PHÂN
TÍCH PHẨM TỰA
I.
PHẦN BỐ CỤC
Phẩm
đầu tiên của kinh Pháp Hoa là phẩm Tựa. Trong các kinh phần
nhiều đều chia ra ba phần:
. Phần
Tựa
.
Phần Chánh tông
.
Phần Lưu thông
Phần
Tựa phần nhiều chỉ một đoạn ngắn, riêng kinh Pháp Hoa
phần Tựa chiếm trọn một phẩm. Vì vậy cho nên trong phẩm
Tựa bao hàm nghĩa lý được coi như một phần khai thị giáo
nghĩa ở phần Chánh tông. Phẩm Tựa được chia đại cương
như sau:
I.
Thông tựa: Như thị ngã văn...
II.
Biệt tựa: Gồm có 5 phần:
A.
Tập chúng.
B.
Hiện thụy: Hiện điềm lành.
Hiện
6 điềm lành ở cõi này như: Hiện ra sự thuyết pháp, nhập
định, mưa hoa, đất rung động, chúng hoan hỶ, phóng hòa quang.
Hiện
6 điềm lành ở cõi khác như: Thấy lục thú chúng sanh, thấy
Phật ra đời, nghe Phật thuyết pháp, bốn chúng tu hành đắc
đạo, hàng Bồ-tát tu hành, Phật Niết-bàn xây tháp cúng dường.
C.
Nghi niệm:
Di
Lặc nghi không biết Phật hiện ra những điềm lành để làm
gì?
Đại
chúng nghi không biết Phật hiện ra những điềm lành để
làm gì?
D.
Di Lặc hỏi Văn Thù: Di Lặc thuật lại:
Sáu
điềm lành đã trông thấy ở cõi này để hỏi.
Sáu
điềm lành đã trông thấy ở cõi khác để hỏi.
E.
Văn Thù đáp:
Trù
Lượng đáp: Văn Thù trả lời theo chổ Bồ-tát suy nghĩ.
Dẫn
chuyện xưa sánh chuyện nay đáp:
Dẫn
Phật pháp của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tối sơ.
Dẫn
Phật pháp của hai vạn đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh
kế tiếp.
Dẫn
Phật pháp của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau cùng.
c1.
Đức Phật này từng hiện đủ 6 điềm lành như đức Phật
Thích Ca hôm nay: Thuyết Pháp, nhập định, mưa hoa, đất rung
động, chúng hoan hỶ, phóng hào quang.
c2.
Khi xuất định liền giảng kinh Pháp Hoa cho Diệu Quang Bồ-tát.
c3.
Trước khi Niết-bàn thọ ký cho Đức Tạng.
c4.
Nhập Niết-bàn Diệu Quang trì kinh.
Kết
đáp: Văn Thù đáp, quá khứ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng
Minh sau khi hiện 6 điềm lành, xuất định liền giảng kinh
Pháp Hoa, nên biết hôm nay đức Thích Ca cũng hiện 6 điềm
lành, như vậy sau khi xuất định Ngài cũng giảng kinh Pháp
Hoa. Cuối cùng là bài kệ trùng tuyên lờI đáp của Văn Thù.
II.
PHẦN KINH VĂN
Kinh
văn: Như vậy tôi nghe.
Một
thời đức Phật ở núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương Xá,
cùng chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người đều đông
đủ. Đều là những bậc A-la-hán các lậu đã hết, không
còn phiền não, đã được lợi mình, hết các kiết sử, tâm
được tự tại, tên là A-nhã Kiều-Trần-Như, Ma-Ha-Ca-Diếp...
các vị đại A-la-hán như vậy là những vị chúng đều biết.
Giải
thích: Như thị ngã văn.
Pàli
dùng chữ evam me suttam. Evam có nghĩa là như vậy, bao hàm ý
nghĩa tin thuận. Nếu như thị có nghĩa là như thật, như như
thì Phạn âm là tathata chứ không dùng chữ evam. Bởi khi Tôn
giả A-nan kết tập đầu tiên để chữ Như thị có nghĩa
rằng điều tôi nghe đây là đúng như vậy. Phật nói như
vậy tôi nghe đúng như vậy, mà nghe đúng như vậy với lòng
tin thuận theo lời Phật nói. Nếu như nghe mà không tin thuận
theo thì không gọi là như vậy. Tin thuận theo lời Phật dạy,
nghe lời Phật dạy, Ngài nói như thế nào, bây giờ thuật
lại đúng như thế đó, không thêm không bớt, và trực tiếp
nghe Phật nói, chứ không phải nghe từ một người khác nói
lại nên gọi như vậy. Do lẽ chính từ Tôn giả A-nan tín
thuận chắc chắn như vậy, nên gây được lòng tin cho người
đọc kinh sau này tin chắc lời đó là Phật nói. Cho nên đầu
tiên vào kinh để Như Thị ngã văn là lý do đó.
Bấy
giờ đức Phật trú tại núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương
Xá cùng với chúng Tỳ-kheo như vậy... Các vị ấy đều là
bậc đại A-la-hán, các lậu đã dứt. Thế nào gọi là các
lậu? Lậu có nghĩa là lọt, rơi, rớt, rỉ, đó là một tên
khác của phiền não, của kiết sử. Lậu có ba ý nghĩa:
1.
Tiết lậu lục căn môn: Phiền não tham sân uế trược rỉ
ra ở saú căn.
2.
Lậu thất chánh đạo: Làm lọt mất chánh đạo.
3.
Lậu lạc tam giới: Bị trôi lăn trong ba cõi.
Các
lậu là: Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Ba thứ này làm
triền phược chúng sanh trong tam giới mà các bậc A-la-hán
đã dứt sạch những thứ đó, ra khỏi ba cõi nên gọi là
vô sanh không còn phiền não không còn kiết sử, tâm được
tự tại, nên gọi "chư lậu dĩ tận". Các vị tâm được
tự tại thành bậc A-la-hán rất nhiều, như Tôn giả Xá-Lợi-Phất:
Trí tuệ đệ nhất, Tôn giả Mục-Kiền-Liên: Thần thông đệ
nhất...mỗi vị mỗi hạnh. Người thì chuyên tu đầu đà,
người thì chuyên tu mật hạnh, và có vị thì chuyên tu hạnh
thiểu dục tri túc như Ngài Bạc-Câu-La. Trong A Dục Vương
truyện có kể rằng: Sau khi Vua A-Dục hồi đầu theo Phật,
hông ăn năn hối cải tội ác, nên hết lòng phát huy đạo
pháp, cất chùa xây tháp, cúng dường Xá-Lợi..., Một hôm
nhà vua đi chiêm bái tháp Phật và Thánh Tăng, mỗi tháp nhà
vua đều cúng dường lễ lạy và mỗi tháp nhà vua đều hỏi
lại công đức tu hành của các ngài, ngài nào cũng có công
hạnh to lớn, nhưng khi đến tháp ngài Bạc-Câu-La thì biết
ngài chẳng có công hạnh gì cả, duy chỉ có hạnh thiểu dục
tri túc mà thôi, cho nên vua A-Dục chỉ cúng dường một đồng
tiền. Nhưng lạ thay, khi nhà vua về đến cung điện thì một
đồng tiền cúng dường nơi tháp ngài Bạc-Câu-La lại được
hoàn trả lại. Bấy giờ vua A-Dục mới càng kính phục hạnh
thiểu dục tri túc của Ngài.
Kinh
văn: Lại có hàng Hữu học và Vô học hai ngàn người. Lại
có Ma-ha Ba-xà-ba-đề Tỳ-kheo-ni và quyến thuộc sáu ngàn người
đông đủ. Mẹ của La-Hầu-La là Da-Du-Đà-La Tỳ-kheo-ni cùng
với quyến thuộc đông đủ.
Bồ-tát
Ma-ha-tát, tám vạn người đều là những vị không thối chuyển
vô thượng chánh đẳng Bồ-đề, chứng được pháp Đà-la-ni,
lạc thuyết biện tài.
Giải
thích: Đà-la-ni gọi là tổng trì. Tổng trì có bốn nghĩa:
Văn tự tổng trì, Pháp tổng trì, Hành tổng trì, Giải tổng
trì. Sự hiểu biết được giữ gìn chặt chẽ, đối với
pháp hiểu biết trọn vẹn... cũng gọi là Đà-la-ni.
Lạc
thuyết biện tài, đây là một trong bốn món vô ngại biện.
Nói về vô ngại biện, tức là đứng về mặt ứng dụng.
Còn về mặt hiểu biết thì gọi là bốn vô ngại giải, đó
là: Pháp vô ngại giải, nghĩa vô ngại giải, từ vô ngại
giải và lạc thuyết vô ngại giải.
Bốn
vô ngại biện gồm có:
1.
Pháp vô ngại biện: Đối với Tam tạng kinh điển, hiểu biết
trên phương diện ngôn thuyết năng thuyên.
2.
Nghĩa vô ngại biện: Biết được trên phương diện lý nghĩa
sở thuyên.
Thuyên:
Nói. Năng thuyên: Hay nói. Sở thuyên: Được nói. Ngôn giáo
là năng thuyên, lý nghĩa là sở thuyên. Hiểu như thế để
đừng kẹt mắc vào ngôn giáo, lấy ngôn giáo làm lý nghĩa
tức là y nghĩa bất y ngữ. Pháp vô ngại biện chỉ về mặt
năng thuyên: Ngôn giáo. Nghĩa vô ngại biện chỉ về mặt sở
thuyên: Nghĩa lý.
3.
Từ vô ngại biện: Sự vận dụng ngôn từ, cú pháp, văn phạm,
rành rẽ, mạch lạc.
4.
Lạc thuyết vô ngại biện:
a)
Vui vẽ đem giáo pháp Phật ra truyền bá.
b)
Trong sự truyền bá gây được niềm vui cho người nghe.
Trong
bốn vô ngại biện được đúc kết thành hai chữ như trong
kinh Lăng Già:
-Tông
thông (gồm pháp và nghĩa): Thông suốt về mặt tôn chỉ giáo
nghĩa.
-Thuyết
thông (từ và lạc): Thông suốt về phương diện trình bày
diễn tả.
Kinh
văn: Chuyển pháp luân bất thối, cúng dường vô lượng trăm
ngàn các đức Phật, đối với chư Phật, gieo các gốc lành,
thường được các đức Phật tán thán. Những vị này lấy
từ bi đề tu thân, khéo đi vào trí tuệ Phật, thông đạt
đại trí, đến bờ bên kia. Những vị đó danh tiếng khắp
cả vô lượng thế giới hay độ vô số trăm ngàn chúng sanh.
Giải
thích: Dĩ từ tu thân thiện nhập Phật tuệ. Dĩ từ tu thân:
Tức đem thân hành động theo những pháp lành, lợi lạc. Thiện
nhập Phật tuệ: Là đi vào trí tuệ Phật. Tam tạng giáo điển
là cửa ngỏ đi vào trí tuệ Phật, tu hành quán niêm là cửa
ngõ đi vào trí tuệ Phật. Nhưng nếu không khéo đi thì cũng
không vào được nên trong kinh dùng chữ "Thiện"
Kinh
văn: Những vị đó tên là Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-tát, Quán-Thế-Âm
Bồ-tát...Các vị đại Bồ-tát như vậy gồm có tám vạn
người đông đủ.
Bấy
giờ Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với quyến thuộc hai vạn thiên
tử đông đủ.
Lại
có Minh nguyệt thiên tử...và tứ đại Thiên Vương cùng với
quyến thuộc một vạn thiên tử câu hội. Với Tự tại thiên
tử, đại Tự tại thiên tử, cùng với quyến thuộc ba vạn
thiên tử đông đủ.
Giải
thích: Đây là những vị trời ở Lục dục giới, gồm có:
Tứ thiên vương, Đao-Lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đâu-suất-đà
thiên, Hóa-lạc thiên, Tha-hóa-tự-tại thiên.
Kinh
văn: Bấy giờ Ta-bà thế giới chủ đại Phạm thiên vương...cùng
với hai vạn quyến thuộc đông đủ.
Giải
thích: Ta-bà thế giới chủ hay Tam thiên đại thiên thế giới.
Hai danh từ đó trên phương diện thể cách giống nhau.
