Phẩm 7:
HÓA-THÀNH-DỤ
Phật
bảo các thầy Tỳ-kheo: Thuở quá khứ, vô lượng vô biên
bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp. Hồi ấy có đức
Phật hiệu là Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Nước của
Phật tên là Hảo Thành. Kiếp tên Đại Tướng.
Từ đức Phật đó diệt độ đến nay rất lâu xa. Ví
như đất của cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người
đem mài mực rồi đi khỏi 1.000 cõi nước ở phương Đông,
chấm một điểm chừng như hạt bụi, lại đi qua 1.000 cõi
nước nữa chấm một điểm, cứ như thế, lần lượt chấm
cho hết nước mực nói trên.
Nầy
các Tỳ-kheo ! Những cõi nước của ngừơi đó qua, hoặc có
chấm mực hoặc không có chấm mực, đều đem nghiền nát
ra làm bụi. Một hạt bụi kể là một kiếp. Từ đức
Phật đó diệt độ đến nay lâu hơn số đó vô lượng nghìn
muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Ta dùng sức Tri Kiến Như Lai
xem việc lâu xa đó, dường như việc ở hiện nay.
Đức
Đại Thông Trí Thắng thọ năm trăm bốn mươi vạn ức
na-do-tha kiếp. Lúc ngồi đạo tràng, phá xong ma quân,
sắp thành Vô Lượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà Pháp Phật
chẳng hiện ra. Tiếp tục Ngài ngồi kiết già “ thân
tâm bất động trải một tiểu kiếp, rồi mười tiểu kiếp
mà pháp Phật vẫn chẳng hiện ra.
Thuở
đó, các trời Đao Lợi, vì Phật trang trí một tòa sư tử
dưới cội cây Bồ-đề, Phật ngồi lên tòa thì chứng
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các chư thiên tiếp
tục rải hoa cúng dường. Các Trời Tứ Thiên Vương…
cũng trổi nhạc đánh trống… mãn 50 tiểu kiếp đến lúc
Phật nhập Niết Bàn.
Nầy
các Tỳ-kheo ! Đại Thông Trí Thắng Phật, trải quá trình
“ bất động” mười tiểu kiếp pháp Phật mới hiện ra.
Lúc
Phật chưa xuất gia, có 16 người con trai. Người con cả
tên là Trí Tích. Các người con đều có các thứ đồ
chơi tốt đẹp và báu lạ, nghe cha chứng quả Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác đều bỏ đồ chơi báu của mình, đến
chỗ Phật. Các bà mẹ khóc lóc theo đưa.
Ông
nội là Chuyển Luân Thánh Vương cùng 100 vị đại thần và
muôn ức nhân dân khác cùng nhau đến đạo tràng , gần gũi
Đại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính tôn
trọng ngợi khen.
Nghĩ
đến sự an ổn lợi ich cho Trời, người, 16 vị vương tử
thỉnh cầu đức Thế Tôn chuyển pháp luân độ thoát chúng
sanh.
Phật
bảo các tỳ-kheo ! Lúc Đại Thông Trí Thắng thành Phật, cõi
nước của chư Phật trong mười phương đền chấn động
sáu cách. Những chỗ tối tăm bừng sáng, các chúng sanh
đều được thấy nhau, và đồng nói : “ Trong đây tại sao
bỗng sanh ra chúng sanh”.
Do
ánh sáng cùng khắp mười phương. Bấy giờ chư Thiên,
trời Phạm ở phương Đông, phương Tây, phương Nam, phương
Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên,
phương dưới tìm đến chỗ Phật, dâng các thứ hương hoa,
trân bảo, kỷ nhạc, tràng phan, cung điện… cúng dường cung
kính tôn trọng ngợi khen và một lòng cầu xin đức Đại
Thông Trí Thắng Phật chuyển pháp luân độ thoát cho hàng
Trời, Người.
Đức
Đại Thông Trí Thắng nhận lời của hàng chư Thiên và 16
vị vương tử.
Trước
hết, Đại Thông Trí Thắng Phật vận dụng ba lần chuyến
pháp Tứ Đế với 12 hành:
“Đây
là khổ. Đây là khổ tập. Đây là khổ diệt.
