Phẩm 10:
PHÁP SƯ
Để
dạy cho tám muôn Đại Sĩ, khi bấy giờ Phật nói với
Bồ-tát Dược Vương rằng: Trong đại chúng đầy đủ hạng
người Chư Thiên, Long Vương, Càn-thát-bà, A-tu-la… Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di, Thanh Văn, Duyên Giác cho đến những người cầu
thành Phật đạo. Không để riêng ai, nếu người nào
ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, một câu một
bài kệ nhẫn đến một niệm tùy hỉ, Như Lai đều thọ ký
họ là người sẽ thành tựu quả Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Phật
dạy tiếp: Sau Như Lai diệt độ, nếu có người nghe
kinh Diệu Pháp Liên Hoa một câu một bài kệ cho đến một
niệm tùy hỉ, Như Lai cũng thọ ký cho quả Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Người
nào thọ trì, đọc, tụng , giảng nói, biên chép kinh Diệu
Pháp Liên Hoa cung kính cúng dường bằng các thứ trân bảo,
hương thơm, trang nghiêm đẹp đẽ… Dược Vương nên biết
ác người đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật,
đã thành tựu đại nguyện, vì thương xót chúng sanh mà sanh
vào nhân gian đấy.
Dược
Vương! Nếu có người hỏi trong thời vị lai, những chúng
sanh nào sẽ được thành Phật thì nên chỉ những người
vừa kể trên mà nói rằng những người đó sẽ thành Phật.
Vì sao? Nếu có người trai lành, gái tốt nào thọ trì , đọc
tụng, biên chép, giảng nói dầu là một câu của kinh Diệu
Pháp Liên Hoa và dùng các thứ hương hoa, báu vật mà cúng
dường, thì người đó đáng được nhân gian chiêm ngưỡng
và cúng dường như cúng dường Phật vì đó là hàng Đại
Bồ tát đã thành tựu Chánh Giác nhưng vì thương chúng sanh
mà nguyện sanh trên đời để phân biệt giảng nói kinh Pháp
Hoa. Dược Vương nên biết ! Người đó từ bỏ
phước báu thanh tịnh để sanh vào đời trược ác, vì
chúng sanh mà truyền bá giảng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Sau Như Lai diệt độ, nếu có người trai lành gái tốt có
thể vì riêng một người mà nói kinh Pháp Hoa nhẫn đến một
câu kinh phải biết người đó là sứ của Như Lai. Như
Lai sai làm việc của Như Lai, còn nói chi người ở trong đại
chúng vì nhiều người giảng nói.!
Dược
Vương .! Nếu có người bất thiện, dụng ác tâm ở trước
Phật chê mắng Phật suốt một kiếp tội còn nhẹ. Nếu
có người hung hãn chưỡi mắng người tại gia hay xuất gia
thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa thì tội rất nặng.
Dược
Vương.! Người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người
đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình.
Như Lai dùng vai mà vác người đó. Mọi người nên dùng
những thứ: hương hoa, kỹ nhạc quý báu nhất trong cõi đời
để cúng dường. Vì sao? Bởi vì nghe pháp của người
đó nói trong khỏang giây lát bèn được tỏ ngộ chân lý
rốt ráo đối với quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Để
lập lại nghĩa trên đức Thế Tôn nói một bài kệ.
Rồi
đức Phật dạy tiếp: Dược Vương .! Kinh điển của ta có
thể nói nhiều vô lượng, đã nói đang nói và sẽ nói mà
trong đó kinh Pháp Hoa khó tin và khó hiểu. Kinh nầy là
tạng bí yếu của chư Phật, không thể truyền trao khinh
suất bừa bãi cho những người không đúng đối tượng căn
cơ. Đây là thứ kinh chư Phật giữ gìn cẩn mật chưa
từng diễn nói. Bởi vì Như Lai còn tại thế nói ra còn
nhiều người oán ghét huống chi sau khi Như Lai diệt độ.
Dược
Vương nên biết: Sau Như Lai diệt độ, người nào thọ trì
, đọc tụng, biên chép , giảng nói cho người khác nghe, Như
Lai lấy y mà trùm, người đó được chư Phật trong mười
phương hộ niệm. Như Lai lấy tay xoa đầu và người
đó cùng với Như Lai ở chung.