Tam
thiên đại thiên có hai thuyết khác nhau:
1.
Tứ châu, Tứ ác thú, Lục dục Tinh Phạm thiên: Tứ Châu,
Tứ ác thú, Lục dục, Phạm thiên, như thế gọi là một thế
giới thuộc một thái dương hệ. Một ngàn thế giới như
vậy gọi là một tiểu thiên thế giới. Một ngàn lần tiểu
thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới. Một ngàn
lần trung thiên thế giới gọi là một đại thên thế giới,
tức thế giới ba lần ngàn. Nhưng Tam thiên đại thiên thế
giới như vậy là chỉ ngang Sơ thiền trở xuống.
2.
Tứ châu, Tứ ác thú, Lục dục Tinh Phạm thiên: Đó là một
tiểu thế giới. Một ngàn lần Phạm thiên như vậy bằng
một nhị thiền thiên; một ngàn nhị thiền thiên bằng một
tam thiền thiên; một ngàn tam thiền thiên bằng một tứ thiền
thiên, hay tam thiên đại thiên thế giới. Tam thiên đại thiên
thế giới này lên đến cõi Tứ thiền. Đây là cõi sở hóa
của đức Phật Thích Ca. Cõi này còn được gọi là Sách-ha
thế giới hay Ta-bà thế giới, nghĩa là thế giới cam chịu
mọi thống khổ.
Kinh
văn: Có tám Long vương, Nan-đà long vương...đều cùng với
bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại
có bốn Khẩn-na-la vương (Ca thần)... cùng với bao nhiêu trăm
ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại
có bốn Càn-thát-bà vương (Nhạc thần)... cùng với bao nhiêu
trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại
có bốn A-tu-la vương... cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến
thuộc đông đủ.
Lại
có bốn Ca-lầu-la vương (Kim sí điểu)... cùng với bao nhiêu
trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Và
con bà Vi-đề-hy, là vua A-xà-thế cùng với bao nhiêu trăm ngàn
quyến thuộc đông đủ.
Mỗi
mỗi lễ Phật xong, lui ngồi một bên.
Giải
thích: Từ đây trở về trước là chúng hội trong hội Pháp
Hoa. Trong hội này có vua A-xà-thế, đó là một ông vua có
vị trí rất lớn trong Phật giáo và có một lịch sở kỳ
lạ nhất:
Ông
là bạn thân của Đề-bà-đạt-đa (khi ông chưa theo Phật)
cùng Đề-bà-đạt-đa hại Phật, nhưng chính ông cũng là người
ngoại hộ đặc biệt nhất trong Đại hội Kiết tập lần
thứ nhất sau khi Phật Niết-bàn. Đó là bản thân ông đối
với Phật giáo. Còn con người và cuộc đời ông thì sao?
Hoàng
tử A-xà-thế (Vị sanh oán hay chiết chỉ) con Bình-sa vương
và bà Vi-đề-hy. Một hôm, A-xà-thế bị Đề-bà-đạt-đa
xúi dục giết cha để cướp ngôi, rủi thay âm mưu bị bại
lộ, bị bắt quả tang. Đáng lẽ bị trừng trị, nhưng vì
thương con, Bình-sa vương nhường ngôi cho ông.
Đã
không biết ơn, A-xà-thế lại còn hạ ngục vua cha và ra lệnh
bỏ đói cho cha chết lần chết mòn; chỉ một mình hoàng thái
hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi, bà giấu đồ ăn trong
áo đem cho chồng. A-xà-thế hay được quở trách mẹ. Lần
sau bà giấu thức ăn trong búi tóc, A-xà-thế cũng biết được.
Cùng đường bà tắm rửa sạch sẽ rồi thoa vào mình một
thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường và sữa. Vua gạt lấy
món ăn cho đở đói, nhưng A-xà-thế cũng biết được và
ông ra lệnh cấm hẳn mẹ không cho vào thăm nữa.
Lúc
ấy Bình-sa vương cam chịu đói nhưng lòng không oán trách
con, vua cho đó là oan nghiệp tiền khiên có vay phải có trả,
nên cố gắng Tham thiền và đắc quả Tu-đà-hoàn. Thấy cha
vẫn vui tươi nên A-xà-thế quyết giết cha cho khuất mắt.
Ông hạ lịnh cho người thợ cạo vào ngục lấy dao bén gọt
gót chân, lấy dầu và muối xát vào rồi hơ trên lửa cho
chết.
Khi
người cha bất hạnh thấy thợ cạo đến thì mừng thầm,
ngở rằng con mình đã ăn năn hối cải nên cho người đền
cạo râu tóc cho mình để rướt về cung. Vua đâu ngờ chính
anh thợ cạo đến để đem lại cho vua một cái chết thê
thảm.
Cùng
ngày ấy, vợ A-xà-thế vừa hạ sanh một hoàng nam. Hay tin
chánh hậu hạ sanh một hoàng nam, nổi vui mừng của A-xà-thế
không sao tả được; tình thương người cha lần đầu tiên
chớm nở trong lòng; mặn nồng sâu sắc. Đứa con đầu lòng
là một nguồn hạnh phúc cho cha mẹ. Chính đứa con đã đem
đến tình yêu thương mới mẻ, đậm đà vô cùng trong sạch,
khiến họ có cảm tưởng rằng máu huyết của mình đã nhỏ
giọt ra để nối tiếp mình.
Vừa
lúc ấy A-xà-thế sực nhớ đến cha, bổng nhiên ông đứng
phắt dậy kêu lên như điên: "Hãy mau lên, thả ra lập tức
người cha yêu quý của Trẩm". Nhưng than ôi! Người cha yêu
quý ấy đã ra người thiên cổ.
Khi
hay tin cha chết, Vua hối hận đi tìm mẹ và hỏi: "Thưa mẫu
hậu khi con còn nhỏ, phụ hoàng có thương con không?
- Hoàng
nhi ơi! cho đến giờ này con mới hỏi thì đã muộn rồi!
Mẹ tưởng trên thế gian này không tìm đâu cho ra một người
cha hiền lành như cha của con. Để mẹ kể lại cho con nghe:
Lúc mẹ còn mang con trong bụng, một ngày kia mẹ nghe thèm lạ
lùng một món kỳ quái, mẹ thèm nút vài giọt máu trong bàn
tay mặt của cha con. Mẹ đâu dám nói ra. Rồi càng ngày càng
xanh xao và cuối cùng phải nói thật với cha con. Khi nghe vậy
cha con vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ nút máu. Lúc ấy các
nhà chiêm tinh trong triều đình tiên tri rằng, con sẽ là người
thù của cha con. Do đó, con có tên là A-xa-thế (Vị sanh oán:
Kẻ thù chưa sanh). Mẹ có ý định phá thai nhưng cha con không
cho. Khi sanh ra con, mẹ nhớ đến lời tiên tri nên một lần
nữa muốn giết con và lần nầy cha con cũng cản mẹ. Một
hôm, con có một mụn nhọt trên đầu ngón tay, đau nhứt vô
cùng, khóc suốt ngày đêm không ai vỗ con ngủ được. Cha
con đang thiết triều, nghe vậy cầm lòng không đậu, bế con
trong lòng và không ngần ngại ngậm ngón tay con trong miệng
nhè nhẹ nút cho con đở đau. Gớm thay, mụt nhọt vở, máu
mủ tuôn ra trong miệng cha con, và sợ lấy ngón tay ra con đau
nên cha con nuốt luôn cả máu lẫn mủ... Càng nghe mẹ kể,
A-xà-thế vô cùng hối hận ăn năn.
Đó
là cuộc đời và con người của A-xa-thế. Nhưng rồi sau đó
ông hồi tâm theo Phật xin sám hối, và chính ông là người
ngoại hộ đắc lực nhất trong thời Phật và trong kỳ đại
hội Kiết tập lần đầu.
Trong
phần kinh văn có mô tả số chúng hội: Nào là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Bồ-tát, Thiên, Long...Số nào cũng là trăm ngàn vạn ức chứ
không phải chỉ có 1250 vị như thường nghe. Đó là điểm
đặc biệt của kinh văn Đại thừa, khác với kinh văn Tiểu
thừa. Vì sao? Vì bởi kinh điển Đại thừa đứng trên quan
điểm: Tất cả chúng sanh đều thành Phật; đứng trên quan
điểm: Bồ-tát hạnh, lấy "sự" để truyền "tâm" (dĩ tướng
hiển tánh, chỉ vật truyền tâm chỉ thị từ tâm biến vật).
Với tinh thần rộng lớn như vậy, cho nên đồ chúng rộng
lớn, không gian rộng lớn. Ở đây, ý niệm không gian thời
gian theo thường tình bị xem nhẹ. Thời gian không gian không
cố định, không ranh giới, vượt biên cương. Cho nên hội
chúng của kinh Đại thừa rất đông, không phải 1250 vị mà
là trăm ngàn vạn ức, cũng như Phật thuyết kinh Pháp Hoa không
phải một hai tuần... mà là 60 tiểu kiếp. Vì với tâm Bồ-tát
đã đứng trên pháp tánh mà nhìn nên không bị cục hạn ở
tướng, thân tâm và cảnh giới đã vượt ngoài tướng. Do
đó, quan niệm về không gian, thời gian ở kinh Đại thừa
có tánh cách rộng lớn bao la, không có biên giới, ít và nhiều
không quan trọng, dài và ngắn không có định mức. Bởi vì
không gian tự nó không thật thể, thời gian tự nó không thật
thể. Hội chúng đông là một cách phá bỏ ý niệm chấp trước
không gian cố định. Phật thuyết kinh trong 60 tiểu kiếp cũng
là một cách phá bỏ ý niệm thởi gian cố định. Vì vậy
mà chúng hội đông nhưng chỗ không thấy chật, 60 tiểu tiếp
mà như trong khoảng một bữa ăn.
Lại
trong kinh Đại thừa thường hay có lẫn lộn hai lối thuyết
pháp của Phật là hiển thuyết và mật thuyết. Phật phóng
quang, nhập định, thuyết pháp... xen lẫn nhau. Phật phóng
quang và nhập định là mật thuyết mà Phật thuyết pháp đôi
khi cũng là mật thuyết. Xin kể một ví dụ để rõ thêm nghĩa
hiển thuyết và mật thuyết:
Đời
Đường tại Hàn Châu có thiền sư tên Hàn Văn HỶ hiệu Vô
Trước, xuất gia lúc 7 tuổi. Lớn lên, quyết một lần đến
Ngũ Đài sơn với ý nguyện là được lễ bái Văn-Thù-Sư-Lợi
Bồ-tát. Khi ngài đến giữa núi thì gặp một ông già dắt
trâu, ông già ấy mời ngài về nhà và hỏi:
- Sư
từ đâu đến?
- Từ
phương nam đến. Ngài Vô Trước đáp.
- Phật
pháp phương Nam trụ trì thế nào?
- Gặp
thời mạt pháp, tuy nhiên những người kính thuận giới luật
cũng nhiều.
- Nhiều
bao nhiêu?
- Năm
bảy trăm
Ngài
Vô Trước lại hỏi ông già:
- Còn
ở đây Phật pháp trụ trì thế nào?
- Long
xà hổn tạp phàm thánh đông cư. Ông già đáp.
Ngài
Vô Trước không hiểu nên hỏi:
- Vậy
là bao nhiêu?
- Tiền
tam tam hậu tam tam. Ông già đáp.
(Nói
mà như không nói, thuyết mà thành mật thuyết).
Ông
già sai đệ tử Huân Đề rót nước mời ngài Vô Trước uống
và ngài từ tạ ra về, đồng tử đưa xuống núi. Ngài Vô
Trước quay lại hỏi đồng tử:
- Khi
nãy ông già nói: "Tiền tam tam hậu tam tam" là bao nhiêu thế?
Đồng tử kêu:
- Đại
đức. Ngài Vô Trước:
- Hử.
Đồng tử hỏi:
- Thế
là bao nhiêu thế?
Khi
đó ngài Vô trước liền hay ông già ấy chính là ngài Văn
Thù vậy.
Cũng
chừng ấy mà chúng hội trong các kinh thì khác mà hội chúng
trong kinh Pháp Hoa lại càng khác.
