MỤC LỤC
Duyên
khởi tự
Tiểu
dẫn
Phẩm
1 - Tựa
Phẩm
2 - Phương tiện
Phẩm
3 - Thí du
Phẩm
4 - Tin giải
Phẩm
5 - Dược thảo dụ
Phẩm
6 - Thọ ký
Phẩm
7 - Hóa thành dụ
Phẩm
8 - Ngũ bách đệ tử thọ ký
Phẩm
9 - Thọ học vô học nhơn ký
Phẩm
10 - Pháp sư
Phẩm
11 - Hiện bảo tháp
Phẩm
12 - Đề bà đạt đa
Phẩm
13 - Khuyến trì
Phẩm
14 - An lạc hạnh
Phẩm
15 - Tùng địa dũng xuất
Phẩm
16 - Như Lai thọ lượng
Phẩm
17 - Phân biệt công đức
Phẩm
18 - Tùy hỉ công đức
Phẩm
19 - Pháp sư công đức
Phẩm
20 - Thường Bất Khinh Bồ tát
Phẩm
21 - Như Lai thần lực
Phẩm
22 - Chúc lụy
Phẩm
23 - Dược Vương Bồ tát bổn sự
Phẩm
24 - Diệu Âm Bồ tát vãng lai
Phẩm
25 - Quán Thế Âm Bồ tát phổ môn
Phẩm
26 - Đà la ni
Phẩm
27 - Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự
Phẩm
28 - Phổ Hiền, Bồ tát khuyến phát
Duyên
Khởi Tự
Đại
Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là một bộ kinh được lưu truyền
sâu rộng ở các nước Phật giáo theo hệ tư tưởng Đại
Thừa. Ở Trung Quốc, vào thời Diêu Tần khoảng cuối
thế kỷ thứ ba, Ngài Cưu-ma-la-thập, là một nhà sư người
Ấn dịch từ Phạn-văn ra Hán-văn với nhan đề Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh. Sư Quách Hoàng, sư Trúc Pháp Hộ dịch nhan
đề là Chánh Pháp Hoa Kinh. Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật
Bản và Việt Nam những nước cùng một khuynh hướng ái-mộ
tư-tưởng Đại Thừa đều tôn trọng bản dịch của ngài
Cưu-ma-la-thập. Ở Việt Nam khắp tòng lâm, tự viện,
am thất chỗ nào không có kinh Pháp Hoa gần như chỗ đó được
xem như thiếu Phật. Xem thế đủ biết “diệu lực”
của Kinh Pháp Hoa, đức tin của người Phật-tử đối với
Kinh Pháp Hoa thâm hậu biết chừng nào!
Ở
Việt Nam ta có hai bản dịch từ Hán-văn ra Việt-văn sớm
nhất. Bản dịch của ông Đoàn Trung Còn xuất bản vào
năm 1936. Bản dịch nầy, ở vào thời đại bấy giờ
kinh Pháp Hoa chưa được phổ biến nhiều. Đến năm 1948
bản dịch của Hoà Thượng Thích Trí Tịnh ra đời, do Liên
Hải Phật Học Đường xuất bản, có lẽ do thiên-thời, địa-lợi,
nhơn-hoà, vì mầm chấn hưng Phật-giáo được manh nha từ
thời điểm ấy cho nên bản dịch của Hoà Thượng Thích Trí
Tịnh được phổ biến rộng, tái bản nhiều lần và truyền
bá, thọ trì, đọc tụng hầu khắp tự viện, tòng lâm cho
đến ngày nay.
Vấn
đề: Vì sao đồng bào Phật-tử ham tụng Kinh Pháp Hoa? Có
sự linh nghiệm, cảm ứng thế nào? Tôi xin phép miễn bàn
về mặt đó.
Riêng
tôi xin dâng hết tâm thành lên đức Phật, mà khắng định
rằng: “ Tụng kinh giả, minh Phật chi lý” nghĩa là: Đọc
kinh cốt để tìm hiểu giáo lý đức Phật muốn dạy gì cho
mình.
Đại
Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, người co chủng-tánh Đại-thừa,
có được ít nhiều tuệ-nhãn, nhìn vào như hạt ngọc kim
cương. Tùy góc đứng khác nhau mà ngọc kim cương ảnh
hiện màu sắc khác nhau, nhưng màu sắc nào cũng đều rực
rỡ. Tùy khả năng tư duy tu của hành giả mà nhận thức
cái “diệu nghĩa” của kinh một khác. Bởi lẽ đó,
kinh Diệu Pháp Liên Hoa xuất hiện ở Trung Quốc cũng như ở
Việt Nam đến nay đã ngót hai ngàn năm mà sức sống ngày
càng mạnh và rộng. Các tiền bối trong Phật giáo đã
đầu tư trí tuệ, ra sức phát huy cái “ diệu nghĩa”, “
huyền nghĩa”, “ thông nghĩa”, “ mật nghĩa” của kinh
Diệu Pháp Liên Hoa mà hình như chưa có vị nào có thể cho
là mình bằng lòng trọn vẹn. Bởi Kinh Pháp Hoa là kinh:
“ Duy hữu Phật dữ Phật cãi năng tri chi” (chỉ có Phật
với Phật mới hiểu hết diệu lý của kinh). Tuy nhiên,
mỗi ngài đều có cái tâm đắc, cái tuệ nhãn riêng để
nhận thức tương đương với sự thâm ngộ và thể nhập
của mình. Mỗi ngài viết ra thành tác phẩm giữ lại
thành tài liệu nhằm ghi lại cái kết quả đó. Còn vấn
đề đem lại lợi lạc ít hay nhiều cho tăng tín đồ Phật
giáo, thì còn tùy thuộc nhân duyên, căn cơ và chủng tánh
nữa.