Dược
Vương.! Ở nơi chốn nào có kinh nầy hoặc giảng nói
hoặc đọc tụng nên xây tháp bằng bảy báu cao rộng đẹp
đẽ mà trong đó không cần tôn trí xá lợi. Bởi vì
trong đó có tòan thân Như Lai rồi. Nên dùng các thứ
hương hoa, trân bảo, tràng phan… để cúng dường tháp.
Người nào thấy tháp lễ bái cúng dường, phải biết những
người đó đã gần gũi với quà Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác.
Bồ
tát hành đạo mà chưa thấy chưa nghe được kinh Diệu Pháp
Liên Hoa là Bồ tát chưa khéo tu đạo Bồ tát. Những
chúng sanh cầu Phật đạo, hoặc thấy hoặc nghe, nghe rồi
tin hiểu thọ trì nên biết người đó đã gần gũi với quả
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi. Thí như có người
khát nước đào giếng ở gò cao, đào thấy đất còn
khô, biết rằng gần tới nước. Bồ tát cũng vậy, thọ
trì, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa phải biết quả Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đối với Bồ tát đó gần
kề.
Dược
Vương.! Nếu Bồ Tát nào nghe kinh Pháp Hoa mà kinh nghi sợ sệt
đó là Bồ tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh Văn nghe kinh này
mà kinh nghi sợ sệt đó là hàng Thanh Văn tăng-thượng-mạn.
Dược
Vương .! Nếu có trai lành gái tốt sau Như Lai diệt độ muốn
vì hàng tứ chúng mà nói kinh Pháp Hoa thì nên ở trong nhà
Như Lai, mặc y Như Lai và ngồi trên tòa của Như Lai mà thuyết
kinh. Nhà Như Lai là tâm từ bi. Y Như Lai là nhẫn nhục.
Tòa Như Lai là “ Vạn Pháp Giai Không”.
Dược
Vương, Phật dù ở thế giới khác xa xăm nhưng Phật sai hàng
hóa nhơn, hàng tứ chúng (Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di) đến nghe pháp và tin nhận thuận theo không
chống trái. Nếu nói pháp ở chổ vắng Như Lai sai Thiên
Long, Càn Thát Bà… đến nghe pháp. Phật dù ở nước
khác nhưng khiến người nói pháp luôn luôn được thấy thân
ta. Nếu có quên sót câu lối. Như Lai sẽ nhắc cho
họ nói kinh được đầy đủ.
Để
lập lại nghĩa trên Thế Tôn nói một bài kệ…
THÂM
NGHĨA
Pháp
sư là người học hiểu cháp pháp, sống với chánh pháp và
truyền bá chánh pháp. Thọ trì, đọc tụng, biên chép,
giảng thuyết đều được công đức vô lượng, đều được
gọi là Pháp sư.
Pháp
Hoa Pháp Sư cần có những điều kiện căn bản thể hiện
trong đời sống hằng ngày, thì việc lợi mình lợi người
mới được viên mãn.
Kinh
nói:
“
Lấy đại từ-bi làm nhà
Lấy
nhu hòa nhẫn nhục làm áo
Lấy
pháp không làm tòa ngồi
Ở
nơi đó mà thuyết pháp
Nếu
lúc nói kinh nầy
Có
người ác mắng nhiếc
Đá,
ngói, dao gậy, hại
Nhớ
Phật nên nhẫn nhục…”
Pháp
Hoa Pháp Sư có thể có khó khăn như vậy. Bởi vì kinh
Pháp Hoa có những đặc điểm dị thường, ở nhiều kinh khác
Phật chưa từng dạy đến.
1.
Chỉ nghe chừng một bài kệ hoặc một câu kinh Pháp Hoa, Phật
cũng thọ ký cho thành Phật.
2.
Hoặc thọ trì, hoặc đọc tụng, hoặc biên chép, hoặc giảng
nói chừng một bài kệ, Phật nói người đó không phải người
thường.
3.
Hỏi ai là người sẽ được thành Phật? Hãy chỉ những người
có nghe và thọ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa.
4.
Dùng ác tâm chê mắng Phật trọn kiếp, tội còn nhẹ hơn
chê mắng người tại gia hay xuất gia thọ trì, đọc tụng,
biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa.
5.
Đọc tụng kinh Pháp Hoa là dùng đức trang nghiêm của Phật
mà tự trang nghiêm mình.
6.