Từ
đây về trước là phần Tựa chung (Thông tự), và từ đây
về sau là phần Tựa riêng (Biệt tự).
Trong
kinh PHáp Hoa, phần Tựa riêng là phần đi sát đề, đi thẳng
vào duyên khởi chính của kinh. Các kinh khác phần tựa riêng
này chỉ có một đoạn, nhưng kinh Pháp Hoa chiếm trọn một
phẩm (Phẩm tự). Bởi phẩm này mang tánh cách đặc biệt
là Phật nêu lên thật nghĩa chung mà Ngài sẽ dạy về sau.
Ngài nêu một cách gián tiếp qua các việc hiển thụy, trong
ấy tiêu biểu một ý nghĩa mà đức Phật sẽ chỉ bày trong
các phẩm sau.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ Thế Tôn được bốn chúng vây quanh, cúng
dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Giải
thích: Đây là phần tập chúng. Tứ chúng, thường hiểu gồm
có: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Tứ chúng cũng
còn có nghĩa nữa là trong hội pháp của Phật có bốn hạng,
tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết khác nhau:
1.
Chúng khải thỉnh: Đây là những vị có đủ khả năng trình
độ hiểu biết, đặt vấn đề thưa hỏi Phật.
2.
Chúng đương cơ: Là hàng căn cơ trình độ đúng với hội
pháp đương thuyết.
3.
Chúng tán trợ (hay chúng ảnh hưởng): Những vị đã chứng
ngộ rồi nhưng vẫn còn ngồi trong pháp hội để tán dương
công đức thuyết pháp của Phật, đồng thời cũng tán trợ
chúng đương cơ đang nghe lúc đó.
4.
Chúng kết duyên: Hạng người không đủ trình độ, không
đúng căn cơ để nghe pháp, nhưng cũng dự trong chúng hội
để kết duyên về sau.
Kinh
văn: Phật vì hàng Bồ-tát thuyết kinh Đại thừa tên Vô lương
nghĩa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát được các đức Phật
hộ niệm.
Giải
thích: Trong khi đại chúng vây quanh, đức Phật vì hàng Bồ-tát
mà nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa, là pháp giáo hóa
hàng Bồ-tát được chư Phật hộ niệm. Phật thuyết kinh
Đại thừa Vô lượng nghĩa. Thế nào là Vô lương nghĩa?
1.
Chỉ về thật tướng vô tướng. Vì thật tướng vô tướng
cho nên nó thành nhất thiết tướng, mà nhất thiết tướng
tức là nhất thiết nghĩa. Mỗi tướng như vậy là mỗi tánh
cách của các pháp. Chữ Nghĩa: Là tánh cách. Ví dụ nói cái
này là viên phấn, ai cũng nói và ai cũng công nhận nó là
viên phấn. Nhưng ta thử hỏi: Viên phấn vốn là cái gì? Vốn
là! Vốn là cái của nó. Khi nói vốn là thì viên phấn lại
có một ý nghĩa khác, viên phấn trở thành mong manh, trở thành
một tướng giả tạm, chứ không phải nó vốn là, có ai nói
viên phấn này vốn là viên phấn? Cho nên khi muốn nói viên
phấn ấy vốn là, là ta muốn tìm hiểu thật tướng của
viên phấn là gì? Khi nói viên phấn vốn là tức sẽ nói viên
phấn vốn là đất. Ta tạm dừng lại và tạm chấp nhận
đất vốn là của viên phấn. Hay nói cách khác, đất là thật
tướng của viên phấn mà đất là thật tướng của viên
phấn thì đất không phải chỉ làm ra viên phấn thôi, mà
đất có thể làm ra cái chén, cái nồi... đất có thể làm
đủ thứ, đủ vạn nghĩa, đủ vạn tướng. Vậy thì thật
tướng đất đó không phải là tướng phấn mà thành tướng
phấn, không phải là tưóng nồi mà thành tướng nồi... Như
vậy nó vốn vô tướng mà thành vô lượng tướng (nhưng nên
nhớ khi ta nói đất là thật tướng, đó là đứng trên mặt
hiện tượng ta dừng lại và chấp nhận như vậy chứ thật
tướng còn đi xa hơn nữa. Nếu hỏi đất vốn là gì? Như
vậy là đặt thêm một vấn đề nữa, đó là vấn đề khác,
ở đây ta tạm ngừng lại đó và tạm chấp nhận để hiểu)
mà thành nhất thiết tướng. Vô lượng tướng tức vô lượng
nghĩa. Nói cái chén là một nghĩa, nói cái bình, cái nồi....
là một nghĩa... và trở thành vô lượng nghĩa.
2.
Đức Phật đã ngộ nhập được thật tướng của vạn pháp
là vô tướng cho nên Ngài tùy theo vô lượng căn cơ của chúng
sanh mà thuyết giáo, thành ra giáo pháp của Phật cũng là vô
lượng nghĩa. Chúng sanh vô lượng, có tâm tư vô lượng, dục
lạc vô lượng, Phật tùy theo vô lượng tâm tư thuyết vô
lượng pháp thành pháp đó gọi là vô lượng.
3.
Vô lượng nghĩa lại cũng có nghĩa là không thể đo lường
được, đem cái ý thức phân biệt không thể đo lường được
nên gọi là vô lượng nghĩa. Với thật tướng vô tướng
như vậy mà ta đem cái ý thức phân biệt, bảo là như thế
này, là như thế kia... Tất cả những tưóng đó chẳng qua
là tướng giả tướng do ý thức phân biệt có ra mà thôi.
Cho nên nếu đem ý thức mà bảo, đem ý thức mà phân biệt
nọ kia thì không bao giờ phân biệt được, không bao giờ
trắc lượng được nên gọi là vô lượng.
Mới
bắt đầu vào kinh, Phật thuyết kinh Đại thừa Vô lượng
nghĩa. Có ý rằng những pháp mà Phật dạy trong những thời
trước, nhất là dạy cho hàng Nhị thừa là những pháp còn
có thể lường, còn có thể đem ý thức mà phân biệt. Trong
hội Pháp Hoa Phật nói pháp không thể bằng vào ý thức phân
biệt trắc lường tới được mà chỉ bằng vào chân thật
trí mới có thể ngộ nhập được.
Pháp
nói cho hàng Nhị thừa không khác nào như khi nói cần uống
nước thì liền đưa cho chén nước, không cần hỏi chén nước
vốn là gì. Vì trước đó đối với hàng Nhị thừa cần
thoát ly sanh tử, đức Phật nói pháp để diệt khổ, không
cần hỏi thật tướng làm gì, cũng như cần chén nước đưa
chén nước uống không cần hỏi vốn là gì. Bây giờ trong
hội Pháp Hoa, mới nói vốn là gì để đi vào thật tướng
của những lời pháp mà đức Phật nói từ trước nên gọi
là Vô lượng nghĩa. Pháp đó là pháp giáo hóa cho hàng Bồ-tát,
chứ hàng Nhị thừa đem thức tâm phân biệt thì không thể
phân biệt được và pháp đó đã là pháp cao siêu tuyệt đối,
cho nên luôn luôn được chư Phật hộ niệm nên gọi là Phật
sở hộ niệm.
Kinh
văn: Phật nói kinh này rồi ngồi kiết già, nhập vào định
Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động, đoạn này ý
nói:
Giải
thích: Sau khi đức Phật nói kinh vô lượng nghĩa rồi, Phật
ngồi kiết già nhập vào định Vô lượng nghĩa xứ, thân
tâm không lay động, đọan này ý nói:
1.
Thuyết pháp rồi nhập định, có nghĩa là không có định
thì không có tuệ, không có tuệ thì không có định. Thuyết
pháp là tuệ, nhập định là định. Có tuệ mới có định,
có định mới có tuệ, tịch chiếu song song mới thành được
giáo pháp viên mãn.
2.
Nhập định gọi là định Vô lượng nghĩa tức muốn hiểu
kinh vô lượng nghĩa thì phải ở trong định Vô lượng nghĩa
mới hiểu được kinh, tức là phải ở trong định xa rời
sự phân biệt trắc lường của ý thức, mới có thể hiểu
được, ngộ được kinh vô lượng nghĩa.
3.
Để làm mô thức cho những người thuyết pháp (giáo), khi
muốn thuyết pháp cho đúng thì luôn luôn tâm phải ở trong
định. Nhập định đó có hai tác dụng:
a)
Tâm không rời pháp thật tướng.
b)
Quán căn cơ chúng sanh rồi mới thuyết pháp.
Khi
đức Phật nhập định thì cả thân và tâm không lay động.
Ở trong định cả thân và tâm. Ngồi không phải là định
mà phải cả thân và tâm không lay động mới là định.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ trời mưa hoa Mạn-đà-la, (hoa thích ý vừa
lòng) hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa (hoa nhu nhuyết) hoa
Ma-ha Mạn-thù-sa, mà rải trên Phật và đại chúng, khắp cả
thế giới Phật đều có 6 cách rung động.
Giải
thích: Trước đức Phật nhập định, đến đây là trời
mưa hoa. Sự nhập định của Phật, sự thuyết pháp của Phật,
có sức rung động đến cả hàng chư thiên, có sức rung động
đến quả đất. Bời vì các pháp vô thượng vì diệu nên
Phật nói ra làm rung động khắp cõi Ta-bà.
Việc
cõi đất sáu cách rung động... nếu không khéo suy nghĩ thì
cơ hồ như là một chuyện hoang đường không thật. Nhưng
phải chăng sự Thành Đạo của đức Phật đã không làm rung
động đến ta ngày hôm nay đó sao? Sự Thành Đạo của đức
Phật dưới cội cây Bồ-đề đã rung động hơn hai ngàn năm
trăm năm nay, mà không những chỉ rung động riêng xứ Ấn
Độ huyền bí mà còn rung động cả nhân loại trên thế giới!
Một người thường khởi lên ác tâm hoặc câu nói độc còn
có thể làm chuyển động cả hoàn cầu khiến bao nhiêu triệu
người chết, ruộng đồng thành hoang địa, huống chi một
vị đại Giác ngộ, đại Từ bi lại không thể làm quả đất
rung động, lòng người rung động quay về đường giác, được
an lạc?
Rung
động sáu cách:
- Ba
cách về hình: Động: Rung; Dõng: Lồi lên lõm xuống; Khởi:
Vụt đưa lên.
- Ba
cách về thanh: Chấn: Tiếng rung; Hẩu: Tiếng gầm gừ; Kinh:
Tiếng hét to.
Kinh
văn: Bấy giờ trong chúng hội, hàng Tý-kheo, Tỳ-kheo-ni... được
điều chưa từng có, hoan hỶ chấp tay nhất tâm ngưỡng xem
Phật.
Giải
thích: Qua những sự hiện điềm lành đó, bây giờ bốn chúng
thấy việc chưa từng có nên ai cũng vui mừng hớn hở chấp
tay nhất tâm xem Phật. Chấp tay là nói về thân; nhất tâm
là nói về tâm. Chấp tay là để chứng tỏ thân hướng về
nơi Phật chứ không đâu khác. Nhất tâm cũng là để chứng
tỏ tâm hướng về Phật.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ Phật phóng hào quang từ tướng lông trắng
ở giữa chân mày, chiếu về phương Đông, một vạn tám ngàn
thế giới đều khắp cả, dưới từ địa ngục A-tỳ, trên
đến A-ca-nị-sắc-thiên.
Giải
thích: Bấy giờ đức Phật phóng hào quang từ tướng lông
trắng ở giữa chân mày và chiếu về phương Đông... Hào
quang đức Phật chiếu từ tướng lông trắng ở giữa chân
mày cũng để tiêu biểu ý nghĩa trung đạo thật tướng, cũng
để tiêu biểu ý nghĩa rằng trong kinh Pháp Hoa, đức Phật
cốt khai thị ngộ nhập tri kiến Phật. Tri kiến đó tức
là trung đạo thật tướng, ly hết tướng nhị biên, cho nên
ở giữa chân mày Phật phóng ra hào quang và chiếu về phương
Đông. Vì sao lại chiếu về phương Đông? Bởi phương Đông
là gốc của ánh sáng, mặt trời mọc từ phương Đông. Như
vậy, phương Đông đây cũng để tiêu biểu cho thật tướng.