Nhìn
lịch sử nghiên cứu sớ thích giảng giải kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, đã thấy trong quá khứ:
Pháp
Hoa Văn Cú của Thiên Thai Trí Giả Đại Sư
Pháp
Hoa Nghĩa Sớ của Sa-môn Cát Tạng
Pháp
Hoa Du Ý của ngài Khuy Cơ
Pháp
Hoa Huyền Tán của ngài Nguyên Hiểu
Pháp
Hoa Tông Yếu của ngài Minh Chánh
Pháp
Hoa Huyền Nghĩa của Cư-sĩ Chánh Trí
Và
sinh tiền:
Pháp
Hoa Cương Yếu của Hoà Thượng Thích Trí Tịnh
Nhìn
chung, sự nhận thức và triển khai của các Ngài, mỗi người
một vẻ, vẻ nào cũng có cái hay cái diệu riêng của nó.
Tôi,
một hậu học là một bần-tăng cô-lậu, có chút ít quá trình
lạm dụng bút nghiêng vận dụng cái vốn của những bậc
Thầy tôn kính của tôi: Hoà-thượng Thựơng Trí Hạ Tịnh,
Hòa-thượng Thượng Thiện Hạ Hoà, Hoà Thượng Thượng
Thiện Hạ Hoa … đã dày công uốn nắn giáo dục tôi và truyền
thọ cho tôi phần gia bảo vô giá mà các ngài đã thừa kế
sự nghiệp Như Lai để lại.
Tâm
đắc nguồn tư-tưởng liễu-nghĩa Thượng thừa trác tuyệt
của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, theo sở ngộ của mình tôi viết
ra những tinh-hoa thâm-nghĩa ở sau mỗi phẩm của kinh văn đã
được tóm lược và đặt cho giáo-án này cái nhan-đề:
PHÁP
HOA KINH THÂM NGHĨA ĐỀ CƯƠNG
Gọi
là “giáo án” hay “giáo trình” cũng vậy, vì những
kinh luận tôi biên soạn để triển khai, giảng dạy cho những
người hậu học chớ không nhằm phục vụ cho tụng đọc
cho nguyện cầu để được phước. Bởi vì, theo lời
Phật dạy, người được phước phải là người chế ngự
được những thói hư tật xấu, những bất-thiện-nghiệp
của thân, khẩu, ý của mình.
Ngoài
lý tưởng thiêng liêng đó, tôi hy vọng đền đáp phần nào
công ơn của những bậc thầy tôn kính của tôi, đã lao tâm
khổ trí đào tạo ra tôi. Tôi xúc động bùi ngùi khi
ôn lại lời nhắc nhở, thiết-tha của tổ Qui Sơn:
“
Nhược hữu trung lưu chi sĩ, vị năng đốn siêu, thả ư giáo
pháp lưu tâm, ôn tầm bối diệp, tinh sưu nghĩa lý truyền
xướng phu dương, tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức.
Thời quang diệc bất hư khí, tất tu dĩ thử phò trì, trụ
chỉ oai nghi, tiện thị tăng trung pháp khí. Khởi bất
kiến ỷ tòng chi cát, thượng tủng thiên tầm, phụ thác thắng
nhơn phương năng quảng ích”. Có nghĩa là: Nếu mình
chưa phải là bậc thượng lưu, vượt thắng bên kia bờ giác
thì hãy để tâm nơi giáo-pháp, ôn tầm kinh điển, rút ra
nghĩa lý tinh-hoa, truyền bá tuyên dương, tiếp dẫn hậu lai,
đó là cách trả ơn cho Phật tổ. Ngày giờ không nên
bỏ luống, phải sử dụng nó trong việc rèn luyện thân-tâm.
Khi đi cũng như lúc ở, sống đúng oai nghi để làm kho tàng
đựng pháp trong chư tăng, há chẳng thấy dây sắn nương quấn
cội tòng, nhờ có thắng duyên mà lên cao được đó sao?
Âm
vang của Tổ giục-giã tôi tinh-tấn làm cái việc tuy nhẹ
bổng mà đòi hỏi nội lực khá nặng-nề nầy.