Kinh đã nói, đang nói và sẽ nói nhiều vô lượng, chỉ có
kinh Pháp Hoa khó tin và khó hiểu.
7.
Kinh Pháp Hoa là tạng bí yếu không trao dạy cho người không
đúng đối tượng. Phật tại thế kinh Pháp Hoa còn bị
nhiều người oán ghét còn nói chi sau Như Lai diệt độ!
8.
Sau Như Lai diệt độ, có ai biên chép, thọ trì , đọc tụng,
giảng nói kinh Pháp Hoa, Như Lai lấy y mà trùm, lấy tay mà
xoa đầu người đó.
9.
Chỗ nào có kinh Pháp Hoa hoặc có người thọ trì, đọc tụng,
biên chép giảng nói nên dựng tháp thất bảo cúng dường.
Khỏi để Xá-Lợi Phật mà trong đó có toàn thân Như Lai rồi.
10.
Pháp sư nói kinh Pháp Hoa nếu ở chỗ vắng vẻ, Phật sai Thiên-long,
bát-bộ chúng đến nghe pháp. Còn Phật dù ở nước khác
nhưng khiến cho vị Pháp sư luôn luôn thấy Phật. Và
nếu quên mất câu nghĩa Phật dạy cho nhớ hiểu đầy đủ.
Quả
là những sự kiên dị thường. Nếu có người bảo đó
là chuyện hoang đường, thần thọai của thời tiền sử xa
xưa, dường như chẳng có gì oan ức lắm. Người đệ
tử Phật có trách nhiệm nghiên cứu tìm hiểu và dung hóa
nó qua “bộ óc” trí tuệ để “nhận thức” lấy tinh
hoa chánh pháp, bỏ đi cái bả văn tự ngôn từ vốn mượn
để làm thứ “tá dược”. Cái tinh hoa của kinh Pháp
Hoa là thứ dược liệu cực mạnh trị chứng bệnh “tự
khinh” nặng nề của chúng sanh. Chừng nào chúng sanh
còn bệnh tự khinh thì Pháp Hoa Pháp Sư chưa được nghỉ ngơi.
Chừng nào chúng sanh biết mình là Phật, ở chung với Như
Lai, thường thấy Như Lai, được Như Lai xoa đầu nhắc nhở…
Bấy giờ, Pháp sư nhiệm vụ mới hoàn thành.
Ta
hãy tìm hiểu mười sự kiện dị thường được nêu ở trên:
1.
Ta thử rút ra một câu kinh xem nào?
“Tôi
không dám khinh các Ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật”
(ngã bất cảm khinh ư nhử đẳng, nhử đẳng giai đương tác
Phật)
Thế
nào? Bạn có bằng lòng chấp nhận “bạn sẽ thành Phật”
không?
Có.
Thế
là Phật đã thọ ký cho bạn rồi đó. Nói rằng Phật
thọ ký kỳ thật bạn thọ ký cho bạn chứ không phải
cần đến Phật. Bởi vì Phật dù có nói thọ ký hay
không, địa vị Phật, bạn cũng chẳng mất phần. Vì
bạn đã nhận hiểu Phật-tánh của bạn thì sớm hay
chậm bạn sẽ thành Phật. Nói cách khác là bạn “trở
về” với cái ông Phật-tánh sẵn có của bạn.
Bạn không biết mình là con trưởng giả nên phải đói rách,
lang thang, lưu lạc. Khi bạn nhận ra ông trưởng giả
là cha mình, bạn “trở về nhà” thì cái gia tài nguy nga
đồ sộ, những kho tàng ngập đầy bảo châu vô giá của
ông trưởng giả ấy là của bạn, chứ còn của ai nữa?
2.
Những người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh
Pháp Hoa, Phật nói những người đó không phải người thường.
- Tại
sao vậy? – Vì người thường vốn có tánh “tự khinh”.
Họ không tin mình có khả năng thành Phật. Càng không
thể tin rằng mình là Phật, có Phật chất, có Như Lai ở
trong tâm mầu nhiệm. Người thường nghĩ rằng Phật
phải là một ông không phải là mình thì mới là Phật.
Ông đó ngồi trên chánh điện chùa, đi lửng thửng trên may
hay phải ngồi trên một tòa sen đẹp.