Thật tướng cũng là gốc của thất cả tướng. Phật phóng
hào quang về phương Đông tức trí tuệ tri kiến Phật chiếu
vào thật tướng.
Tóm
lại, đoạn trên đây ta thấy Phật thuyết pháp, nhập định,
phóng hào quang, đó là ba hình thức thuyết pháp, ba hình thức
giáo hóa bằng khẩu, bằng thân, bằng tâm.
Thuyết
pháp là khẩu nghiệp, nhập định là ý nghiệp, phóng quang
là thân nghiệp. Ba phương pháp đó đều nhằm vào sự lợi
lạc chúng sanh. Đó gọi là tam mật lợi ích. Để hiểu ý
nghĩa biểu trưng trong kinh điển Đại thừa, ta hiểu xuyên
qua câu nói của ngài Lâm Tế. Ngài Lâm Tế có lối truyền
thuyền đặc biệt, đó là lối Bổng hát.
Bổng
là cây sào và có nghĩa là đánh. Hát là hét. Nếu có ai đến
vấn, ngài hỏi một câu là phải trả lởi ngay không được
do dự suy nghĩ. Nếu dụ dự suy nghĩ không đáp ngay là ngài
hét rầm lên hoặc đánh cho một gậy.
Để
hiểu hào quang của Phật xuyên qua cách nói của ngài Lâm Tế.
Trong tiếng Hát ngài Lâm Tế có nói:
- Hữu
thời nhất hát như Kim cang vương bảo kiếm.
- Hữu
thời nhất hát như cứ địa Kim mao sư tử.
- Hữu
thời nhất hát như thám can ảnh thảo.
- Hữu
thời nhất hát bất tác nhất hát dụng.
Nghĩa
là:
- Có
lúc tiếng hét này như gươm báu của Kim cang vương.
- Có
lúc tiếng hét này như Sư tử lông vàng ngồi chổm.
- Có
lúc tiếng hét này như cây sào quơ trên ngọn cỏ.
- Có
lúc tiếng hét này như không có tác dụng gì hết.
Xuyên
qua ý nghĩa tiếng hét của Lâm Tế mà ta hiểu hào quang của
Phật. Cho nên nói hào quang không chỉ giới hạn trong hào quang,
cũng như tiếng hét không phải chỉ là tiếng hét mà là tiếng
gươm báu của Kim cang vương, có nghĩa là tất cả bị nó
phứt hết. Tất cả tâm niệm phân biệt, suy lường đều
bị phứt hết. Hoặc tiếng hét đó như Sư tử lông vàng ngồi
chổm, uy nghiêm vô cùng, thấy nó là khiếp đảm. Hoặc tiếng
hét đó như cây sào quơ trên ngọn cỏ, đó là tiếng hét
dò xem căn cơ người học đạo mà có khi tiếng hét không
có tác dụng gì hết. Xuyên qua đó ta hiểu ý nghĩa hào quang
của đức Phật. Hào quang của Phật phóng ra đó là tiêu biểu
trung đạo thật tướng, tiêu biểu Phật tri kiến phát hiện
mà đức Phật đã thành tựu.
Để
nói lên kiến tánh đó, trung đạo thật tướng đó chúng sanh
đều có. Nhưng vì chúng sanh mê mờ không nhận biết được
mà phải bằng vào lời dạy (Thánh giáo lượng) của Phật
mà hiểu. Thánh giáo lượng tức cảnh giới ta không thể đạt
được mà phải bằng vào cái lượng của Thánh giáo, lấy
sự chỉ bày của Thánh giáo làm thước đo. Nhưng hiểu lời
Phật dạy có ba:
1.
Bằng vào Thánh giáo lượng, đức Phật dạy như vậy, tin
vào lời dạy về sự giác ngộ độ sanh của Phật.
2.
Phải giàu lòng tưởng tượng, so sánh, tỶ lượng.
3.
Nhưng cứu cánh nhất là phải hiểu được rằng pháp môn
Phật nói ra nhằm gạt bỏ bao nhiêu nếp phân biệt suy tư
cố hữu theo vọng tưởng của chúng sanh để đưa chúng sanh
nhập bào cảnh giới viên dung vô ngại, như cảnh giới Phật
đã chứng thành, tức là hiểu bằng hiện lượng thật chứng.
Kinh
văn: Ở tại thế giới này mà thấy khắp lục thú chúng sanh
ở cõi nước đó. Lại thấy và nghe các đức Phật hiện
tại ở các cõi đó thuyết pháp, thấy các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di những người tu hành đắc đạo ở cõi
kia. Lại thấy các đại Bồ-tát hành đạo Bồ-tát, tùy từng
nhân duyên, theo từng chỗ tín giải, theo từng tướng mạo
của mỗi người. Lại thấy các đức Phật nhập Niết-bàn.
Lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn rồi xây tháp
bảy báu cúng dường Xá-lợi Phật.
Giải
thích: Hào quang của Phật phóng ra thế giới nào thì ở thế
giới đó đều hiện rõ trước mắt đại chúng, nhờ đó
đại chúng thấy cả lục đạo chúng sanh ở trong đó, tạo
nghiệp nhân phiền não như thế nào, chịu kết quả như thế
nào ở các thú. Đó là thấy về mặt nhiểm ô. Lại còn thấy
về những điều thanh tịnh như thấy đức Phật hiện tại
nơi cõi kia và nghe được pháp đức Phật nói.
Mỗi
vị tu hành như thế nào thì đắc đạo như thế đó, mà không
những thấy hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thôi, mà còn thấy các
hàng Bồ-tát, đại Bồ-tát với từng nhân duyên mỗi người
đều khác nhau, tín giải mỗi người đều khác nhau, tướng
mạo mỗi người đều khác nhau mà thực hành hạnh Bồ-tát.
Nhân
duyên (cách thức) khác nhau, mỗi người đi tu như chúng ta
mỗi người có mỗi nhân duyên khác nhau. Nhân là gì? Là thiện
căn có sẳn của mỗi người gọi là nhân; duyên mỗi người
đi tu cũng khác. Người thì gặp thầy mến thầy rồi đi tu,
người nghe thích tiếng tụng kinh rồi đi tu, người thì gặp
đạo lý mà đi tu; tức mỗi người đều có các thứ nhân
duyên và các thứ tín giải. Khi đi tu như vậy mỗi người
có lòng tin, mức độ tin khác nhau, mỗi người có trình độ
hiểu biết khác nhau. Người độn căn thì thiên về lòng tin,
người lợi căn thì thiên về hiểu biết. Và các thứ tướng
mạo, do trình độ tin tưởng, hiểu biết khác nhau cho nên
trong sự tu hành mỗi người lại hiện ra tướng mạo dáng
dấp khác nhau. Có người hành Bồ-tát đạo bằng cách tụng
kinh thuyết pháp; có người hành Bồ-tát đạo bằng cách bửa
củi, gánh nước... nghĩa là trong việc làm với tâm niệm
thượng cầu hạ hóa đều gọi là hành Bồ-tát đạo, đó
là những tướng mạo hiện ra bên ngoài.
Thấy
đức Phật Niết-bàn, và thấy sau khi đức Phật Niết-bàn,
Xá-lợi được dựng tháp cúng dường. Chừng ấy câu mà ta
thấy trong kinh đã diễn tả trọn cả một thời giáo hóa
của đức Phật, thấy cả y báo chánh báo của cả lục phàm,
tứ thánh.
Từ
lúc còn là một chúng sanh, ra đời, tu hành thành Phật, thuyết
pháp... đến khi Phật Niết-bàn..., tức cả một dòng thời
gian dài, nhờ hào quang của đức Phật mà thấy suốt tất
cả. Việc đó nói lên rằng chính ngay trong hào quang trung đạo
thật tướng, hiện đủ tất cả các tướng nhiểm và tịnh
của chúng sanh và chư Phật một cách bình đẳng. Từ chúng
sanh... đến chư Phật Niết-bàn cùng ở trong hào quang đó,
ý nói rằng trong tự tánh thanh tịnh tâm bình đẳng cũng hiện
đủ tất cả các việc nhiểm tịnh như vậy.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ Di Lặc Bồ-tát nghĩ rằng, nay đây, đức
Thế Tôn hiện tướng thần biến như vậy, vì nhân duyên gì
mà có điềm lành tốt đó? Đức Thế Tôn nay vào nơi Tam-muộI,
việc bất khả tư nghì hy hữu hiện ra đó, sẽ hỏi ai đây,
ai hay đáp được việc này?
Giải
thích: Đây là đoạn ngài Di Lặc nghi, thấy những cảnh như
vậy, ngài Di Lặc không biết vì nhân duyên gì mà đức Phật
hiện ra các điềm lành hy hữu như vậy và ai là người có
thể giải quyết mối nghi ấy? Đức Phật nhập định Tam-muội
rồi thì làm sao mà hỏi? Không thể hỏi Phật, vậy sẽ hỏi
ai? Ngài Di Lặc đang băn khoăn trong tâm.
Kinh
văn: Lại nghĩ rằng Văn-thù-sư-lợi là vị pháp vương tử
đã từng thân cận cúng dường vô lượng các đức Phật
quá khứ, chắc đã thấy được tướng hy hữu này, vậy ta
nay nên đến hỏi Văn-thù.
Giải
thích: Di Lặc là một vị Bồ-tát, Văn-thù cũng là một vị
Bồ-tát. Văn-thù là tiêu biểu cho đại trí, căn bản trí.
Còn Di Lặc đang dùng Duy thức quán phân biệt mà tu hành. Cảnh
giới ngài Di Lặc đang đối diện đây phải dùng đại trí,
căn bản trí như Văn Thù mới chứng nhập được, đem phân
biệt trí như Di Lặc thì không thể hiểu.
Di
Lặc là biểu thị cho tâm tư phân biệt, ý thức phân biệt,
đang còn thức chứ chưa phải trí. Bởi Di Lặc còn tu Duy thức
quán mà cảnh giới này không thể dùng thức để vào được
và Di Lặc chỉ có thể hỏi Văn Thù chỗ nghi của mình.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt,
Ưu-bà-di và các hàng thiên long quỶ thần... đều nghĩ rằng
tướng hào quang thần thông quang minh đức Phật phóng ra đó,
nay sẽ hỏi ai đây ?
Giải
thích: Đây là đoạn đại chúng nghi. Ngài Di Lặc mà còn nghi
huống hồ tứ chúng Tỳ-kheo... làm sao không nghi được!
Phật
từ Tam-muội, thân tâm bất động mà phóng ra hào quang, là
cốt khiến cho chúng sanh bỏ vọng về chơn, chuyển thức thành
trí. Ngặt vì hàng nhị thừa còn mang bệnh chấp chặt tam
thừa là thật, chưa tin nỗi đạo lý tam thừa là quyền mà
nhất thừa mới thật, nên Phật phóng hào quang làm phát khởi
tâm nghi rồi Di Lặc mới hỏi, nhờ Văn Thù giải quyết.
Kinh
Văn: Lúc bấy giờ Di Lặc Bồ-tát muốn tự quyết nghi, lại
quán xét tâm niệm của bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt,
Ưu-bà-di, và các hàng trời rồng, quỉ thần... mà hỏi Văn-thù-sư-lợi
rằng: Vì nhân duyên gì mà có tướng lành thần thông này?
Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một vạn tám ngàn cõi ở
phương Đông, khiến chúng đều thấy quốc độ trang nghiêm
của các đức Phật?
Bấy
giờ Di Lặc Bồ-tát muốn lặp lại nghĩa này mà dùng kệ
hỏi rằng: Văn-thù-sư-lợi đấng Đạo sư, vì cớ gì mà
hào quang lớn từ lông trắng ở giữa chân mày chiếu khắp?
Trời mưa hoa Mạn-đà, hoa Mạn-thù-sa, gió thơm mùi chiên đàn,
làm vui đẹp lòng của chúng hội. Do nhân duyên đó, quả đất
đều nghiêm tịnh mà thế giới này có sáu cách rung động.
