Phần Lược
Tự
Tên
của bộ Kinh này là Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn, tên
riêng là "Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn." "Kinh" là tên chung
của các bộ Kinh. Kinh Phật lập đề thường dùng bảy loại
để phân biệt: tức Ðơn Nhân, Ðơn Pháp, Ðơn Dụ, Nhân Pháp,
Nhân Dụ, Pháp Dụ, Nhân Pháp Dụ. Như Kinh Phật Thuyết
A Di Ðà là Ðơn Nhân lập đề, vì Ðức Phật và Phật
A Di Ðaø đều là người, là người tu hành thành Phật.
Người chính là Phật, Phật chính là người, vì thế người
Trung Quốc viết chữ Phật có bộ nhân bên cạnh. Ðơn Pháp
lập đề như Kinh Bát Nhã, Kinh Niết Bàn. Niết
Bàn là pháp, Niết Bàn nghĩa là bất sanh bất diệt. Ðơn Dụ
lập đề như Kinh Phật Thuyết Phạm Võng, nếu nghiêm
trì giới luật thì có thể sanh ra quang minh, như châu báu của
cõi Ðại Phạm Thiên. Nếu phạm giới phá giới, biết pháp
phạm pháp thì có chỗ hữu lậu, hữu lậu tất đi đến tam
ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, nơi đó tuyệt không
có một chút nhân tình. Pháp Dụ lập đề như Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ. Nhân
Dụ lập đề giống như Kinh Như Lai Sư Tử Hống, Như
Lai là người, Sư Tử là dụ, Phật thuyết pháp như sư tử
hống. Nhân Pháp lập đề như Kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã.
Ðầy đủ Nhân Pháp Dụ lập đề như Kinh Ðại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm, Ðại Phương Quảng là pháp, Phật
là người, Hoa Nghiêm là dụ.
Nhưng
quyển Kinh Lục Tổ Pháp Bảo Ðàn là Kinh Trung Quốc,
không phải Kinh Ấn Ðộ, cho nên ngoài bảy loại lập đề
ra, còn có thêm một loại là Xứ lập đề. Lục Tổ là người,
Pháp Bảo là pháp, Ðàn là xứ sở, vì thế quyển Kinh này
là Nhân Pháp Xứ lập đề, không thể giảng theo bảy loại
lập đề kể trên.
Ngôi
vị Lục Tổ không phải dễ thừa kế, đảm trách. Vì sao
vậy? Vì có rất nhiều người muốn giết Ngài. Ngay cả đệ
tử của Ngài là Chí Triệt cũng tìm cách giết hại Ngài.
Vì thế Ðại sư sau khi đắc pháp đã tỵ nạn mười sáu
năm trong nhóm thợ săn. Thậm chí sau khi kiến lập Pháp đàn
tại Nam Hoa Tự, vẫn còn có ngoại đạo công khai muốn giết
Ngài. Cho nên Ðại sư chạy lên núi ẩn trong núi đá tọa
thiền, hòn đá mà Ðại sư tỵ nạn, đến nay vẫn còn thấy
ở Nam Hoa Tự.
Lục
Tổ Ðại sư từ đâu mà có danh hàm Lục Tổ? Ðiều này bắt
đầu từ Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma. Bồ Ðề có nghĩa là Giác,
Ðạt Ma có nghĩa là Pháp. Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma là Tổ thứ
hai mươi tám tại Ấn Ðộ, nhưng tại sao Ngài không ở Ấn
Ðộ làm Tổ mà đi đến Trung Quốc làm gì? Vì xưa kia Phật
đã thọ ký: Ðến đời Tổ thứ hai mươi tám, Ðại thừa
Phật pháp sẽ truyền đến Trung Quốc. Do nhân duyên như thế,
Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma ngồi thuyền đến Trung Quốc truyền
đạo. Nhưng lúc đó Phật Pháp tại Trung Quốc, dường như
có dường như không, bởi vì chỉ làm công tác bên ngoài như
tụng kinh, nghiên cứu kinh điển, giảng kinh v.v.., ngay cả
việc bái sám cũng không có. Ðương thời các học giả đều
cho Phật giáo như là một loại học vấn để nghiên cứu
thảo luận.
Các
đạo lý mà Phật giáo nói đều phải y theo mà tu hành. Nhưng
thời đại Nam Bắc triều của Trung Quốc lúc đó không có
người nào chân chánh tu hành tọa thiền, vì sợ khổ cực.