Hiểu
Phật như thế thì biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa có nhằm
gì ! Cho nên họ chẳng cần làm việc đó. Ngược
lại, người thọ trì, đọc tụng, tu tập kinh Pháp Hoa, tự
tin Tri Kiến Phật của mình. Tin mình có tâm Như
Lai mầu nhiệm. Rồi quyết chí tu hành, cải tạo
vô minh, diệt trừ phiền não, do đó, sớm muộn gì cũng đến
ngày thành Phật. Thế không phải sứ-giả Như Lai là
gì?
3.
Nếu hỏi ai là người sẽ được thành Phật? Hãy chỉ những
người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp
Hoa.
- Vì
sao vậy?
- Vì
người nầy tự tin mình thành Phật. Biết mình có Phật
Tri Kiến , biết có Như Lai Viên Giác Diệu Tâm.
4.
Dùng ác tâm chê mắng Phật trọn kiếp, tội còn nhẹ hơn
chê mắng người tại gia hay xuất gia thọ trì, đọc
tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa.
- Sao
lạ thế?
- Tai
hãy chính chắn tư duy vấn đề nầy: Giả sử có người xỉ
vào mặt ông Cù-đàm, ông Thích Ca Mâu Ni mà mắng. Thế
nào? Họ đã mắng được Phật chưa?
Xin
đáp rằng: Chưa. Họ mắng như thế không trúng Phật.
Họ chỉ mắng được ông Cù-đàm, ông Tất-đạt-đa, ông
Thích Ca theo danh ngôn thường xưng gọi. Cái hiện tướng
tứ đại duyên khởi là Phật thì cả thế giới thành Phật
cả, còn ai để gọi “chúng sanh”? Phật là cái giác tánh
linh-tri, cái tinh-hoa trí tuệ chứa đựng ở trong cái hiện
tướng duyên sanh đó, cái đó là Như Lai, là Viên Giác Diệu
Tâm là Tri Kiến Phật. Tất cả cái đó chứa đựng trong
toàn bộ hệ tư tưởng giáo lý Pháp Hoa Kinh. Cho nên chê
mắng kinh Pháp Hoa tức là chê mắng Phật tánh mình, xua đuổi
Như Lai tâm mình, không tin mình có khả năng thành Phật.
Người tự mắng, tự xua đuổi, tự khinh Phật mình như vậy
tức là tự mình đốt cháy hạt giống thành Phật thì cái
quả Phật dứt khóat tuyệt phần. Thế là làm cản trở
con đường tiến lên Như Lai, Phật, của tất cả chúng sanh
cho nên mang tội rất nặng.
Còn
việc chê mắng ông Tất-đạt-đa, ông Thích Ca thì chưa đá
động gì được Phật, Như Lai cả.
Ta
ôn lại lời Phật dạy ở kinh Bát Nhã Kim Cương:
“Nếu
dựa vào 32 tướng cho là Như Lai
Dựa
vào âm thanh thuyết pháp cho là Như Lai.
Hiểu
Như Lai như thế là người tà đạo.
Không
hề thấy biết Như Lai đích thực.”
Hiểu
Như Lai qua âm thanh sắc tướng không đúng thì mắng Như Lai
qua huyễn tướng và âm thanh cũng không nhằm được.
Cho nên… gọi là tội chỉ là biểu lộ sự ác tâm của chính
mình, tội “ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình”,
tội “tự chiêu kỳ họa ấy…” chớ Như Lai cũng chẳng
bắt tội làm gì. Và thật sự Như Lai cũng chẳng có
quyền gì để bắt. Vì Như Lai không phải “đấng thiêng
liêng” có quyền thưởng phạt.
“Tùy
trần trục cảnh, ngã pháp họanh sanh, vô minh cứu cánh vọng
thành tham, sân, si, mạn hữu lậu nghiệp”
“Tuyệt
tướng triền căn, tự tha bất cách, giác tánh bản lai cụ
túc từ bi, hỉ, xả vô lượng tâm”.
Đó
là câu đối của cụ Tâm Minh Lê Đình Thám, tôi thích quá
viết vào đây để tặng chư độc giả cùng thưởng thức.
Và nhớ rằng nền giáo lý của Phật giáo đại để là vậy
đó. Như Lai có quyền thưởng phạt ai đâu!
5.
Thọ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa là dùng đức
trang nghiêm của Phật mà tự trang nghiêm mình.
- Có
thật vậy không? Tại sao?
- Có.