Bấy giờ bốn bộ chúng, thảy đều vui mừng, thân ý thơ
thới được việc chưa từng có. Ánh sáng giữa chân mày,
chiếu suốt thẳng phương đông, một vạn tám ngàn cõi, thảy
đều trở thành ra sắc vàng, từ A-tỳ địa ngục đến Hữu-đảnh
thiên. Trong các thế giới đó, lục đạo chúng sanh sanh tử
đến nơi này nơi kia và các nghiệp duyên thiện ác của họ
và quả báo họ chịu hoặc tốt hoặc xấu, thảy đều trông
được cả. Lại thấy các đức Phật, Thánh chúa sư tử diễn
nói kinh điển vi diệu đệ nhất. Tiếng các Ngài trong trẻo,
buông ra những lời rất dịu ngọt, dạy vô số vạn ức các
Bồ-tát, phạm âm thâm diệu, khiến người vui nghe, đều ở
nơi các thế giới diễn nói chánh pháp, với nhiều nhân duyên
và vô lượng thí dụ, để soi sáng Phật pháp, khai ngộ cho
chúng sanh. Nếu người vì gặp khổ, nhàm chán sự già bệnh
chết, thời ngài vì họ nói cảnh Niết-bàn, để dứt hết
các khổ.
Giải
thích: Đức Phật dùng nhiều nhân duyên để giáo hóa. Đối
với người nào gặp khổ, nhàm chán sanh lão bệnh tử thì
Ngài nói cảnh giới Niết-bàn an lạc cho họ. Đây là cảnh
giới của hàng Thanh Văn. Hàng Thanh Văn tu hành mong cầu thoát
ly sanh lão bệnh tử, cho nên đức Phật nói pháp Niết-bàn
để họ tu hành dứt hết các khổ.
Kinh
văn: Còn nếu người có chút phước, từng cúng dường đức
Phật, chí cầu thắng pháp, thì Ngài nói pháp Duyên Giác.
Giải
thích: Hàng Thanh Văn quán về Khổ đế, trước hết dùng Khổ
đế làm đối tượng quán để tu hành giải thoát, cho nên
Thanh Văn thừa bằng vào sự nhàm chán sanh lão bệnh tử mà
tu. Còn duyên Giác thừa, duyên vào Đạo đế để tu, bởi
Duyên Giác thừa không bằng vào sự nhàm chán sanh lão bệnh
tử mà bằng vào lý nhân duyên của vạn pháp. Thí dụ: Thấy
một ngọn lá rơi, một dòng nước chảy, một ánh sao băng...
mà biết rằng tất cả sự vật là vô thường là nhân duyên
sanh mà ngộ đạo.
Kinh
văn: Hoặc có hàng Phật tử, tu bao nhiêu hạnh để cầu vô
thượng huệ thì Ngài sẽ nói Thanh tịnh đạo.
Giải
thích: Hàng Thanh Văn và Duyên Giác chỉ nhằm vào mục đích
hoặc là quán Khổ đế hoặc là quán Đạo đế mà tu hành.
Bồ-tát thì đa hạnh nên trong kinh gọi là chủng chủng (các
thứ) hạnh. Hàng Bồ-tát cầu vô thượng huệ, cho nên đức
Phật nói về Thanh tịnh đạo. Bởi vì đạo Bồ-tát so với
đạo Thanh Văn là thanh tịnh, nên gọi là Thanh tịnh đạo.
PHẦN
KINH VĂN
Kinh
văn: Thưa Văn-thù-sư-lợi, tôi ở nơi đây thấy nghe việc
như thế, và muôn ngàn việc khác như vậy rất nhiều. Nay
tôi sẽ lượt nói: Tôi thấy ở cõi nước kia, hằng sa các
Bồ-tát, bằng bao nhiêu nhân duyên để cầu Phật đạo. Hoặc
có người tu hạnh bố thí, đem vàng bạc, san hô, chơn châu,
ma ni, xa cừ, mã não, kim cương, và các đồ trân bảo cho đến
nô tỳ, xe cộ, nghiêm sức châu báu, hoan h› bố thí hồi
hướng đến Phật đạo nguyện được thừa này là đệ nhất
trong tam giới, được các đức Phật tán thán. Hoặc có hàng
Bồ-tát dùng xe báu tứ mã, và lan thuẩn, tràng hoa và đồ
trang sức để bố thí.
Giải
thích: Bố thí là một trong các nhân duyên tu Bồ-tát đạo.
Đoạn kinh trên đây là nói về việc bố thí ngoại tài, tức
tài sản ngoài thân thể như vàng bạc châu báu... dùng để
hồi hướng Phật đạo, mà hồi hướng Phật đạo tức hồi
hướng một thừa pháp đệ nhất trong tam giới. Đó là điều
đức Phật tán thán.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Bồ-tát dùng thân, thịt, tay chân, vợ
con bố thí để cầu vô thượng đạo. Lại thấy hàng Bồ-tát
vui vẻ bố thí cả đầu mắt thân thể để cầu trí tuệ
Phật.
Giải
thích: Đây là bố thí nội tài. Nội tài gồm hai phần: Thân
và mạng. Đoạn kinh trên là nói về bố thí thân như xẻo
thịt, cắt tay... chứ chưa chết. Ví như trong kinh nói về
tiền thân của đức Phật đã từng cắt thịt mình đề chuộc
mạng cho một con bồ câu. Đó là bố thí thân. Còn bố thí
mạng như trong kinh nói đức Phật đã từng xả thân mình
để cứu bầy cọp đói. Bố thí thân mạng là một việc
khó làm, tuy nhiên cũng có thể thực hiện được. ví như
có người cần một ít máu để sống, ta đem cho họ, đó
cũng là một cách bố thí thân mạng. Đoạn trên là nói về
bố thí Ba-la-mật.
Kinh
văn: Thưa Văn-thù-sư-lợi, tôi thấy các vua ở nước đó,
đi đến chỗ các đức Phật, hỏi đạo lý vô thượng, liền
bỏ cõi nước sung sướng, cung điện tôi hầu, cắt bỏ râu
tóc mà mặc pháp phục.
Giải
thích: Đây là tu về Trì giới Ba-la-mật.
Kinh
văn: Hoặc thấy hàng Bồ-tát làm Tỳ-kheo, ở riêng một mình
nơi nhàn tịnh vui ưa đọc tụng kinh điển.
Giải
thích: Đây là tu về hạnh Nhẫn nhục Ba-la-mật.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Bồ-tát dũng mãnh tinh tấn, vào nơi núi
sâu suy nghĩ về Phật đạo.
Giải
thích: Đây là tu về hạnh Tinh tấn Ba-la-mật.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Bồ-tát ly dục, thường ở chỗ nhàn
tịnh tu tập về thiền định, được năm thứ thần thông.
Giải
thích: Đây là tu về Thiền định Ba-la-mật.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Bồ-tát an thiền, chắp tay, dùng trăm
ngàn bài kệ, tán thán đấng Pháp vương.
Giải
thích: Đây cũng là tu về Thiền định Ba-la-mật.
Kinh
văn: Lại thấy có hàng Bồ-tát trí tuệ sâu xa, ý chí bền
chắc năng hỏi các đức Phật, nghe rồi thọ trì.
Giải
thích: Đây là tu về Trí tuệ Ba-la-mật.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Phật tử, Định Tuệ đầy đủ, dùng
vô lượng thí dụ, vì chúng giảng pháp, vui vẻ diễn bày,
giáo hóa các Bồ-tát, phá trừ chúng ma binh mà đánh trống
pháp.
Giải
thích: Trước tu hành Lục độ đó là tự hành Lục độ,
đoạn này là nói Định Tuệ đầy đủ, đánh lên tiếng trống
pháp cho các hàng Bồ-tát nghe. Đây là nói về hạnh lợi tha.
Kinh
văn: Lại thấy các hàng Bồ-tát tịch nhiên yên mặc, được
trời rồng cung kính mà không cho là vui mừng.
Giải
thích: Đây là nhập về xả thiền, trong khi tịch mặc như
vậy được hàng trời rồng đến cúng dường, không chấp
theo sự cúng dường đó mà vui mừng tức là xả.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Bồ-tát ở trong rừng phóng quang để
cứu giúp các sự khổ ở khắp các địa ngục, khiến họ
được vào Phật đạo.
Giải
thích: Đây là nhập về Bi thiền, tức nhập vào thiền định
với tâm bi phóng hào quang đến chỗ u tối ở địa ngục
mà cứu vớt chúng sanh nơi đó.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Phật tử, chưa từng ngủ nghỉ, kinh hành
ở núi rừng, siêng năng cầu Phật đạo.
Giải
thích: Tu hạnh lục độ có hai cách: Đoạn trước là nói
về thứ đệ hành lục độ, nghĩa là hành lục độ theo thứ
lớp, từ bố thí, trì giới... cho đến trí tuệ. Đoạn này
cũng nói về lục độ nhưng lục độ đây là vô phương hành
lục độ, tức cần trì giới thì trì giới, cần nhẫn nhục
thì nhẫn nhục... không theo thứ tự trước sau.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Phật tử, đầy đủ giới đức oai nghi
không khuyết, thanh tịnh như châu báu để cầu Phật đạo.
Lại
thấy hàng Phật tử, trú trong sức nhẫn nhục, bị những
người tăng thượng mạn đánh đập mắng nhiếc, thảy đều
hay nhẫn chịu, để cầu Phật đạo.
Lại
thấy hàng Bồ-tát xa lìa đùa giởn và quyết thuộc ngu si,
mà thân cận kẻ trí, nhất tâm trừ loạn, nhiếp niệm trong
rừng sâu để cầu Phật đạo.
Giải
thích: Duyên của thiền định là xa lìa sự chơi giởn, chơi
giởn làm loạn tâm khó mà nhập định. Si quyến thuộc tức
quyến thuộc dắt vào đường sai trái mê lầm, đồng thời
phải thân cận kẻ trí thì tâm mới khỏi loạn động để
nhập định.
Kinh
văn: Hoặc thấy hàng Bồ-tát dùng những món ăn ngon lành,
trăm thứ thuốc thang để cúng Phật và Tăng. Hoặc dùng danh
y thượng phục giá trị ngàn vàn, hoặc là y vô giá để cúng
Phật và Tăng. Hoặc dùng trăm ngàn ức thứ chiên đàn, nhà
báu và những ngọa cụ tốt đẹp để cúng Phật và Tăng.
Lại
dùng vườn rừng thanh tịnh, hoa quả tươi tốt, suối trong
tắm rửa, để cúng Phật và Tăng.
Những
sự bố thí nhiệm mầu như vậy mà vẫn luôn luôn hoan hỶ
không nhàm chán để cầu vô thượng đạo.
Hoặc
có hàng Bồ-tát nói pháp tịch diệt, dùng bao nhiêu lời để
giáo huấn vô lượng vô số chúng sanh.
Giải
thích: Tịch diệt pháp tức pháp đưa về tịnh diệt, pháp
đưa về giải thoát, pháp làm cho chúng sanh xả trừ phiền
não đưa về vắng lặng.
Kinh
văn: Hoặc thấy hàng Bồ-tát, quán các pháp tánh, không có
hai tướng, giống như hư không.
Giải
thích: Quán pháp tánh không có hai tướng tức là thật tướng
vô tướng. Như đã nói, nếu cứ chấp từng tướng như cái
tướng viên phấn, tướng cái nồi... thì những tướng đó
sẽ chướng ngại nhau. Nhưng nếu từ các tướng sai biệt
mà nhận thấy được thật tướng vô tướng đó là đất
thì nó không chướng ngại nhau. Đất không chướng ngại cái
chén, cái chén không chướng ngại viên phấn đó là thật
tướng vô tướng, nhất như bình đẳng. Sở dĩ chúng ta không
dựa vào tướng giả dối để mà nhận ra thật tướng vô
tướng, cho nên tâm cứ dấy lên những phân biệt, những phiền
não, không vượt qua được những giả tướng đó.
Quán
các pháp tánh không hai tướng giống như hư không, vì hư không
bình đẳng, hư không không hai, cho nên hư không không đối
chọi, cái gì cũng có thể hiện ra trong hư không hết mà hư
không không hề chướng ngại.
Kinh
văn: Lại thấy hàng Phật tử, tâm không chấp trước, bằng
diệu huệ nầy để cầu vô thượng đạo.
