PHẨM 25:
QUÁN-THẾ-ÂM
BỒ-TÁT PHỔ MÔN PHẨM
Lúc
bấy giờ, Bồ-tát Vô Tận Ý lễ Phật bạch rằng: Thế Tôn
! Do nhân duyên nào mà Bồ-tát Quán Thế Âm có tên là Quán
Thế Âm.
Phật
bảo: Vô lượng trăm ngàn muôn ức chúng sanh đang bị khổ
não mà nghe Bồ-tát Quán Thế Âm rồi “ nhất tâm”
xưng niệm danh hiệu của Bồ-tát thì tất cả chúng sanh ấy
đều được giải thoát khổ não.
Người
nắm giữ danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm thì nhờ oai
thần của Bồ-tát mà:
·
Vào lửa, không bị lửa thiêu
·
Chìm dưới nước, được vào chỗ cạn.
·
Đi thuyền tìm châu báu trong biển lớn bị lạc vào nước
quỳ La Sát sẽ thoát được nạn quỷ ấy.
·
Sắp bị dao gậy chém đánh, thì dao gậy kia bị gãy từng
khúc.
·
Khỏi bị Dạ Xoa và La Sát làm hại, thậm chí chúng không
dám ngó nhìn.
·
Bị giềng xích gông cùm, đều có tội hay không, xiềng xích
gông cùm thảy đều đứt rã.
·
Gặp đường hiểm nạn, được thoát khỏi và không bị sợ
hãi.
Lại
nữa, chúng sanh nào nhiều dâm dục, nhiều giận hờn, nhiều
ngu si, mà thường cung kính niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế
Âm thì được lìa dục, lìa sân, lìa si.
Này
Vô Tận Ý, Bồ-tát Quán Thế Âm oai thần vòi vọi như thế,
cho nên chúng sanh phải một lòng tưởng nhớ.
Người
nữ nào lễ bái, cúng dường Bồ-tát Quán Thế Âm để cầu
con trai thì được con trai phước đức trí tuệ, còn muốn
cầu con gái thì được con gái hình tướng xinh đẹp,
trồng sâu cội phước, người người kính mến.
Cung
kính lễ bái Quán Thế Âm phước đức không bao giờ mất
và nhiều như phước đức của người niệm danh hiệu và
cúng dường sáu muơi ức hằng hà sa Bồ-tát.
Vô
Tận Ý bạch: Thế Tôn ! Bồ-tát Quán Thế Âm làm thế nào
mà dạo khắp Ta-bà? Sức mạnh phương tiện của
Bồ-tát như thế nào?
Phật
bảo: Nếu có chúng sanh quốc độ nào cần thân Phật mới
độ thoát họ được, thì Bồ-tát Quán Thế Âm liền hiện
thân Phật mà thuyết pháp cho họ nghe. Nếu cần thân
Duyên Giác, thân Thanh Văn, thân Phạm Cương, thân Đế Thích,
thân Tự Tại Thiên, thân Thiên Đại Tướng Quân, thân Tỳ-Sa-Môn,
thân Tiểu Vương , thân Trưởng Giả, thân Cư-Sĩ,
thân Tể Quan, thân Bà-la-môn, thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, thân con trai, thân con gái , thậm chí
đến thân Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lầu-la,
Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, cùng không phải loài người, để
độ thoát một chúng sanh của một quốc độ nào đó, thì
Bồ-tát Quán Thế Âm tùy trường hợp mà hiện thân ấy để
hoá độ.
Vô
Tận Ý, Bồ-tát Quán Thế Âm thành tựu công đức như thế,
dùng các thứ thân hình, dạo cùng các nước mà độ thoát
chúng sanh, vì vậy chúng ngươi phải “ nhất tâm” cúng dường.
Bồ-tát Quán Thế Âm còn được cõi Ta-bà gọi là “ Người
bố thí vô uý” vì trong hoàn cảnh sợ hãi tai nạn nguy
cấp, Bồ-tát có khả năng làm cho hết sợ.