Đây là đạo diệt khổ”
Kể
tiếp, Phật chuyển về 12 nhân duyên:
“Vô
minh duyên hành. Hành duyên thức. Thức duyên
danh sắc. Danh sắc duyên lục nhập. Lục nhập duyên
xúc. Xúc duyên thọ. Thọ duyên ái. Ái duyên
thủ. Thủ duyên hữu. Hữu duyên sanh. Sanh duyên
lão, tử, ưu bi khổ não”.
“
Vô minh diệt, hành diệt. Hành diệt, thức diệt.
Thức diệt, danh sắc diệt. Danh sắc diệt, lục nhập
diệt. Lục nhập diệt, xúc diệt. Xúc diệt, thọ
diệt. Thọ diệt, ái diệt. Ái diệt, thủ diệt.
Thủ diệt, hữu diệt. Hữu diệt, sanh diệt. Sanh
diệt , lão tử, ưu bi, khỗ não diệt.”
Phật
nói pháp đó có 600 vạn ức na-do-tha người, không thọ tất
cả pháp, mà phiền não hết tâm được giải thoát.
Lúc
Phật nói lần thứ hai, lần thứ ba, có muôn ức hằng hà
sa chúng sanh, cũng vì không thọ tất cả pháp mà vô minh phiền
não hết, tâm được giải thoát. Từ đấy, các chúng
Thanh Văn ngày càng nhiều vô lượng vô số không thể tính
kể hết.
Bấy
giờ 16 vị vương tử đều là đồng tử, xin xuất gia làm
Sa-di. Các Sa-di nầy đều thông minh, bén nhạy. Trí
tuệ sáng suốt, từng cúng dường trăm ngàn muôn ức Phật,
siêng tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, đồng bạch Phật rằng:
“
Bạch Thế Tôn ! Chúng Thanh Văn vô lượng đây, việc làm đã
thành tựu, Thế Tôn nên vì chúng con nói pháp Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, chúng con nghe rồi đồng tu học.
Chí nguyện của chúng con thường mong được Tri Kiến Phật
. Đó là chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm của chúng con,
mong Phật biết cho.
Lúc
bấy giờ, tám muôn ức người trong số tùy tùng Chuyển Luân
Thánh Vương, thấy 16 vị vương tử xuất gia cũng xin xuất
gia. Vua thuận cho.
Đức
Phật Đại Thông Trí Thắng nhận lời thỉnh cầu của 16 vị
Sa-di, qua hai muôn kiếp sau, ở trong hàng tứ chúng, nói kinh
Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở
Hộ Niệm.
Phật
nói kinh đó suốt tám ngàn kiếp không gián đọan. Nói
xong, Phật vào tịnh thất, trụ trong thiền định tám muôn
bốn ngàn kiếp.
Mười
sáu vị Sa-di bèn thay Phật lên pháp tòa rộng nói kinh Diệu
Pháp Liên Hoa cũng tám muôn bốn ngàn kiếp. Mỗi vị độ
hằng sa chúng sanh phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Qua
tám muôn kiếp, đức Phật Đại Thông xuất định bảo rằng:
“ 16 vị Sa-di thật là ít có. Vì các căn thông lợi,
trí tuệ sắc bén, các hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát nếu
biết gần gũi và kính tin thọ trì tu học Pháp của các vị
ấy sẽ được đạo Vô Thượng”.
Đức
Phật Thích Ca bảo các Tỳ-kheo: Hằng sa chúng sanh đã được
16 vị Sa-di hóa độ, đời đời đều sanh ra cùng chung nghe
pháp với các vị ấy và 16 vị ấy nay đã thành Phật với
danh hiệu như:
Phật
A Súc và Phật Tu Di Đảnh thành Phật ở phương Đông.
Phật
Sư Tử Âm và Phật Sư Tử Tướng thành Phật ở phương Đông
Nam.
Phật
Hư Không Trụ và Phật Thường Diệt thành Phật ở phương
Nam
Phật
Đế Tướng và Phật Phạm Tướng thành Phật ở phương Tây
Nam.
Phật
A Di Đà và Phật Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não thành
Phật ở phương Tây.
Phật
Đa Ma La Bạt Chiên Đàn Hương Thần Thông và Phật Tu Di Tướng
thành Phật ở phương Tây Bắc.
Phật
Vân Tự Tại và Phật Vân Tự Tại Vương thành Phật ở phương
Bắc.
Phật
Họai Nhứt Thiết Thế Gian Bố Úy thành Phật ở phương Đông
Bắc.