Tại vì đã chấp nhận, đã tin Phật tánh mình thì mình là
Phật, tin tâm Như Lai của mình thì mình là Như Lai. Do
đó cái gì Phật có, Như Lai có thì mình có. Người ăn
mày thì không có cân đai áo mũ trưởng giả để mặc.
Nhưng đã là trưởng giả thì mặc đồ trưởng giả, chứ
sao!
6.
Kinh điển Phật đã nói, hiện nói và sẽ nói nhiều vô lượng.
Nhưng chỉ có kinh Pháp Hoa là khó tin và khó hiểu.
- Tại
sao vậy?
- Tại
vì các kinh “phương tiện”, “bất liễu nghĩa” thì để
thích hợp với chúng sanh căn cơ vốn hạ-liệt, những tâm
hồn yếu đuối thích ỷ lại vào sự ban ân, giáng phúc của
một “ đấng tha nhân”. Còn kinh Pháp Hoa thì Phật dạy
phải tin mình là Phật. Niết bàn không phải ở “ cảnh
giới” xa xôi nào khác. Phải khai thác cái “ tự tánh
thanh tịnh Niết Bàn”. Phải sử dụng “ Niết Bàn Vô
Trụ Xứ” của Phật. Vì thế chúng sanh khó hiểu và
khó tin.
7.
Kinh Pháp Hoa phải đúng đối tượng mới nên trao truyền.
Lúc Phật tại thế, kinh Pháp Hoa còn bị nhiều người oán
ghét, huống là sau Như Lai diệt độ.
- Tại
sao thế?
- Tại
vì chúng sanh có tánh tự khinh, không tin nổi rằng mình có
thể thành Phật. Mà kinh Pháp Hoa thì chỉ thẳng cái Tri
Kiến Phật sẵn có, khiến chúng sanh tự ngộ-nhập, tự thành.
8.
Sau Như Lai diệt độ, có ai thọ trì, đọc tụng, biên chép,
giảng nói kinh Pháp Hoa Như Lai lấy y mà trùm, lấy tay xoa đầu
người đó. Người đó cùng Như Lai ở chung.
- Sự
thật có thế ư? Hình mạo Như Lai thế nào, khi Như Lai làm
những điều đó?
- Như
ta đã biết, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm thì ai cũng có, cái
thể bất biến của Tâm là Như. Cái dụng tùy duyên của
tâm là Lai. Vì vậy, Như Lai là Thể Dụng là Tâm Tánh
thanh tịnh bản nhiên vốn có của mọi người.
“
Tâm sanh chủng-chủng pháp
Tùy
duyên thủy thượng âu
Tánh
chân-như bất biến
Như
thủy, bổn thanh trừng
Bất
biến tùy duyên chân thử tánh
Tùy
duyên bất biến thị tha tâm
Minh
tâm, minh liễu âu bào thượng
Kiến
tánh thâm tri thủy diện trừng”
Dịch:
“
Tâm sanh ra muôn pháp
Tùy
duyên như bọt nước xao
Tánh,
chân như bất biến
Như
nước vốn lặng trong
Bất
biến tùy duyên là tánh ấy
Tùy
duyên bất biến chính là tâm nầy
Minh
tâm? Nhận rõ lao xao bọt
Kiến
tánh? Nhìn sâu mặt nước bình”.
Ai
mà chẳng sống bằng tâm tánh, chẳng ở cùng tâm tánh, chẳng
tương quan tác động giữa nhục-thân và tâm tánh. Tách
rời tâm tánh ra mà còn là một con người thì Phật không
có nói bao giờ trong tòan bộ giáo lý Phật. Những đợt
sóng “ tùy duyên” bao giờ cũng phát xuất, cũng ở trong
lòng nước “ bất biến”. Nước duyên khởi ra sóng
là việc dễ hiểu. Sóng nước không rời là việc tất
nhiên. Cũng vậy mọi người ai cũng có Tâm Tánh Như Lai,
khi thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa
là lúc “trở về” với Như Lai Tâm làm việc Như Lai Tánh
thì được ở chung với Như Lai, được Như Lai rờ đầu vậy.
Chỉ lo là mình có nhớ Như Lai, bằng lòng trở về ở chung
với Như Lai không? Hay là bỏ nhà đi hoang để cho Như Lai phải
khắc khỏai nhớ thương như ông trưởng giả nhớ thương
đứa con hoang “cùng tử” của mình.