Thưa
Văn-thù-sư-lợi, lại có hàng Bồ-tát, sau khi Phật diệt độ,
cúng dường Xá-lợi Phật. Lại thấy hàng Phật tử tạo tháp
miếu vô số hằng sa trang sức nơi cõi nước, tháp Phật rất
cao đẹp, đến năm ngàn do tuần, rộng, ngang, cao bằng nhau
tới hai ngàn do tuần, mỗi mỗi tháp miếu ấy đều có hàng
ngàn phan cái và châu báu xen nhau lẫn lộn. Những linh báu
rung lên, các hàng trời rồng, thần nhơn và phi nhơn, dùng
hương hoa kỶ nhạc để cúng dường tháp Phật.
Thưa
Văn-thù-sư-lợi, các Phật tử đó vì cúng dường Xá-lợi,
nghiêm sức tháp miếu, cả cõi nước tự nhiên trở thành
thù đặc tốt đẹp, giống như cây thiên thọ vương nở đầy
hoa. Phật phóng một hào quang mà tôi và cả đại chúng thấy
bao nhiêu điều đặc biệt thù diệu ở cõi nước đó.
Giải
thích: Phật phóng có một hào quang mà thấy đủ cả, như
vậy hào quang đó là hào quang gì? Hào quang đó là hào quang
Phật tri kiến, mà trong Phật tri kiến thì tất cả các tướng
đều hiện ra bình đẳng, từ địa ngục A-tỳ cho đến trời
Sắc cứu cánh; từ việc chúng sanh tác thiện, tác ác, cho
đến việc Phật ra đời, thuyết pháp, giáo hóa, nhập Niết-bàn,
xây tháp cúng dường... Tất cả mọi pháp đều từ nơi bản
tánh hiện ra. Tất cả mọi pháp đều từ nơi một hào quang
hiện ra. Một đối với nhiều kia, thành ra một này là thật
tướng mà nhiều kia là sai biệt tướng. Ví dụ: Đất là
một, còn bình, chén...là nhiều. Cái nhiều đó từ cái một
mà ra, không ngoài một mà có nhiều, không ngoài một hào quang
của Phật mà có các tướng kia hiện, không ngoài một nhất
tâm của chúng sanh mà có các tướng nhiểm tịnh hiện ra.
Nhưng tất cả các tướng từ nhất tâm hiện ra ấy vì sao
Phật thấy được mà chúng ta không thấy được? Bởi Phật
thấy được tất cả các tướng từ nhất tâm hiện ra, cho
nên, Phật có thể từ nơi tâm mà hiện ra đủ tất cả các
pháp, còn chúng sanh vì không nhận được cái đó nên đắm
vào trong từng tướng một rồi chấp từng tướng một mà
không thấy được tất cả. Ví như, nếu ta chỉ thấy viên
phấn là viên phấn, cái bình là cái bình, rồi chấp vào cái
bình, viên phấn ấy, thì không thấy được thật tướng của
cái bình, viên phấn là gì, và như vậy ta chỉ sống chết
với cái bình, viên phấn mà thôi, không làm sao đem viên phấn
mà làm cái chén, đem cái chén mà làm cái bình được. Nhưng
khi đạt đến thật tướng của phấn, bình chỉ là đất
thì bấy giờ ta đủ khả năng từ nơi đất nắn ra chén bình...
Nhưng mà, khi đạt được thì mới như vậy, khi chưa đạt
thì không như vậy, thành ra lý mê và ngộ giữa Phật và chúng
sanh chỉ chừng ấy. Chúng sanh mê là mê cái điều Phật ngộ.
Phật ngộ là ngộ cái điều chúng sanh mê. Mê là vì không
đạt được thật tướng, cứ chấp vào tướng bình, tướng
phấn mà không thấy được bình hay phấn gì cũng từ nơi
một thật tướng đất. Nên một hào quang, một này vô cùng
ý nghĩa, một là vô lượng vậy. Phật chỉ phóng có một
hào quang thôi mà ngài Di Lặc và đại chúng thấy khắp tất
cả.
Kinh
văn: Thần lực của các đức Phật, trí tuệ của các đức
Phật quá hy hữu, chỉ phóng một hào quang thanh tịnh mà soi
ra vô lượng quốc độ. Chúng tôi được thấy việc chưa
từng có.
Thưa
Phật tử Văn Thù, xin hãy giải quyết điều nghi nan. Cả bốn
chúng đều cung kính ngưỡng mong nhơn giả vì tôi nói rõ.
Đức Thế Tôn vì cớ gì mà phóng hào quang ấy?
Thưa
Phật tử Văn Thù, đã đúng thời nên đáp, để giải cái
nghi cho chúng vui mừng. Có ích lợi gì mà đức Phật phóng
ra hào quang đó, vì muốn nói pháp vi diệu mà đức Phật chứng
được nơi đạo tràng, hay là Phật sắp thọ ký? Việc hiện
bày các cõi Phật và các châu báu trong sạch trang nghiêm và
thấy các đức Phật như vậy, không phải là nhân duyên nhỏ.
Văn-thù ngài nên biết, cả bốn chúng long thần đều chiêm
ngưỡng và quán sát nhân giả, xin hãy nói cho biết những
điều gì như thế?
Bấy
giờ ngài Văn-thù-sư-lợi nói với Di Lặc Bồ-tát Ma-ha-tát
và các đại sĩ rằng: Các thiện nam tử, theo chỗ tôi suy
nghĩ, nay đức Thế Tôn muốn thuyết đại pháp, mưa trận
mưa đại pháp, thổi loa đại pháp, đánh trống đại pháp,
diễn nghĩa đại pháp.
Giải
thích: Đây là Bồ-tát Văn Thù đáp lời Di Lặc và đại chúng
rằng theo chỗ ngài nghĩ, đức Phật sắp nói đại pháp. (Đại
pháp hay Đại thừa). Đại có bảy nghĩa:
1.
Cảnh đại: Cảnh giới của hàng Bồ-tát chứng ngộ là cảnh
giới rộng lớn, tức là cảnh giới vô tướng thật tướng,
cảnh ly nhị biên, vô ngã. Hàng nhị thừa chỉ biết có sanh
không, đó là cảnh giới của họ. Còn nhị không chơn như
là cảnh giới Đại thừa nên nói cảnh đại.
Thế
nào là cảnh? Cảnh lả nơi thân mình nương trên đó, bước
đi trên đó, thân có chỗ đi thì tâm cũng có chỗ đi của
tâm nên cũng gọi là cảnh. Chỗ đi của tâm nhị thừa là
nhơn vô ngã, còn chỗ đi của tâm Đại thừa là pháp nhị
không chơn như, chỗ đi của tâm chúng sanh là chấp Ngã, nhơn,
chúng sanh, thọ giả, danh tướng. Hàng Bồ-tát thì đi trên
cảnh giới vô tướng.
2.
Trí đại: Cảnh đã lớn thì trí phải lớn, cảnh đã vô
ngã thì trí phải vô ngã.
3.
Hạnh đại: Trí đã lớn phát ra hạnh cũng phải lớn. Hạnh
tự lợi, lợi tha.
4.
Tinh tấn đại: Sự tinh tấn bền vững, kiên cố. Tu một giờ
cũng như tu một năm, cũng như tu ba A-tăng-kỳ không lay chuyển,
không thối lui, không chán nãn.
5.
Thiện xảo phương tiện đại: Tùy theo căn cơ, trình độ
của chúng sanh mà làm việc, nói những pháp ích lợi để
dẫn dắt họ một cách khéo léo.
6.
Chứng đại: (Cứu cánh đại). Do sự tu hành như trên mà đưa
đến kết quả chứng ngộ căn bản thật trí.
7.
Nghiệp dụng đại: Do chứng đại mà kiến lập Phật sự
lớn lao.
Đức
Thế Tôn thuyết đại pháp, đại pháp đó được ví như một
trận mưa lớn. Trận mưa lớn đó sẽ làm tươi nhuận tâm
niệm khô khan của hàng nhị thừa mà Đại thừa gọi là "khôi
thân diệt trí", nghĩa là họ chỉ tự lợi, tâm từ bi khô
khan, hạnh lợi tha hạn hẹp, như một chồi khô, bây giờ
mưa một trận mưa đại pháp làm cho những ý chí khô này
tươi lên, chí nguyện Đại thừa sống dậy, nứt chồi.
Thổi
loa đại pháp tức là gom tất cả chí nguyện về một mục
đích duy nhất là Phật thừa đạo. Ví như thổi còi thì mọi
người tập nhóm lại. Và đánh trống đại pháp nghĩa là
thúc chí nguyện lợi tha, chí nguyện hành Bồ-tát đạo ấy
xông lên...
Đoạn
trên đây là ngài Văn-thù trả lời theo sự suy tư của ngài.
Bây giờ ngài dẫn chứng.
Kinh
văn: Các thiện nam tử, đối với quá khứ các đức Phật,
tôi đã từng thấy các điềm lành đó. Sau khi phóng ra hào
quang rồi tức thì Phật nói pháp lớn, thế cho nên tôi biết
rằng đức Phật nay đây hiện phóng hào quang cũng lại như
vậy. Phật muốn cho chúng sanh đều được nghe, được biết
các pháp mà tất cả thế gian rất khó tin, cho nên hiện điềm
lành này.
Giải
thích: Trong việc hiện điềm lành của đức Phật cũng có
ý là khiến cho chúng hội phát khởi một lòng tôn trọng cung
kính trước khi nghe Phật nói pháp. Vì sao? Vì pháp mà Phật
sắp nói đó là một pháp khó tin.
Kinh
văn: Này các thiện nam tử, như quá khứ vô lượng vô biên
bất khả tư nghì A-tăng-kỳ kiếp. Lúc bấy giờ, có đức
Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh
biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô Thượng
sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn,
diễn nói Chánh pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa
lý thâm thúy sâu xa, lời nói xảo diệu thuần nhất không
tạp xen, đầy đủ tướng thanh bạch phạm hạnh.
Giải
thích: Đây là đoạn ngài Văn Thù dẫn chứng đức Phật Nhật
Nguyệt Đăng Minh trong quá khứ vô lượng vô biên A-tăng-kỳ
kiếp.
Nên
biết, trong kinh Đại thừa, nhãn quan về vũ trụ, không và
thời gian là xứng tánh mà nói chứ không nói theo tướng phân
biệt chấp trước của tâm lý thông thường, nên nói cái
gì cũng là vô lượng vô biên. Bởi vì nói từ tâm niệm thì
thật ra, ngay từ một tâm niệm mà cũng vô thỉ vô chung, ngay
từ một tâm niệm mà cũng vô lượng vô biên...
Vì
sao thành thỉ? Vì sao thành chung? Vì sao thành trước, sau...?
Nêu một cực vi là một cực vi thì chẳng có cái nào trước
cái nào sau. Nhưng chồng thêm trước một cực vi sau một cực
vi thì tự nhiên cực vi này nằm giữa. Như vậy, không gian
cực vi này nằm giữa này có đúng là giữa hay không? Nếu
chỉ có một cực vi thì có giữa hay không? Thế nhưng, vì
cái mê chấp của chúng sanh theo nghiệp thức mà nói có trước
có sau. Nhưng sự thật của sự vật thì không trước không
sau... Cho nên trong kinh nói không thỉ, không chung, không trung,
không biên cũng là để dạy chúng ta xả trừ tâm niệm chấp
trước nhị biên.
Mà
chính ngay câu Quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì
cũng là một công án thiền. Nếu ngay câu nói đó ta rời bỏ
được tâm niệm nhị biên phân biệt thì cũng chính ngay lúc
đó ta ngộ được thật tánh của vạn pháp không thỉ không
chung vậy.
Đức
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tức là chỉ cái tự giác thanh
tịnh tâm chiếu sáng khắp tất cả.
Ánh
sáng của thế gian không ngoài ba thứ: Mặt trời, mặt trăng
và đèn. Ban ngày có mặt trời, ban đêm có mặt trăng và chỗ
nào mặt trời, mặt trăng không chiếu sáng được thì có
đèn. Ba thứ này là nguồn gốc của ánh sáng, ngoài ra không
có gì tạo nên cái sáng được. Để nói rằng đức Phật
Nhật Nguyệt Đăng Minh là nguồn gốc của áng sáng, mà ánh
sáng đây là ánh sáng của bản giác thanh tịnh diệu tâm,
mà bản giác thanh tịnh diệu tâm này đâu có bị không gian,
thời gian ràng buộc nên nói vô lượng vô biên A-tăng-kỳ
kiếp.