Vô
Tận Ý bạch Phật: Thế Tôn ! Con xin cúng dường Bồ-tát Quán
Thế Âm. Nói xong, liền mở xâu chuỗi ngọc đang đeo
nơi cổ, giá trị trăm ngàn lượng vàng, đem dâng cho Bồ-tát
Quán Thế Âm mà nói rằng: Xin ngài nhận món pháp thí bằng
châu báu nầy.
Bồ-tát
Quán Thế Âm không chịu nhận. Vô Tận Ý lại thưa: Xin Ngài
thương xót chúng tôi mà nhận cho.
Bấy
giờ Phật bảo Bồ-tát Quán Thế Âm: Ông nên thương xót Vô
Tận Ý và hàng tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn-thát-bà,
A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-dà, loài người và
không phải người… mà nhận chuỗi ngọc.
Vô
Tận Ý Bồ-tát nói một bài kệ, để hỏi đức Phật:
“
Thế Tôn đủ tướng tốt
Con
nay xin hỏi Phật
Phật
tử kia duyên gì
Tên
là Quán Thế Âm”
Kệ
đáp:
“
Vô Tận Ý nghe đây
Hãy
nghe hạnh Quán Âm
Khéo
ứng các nơi chỗ
Thệ
rộng sâu như biển
Nhiều
kiếp chẳng nghĩ bàn
Hầu
nhiều nghìn ức Phật
Phát
nguyện thanh tịnh lớn”
Ta
vì ông lược nói:
Nghe
danh và thấy thân
Tâm
niệm không xao lãng
Hay
diệt khổ ba cõi
Giả
sử khởi ý hại
Xô
rớt hầm lửa lớn
Do
sức Quán Âm kia
Hầm
lửa biến thành ao
Hoặc
trôi dạt biển lớn
Cá,
rồng, quỷ các nạn
Do
sức Quán Âm kia
Sóng
mòi dập chẳng chìm
Hoặc
ở chót Tu-di
Bị
người xô rớt xuống
Do
sức Quán Âm kia
Như
mặt trời trụ không
Hoặc
bị người ác rượt
Rớt
xuống núi kim cang
Do
sức Quán Âm kia
Chẳng
hại đến mảy lông
Hoặc
bị oán tặc vây
Đều
cầm dao gia hại
Do
sức Quán Âm kia
Đều
liền sanh lòng lành
Hoặc
bị khổ nạn vua
Gia
hình mệnh sắp chết
Do
sức Quán Âm kia
Dao
liền gẫy từng đoạn
Hoặc
xiềng xích cầm tù
Tay
chân bị cùm gông
Do
sức Quán Âm kia
Tháo
ra được thong thả
Trù
ếm tra thuốc độc
Muốn
hại chết người ta
Do
sức Quán Âm kia
Người
là,m mang hại lấy
Hoặc
gặp La-sát dữ
Độc-long
các quỷ yêu
Do
sức Quán Âm kia
Chúng
liền không dám hại
Hoặc
thú dữ vây quanh
Nanh
vút bén đáng sợ
Do
sức Quán Âm kia
Chạy
gấp chẳng kể đường
Rắn
độc và bò cạp
Phun
khí độc mịt mờ
Do
sức Quán Âm kia
Tự
khắc lui chạy hết
Mây
đen sấm sét nổ
Giá
tuôn mưa xối xả
Do
sức Quán Âm kia
Tức
thời tiêu tan hết
Chúng
sanh bị khổ ách
Vô
lượng khổ bức thân
Quán
Âm sức trí diệu
Hay
cứu khổ thế gian
Đầy
đủ sức thần thông
Rộng
tu trí phương tiện
Mười
phương các cõi nước
Không
cõi nào chẳng hiện
Các
loài trong đường dữ
Địa
ngục, quỷ, súc sanh
Sanh,
lão, bệnh, tử, khổ
Lần
lần khiến dứt hết
Quán
chơn, quán thanh tịnh
Quán
trí tuệ quảng đại
Quán
bi và quán từ
Thường
nguyện thường chiêm ngưỡng
Quán
thanh tịnh không nhơ
Trời
trí tuệ phá tối
Hay
phục tai gió lửa
Chiếu
sáng khắp thế gian
Thể
Bi ngừa sấm sét
Ý
từ đám mây lành
Xối
mua pháp cam lồ
Dứt
trừ lửa phiền não
Kiện