Phật
Thích Ca Mâu Ni thành Phật ở cõi Ta Bà.
Đức
Phật Thích Ca nói tiếp: Các Tỳ-kheo lúc chúng ta làm Sa-di,
mỗi người giáo hóa vô lượng hằng sa chúng sanh, vì đạo
vô thượng mà theo nghe pháp. Những chúng sanh đó,
đến nay có người đã ở vào địa vị Thanh Văn, ta thường
lấy pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà giáo hóa. Hằng
sa chúng sanh được giáo hóa thuở đó, nay là Tỳ-kheo các
ông đó. Sau khi ta diệt độ, những Thanh Văn trong đời
vị lai cũng là những chúng sanh đã kết duyên từ thuở ấy.
Tuy vậy, cũng có hàng đệ tử không nghe kinh nầy, không hay
không biết những hạnh của Bồ Tát, tưởng được một ít
công đức tu tập là đã diệt độ chứng đắc Niết Bàn.
Nên
biết, chỉ do Phật thừa mới được diệt độ, không có
thừa nào khác. Nếu có khác thì đó chỉ là phương tiện
của Như Lai vận dụng mà thôi.
Đến
đây đức Phật Thích Ca đưa ra một tỷ dụ:
“
Có một chỗ chứa nhiều của báu. Muốn đến nơi
đó phải trải qua đường dài những 500 do tuần nhiều
nguy hiểm hoang vắng đáng ghê sợ. Một nhóm người muốn
đến nơi ấy để lấy của báu. Có một người
nhiều thông minh hiểu biết dẫn đường. Dù vậy, vì
đường dài, nhóm người ấy mệt nhọc, sợ sệt tỏ ý chán
nản muốn lui về. Thương xót bọn người ấy sao lại
có ý bỏ của báu mà muốn lui về. Vị dẫn đường
bèn ở nơi hai phần đường, dùng phép lạ hóa ra một tòa
thành và bảo nhóm người kia vào ở sẽ được an ổn sung
sướng. Rồi muốn đi nữa để đến chỗ châu báu thì
cũng tiện.
Nhóm
người kia nghe theo, vào thành ở được an ổn và rất bằng
lòng.
Khi
biết nhóm người kia hết mỏi mệt, vị dẫn đường mới
nói: “Thành ấy là do ta hóa ra để chúng ngươi tạm
nghĩ mệt, chớ chưa phải là chỗ các vị cần đi đến.
Hãy cố gắng lên, chỗ chứa châu báu gần đây”.
Cũng
vậy, biết chúng sanh sợ con đường dài thành Phật, phải
tinh tấn và cần khổ lắm mới đi đến chỗ cuối cùng.
Phật như vị dẫn đường, phương tiện nói có hai thứ Niết
Bàn. Một cho Thanh Văn. Một cho Duyên Giác. Chúng
sanh lại tưởng hai nơi đó là cứu cánh, Phật phải đưa
sự thật ra mà dạy rõ:
Rằng
sự tu hành đến quả vị Thanh Văn, Duyên Giác là chưa xong,
cần phải tiến thêm lên nữa. Tuy vậy đừng sợ.
Từ đây đến chỗ chứa châu báu gần và rất dễ đi.
THÂM
NGHĨA
Đức
Phật Thích Ca kể lại sự tích về quá trình hành đạo, chứng
quả của đức Đại Thông Trí Thắng Phật cách đây bất
khả thuyết, bất khả thuyến vô lượng a-tăng-kỳ kiếp.
Thế mà, với Tri Kiến Phật sự kiện đó như là việc
hiện tiền. Như Lai thấy biết không cần có sự hồi
ức khó khăn. Nói sự việc này, nhằm dạy cho người
đệ tử Phật rằng: Tri Kiến Như Lai là thứ tri kiến bản
thể. Hiện tượng duyên khởi hình thành lâu hay mau, sự
kiện diễn biến sanh ra lớn hay nhỏ đều sanh khởi từ bản
thể, hiện hữu trong bản thể “ bất biến tùy duyên” ấy.
Vì vậy, chuyện xa xưa hun hút ấy, với Tri Kiến Phật y như
đang có hiện giờ.
Đã
gọi là Phật hay thành Phật thì người đó phải là người
đạt đến Giải Thoát, Giác Ngộ. Nói cách khác là người
phải thực chứng quả vị Vô Thượng Bồ Đề và Vô Thượng
Niết Bàn.