Viết
tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT
Mùa
Xuân năm Giáp Tý 1984. DL
Pháp-sư:
THÍCH TỪ THÔNG
Kính
đề
PHÀM
LỆ
Đọc
Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương kính mong độc giả lưu
ý hai điểm sau đây:
1.Phần
nguyên văn kinh được in chữ đứng, đó là phần dịch lược
từ kinh Hán tự ra Việt văn.
2.Phần
thâm nghĩa in chữ nghiêng để cho dể dàng phân biệt.
Phần này do bỉ-nhân tôi đóng góp viết ra những điều tâm
đắc bằng kiến giải của riêng mình. Hy vọng phần
thâm nghĩa sẽ giúp cho độc giả manh mối để tư duy, gợi
trí nhận xét trong tiến trình hiểu học tu theo con đường
Phật.
Mấy
lời kính cáo, mong độc giả lưu tâm.
Pháp
sư: THÍCH TỪ THÔNG
Cẩn
bạch
TIỂU DẪN
Bộ
kinh Diệu Pháp Liên Hoa thường được gọi với cái tên
giản lược là kinh Pháp Hoa. Để phân biệt với các
kinh thuộc hệ tư tưởng Tiểu Thừa, gọi là Đại Thừa Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh.
Diệu
Pháp Liên Hoa, đề kinh được cấu tạo theo thể cách Pháp
và Dụ. Diệu Pháp ám-tỷ cho cái Tri Kiến Phật nhiệm
mầu vốn có của tất cả chúng sanh mà mọi người thường
không hay không biết. Cái Tri Kiến Phật ấy lúc thành
Phật không phải nó mới sanh ra, lúc còn là phàm-phu nó tiềm
tàng, ẩn-mật mà không hề sút giảm hao bớt tí nào.
Trên bình diện Tri Kiến Phật, chúng-sanh và Phật, không hề
có sự hơn kém thấp cao.
Với
Phật-nhãn, nhìn qua lăng kính Bát-nhã Ba-la-mật thì “ Tâm,
Phật và chúng sanh” dù tên gọi có ba, mà thực chất không
có phạm trù đơn vị riêng rẽ.
Cái
ví dụ Liên Hoa, đức Phật vận dụng để chỉ bày một cách
kín-đáo, về Phật chất, về khả năng thành Phật của mọi
người. Rằng hoa sen nở toàn diện, hoa sen nở 70,
80 phần trăm; hoa sen vừa trồi lên khỏi nước; hoa sen đang
trong nước; cho đến hoa sen còn lủi dưới bùn, dù mức độ
lớn nhỏ khác nhau, thời gian sanh trưởng không đồng mà cái
tánh đặc thù của hoa thì y nhau không hề sai khác; Gương,
hạt ở ngay trong cánh nhụy và cánh nhụy bao trùm lấy gương
hạt. Mượn đức tánh nầy, đức Phật “giới thiệu”
cho mọi chúng sanh biết, rằng trong cái “nhân phàm phu” của
các vị, còn có cái “ quả Phật chất” ở ngay trong các
vị, các vị chớ có kinh mình.
Hoa
sen từ bùn nhơ nước đục mà ngoi lên, nhưng không vì
nước đục bùn nhơ mà khiến cho hoa sen phải nhạt sắc hương
thanh-thoát của nó. Với đặc-tánh đó, đức Phật chỉ
dạy: “ Hỡi tất cả chúng-sanh, các vị hãy vươn lên, tự
mình thắp đuốc lên mà đi”. Các vị hoàn toàn đủ
tiêu-chẩn thành Phật, dù các vị đang ở trong hoàn cảnh
“ Ngũ trược ác thế” của cõi nước đục “ Ta bà”…
Phật
chỉ là một hoa sen nở trước, nở toàn diện , hiển bày
cánh, nhụy, gương, hạt một cách viên mãn, vậy thôi.
Phàm Phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-Tát đều là sen tất cả.
Tất cả chúng-sanh không nên tự khinh mình! Trong các vị, ai
ai cũng đều sẵn có Tri Kiến Phật.
Cái
“Đại sự nhân duyên” xuất thế của Như Lai nhằm:
·
Giới thiệu Tri Kiến Phật cho chúng sanh.
·
Chỉ rõ Tri Kiến Phật của chúng sanh cho chúng sanh biết.
·
Hướng dẫn chúng sanh hiểu kỹ về Tri Kiến Phật của mình
·
Động viên chúng sanh sống đúng và sống hợp với Tri Kiến
Phật mà mình vốn có.
Do
vậy, tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, tất
cả chúng sanh sẽ thành Phật. Và tư tưởng “thuần
viên độc diệu” của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đức Thế
Tôn ta với âm giọng hải triều tuyên bố”
“Tất
cả chúng sanh đã thành phật”
Pháp-sư
THÍCH TỪ THÔNG
Khể
thủ
05-23-2002
10:23:45