tụng ở chỗ quan
Trong
quân trận sợ sệt
Do
sức Quán Âm kia
Oán
cừu đều tan hết
Diệu
Âm: Quán Thế Âm
Phạm
âm, hải triều âm
Tiếng
hơn hết thế gian
Cho
nên thường phải niệm
Niệm
niệm chớ sanh nghi
Quán
Thế Âm Thánh Tịnh
Với
khổ não chết chóc
Làm
chỗ nương cậy cho
Đủ
tất cả công đức
Mắt
lành trông chúng sanh
Biển
phước lớn vô lượng
Thế
nên cần đảnh lễ
Bấy
giờ, Bồ-tát Trì Địa liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến
trước Phật thưa rằng:
Bạch
Thế Tôn ! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát
Phổ Môn với sức thần thông, đạo nghiệp tự tại nầy
thì nên biết công đức của người đó không phải tầm thường
Lúc
Phật nói phẩm Phổ Môn nầy, trong chúng có 84.000 chúng sanh
đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác
THÂM
NGHĨA
Phẩm
Quán Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn thường gọi giản lược là
phẩm Phổ Môn. Phẩm kinh nầy tùy chủng tánh và trình
độ kiến giái của mỗi người mà có sự nhận thức khác
nhau. Vì vậy khi ứng dụng việc tu tập hành trì, mỗi
người theo sự nhận thức của mình mà “ tín ngưỡng”.
Thế nên khó tìm một tiêu chuẩn mà nhất trí về Bồ-tát
Quán Thế Âm và ý nghĩa của phẩm Phổ Môn nầy.
Theo
sự phân pháp của Hải Ấn đại sư được nhiều bậc đa
văn tiền bối tán đồng, phẩm Quán Thế Âm được liệt
vào phần Nhập Phật tri kiến , giáo nghĩa rất thâm.
Đây là pháp thực hành quán niệm dựa trên âm văn của nhĩ
căn và thanh trần. Thanh trần và Âm , nhĩ căn và Văn
vậy. Nhĩ căn có ba đức tánh Viên, Thông, Thường, nó
đặc thù hơn các căn khác.
Ngồi
một nơi yên tĩnh, mười phương có tiếng trống, cùng một
lúc nghe đủ cả mười. Đó là đức Viên.
Cách
vách có thể nghe tiếng. Tiếng gần tiếng xa cũng có
thể nghe. Đó là đức Thông.
Có
tiếng nghe đã đành, không tiếng tánh nghe vẫn có. Đó
là đức Thường của nhĩ căn vậy.
“
Phật xuất Ta-bà giới
Thử
phương chân giáo thể
Thanh
tịnh tại Âm văn
Dục
thủ tam-ma-đề
Thật
tùng Văn trung nhập”
Ý
nghĩa bài kệ đó, nói lên ở kinh Thủ Lăng Nghiêm về sự
ưu việt của Âm văn đó.
Phương
pháp quán niệm Âm văn rất là quan trọng. Tu học
phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát, Phật tử chúng ta hãy gác qua tình
cảm do tập quán và truyền thuyết dân gian hời hợt. Hãy
tìm hiểu kinh điển qua sự thấy biết, tư duy vận dụng lý
trí có tánh khách quan, mới có thể nhận chân giáo lý, mới
có thể biết được sự thật về những điều Phật dạy
chúng ta.
Ở
phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát thứ 20, đã đề cập Oai “Âm”
Vương Phật. Đó là đức Bổn sư đã kín đáo gợi ý,
mật chỉ tiên đề cho thính chúng Pháp Hoa hải hội về Âm
văn trong hồi ấy.