Trên
đường tu nhơn thành Phật, Định và Tuệ, ví như hai cánh
của một con chim. Khi chim bay, hai cánh vận chuyển nhịp
nhàng đồng bộ thì chim mới bay đến đích. Xệ đi một
cách thì chim chẳng bay được. Đức Phật Thích Ca
cho biết đức Đại Thông Trí Thắng chuyên tâm thiền định
trọn một tiểu kiếp hàng phục, phá ma-quân rồi mà pháp
Phật không hiện ra (Pháp Phật không hiệnra, có nghĩa là Trí
Tuệ chưa đầy đủ, Bồ Đề chưa viên mãn).
Sau
đó, tiếp tục thiền định thêm 10 tiểu kiếp mà cũng chưa
thành Phật. Cuối tiểu kiếp thứ 10 với sự họat
động có tánh cải tạo xây dựng của chư Thiên, bấy giờ
Đại Thông Trí Thắng ngồi lên tòa sư tử mới chứng thành
Vô Lượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Thiền
định nhằm dứt bặt tâm thức, kiểu như chết lịm không
tốt. Trong Phật pháp gọi đó là “khô định”.
Thứ “định” không có “tuệ”. Nó chỉ có công dụng
pháp ma-quân (tức là ngăn chặn hết vọng tưởng). Muốn
thành Phật phải chuyển hóa các tâm sở, cải tạo tánh xấu,
xây dựng đức tốt, ngăn dứt việc ác, phát triển hạnh
lành. Khi tột đến đỉnh cao của Trí Tuệ lúc bấy giờ
gọi là thành Phật.
Thành
Phật là cái đích đến của một con người tu tập mong cầu.
Nhưng vai trò của một vị Phật mà dừng ở đây thì chưa
trọn vẹn, dù pháp Phật hiện ra. Bởi vì thành quả
đạt được đó chỉ mới hòan thành bên mặt “Tự Giác,
Tự Lợi”. Còn cần có sức cảm hóa, giáo dục và truyền
bá cái chủ nghĩa cái đạo lý giải thóat, giác ngộ đến
mọi tầng lớp con người để hoàn thành nhiệm vụ “Giác
tha, tha lợi” của một vị Phật.
Điều
kiện và hoàn cảnh của Phật Đại Thông Trí Thắng thì trước
cảm hóa người thân và dần dần cảm hóa những người thân
của người thân. Làm cái việc cảm hóa, giáo dục truyền
bá chân lý, nói cách khác là truyền bá chánh pháp, cho đến
hết cuộc đời, ngày mà người đời hiểu là Như Lai Diệt
Độ.
Do
vậy, là một đấng Thế Tôn thì đầy đủ hai nhiệm vụ:
Tự Giác, Giác Tha cho nên Phật nào cũng được tôn xưng là
đấng Giác Hạnh Viên Mãn.
Thành
Phật là ngày trở về “ thể nhập bản thể chân như thanh
tịnh”. Theo giáo lý đạo Phật, “bản thể chân như
thanh tịnh” ấy cũng tức là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm của
con người. Do vậy, Đại Thông Trí Thắng thành Phật,
cõi nước của chư Phật, thế giới chư Thiên trong mười
phương đều sáng rỡ và rung động. Chúng sanh trong 9
cõi đều được thấy rõ nhau. Ý thú đọan kinh nầy
nhằm nhắc lại một lần nữa cái chân lý: Tất cả
là một và một là tất cả.
“…
Mộng lý minh minh hữu lục thú
Giác
hậu không không vô đại thiên…”
Khi
mê thì sáu nẻo luân hồi cách phân ranh giới mịt mờ.
Lúc giác thì quốc độ mười phương không còn có tướng
hai.
Ở
phẩm TỰA, Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ vô lượng kiếp
xa xưa thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, trước cũng nói pháp
“Tứ Đế” kế nói “ Thập Nhị Nhân Duyên” hóa độ
cho hàng Tiểu Thừa, sau rốt nói kinh Đại Thừa Diệu
Pháp Liên Hoa, độ cho hàng Đại Thừa Bồ Tát thời gian 60
tiểu kiếp, rồi sau đó Phật tuyên bố sẽ nhập Niết Bàn.