Hiện nay ở Mỹ đây cũng giống như vậy. Ngồi một chút
chân đau bèn duỗi chân, nghiêng nghiêng lắc lắc, xoa bóp một
hồi. Người dù sao cũng là người! Cũng đều sợ khổ, sợ
cực !
Trước
khi Tổ sư Ðạt Ma đến Trung Quốc, Ngài có phái hai người
đệ tử là Phật Ðà và Da Xá đến Trung Quốc truyền pháp
môn đốn ngộ, tức là Thiền tông. Ai ngờ hai Ngài đến Trung
Quốc lại gặp phải cảnh trái ý nghịch lòng, tất cả các
Tăng sĩ thời đó đều không xem trọng hai Ngài. Sau đó hai
Ngài đến Lư Sơn gặp Ðại sư Huệ Viễn; Ngài Huệ Viễn
chuyên giảng về pháp môn niệm Phật. Ðại sư Huệ Viễn
hỏi:
–Hai
vị là các Tăng sĩ Ấn Ðộ, hai vị truyền pháp môn gì mà
sao không có ai theo học?
Ngài
Phật Ðà và Da Xá chỉ biết nói rất ít tiếng Trung Quốc,
bèn đưa tay ra nói:
–Hãy
nhìn xem! Bàn tay tôi nắm vào và giở ra có nhanh không?
–Rất
nhanh.
–Bồ
đề và phiền não cũng nhanh giống như vậy.
Ðại
sư Huệ Viễn lập tức khai ngộ, biết ra Bồ đề và phiền
não vốn không có gì sai khác. Bồ đề tức phiền não, phiền
não tức là Bồ đề! Ngài Huệ Viễn sau khi khai ngộ, rất
cung kính cung dưỡng Ngài Phật Ðà và Da Xá. Nhưng không lâu
hai bậc cao Tăng Ấn Ðộ này đều vãng sanh trong cùng một
ngày. Phần mộ của hai Ngài đến nay vẫn còn ở Lư Sơn.
Tổ
sư Ðạt Ma nhìn thấy căn tánh Ðại thừa ở Trung Quốc đã
chín muồi, bèn không ngại gian khổ, đường sá xa xôi, đem
Phật pháp Ðại thừa đến Trung Quốc. Nhưng lúc đó vì ngôn
ngữ không thông, người Trung Quốc gọi Ngài là "Ma-la-sát."
Trẻ con nhìn thấy gương mặt Ngài với bộ râu dài đều
hoảng sợ chạy mất. Người ta cho rằng Ngài đến để bắt
trẻ con vì thế không cho trẻ con đến gần Ngài.
Sau
đó Tổ sư Ðạt Ma đến Nam Kinh nghe Pháp sư Thần Quang giảng
Kinh, nhìn thấy cảnh giới thù thắng: "Chư thiên rải hoa cúng
dường, dưới đất sen vàng hiện ra." Cảnh giới này chỉ
có người đã đắc Ngũ nhãn Lục thông mới thấy được.
Sau khi giảng Kinh xong, là đến phần thỉnh pháp, hỏi pháp,
Tổ sư Ðạt Ma hỏi:
–Pháp
sư! Ông ở đây làm gì?
Thần
Quang trả lời:
–Tôi
ở đây giảng Kinh.
–Ông
giảng Kinh làm gì?
–Tôi
giảng Kinh, đưa người liễu ngộ sinh tử.
–Làm
sao có thể liễu ngộ được sanh tử? Kinh mà ông giảng đều
là giấy trắng mực đen, ông dùng cái gì mà có thể giúp
người liễu đoạn sanh tử ?
Thần
Quang bị hỏi không có cách nào trả lời, vì thế xấu hổ
mà tức giận. Tuy Pháp sư Thần Quang giảng kinh được chư
thiên rải hoa cúng dường nhưng vẫn còn tính nóng giận như
vậy. Vì thế tôi nói Phật Pháp đương thời dường như có
dường như không. Pháp sư Thần Quang tức giận liền cầm
lấy xâu chuỗi niệm Phật làm bằng sắt nói:
–Ông
dám hủy báng pháp à!
Nói
xong liền dùng xâu chuỗi đánh vào mặt Ðạt Ma. Tổ sư Ðạt
Ma tuy biết võ thuật, nhưng không ngờ Thần Quang lợi hại
như thế, nói không lại liền động võ, kết quả bị đánh
gãy hai cái răng. Nghe nói, răng của bậc Thánh nếu bị đánh
gãy, nhổ xuống chỗ nào thì chỗ đó bị hạn hán ba năm.
