu nguyện vãng sanh.
Thời
cận đại có các bậc cao tăng như Hòa thượng Tâm Tịnh,
Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Hải Tràng, Hòa thượng
Trí Thủ, Hòa thượng Thiền Tâm… đã tu tập và truyền bá
pháp môn Tịnh độ, làm cho Phật pháp được hưng thạnh và
lan truyền cho đến ngày hôm nay.
Thiết
nghĩ, chúng sanh trong bối cảnh phước mỏng nghiệp dày, muốn
đạt đến sự giải thoát cần nương vào pháp môn niệm Phật.
Điều này trong kinh Đại Tập Nguyệt Tạng, Đức Phật có
dạy: “Thời mạt pháp ức ức kẻ tu hành song ít có người
đắc đạo, chỉ nương vào pháp môn Niệm Phật mới mong thoát
khỏi luân hồi”.
Phải
chăng, pháp môn này là mật ý vi diệu, là sự thể hiện tình
thương bao la của Đức Phật đối với tất cả chúng sanh
trong thời mạt pháp, như trong kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy:
“Trong đời tương lai khi kinh đạo diệt hết, Ta dùng sức
từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh này một trăm năm. Chúng
sanh nào gặp được kinh này, tùy theo sở nguyện đều có
thể đắc độ”. Tình thương vô bờ bến của Phật đã
như thế, phận làm đệ tử chúng ta nếu không lo phát tâm
niệm Phật cầu sanh Tây phương, tức đã cam tâm phụ ân tình
của Ngài.
CÂU
HỎI ÔN TẬP:
1-
Những kinh luận chủ yếu của giáo nghĩa Tịnh độ là gì?
2-
Chánh nhân Tịnh độ bao gồm những yếu tố nào?
3-
Thế nào là tín thâm, nguyện thiết và hạnh chuyên?
4-
Bốn môn niệm Phật của pháp môn Tịnh độ là gì?
Người
gửi bài: Tâm Minh
08-11-2007
04:34:23