Đức
Phật Nhật nguệt Đăng Minh có đủ 10 hiệu:
1.
Như Lai: Tathagata. Theo như trong kinh Thanh Tịnh tập 4, Trường
Bộ ( Dìgha Nikàya) có đoạn nói về hai chữ Như Lai như sau:
"...Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không
thật, không có lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda
nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, không
có lợi ích, thì Như Lai cũng không trà lời. Này Cunda, nếu
những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, có lợi
ích, Như Lai biết, trả lời câu hỏi ấy một cách vắng tắt.
(Pháp vị lai, hiện tại cũng vậy). Như vậy, này Cunda, đối
với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị
nói phải thời, nói chân chánh, nói như thật, nói có lợi
ích, nói đúng pháp, nói đúng luật. Do vậy mới gọi là Như
Lai. Này Cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương,
Phạm thiên... và loài Người những gì được thấy, nghe,
cảm giác, phân biệt đạt đến, tìm cầu, suy đạt với ý,
tất cả đều được Như Lai biết rõ. Do vậy mới gọi là
Như Lai. Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác và đêm Như Lai nhập Vô-dư
Niết-bàn giới, trong thời gian ấy những gì Như Lai nói, trong
khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như
vậy không có gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai.
Trong
Tăng Chi tập IIA trang 33 cũng có định nghĩa:
"Trong
toàn thế giới chư Thiên... Như Lai là bậc chiến thắng, không
bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại. Do vậy
được gọi là Như Lai.
Trí
Độ luận tập I trang 51 cũng có định nghĩa:
"Như
pháp tướng (Như) mà hiểu (Lai): Như pháp tướng (Như) mà
giảng thuyết (Lai), như con đường an ổn của chư Phật (Như)
mà đến (Lai) nên gọi là Như Lai. Hay nói gọn, Như Lai là
đến như vậy, đi như vậy. (Như pháp tướng giải, như pháp
tướng thuyết, như chư Phật lai)".
Thập
Trụ Tỳ-bà-sa I nói về Như Lai như sau:
Như
danh thật, Lai danh chú, chí chân thật (Niết-bàn) trung, cố
danh Như Lai ("Như" là "Thật", "Lai" là "Đến". Đến trong như
thật gọi là Như lai.
"Như
danh bất hoại tướng (chư pháp thật tướng, (Lai danh trí
tuệ, đáo thật tướng trung thông đạt kỳ nghĩa, danh Như
Lai ("Như" là "bất hoại tướng" (chư pháp thật tướng); "Lai"
là "Trí tuệ". Trí tuệ thông suốt thật tướng gọi là Như
Lai.)
"Không,
vô tướng, vô tác, danh Như; chư Phật lai chí tâm giải thoát
môn, diệc linh chúng sanh đáo thử môn, danh Như lai". (Không,
vô tướng, vô tác là "Như", đạt đến trong ba môn giải thoát
và cũng khiến cho chúng sanh đạt đến ba môn giải thoát ấy
gọi là "Như Lai.")
"Như
danh Tứ đế, lục độ, dĩ tứ lục pháp lai chú Phật địa,
danh Như Lai (Như là Tứ đế, lục độ, dùng pháp Tứ đế,
lục độ để chứng đắc địa vị Phật, gọi là Như Lai).
Thành
Thật Luận nói:
"Thừa
như thật đạo, lai thành Chánh giác" (Nương vào đạo như
thật (Như) chứng thành bậc Chánh giác (lai).
Trong
luận Chuyển Pháp Luân nói:
"Niết-bàn
danh Như, Tri giải danh Lai, Chánh giác Niết-bàn, cố danh Như
Lai" (Niết-bàn là "Như", Tri giải là "Lai", Chánh giác Niết-bàn
gọi là Như lai.
Kinh
Thắng Man Bảo Khốt nói:
Thế
Như Khi lai, như chư Phật lai" (Thể theo "Như" mà đến (lai),
giống như chư Phật mà đến "Lai").
Hành
Tôn Ký Thượng nói:
"Thừa
như thật pháp xuất hiện lợi sanh, tức thừa như nhi lai"
(Nương vào thật pháp (Như) thị hiện ra đời thuyết pháp
độ sanh (Lai). Tức thừa "Như" mà đến (Lai).
Câu
"Thừa như thật đạo lai thành Chánh giác" là chỉ cho báo
thân Như Lai.
Câu
"Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết" cũng chỉ
cho Báo thân Như Lai.
Câu
"Như chư Phật lai" chỉ cho Hóa thân Như Lai.
Trong
kinh Kim Cang cũng định nghĩa:
"Như
Lai giả, thị chư pháp như nghĩa" (Như lai là cái nghĩa như
thật của các pháp).
Hay
câu: "Như lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh
Như Lai." (Như Lai là không từ đâu đến cũng không đi đến
đâu nên gọi là Như Lai.
Hai
câu này là Như Lai pháp thân. Vì vậy nên trong kinh Kim Cang
nói "Nhược dĩ sắc kiên ngã, dĩ âm thanh cầu ngã..." Đó
là Như Lai pháp thân. Bởi Như Lai pháp thân thì ly tướng,
Như Lai không ở nới âm thanh, sắc tướng mà chúng sanh chấp
vào âm thanh, sắc tướng để cầu được Như lai pháp thân
thì làm sao thấy được. Pháp thân là vô tướng mà cứ dùng
tướng để cầu tìm Như Lai nên trong kinh gọi đó là tà đạo.
2.
Ứng cúng: Tức là một trong ba nghĩa của A-la-hán. A-la-hán:
Vô sanh, phá ác, Ứng cúng.
3.
Chánh biến tri: Còn gọi là Chánh biến giác, Chánh đẳng giác.
Chánh tức là không tà, biến là cùng khắp. Khi nói đức Phật
chánh biến tri là nói Ngài có cái biết đúng như thật và
cùng khắp. Biết đúng như thật nên khác ngoại đạo, cùng
khắp nên khác Nhị thừa và Bồ-tát.
4.
Minh hạnh túc: Minh là tam minh (Túc mạng, thiên nhãn và lậu
tận). Hạnh là lục độ vạn hạnh. Đầy đủ cả minh, trí,
hạnh gọi là minh hạnh túc.
5.
Thiện thệ: Khéo đi qua. Trong con đường sanh tử khéo ra khỏi,
ngay trong trần lao mà giải thoát trần lao, ngay trong sanh tử
mà thoát khỏi sanh tử. Trở vào đường sanh tử hóa độ
chúng sanh mà không bị vấp vướng, không bị trở ngại.
6.
Thế gian giải: Thế gian có hai thứ: Hữu tình thế gian (thuộc
chánh báo) và Khí thế gian (thuộc y báo). Đức Phật hiểu
rõ cả y báo và chánh báo của thế gian nên gọi là Thế gian
giải.
7.
Vô thượng sĩ: Đấng Vô thượng không ai bằng.
8.
Điều ngự trượng phu: Đấng điều ngự được chúng sanh
mê lầm.
9.
Thiên nhân sư: Thầy của trời, người.
10.
Phật: Đấng giác ngộ. Phật Địa luận nói: "Tự khai giác
cũng khai giác tất cả chúng sanh về tất cả pháp, tất cả
tướng như ngủ mong thức dậy, như hoa sen trở, nên gọi là
Phật. Đủ mười hiệu như vậy gọi là Thế Tôn. Thế Tôn
là danh từ tổng quát, đủ 10 hiệu đó là một bậc tôn quý
của cả trời người, thế, xuất thế gian, nên gọi là Thế
Tôn. Đây là tán thán Phật đủ 10 hiệu.
"Đức
Phật diễn ra Chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện
nghĩa lý thâm viễn, lời lẽ nhiệm mầu, thuần nhất vô tạp,
đầy đủ phạm hạnh".
Thế
nào gọi là Chánh pháp của Phật? Chánh pháp của Phật đầy
đủ 7 tánh chất tốt lành sau đây: Sơ thiện, trung thiện,
hậu thiện, nghĩa lý thâm thúy cao xa, ngôn từ khéo léo nhiệm
mầu, thuần nhất vô tạp, đầy đủ tướng phạm hạnh thanh
tịnh.
Sao
gọi là Sơ, Trung, Hậu thiện? Đức Phật nói pháp đầu tiên,
giữa, sau rốt đều thiên, Phật ví dụ giáo pháp của Ngài
như một cục đường, ngoài, trong giữ đều ngọt. Pháp Phật
đầu tiên thuyết về giới là sơ thiện, bước đầu của
Chánh pháp; kế đó Ngài nói về Định là trung thiện, trung
tâm của Chánh pháp, sau nói về Tuệ là hậu thiện, kết quả
của Chánh pháp. Hay sơ thiện là tin giải, trung thiện là thực
hành, hậu thiện là thật chứng.
Sao
gọi là nghĩa lý thâm viễn, ngôn từ tốt đẹp, áo diệu,
thuần nhất? Thiên kinh vạn quyển đối với kẻ sơ học thì
thấy có vẻ mông lung, mâu thuẩn, nhưng nếu nắm được phần
tinh hoa cốt tủy thì lời Phật dạy thần nhất vô tạp, sâu
kín, siêu lý luận, phải đến để mà thấy, lời lẽ đôn
hậu giản dị mà súc tích siêu thoát.
Và
đầy đủ tướng thanh tịnh phạm hạnh có nghĩa là ai thực
hành được pháp hạnh đó thì đều thành tựu được tướng
thanh bạch phạm hạnh. Đầy đủ bảy tánh cách như vậy thì
gọi là Chánh pháp của Phật. Đây là tán thán Chánh pháp
có đủ bảy đức.
Kinh
văn: Đức phật vì hạng cầu Thanh văn, nói Pháp Tứ đế
(1), độ thoát sanh, lão, bệnh, tử, cứu cánh Niết-bàn. Vì
hạng cầu Bích chi Phật, nói pháp Mười hai nhân duyên (2).
Vì hàng Bồ-tát, nói lục Ba-la-mật, khiến chứng quả vô
thượng Bồ-đề thành bậc Nhất thiết chủng trí.
Lại
nữa, có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, tiếp
có đức Phật cũng gọi Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như vậy tiếp
tục hai vạn đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng
Minh, lại đồng một tánh Phả-la-đọa (lợi căn). Di Lặc
nên biết, đức Phật đầu, đức Phật sau đồng một danh
từ Nhật Nguyệt Đăng Minh, 10 hiệu đầy đủ, pháp của Ngài
nói sơ, trung, hậu đều thiện.
Giải
thích: A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-Bồ-đề (dịch âm từ chữ
Anutara samma sambuddhi: Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác).
Chữ
này cũng có ngài dịch âm: Tam-da-tam-bồ hoặc Tam-da-tam Phật.
Hai
vạn đức Phật cũng đồng một tên Nhật Nguyệt Đăng Minh,
như đã trình bày, Nhật Nguyệt Đăng Minh để tiêu biểu giác
tánh sáng suốt như ba thứ nguồn gốc ánh sáng của thế gian
gom lại. Tất cả các đức Phật thành Phật, đức Phật nào
cũng phải thành tựu đức tánh viên mãn đó hết nên đức
Phật nào cũng có tên Nhật Nguyệt Đăng Minh. Đây là tên
chung như danh tử Phật vậy.
Thứ
nữa, trong kinh Đại Thừa, đức Phật cho thấy rằng thời
gian, không gian là không thật và phần nhiều kinh Đại thừa
dựa vào tướng để hội tánh. Chỉ vật truyền tâm, nhân
bất hội xứ. Như Ngài Liễu Quán tham vấn với Ngài Tử Dung
câu: "Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ", tám chín năm mà
không ngộ. Nhân một hôm đọc Ngữ lục, trong đó có câu
"Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ", Ngài liền ngộ.