Ðạt Ma nghĩ thầm: "Ba năm không mưa, chết đói biết bao nhiêu
người. Ta đến Trung Quốc là muốn độ chúng sanh, không phải
là để hại chúng sanh," vì thế Ngài nuốt hai cái răng vào
bụng, không nói một lời liền bỏ đi.
Vì
Ngài là người xuất gia, lại là bậc Tổ Sư, cho nên đã
nhẫn nhục được những việc như vậy. Trên đường đi,
Ngài gặp con chim Anh Vũ bị nhốt trong lồng. Chim Anh Vũ còn
thông minh hơn Thần Quang vì biết Bồ Ðề Ðạt Ma là một
vị Tổ Sư, nên thưa với Ngài rằng:
–Tây
lại ý, Tây lại ý, thỉnh Ngài dạy cho chúng con cách thoát
ra khỏi lồng.
Ðạt
Ma đến Trung Quốc chưa gặp được tri âm, nay Anh Vũ này lại
là tri âm của Ngài. Nghe chim thỉnh giáo mình như vậy, Ðạt
Ma rất vui vẻ dạy cho nó một bí quyết: "Muốn thoát khỏi
lồng, hai chân duỗi thẳng, đôi mắt nhắm nghiền, đây là
diệu kế, giúp con thoát lồng."
Anh
Vũ sau khi hiểu được phương pháp thoát lồng, bèn thưa: "Nay
con đã hiểu rồi, cám ơn Ngài chỉ dạy." Anh Vũ nhìn thấy
người chủ từ xa trở về, đợi người chủ đến gần,
nó liền sử dụng phương pháp đó. Mỗi ngày người chủ
trở về đều đến chơi với con chim yêu quý để tiêu sầu
giải muộn, nay nhìn thấy Anh Vũ yêu quý nằm bất động trong
lồng liền rất lo lắng, bèn mở cửa lồng đem Anh Vũ để
nơi lòng bàn tay: "Ồ! thân chim vẫn còn nóng." Vì chim giả
chết nên khí nóng vẫn còn. Người chủ vừa mở nắm tay
ra Anh Vũ liền bay đi! Kế thoát lồng thật hiệu nghiệm.
Chúng
ta hiện nay vẫn còn ở trong lồng, đừng nên cho rằng mình
đang tự do. Muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, không giữ
gìn quy củ cho là tự do. Ðiều này thật là mê muội vì đã
hiểu một cách sai lầm về tự do. Tự do chân chánh là sanh
tử tự do, muốn bay lên trời thì lên trời, muốn độn thổ
xuống đất thì độn thổ; có được những bản lãnh như
thế mới gọi là tự do chân chánh.
Giảng
về "Lục Tổ Ðàn Kinh," tôi vốn giảng không hay, nhưng mà
dám giảng. Còn có người giảng rất hay nhưng lại không dám
giảng. Tôi giảng không hay nhưng cứ thử giảng, sau này những
người giảng hay nên nương theo đó mà giảng tiếp. Sau này
quý vị rộng mở trí tuệ thì có thể giảng hay hơn tôi nữa.
Giảng hay là học từ cái giảng không hay mà ra.
Pháp
sư Thần Quang đánh gãy hai cái răng của Hòa Thượng mặt
đen, nhưng thấy Hòa Thượng Ấn Ðộ không có phản ứng gì,
bèn cho rằng mình thắng. Nhưng không lâu sau đó quỷ vô thường
đến gặp Pháp sư nói:
–Pháp
sư, hôm nay mạng sống của ngài đã hết. Vua Diêm La sai tôi
đến mời ngài đi.
–Tôi
mà cũng phải chết à? Tôi giảng Kinh được trời rãi hoa
cúng dường, đất hiện ra hoa sen vàng mà còn không thể dứt
vòng sanh tử thì thế gian này còn có ai có thể dứt vòng
sanh tử?
–Có
chứ! Chính là Ngài Hòa Thượng mặt đen mà bị ông đánh
gãy hai cái răng đó. Diêm Vương không những không cai quản
được số mạng của Ngài mà mỗi ngày còn phải hướng về
Ngài khấu đầu đảnh lễ.
–Quỷ
đại ca! Bạn có thể chờ tôi một chút được không? Xin
nói với Diêm Vương dùm tôi một tiếng, xin cho tôi một thời
gian ngắn để tôi đi học pháp môn liễu đoạn sanh tử của
Ngài Hòa Thượng mặt đen.