Ở
phẩm 21, Như Lai thần lực, Phật mật ý chỉ bày công dụng
của Âm văn tỏ rõ hơn, qua hai sự kiện: tiếng tằng
hắng và tiếng khãy móng tay, vang khắp mười phương quốc
độ.
Ở
phẩm 24, Diệu Âm, công dụng của Âm thanh đến đây
đã thành Diệu: Diệu Âm đến, có mặt, thì cõi Ta-bà rực
rỡ, trang nghiêm đẹp đẽ. Diệu Âm về, vắng tiếng,
cõi Ta-Bà trở lại trạng thái cũ , không còn trang nghiêm đẹp
đẽ nữa.
Phẩm
Quán Thế Âm thứ 25 nầy, Phật dạy cho chúng ta cách Giữ
diệu âm ở lại, để cõi Ta-bà xinh đẹp, rạng rỡ mãi.
Quán
Thế Âm là danh hiệu “ Nhân cách hoá một phương pháp tu
tập”.
Quán
là vận dụng cái trí năng tri, soi rọi vào tâm để nhận
thức đối tượng, như quán tưởng, quán niệm một đối
tượng nào…
Thế
có nghĩa là sự vận động tương tục không ngừng của sự
vật. Ở đây nhằm chỉ bày sự tương tục của tâm
tưởng chúng ta.
Âm
là tiếng, Âm có âm hưởng, âm ba, âm thanh đều là đối
tượng của nhĩ căn.
Quán
Thế Âm là quán niệm cái tiếng tâm thầm lặng mà trong như
sương, trắng như tuyết, sáng chói như kim cương, nó thường
xuyên liên tục không có phút giây gián đoạn ở lòng
ta.
Ở
đời có thứ tiếng nào thường xuyên liên tục không gián
đoạn?
Tiếng
của tâm ta. Tiếng lòng mầu nhiệm của ta là thứ tiếng
thường xuyên và liên tục không ngừng. Nó luôn luôn
nói với chúng ta, nếu chúng ta để ý lắng nghe. Nó có
khả năng nói ngày, nói đêm, nói ở mọi nơi chốn, chỉ trừ
lúc ngũ không chiêm bao.
Nhưng
làm sao biết được thứ tiếng nào là mầu nhiệm?
Thứ
tiếng có khuynh hướng tiến lên giải thoát giác ngộ: Bố
thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ,
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh định…
được liệt vào tiếng mầu nhiệm, là diệu âm đó.
Trái lại, những thứ tiếng có chất vô minh, phiền não, khổ
đau như : tham, sân, si, mạn… người Phật tử phải quên,
bỏ nói đi, không nên lưu lại ở ký ức mình.
Diệu
Âm tức Quán Thế Âm. Quán Thế Âm tức Diệu Âm đến
rồi về để cho cõi Ta-bà trở lại trạng thái cũ, không
giữ được vẻ xinh đẹp, trang nghiêm nữa. Đó là Diệu
âm Bồ-tát vãng lai ở phẩm trước.
Kinh
nói:
“Diệu
Âm, Quán Thế Âm
Phạm
Âm, Hải Triều Âm
Thắng
bỉ thế gian âm
Thị
cố tu thường niệm…”
Nghe
phẩm Quán Thế Âm, mỗi người phải đặt mình là một Vô
Tận Ý Bồ-tát. Phải sử dụng ý thức sâu xa vô tận,
tư duy thăm thẳm tột suốt nguồn tâm để nhận thức thâm
nghĩa của kinh. Nếu sử dụng ý thức nông cạn, tư duy
hời hợt, “ tín ngưỡng” Quán Thế Âm như một đấng thần
quyền, sẽ sa vào mê tín dị đoan, làm cho người trí khinh
chê, chánh pháp từ đây mai một !