Ở
phẩm này, cũng chuyện xa xưa, bất khả tư nghì a-tăng kỳ
kiếp Đại Thông Trí Thắng Như Lai sau khi chấp nhận lời
thỉnh cầu của 16 vị Sa-di và hàng Trời, Người cũng vận
dụng “tam chuyển pháp luân”. Qua 12 cách gồm : 4 cách
“thị chuyển”, 4 cách “ khuyến chuyển” và 4 cách “
chứng chuyển”.
Sau
đó, chỉ dạy lối quán chiếu và thực hành pháp “ Thập
nhị nhân duyên” để diệt trừ sanh tử, ưu bi, khổ não.
Sau hai muôn kiếp cũng nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa
Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Nói xong, Phật
vào tịnh thất nhập thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp.
Phật
Thích Ca hiện nay cũng trước nói “tam thừa” sau nói “
nhất thừa” để đưa chúng sanh đến địa vị Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Trước giờ phút Như Lai nhập
Niết Bàn, trí tuệ và phương tiện của Như Lai vận dụng
thành một quy tắc. Quy tắc đó hữu hiệu trong việc
giáo hóa chúng sanh.
Các
vị Sa-di là những người truyền đăng tục diệm hoằng dương
chánh pháp, gieo rắc vào lòng người đạo lý Giải Thoát Giác
Ngộ cho nên ai nghe, học hành theo đều đi đến Phật quả
được.
Kinh
thường nói Phật nào cũng có cha mẹ, vợ con và thừơng xuất
thân từ gia đình vọng tộc có thể thỏa mãn mọi hưởng
thụ trên đời. Vậy mà các vị không ham hưởng
thụ. Để rồi từ đó xả tục xuất gia, trở thành
bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bởi vì theo giáo
lý truyền thống của đạo Phật chỉ có hưởng thụ được
thành quả “ viễn ly” mới là người thật hưởng thụ
cái “ chân hạnh phúc”.
Phật
Thích Ca Mâu Ni là vị Sa-di thứ 16, con út của Phật Đại
Thông Trí Thắng. Các Tỳ-kheo và cư sĩ nam nữ ở hội
Pháp Hoa hiện tại là những người từng nghe pháp của 16
vị Sa-di. Đọc ý thú, lời kinh đó, mọi Phật tử
chúng ta đừng vội khấn nguyện van xin “mau thành Phật”
nhé ! mà nên nhớ câu:
…
“ Hành tàng hư thật, tự gia tri
Họa
phúc nhơn do cánh vấn thùy
Thiện
ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ
tranh lai tảo dữ lai trì”…
Và
“
Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị
Yếu
tri
lai thế quả kim sanh tác giả thị”
Có
nghĩa là:
Việc
làm của mình đúng, sai mình biết hết rồi. Họa đến
hay phúc đến không cần hỏi thầy bói, thầy tướng mà chi.
Làm thiện được quả báo thiện, làm ác bị quả báo ác,
chân lý là như vậy. Có điều quả báo đến sớm hoặc
đến chậm mà thôi.
Còn
muốn biết đời trước mình là người thế nào thì xem cuộc
sống của bản thân, của gia đình trong hiện tại. Muốn
biết sẽ vui hay khổ của thân sau thì trông vào tánh nết
đức độ, cách ăn ở của mình đối với mọi ngừơi trong
hiện tại.
Tóm
lại, sự tu hành cầu thành Phật cũng như sự làm lụng để
được nhà giàu. Làm nhiều, siêng năng thì mau giàu; làm
ít, lâu giàu; lười biếng nghèo suốt đời. Ước ao
không được gì. Khấn nguyện van xin cũng không được
gì.
Kinh
Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa là kinh tối thượng thừa, là
thứ chân lý cứu cánh. Phật nói kinh nầy rồi là đã
làm xong nhiệm vụ truyền đạt chánh pháp trao trọn gia bảo
của Như Lai. Chúng sanh nghe, học , hành theo kinh này quyết
định thành tựu quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Vì vậy mà Phật xa xưa cũng như Phật Thích Ca hiện tại,
nói kinh Pháp Hoa xong là tuyên bố sẽ nhập Niết Bàn mà vào
thất an trụ thiền định tám muôn bốn ngàn kiếp, thì cũng
không còn nói thêm gì nữa được, cũng y như đã nhập Niết
Bàn rồi vậy.