–Nếu
ông thật có lòng thành như vậy thì việc này không phải
không có thể linh hoạt giải quyết.
Thần
Quang nghe nói rất vui mừng, không kịp mang dép, chân đất
đuổi theo Tổ sư Ðạt Ma. Trên đường gặp chim Anh Vũ đã
được Ngài Ðạt Ma giúp cho thoát khỏi lồng. Anh Vũ nói cho
Thần Quang biết Ngài Ðạt Ma đã giúp nó như thế nào. Thần
Quang đi theo sau lưng Tổ Sư, nhưng Tổ không để ý đến.
Thần Quang đi theo cho đến núi Hùng Nhĩ ở Lạc Dương (Chùa
Thiếu Lâm, Tung Sơn, Hà Nam). Tổ sư Ðạt Ma ở đó diện bích
tọa thiền, Ngài ngồi suốt chín năm, Thần Quang cũng quỳ
đủ chín năm. Lúc trước, khi tôi giảng đến công án này,
có một em bé mười một tuổi nghe rồi rất cao hứng, liền
hỏi: "Thần Quang quỳ suốt chín năm, vậy có ăn cơm không?"
Tôi trả lời: "Chín năm không ăn cơm thì làm sao có thể sống
được? Chính là lúc Tổ sư Ðạt Ma ăn cơm thì Thần Quang
cũng ăn cơm, Ðạt Ma ngồi thiền thì Thần Quang quỳ gối,
nhưng mà trong sách thì không có ghi việc này."
Trong
thời gian chín năm diện bích của Ðạt Ma có rất nhiều người
đến quy y lạy Ngài làm Thầy.
Thần
Quang cũng quỳ suốt chín năm. Một ngày kia tuyết lớn, tuyết
phủ đến hông. Ðạt Ma nói:
–Tuyết
lớn như vậy ông quỳ đó làm gì?
–Bạch
Tổ Sư, con muốn liễu đoạn sanh tử. Lúc trước con giảng
Kinh không thể liễu đoạn sanh tử, nay kính xin Tổ Sư truyền
dạy cho con pháp môn liễu đoạn sanh tử.
–Ngươi
nhìn, trời hiện rơi cái gì?
–Bạch
Tổ Sư, trời đang rơi tuyết.
–Tuyết
có màu gì?
–Bạch
Tổ Sư, tuyết màu trắng.
–Ngươi
đợi đến lúc nào mà trời rơi tuyết màu đỏ thì lúc đó
ta sẽ truyền dạy pháp môn liễu đoạn sanh tử cho ngươi.
Nếu trời không rơi tuyết đỏ thì ngươi đừng nên hy vọng
ta truyền dạy cho. Ngươi là một kẻ xuất gia hung ác như
vậy, dùng xâu chuỗi niệm Phật bằng sắt đánh gãy hai cái
răng của ta, ta không báo thù cũng là từ bi lắm rồi, làm
sao lại có thể truyền pháp cho ngươi được?
Ðạt
Ma đưa ra vấn đề khó khăn như vậy để khảo nghiệm Thần
Quang, nhưng Thần Quang đã giải quyết được. Thần Quang nhìn
thấy trên tường có một thanh giới đao của người tu đạo,
dùng dự bị lúc phạm giới thì đem đao chặt đứt đầu
mình chớ không để phạm đến giới thể. Thần Quang liền
lấy thanh đao đó xuống chặt đứt cánh tay mình, máu rơi
đầy mặt đất đã làm tuyết trắng biến thành tuyết đỏ.
Thần Quang liền bụm lấy một nắm tuyết đỏ đem dâng đến
trước mặt Ngài Ðạt Ma và nói:
–Bạch
Tổ Sư, Ngài xem, đây chính thật là tuyết đỏ.
Ðiều
này vốn đã ở trong dự liệu, chỉ vì muốn thử thách chân
tâm của Thần Quang, mà Ðạt Ma mới đưa ra vấn đề thử
thách này. Vì thế Ngài rất hoan hỷ nói:
–Ta
đến Trung Quốc thật không có uổng công, gặp phải ngươi
là người chân thành cầu pháp tu hành như vậy, ngay cánh tay
của chính mình cũng bỏ đi để cầu pháp, quả là có tâm
thành.