Giả
sử có vô lượng chúng sanh đang gánh chịu nhiều điều khổ
não mà được nghe “ Hạnh Quán Thế Âm”, liền quán âm
thanh đó, thì họ sẽ được giải thoát những điều khổ
não. Quán niệm “âm thanh” có nghĩa là tiếng của tâm
mình, là Diệu Âm vậy.
Trọng
tâm cứu khổ của Quán Thế Âm nhằm giải thoát sự khổ
tâm, sự khổ tinh thần. Tất nhiên khi giải thoát khổ
tinh thần, thì thân thể lành mạnh và mọi giá trị vật chất
sẽ có ở tầm tay. Vì vật chất không ngoài tinh thần;
tinh thần không ngoài vật chất. Hai thứ ấy tác động
hữu cơ. Thế thì sự cứu độ, sự ban cho của Quán
Thế Âm là cứu độ, ban cho tinh thần, ban cho những gì thuộc
lãnh vực giải thoát giác ngộ của tâm tư và ý thức.
Bồ-tát sẽ không ban cho vật chất hữu vi cho chúng sanh
đâu, vì làm như vậy tức là dồn đẩy chúng sanh vào con
đường khổ ải triền miên không lối thoát. Mà Bồ-tát
thì không thể nào làm việc ác đức và tội lỗi đối với
lương tâm mình.
Bởi
vì:
“Đa
dục vi khổ
Sanh
tử bì lao
Tùng
tham dục khởi
Thiểu
dục vô vi
Thân
tâm tự tại…”
Kinh
Bát-đại Nhơn Giác, Bồ-tát đã thuộc nằm lòng.
…”
Nhơn hệ ư thê tử xã trach, thậm ư lao ngục. Lao ngục
hữu tán thích chi kỳ, thê tử vô viễn ly chi nịêm.
Tình ái ư sắc khởi đản khu trì, tuy hữu khổ khẩu chi hoạn
tâm hồn cam phục. Đầu nê tự nịch cố viết phàm phu, thấu
đắc thủ môn xuất trần La-hán”.
Dính
dấp vào con đường thê tử cũng như phu tử còn nguy khổ
hơn bị tù. Ở tù còn có ngày mãn hạn, chứ thê tử
thì không sao có được ngày tháng rảnh rang…
Kinh
Tứ-thập nhị-chương, Bồ-tát cũng đã thuộc kỹ.
“
Nhất thiết hữu vi pháp
Như
mộng, huyển , bào, ảnh
Như
lộ diệc như điện
Ưng
tác như thị quán…”
Kinh
Kim Cương Bát Nhã, Bồ-tát Quán Thế Âm thì làm sao quên được.
Quán
Thế Âm Bồ-tát còn thuộc nhiều kinh lắm, chỉ có những
người trong giới:
“Đẳng
nhàn quá nhật, ngột ngột độ thời. Khả tích quang âm bất
cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập phương tín thí, diệc
nải cô phụ tứ ân…”
Họ
cố ý bóp méo sự thật về “ Hạnh Quán Âm”. Họ tôn thờ
và truyền bá Quán Thế Âm như một Bồ-tát chuyên làm công
tác “ từ thiện xã hội”. Rằng Quán Thế Âm Bồ-tát
hứa sẽ giúp đỡ, hộ độ tất cả những gì người tín
chủ muốn, miễn là “ có lễ” và “ thiết lễ cầu an”
trước tượng Ngài, thành tâm khẩn nguyện và tụng phẩm
“ Phổ Môn Kinh”
Không,
không thể như vậy được. Bồ-tát là bậc Đại đạo
tâm, thành tựu chúng sanh. Bồ-tát là bậc hữu tình đã
giác ngộ. Bồ tát là bậc giác ngộ cho chúng sanh hữu
tình. Đạo lý nhân quả Phật dạy, Bồ-tát đã thân
chứng. Chánh, tà, chơn, nguỵ, chánh pháp, phi pháp, với
trí tuệ “ hành thâm Bát nhã Ba la mật đa” không cần suy
nghĩ, Bồ-tát đã biết rõ hết rồi.