Người
ham thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói kinh Pháp Hoa,
là người “trở về nhà” chớ không là “ chàng cùng tử”
tha phương cầu thực nữa, thì còn lạ gì việc ông trưởng
giả choàng cho con mình chiếc áo đẹp, xoa đầu nựng nịu
và ôm vào lòng ngủ chung một giấc yên lành mãn nguyện.!
Vì bởi con cưng mà.!
9.
Chỗ nào có kinh hoặc có người thọ trì, đọc tụng, biên
chép, giảng nói kinh Pháp Hoa, nên dựng tháp bảy báu cúng
dường, nhưng không cần để Xá Lợi Phật, vì trong đó có
tòan thân Như Lai rồi
-
Thân Như Lai là gì? Không cần Xá lợi mà vẫn có toàn thân
Như Lai trong tháp?
- Sao
lại dựng tháp để cúng dường kinh? Đem phẩm vật để cúng
dường cho Phật còn dễ hiểu. Dựng tháp để cúng dường
kinh thì nghĩa lý thế nào?
Kinh
Pháp Hoa là Pháp, thứ pháp tối thượng thừa triển khai Tri
Kiến Phật trong tất cả chúng sanh. Thế thì Pháp là
Phật vậy. Tháp tức là Pháp. Mà tánh của Pháp
tức là tánh của Phật, vì Phật tánh và Pháp tánh không hai.
Danh thì khác mà thể thì đồng. Trong Pháp tánh có Phật
tánh, trong Phật tánh có Pháp tánh.
Luật
Hiển-dưong Chánh-giác nói:
“
Phật tánh tại hữu tình
Pháp
tánh tại vô tri
Phật
pháp bản lai vô nhị tánh
Nhất
hỏa năng siêu bách vạn sài”
Vốn
cùng một tánh “chân như” nhưng tùy duyên sanh khởi và tác
động vào hữu tình thì tánh chân như được trở thành tên
gọi : “PHẬT TÁNH”. Cũng tánh chân như ấy tùy duyên
vận động sanh khởi và tác động vào vô-tình thì gọi đó
là “PHÁP TÁNH”. Kỳ thực Phật tánh và Pháp tánh không
hai. Ví như một thứ lửa đem đốt nhiều thứ củi mà
tên lửa và độ nóng của lửa có khác: lửa phân bò, lửa
rơm, lửa củi, lửa than đước, lửa than đá …
10.
Pháp sư nói kinh Pháp Hoa ở chỗ vắng vẻ, Phật sai Thiên-long,
bát bộ và tứ chúng đến nghe. Phật dù ở chỗ khác
nhưng khiến cho Pháp sư luôn luôn thấy Phật. Pháp sư
quên, Phật dạy cho nhớ đầy đủ.
- Phải
hiểu thế nào về sự kiện có vẻ huyền hoặc nầy?
- Phải
hiểu thế nầy: Tâm Pháp sư đã có sẵn Như Lai, Phật,
tâm Pháp sư tự có đủ Tứ Thánh, Lục Phàm, khắp trùm mười
pháp giới. Phật và ta cùng ở chung nhau, lỡ quên mất
câu lối thì “Thiền Định” để mời Phật đến, ôn cố
tri tân, “tư duy” lời Phật, thì Phật, Như Lai Thanh
Tịnh Tâm xuất hiện dạy bảo cho mà biết mà nhớ. Phật
Thích Ca cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm trước, cũng thỉnh
Phật đến hộ niệm cho để thuyết kinh Pháp Hoa cũng bằng
lối nầy. Còn Thiên Long bát bộ thì lúc nào chẳng túc
trực ở tâm ta. Cứ “tu duy” trong thiền định, cứ
giảng nói kinh Pháp Hoa đi, Thiên Long bát bộ vẫn nghe rõ,
chín cõi chúng sanh đều nghe rõ.
Phật
Thích Ca, Phật Di Đà, Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai dù
ở nước khác, nhưng “ Như Lai Viên Giác” “ Tri Kiến Phật”
lúc nào chẳng có ở lòng mình.
Muốn
thấy Phật, gặp gỡ Phật chỉ cần dời chúng sanh đi nơi
khác thì Phật cùng Pháp sư đối diện, đàm đạo Phật pháp,
khó gì.!