Vậy,
thế nào là chỉ vật truyền tâm? Truyền tâm, tâm vô hình
thì lấy gì để truyền? Chỉ vật là ngộ tâm chứ không
phải ngộ vật, đó là chỗ khó lãnh hội được, mà khi lãnh
hội được tức giác ngộ. Như có người đến hỏi ngài
Triệu Châu: -Phật ở đâu? Ngài nói: -Phật trong chùa. Người
ấy nói: -Trong ấy đều là tượng bằng đất, bằng gỗ cả
mà. Ngài nói: -Chính vậy. Người ấy hỏi: -Vậy thì Phật
ở đâu? Ngài nói: -Phật trong chùa." Chỉ vật truyền tâm.
Cũng
chừng ấy, mà với tâm bậc ngộ đạo thì đó là Phật, kẻ
chưa ngộ thì đó là tượng gỗ. Cũng như chúng ta lạy Phật,
nếu không phải lạy về tánh Phật thì chúng ta cũng kẹt
mắc về lạy tượng đất. Nhưng chúng ta đâu có lạy tượng
đất mà là lạy tánh giác ngộ của Phật. Đức tánh của
Phật được tiêu biểu trong đó. Đó là ý nghĩa câu "Chỉ
vật truyền tâm". Sở dĩ hai vạn đức Phật mà có cùng một
hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh là chính do ý nghĩa đó.
Kinh
văn: Trong hai vạn đức Phật đó, đức Phật rốt cùng hết,
khi chưa xuất gia có tám vương tử, người thứ nhất tên
Hữu Ý..., tám vị vương tử này oai đức tự tại, đều
quản lãnh bốn châu thiên hạ. Khi các vị vương tử nghe vua
cha xuất gia chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề
thì cũng bỏ ngôi vua xuất gia theo cha, phát chí Đại thừa,
thường tu phạm hạnh, đều làm vị Pháp sư, từng trồng
căn lành nơi hằng ngàn vạn các đức Phật.
Giải
thích: Đây là đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau cùng,
đức phật này có tám vương tử. Khi tám vương tử nghe vua
cha xuất gia chứng đại Bồ-đề thì cũng bỏ ngôi vua xuất
gia tu phạm hạnh, làm Pháp sư và đã gieo căn lành với ngàn
vạn đức phật.
Tám
vương tử này có thể tiêu biểu cho tám thức. Bởi vì chưa
thành Chánh giác thường có tám thức hiện hành, tám thức
này chủ động đời sống của chúng sanh, chúng sanh sống
với tám thức chứ chưa sống với trí giác ngộ. Khi chuyển
thức thành trí tức vương vị bỏ, và hành động của tám
thức chuyển đổ hết mà bỏ thức hư vọng để thành tựu
Đại giác. Khi chuyển tám thức thành trí tức là Lúc phát
chí Đại thừa tu phạm hạnh, làm Pháp sư. Tám vị vương
tử này là chúng hội của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, đây
cũng là câu nói tóm tắt để đối chiếu với đức Phật
Thích Ca, trước khi thuyết pháp đức Phật Thích Ca cũng quy
tụ chúng hội...
Ngài
Văn Thù dẫn điều này để chứng tỏ rằng, xưa kia đức
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh hiện ra đời, thuyết pháp...
cũng có những thụy tướng giống như ngày hôm nay. Sau khi
hiện những thụy tướng đó thì đức Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa, vậy thì hôm nay đức
Phật Thích Ca cũng hiện ra những thụy tướng như vậy, chắc
chắn rằng đức Phật Thích Ca cũng sẽ thuyết kinh Diệu Pháp
Liên Hoa.
Đây
là lời dẫn chứng của ngài Văn-thù-sư-lợi. Trước khi Ngài
đáp theo sự suy nghĩ của Ngài. Bây giờ Ngài dẫn chứng thật
rằng đức Phật Thích Ca sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa giống
như đức Nhật Nguyệt Đăng Minh trước kia vậy. Đó là phần
duyên khởi cho kinh Pháp Hoa vậy.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh
Đại thừa tên Vô lượng nghĩa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát
được chư Phật hộ niệm.
Khi
nói kinh đó rồi, liền ở giữa đại chúng, ngồi kiết già
nhập định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động.
Lúc bấy giờ, trời mưa hoa Mạn-đà-la (lược)... mà rải
trên Phật cùng đại chúng, khắp thế giới Phật dều có
sáu cách rung động. Lúc bấy giờ ở trong chúng hội hàng
Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni (lược)..., các đại chúng ấy gặp việc
chưa từng có, hoan hỶ chấp tay nhất tâm chiêm ngưỡng đức
Phật. Lúc bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng
hào quang từ nơi tướng lông trắng ở giữa hai chân mày,
chiếu về phương Đông một vạn tám ngàn Phật độ, đều
cùng khắp hết, như hôm nay thấy các Phật độ ấy.
Giải
thích: Như trước, hào quang của đức Phật Thích Ca phóng
ra chiếu khắp trong đó thấy cả lục thú chúng sanh, Phật
ra đời, thuyết pháp... và Niết-bàn như thế nào thì giờ
đây, nơi hào quang của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh
phóng ra cũng thấy như thế.
Kinh
văn: Di Lặc nên biết, lúc bấy giờ trong hội chúng có hai
mươi ức Bồ-tát muốn nghe pháp, các vị Bồ-tát đó thấy
hào quang rực rỡ khắp cõi nước Phật chưa từng có, đều
muốn biết hào quang đó vì do nhân duyên gì. Lúc bấy giờ
có vị Bồ-tát tên Diệu Quang, vị này có tám trăm đệ tử.
Khi đó đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ Tam-muội vô
lượng nghĩa mà xuất định, nhân vì Diệu Quang Bồ-tát nói
kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ-tát
được chư Phật hộ niệm.
Giải
thích: Hội chúng thấy đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng
quang liền sanh nghi. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi
xuất định liền nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Kiên Hoa, hôm
nay đức Thích Ca phóng hào làm hội chúng sanh nghi, vậy sau
khi xuất định chắc Ngài cũng sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên
Hoa.
Kinh
văn: Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh đến 60 tiểu
kiếp mà không rời pháp tòa, lúc bấy giờ chúng hội nghe
pháp cũng ngồi một chỗ trong 60 tiểu kiếp, thân tâm không
lay động, nghe Phật thuyết pháp giống như trong khoảng một
bửa ăn. Bấy giờ trong chúng hội không có một người nào,
hoặc thân, hoặc tâm sanh ra mỏi mệt, dãi đải.
Giải
thích: Đức Phật nói kinh trong 60 tiểu kiếp mà không rời
pháp tòa... Đây là thời gian trong các kinh Đại thừa. Thật
sự, thời gian không dài không ngắn, dài ngắn là tùy theo
trình độ, tâm tư của chúng sanh. Trong một thời nghe pháp,
người nghe với tâm tư cầu pháp thì trong hai giờ in tuờng
như độ 15 phút, người nghe với tâm tư mệt mỏi không ưa
thích thì hai giờ mà tuồng như cả buổi, đó là những tâm
tư bình thường. Nhưng, nếu như có một tâm tư vượt bực
hơn nữa thì thời gian cũng khác, huống gì ngồi nghe đức
Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là kinh Phật khai thị cho
chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Trong lúc nghe được lời
dạy ấy mà ngộ nhập được tri kiến Phật thì tự nhiên
xả hết các kiến chấp sanh diệt, xả hết tướng thân tâm,
lâu mau, trong ngoài... thì lúc ấy là "Thập thế cổ kim thỉ
chung bất ly ư đương niệm". Mười đời kim cổ, thỉ chung
không rời nơi đương nệm. Sáu mười tiểu kiếp mà như trong
một bửa ăn là vì vậy.
Kinh
văn: Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh pháp Hoa trong
60 tiểu kiếp rồi, liền ở giữa chúng Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn,
Trời, Người, A-tu-la... mà tuyên nói rằng: "Như Lai giữa đêm
hôm nay sẽ vào Vô dư Niết-bàn".
Giải
thích: Đoạn kinh này có ý rằng thời đức Phật nói kinh
Pháp Hoa là thời đức Phật sắp Niết-bàn. Sau khi nói kinh
Pháp Hoa, đức Phật sẽ nói kinh Niết-bàn nữa, tức là chấm
dức cả thời giáo hóa ở Ta-bà, giống như đức Phật Nhật
Nguyệt Đăng Minh xưa kia nói kinh Pháp Hoa trong 60 tiểu kiếp
thì liền tuyên bố giữa đêm vào Niết-bàn, ngày hôm nay sắp
vào Niết-bàn đức Phật Thích Ca cũng sẽ nói kinh Pháp Hoa
không khác.
Kinh
văn: Lúc bấy giờ có Bồ-tát tên Đức Tạng được đức
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thọ ký và bảo các Tỳ-kheo rằng:
Đức Tạng Bồ-tát này kế sẽ làm Phật hiệu là Tịnh Thân
Đa-đà-a-già-độ A-la-ha Tam-miêu-tam-phật-đà.
Giải
thích: Đa-đà-a-già-độ dịch âm từ chữ Tatha-gata mà ra.
Bởi chữ Như Lai cũng có nghĩa Như khứ. Như khứ là theo đạo
Như thật từ sanh tử bưóc tới cảnh giới giác ngộ Niết-bàn
nên gọi là khứ. Đúng y như sự thật, đúng y như thật pháp
mà đi tới, theo con đường chân thật mà đi tới, từ chúng
sanh đi tới quả vị giác ngộ gọi là Như khứ. Như Lai là
dúng theo con đường như thật, từ địa vị giác ngộ mà
trở về cõi ứng thân hóa độ chúng sanh, vì vậy chữ này
viết là Tathagata, nên phiên âm Đa-đà-a-già-độ.
Đức
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh xong kiền thọ ký cho
Đức Tạng rồi giữa đêm vào Niết-bàn. Đoạn này cũng để
nói rằng đức Thích Ca ngày hôm nay phóng hào quang xong từ
trong định xuất ra và sẽ nói kinh Pháp Hoa, thọ ký cho hàng
đệ tử thành Phật rồi Ngài vào Niết-bàn... Đó là những
điều sẽ nói trong kinh Pháp Hoa và cũng cho thấy rằng trong
hội Pháp Hoa đức Phật mới thọ ký cho hàng Thanh Văn La-hán
chứng Vô thượng Bồ-đề. Tất cả các việc thiện của
chúng sanh đều đưa đến Phật quả, thay vì như trong các
kinh khác cũng nói tất cả chúng sanh đều thành Phật, nhưng
vẫn còn phân biệt nói có 5 chủng tánh là Định tánh Thanh
Văn, Định tánh Duyên Giác, Định tánh Bồ-tát, Bất định
tánh và Vô tánh. Hay như kinh Bát-nhã mà cũng còn phân biệt
thiện hữu sở đắc và thiện vô sở đắc... Đến Pháp Hoa
mới quy về Phật địa.
Kinh
văn: Đức Phật thọ ký xong liền vào Vô dư Niết-bàn ngay
giữa đêm ấy.
Sau
khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ-tát trì kinh Diệu
Pháp Liên Hoa trải tám mươi tiểu kiếp, nói pháp cho mọi
người nghe.
Tám
vương tử của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều tôn Diệu
Quang làm thầy, được Diệu Quang giáo hóa khiến cho vững
chắc đối với Vô thượng Bồ-đề, các vị vương tử ấy
trải qua thời gian cúng dường vô lượng trăm ngàn các đức
Phật xong đều thành bậc Chánh giác. Đức Phật sau cùng trong
tám vương tử đó hiệu là Nhiên Đăng.
Và
trong tám trăm đệ tử của Diệu Quang Bồ-tát có một người
tên là Cầu Danh. Người này tham ưa danh lợi, tuy có từng
đọc tụng các kinh mà không thông suốt, thường hay quên sót
nên gọi là Cầu Danh.
Người
này cũng do nhân duyên trồng các căn lành nên được vô lượng
trăm nghìn đức phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi
khen.
Giải
thích: Trong tám trăm đệ tử của Diệu Quang có một người
gọi là Cầu Danh. Cầu Danh này chỉ cho tiền thân của đức
Di Lặc. Vì sao? Vì người này tham trước danh lợi, thường
lui tới chỗ quyền quý danh tiếng để dựa theo đó mà kiếm
danh, tới chỗ có tiền để tỏ ra mình nhà giàu sang..., danh
bằng học thức, tiền