Sau
đó Ngài Ðạt Ma mới đem pháp môn dĩ tâm ấn tâm, trực chỉ
nhân tâm, kiến tánh thành Phật truyền cho Thần Quang. Sau khi
Ngài Ðạt Ma giảng xong pháp môn, Thần Quang liền sanh tâm
phân biệt nói:
–Con
chặt đứt cánh tay, rất đau nhức, tâm cũng rất nhức nhối,
xin Tổ Sư an tâm cho con.
–Ðem
tâm của ông ra đây, ta mới có thể giúp ông an tâm!
Thần
Quang bèn đi tìm tâm của mình, Ðông Tây Nam Bắc, trên trời
dưới đất, tìm hoài mà không thấy tâm của mình. Thần Quang
nói:
–Con
tìm không ra.
–Ta
đã an tâm cho ông rồi.
Thần
Quang lập tức hoát nhiên đại ngộ. Vì thế Thần Quang nói:
Vạn
pháp quy nhứt, nhứt quy hà xứ ?
Thần
Quang bất minh cản Ðạt Ma.
Hùng
Nhĩ sơn tiền quỵ cửu tái,
Chỉ
cầu nhứt điểm đóa Diêm La.
Vạn
pháp quy nhứt, vậy nhứt quy về đâu? Thần Quang không rõ
nghĩa lý của chữ "hợp," vì thế đuổi theo Ðạt Ma,
tại núi Hùng Nhĩ quỳ suốt chín năm, chỉ cầu Tổ Sư chỉ
điểm cách liễu đoạn sanh tử, thoát khỏi Diêm Vương.
Thần
Quang sau khi được Tổ sư Ðạt Ma truyền pháp, liền đổi
tên là Huệ Khả, tức là trí huệ đầy đủ, thiện căn viên
mãn. Ðại sư Huệ Khả hỏi Tổ sư Ðạt Ma:
–Bạch
Tổ Sư, ở Ấn Ðộ Ngài có đồ đệ đắc pháp chưa? Ở
Ấn Ðộ, khi truyền pháp có đem ca sa, y, bát truyền cho đồ
đệ để làm bằng cớ không?
–Không
có, ở Ấn Ðộ ta truyền pháp không có đem ca sa y bát làm
vật y cứ, vì tâm người Ấn Ðộ rất thẳng thắn, tu hành
đắc đạo liền nói đắc đạo, chỉ cần có người chứng
minh đắc đạo là đủ. Nếu chưa được ấn chứng, họ sẽ
không nói là: tôi đã đắc đạo chứng quả, tôi đã chứng
A La Hán, hoặc tôi đã là Bồ Tát. Người Trung Quốc không
giống như vậy. Ở Trung Quốc, người có căn tánh Ðại thừa
cũng rất nhiều, nhưng người nói vọng ngữ cũng không ít,
tu hành chưa thành tựu đạo nghiệp mà khoe khoang đã thành;
chưa chứng quả cũng tự nói đã chứng quả, vì thế cần
phải dùng ca sa y bát để chứng minh. Cho nên nay ta truyền
ca sa y bát cho ông, ông nên cẩn thận giữ gìn.
Tổ
sư Ðạt Ma đến Trung Quốc, từng bị đầu độc sáu lần,
vì đương thời Bắc Ngụy có hai vị Pháp sư muốn hại Ngài,
một vị là Bồ Ðề Lưu Chi, một vị là Luật sư Quang Thống.
Họ rất đố kỵ Ngài, đã làm ra vài món đồ chay, trong đó
có chất độc cực mạnh đem đến cúng dường Ngài. Ngài
biết trong thức ăn có độc nhưng vẫn ăn một cách bình thường.
Ăn xong kêu người đem một cái mâm lại, Ngài mửa vài mâm
một đống rắn. Thì ra chất độc đã biến thành rắn. Bồ
Ðề Lưu Chi thấy độc không thể giết được Ngài, không
hiểu vì duyên cớ gì. Vì thế lần thứ hai bỏ liều lượng
thuốc độc gấp đôi. Ðạt Ma cũng ung dung thọ dụng, ăn
xong liền ngồi tại một tảng đá lớn, phun thuốc độc ra,
sức mạnh của thuốc độc đã làm bể tan tảng đá. Sau đó
liên tiếp thêm bốn lần hạ độc nữa nhưng đều không thể
hại được Ngài.
Một
ngày nọ, Tổ sư Ðạt Ma nói với Ðại sư Huệ Khả rằng:
–Ta
đến Trung Quốc, để độ chúng sanh có căn tánh Ðại thừa.