Thế
mà người ta nói: Bồ-tát là đại từ đại bi, cứu khổ,
cứu nạn, Ngài độ hết thảy chúng sanh vô điều kiện, chỉ
cần “ cúng dường”, “ cầu nguyện” và tha thiết “
khấn vái” Ngài. Ý nghĩa nông cạn đó, việc làm không
lý trí đó, đối với người trí, quả là sự bôi nhọ, sự
sỉ nhục nặng nề đối với một Bồ-tát “Đẳng giác Quán
Thế Âm”.
Muốn
hiểu Bồ-tát Quán Thế Âm cứu khổ với hình thức nào, chúng
ta phải hiểu những vấn đề được biểu trưng về khổ
nạn và giải thoát khổ nạn được an vui như sau:
1.
VỀ MẶT MẤT MÁT VÀ KHỔ NẠN:
Nạn
lửa, chỉ cho tánh “ thấy biết”, vì tánh thấy biết trái
ý hay sanh tánh nóng nảy như lửa. Cho nên về lửa có:
Lửa giận tức. Lửa dâm dục. Lửa bất mãn, bất
bình. Lửa hận náo nung đốt tâm can.
Nạn
nước, chỉ cho tánh “ nghe biết” , vì nếu nghe tiếng đàn
giọng huyễn, dễ bị cuốn trôi, nhận chìm trong nhục dục
khổ đau. Tánh luyến-ái-nặng-nề, cũng được ám chỉ
một hình thức cuốn trôi, nhận chìm của nước.
Quỷ
la sát, ám chỉ những kẻ độc ác, hung bạo giết người.
Dao
gậy, ví cho sức tác hại của sáu căn xúc đối với sáu
trần, sanh ra sự đau khổ như cắt, như đánh.
Ma
quỷ, chỉ sự cám dỗ của tham, sân, si, mạn, nghi, giải-đãi,
thuỳ miên, phóng dật, hôn trầm…
Gông
cùm xiền xích, biểu trưng cho sự mê mờ tốt tăm vì những
thứ đó làm cho con người mất tự do tự tại, kìm hãm sức
phát triển về thể xác lẫn tinh thần.
Giặc
cướp , ám chỉ những hành động sai quấy tội lỗi.
Do đó, mất sạch công đức lành ví như bị giặc cướp hết
sạch của cải.
Nói
chung, tất cả những từ có tính cách tác hại, gây đau khổ,
mất mát ở phẩm Phổ Môn đều phải được hiểu là: những
tác động tâm lý thuộc loại “ tâm sở bất thiện”.
Không được hiểu đó là sự kiện “cụ thể” ở ngoại
cảnh trước mắt. Hiểu trái lại thì nó trở thành chuyện
mê tín hoang đường.
2.
VỀ MẶT ĐƯỢC VÀ AN VUI:
Thất
bảo là vàng bạc , lưu ly… biểu trưng thất thánh tài: tín,
giới, văn, tàm quý, niệm, định, xã.
Của
báu, biểu trưng tất cả công đức lành.
Con
trai, biểu trưng trí tuệ và giác ngộ
Con
gái, biểu trưng phước đức và giải thoát.
Ngoài
ra, tất cả những từ mang tính cách “lành mạnh” và “
an vui” trong phẩm kinh nầy, phải được hiểu là: Phước
đức, trí tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến thuộc
loại “ tâm sở thiện”. Tóm lại, “ tâm sở thiện
hay bất thiện” cũng được hiểu đó là cách nói để biểu
trưng. Vì lẽ Quán Thế Âm là pháp tu để “ Nhập Phật
tri kiến” chớ không phải là một thần thánh để nguyện
cầu.
Phẩm
Phổ Môn là phẩm thứ 25 trong 28 phẩm kinh Đại thừa Diệu
Pháp Liên Hoa, nếu đưa vào đây một Bồ-tát chuyên làm công
tác xã hội tầm thường như thế, thì quả là phỉ báng Thế
Tôn lắm vậy.
Người
cúng dường và thọ trì danh hiệu 62 ức hằng hà sa Bồ-tát,
cốt để được định tuệ, để trở về với tâm thanh tịnh,
giải thoát giác ngộ của mình. Ngừơi quán niệm tiếng
lòng mầu nhiệm của mình thì người đó có định tuệ và
đã sống với tâm thanh tịnh giải thoát giác ngộ. Vì
vậy, thọ trì danh hiệu 62 ức hằng hà sa Bồ-tát và thọ
trì một danh hiệu Quán Thế Âm thôi, hai công đức bằng nhau
không khác, vì mục đích đạt đến ngang nhau.
Đáp
câu hỏi của Vô Tận Ý Bồ-tát, Quán Thế Âm vân du khắp
Ta-bà với hình thức nào?
Thế
Âm thường trực ở trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh
trong 10 pháp giới thánh phàm. Chúng sanh nào cần cứu
độ thì Thế Âm dùng thân đó mà thuyết pháp hoá độ.
Vì Thế Âm là “ tiếng lòng thường trực” của tất cả
chúng sanh vậy.
Pháp
Quán Thế Âm là thứ pháp thí cho chúng sanh vô-uý (không sợ).
Vì quán niệm Thế Âm nhất tâm thanh tịnh, thì chẳng còn
gì đáng sợ nữa, kể cả sự chết, hành giả cũng xem đó
là việc rất bình thường. Bình thường vì đó là quy
luật, là chân lý tất yếu, tự nhiên.
Giác
ngộ vô thượng không có gì cao xa và bí ẩn cả.
Người
giác ngộ là người hiểu rõ, nắm trọn quy luật đó, để
cuộc sống khỏi bất mãn, khỏi khổ đau, mà kinh điển thường
gọi là sống theo “ chân lý”. Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ-tát, Phật có ông nào trường sanh bất tử đâu.
Thế mà cái chết của các Ngài được gọi là “ Niết Bàn”
là “ Thoát ly sanh tử”. Còn phàm phu chỉ là chết mà
gọi là “ sanh tử luân hồi”, “ưu bi khổ não”. Nguồn
gốc do đâu? Do chấp cái “ Ta” và cái “ của Ta”.
Khởi niệm chấp là trái với chân lý, trái quy luật thiên
nhiên vũ trụ. Gốc khổ phát sinh từ ý niệm chấp thủ
của con người, là “ vô minh nghiệp tướng”.
Quán
Thế Âm là “ nhân”, “ bổn giác” và “ thỉ giác”
là “ quả”. Bổn giác, thỉ giác mới là mục tiêu
cứu cánh của tu pháp quán niệm Thế Âm. Vì vậy Thế
Âm Bồ-tát không dám nhận “ quà” của Vô Tận Ý Bồ-tát
cúng dường. Sau khi nghe lời Phật khuyến khích Thế Âm
mới nhận, nhưng rồi tức khắc dâng lên Đa Bảo Như Lai (bổn
giác) và Thích Ca Mâu Ni ( thể giác). Vì chỉ có bổn
giác và thỉ giác mới là địa vị thẩm quyền tối thượng
để nhận “ của báu vô giá” của tấm lòng trong trắng
“ Vô Tận Ý” hiến dâng.
Sắp
chấm dứt thời pháp về Quán Thế Âm Trì Địa Bồ-tát (
tâm địa) xuất hiện tán thán biểu đồng tình. Đó
là một sự kiện có ý nghĩa sâu xa ! Tâm và Ý cần tiếp
thu và nhận thức một cách hổ tương và đồng bộ thì hiệu
quả giác ngộ giải thoát mới cao. Rằng: Hãy vận dụng
tâm và ý mà quán niệm Thế Âm. Làm được vậy là Diệu
Âm sẽ ở mãi nơi lòng ta. Diệu âm không về đâu cả.