Nay pháp đã truyền, ta đã có người kế thừa, giờ viên
tịch cũng đã đến.
Sau
khi Tổ sư Ðạt Ma viên tịch, chúng đệ tử dùng quan tài
bọc xác Ngài đem chôn. Nhưng lúc ấy, Bắc Ngụy có một sứ
quan tên là Tống Vân, tại vùng Thông Lãnh, trên đường đi
gặp Tổ sư Ðạt Ma. Tổ Sư, tay cầm dép, nói với Tống Vân
rằng:
–Quốc
Vương nước ông hôm nay băng hà, ông nên mau mau trở về.
Tống
Vân hỏi:
–Ðại
sư, Ngài đi đâu?
–Ta
trở về Ấn Ðộ.
–Ðại
sư, Ngài đã truyền pháp cho ai?
–Bốn
mươi năm sau tại Trung Quốc.
Sau
đó Tống Vân trở về đến Bắc Ngụy đem việc này kể cho
mọi người nghe, nhưng không ai tin. Vì thế mọi người mới
quật mồ của Tổ sư Ðạt Ma ra xem, trong quan tài chỉ còn
chiếc dép, ngoài ra không có cái gì khác. Như vậy Tổ sư
Ðạt Ma đi đâu? Mọi người cũng không ai biết, sợ rằng
hôm nay đã đến Mỹ quốc không biết chừng, vì Ngài có thể
thiên biến vạn hóa, cho nên không ai có thể nhận ra được
Ngài. Khi đến Trung Quốc, Ngài nói Ngài đã một trăm năm
mươi tuổi, nhưng lúc Ngài ra đi vẫn là một trăm năm mươi
tuổi, lịch sử cũng không có cách nào kiểm chứng.
Lúc
Tổ sư Ðạt Ma sắp viên tịch, Ngài nói:
–Ta
đến Trung Quốc truyền pháp cho ba người, Ðại sư Huệ Khả
được phần tủy, Thiền sư Ðạo Dục được phần xương,
Tỳ kheo ni Ðạo Tế (tức Tỳ kheo ni Tổng Trì) được phần
thịt.
Tỳ
kheo ni Ðạo Tế thuộc lòng Kinh Pháp Hoa, sau khi viên
tịch từ trong miệng nở ra đóa hoa sen màu xanh. Vì Tổ sư
Ðạt Ma đã đem thân thể của Ngài mà phân chia cho các người
khác, cho nên ở Mỹ quốc quý vị không thể tìm ra được
Ngài.
Nhị
Tổ Huệ Khả, họ Cơ, tên Thần Quang, người thời Bắc Tề.
Lúc Ngài giáng sanh, cha mẹ Ngài nhìn thấy Kim Giáp Thần Nhân,
hộ pháp Vi Ðà Bồ Tát, phóng đại hào quang bảo hộ vị
Tổ Sư mới ra đời này, cho nên tên của Ngài gọi là Thần
Quang. Ngài thiên tánh thông minh, trí nhớ rất dai, cho nên được
người khen ngợi: Mục hạ thập hàng tự, nhĩ thính bách
nhân âm. Không phải vừa nhìn là có thể xem được mười
hàng chữ, mà là người thường xem một hàng chữ, thì Ngài
có thể xem mười hàng chữ, rất nhanh như vậy; một trăm
người cùng nói chuyện cùng một lúc, Ngài đều nghe rất
rõ ràng, năng lực phân biệt rất nhạy.
Nhưng
vị Tổ Sư này rất nóng tính, nói chuyện không hợp liền
muốn đánh người. Bốn mươi năm về trước, ngay lúc giảng
kinh thuyết pháp cũng mang xâu chuỗi bằng sắt để đi hành
hiệp giúp người. Vì thế lúc gặp Tổ sư Ðạt Ma đã dùng
xâu chuỗi đánh Ngài Ðạt Ma, kết quả phải quỳ chín năm,
phải tự chặt đứt một cánh tay của mình. Quý vị nghĩ
xem nếu không nóng tính như vậy làm sao có thể tự mình chặt
đứt cánh tay, mà không cảm thấy đau nhức, đợi đến lúc
đắc pháp xong mới cảm thấy nhức nhối. Ðiều này bởi
vì Ngài rất nóng tính, nếu không nóng tính, chặt đứt cánh
tay cũng không cảm thấy đau nhức. Ðau nhức chính là phiền
não.
Tổ
sư Huệ Khả lúc bốn mươi tuổi gặp Sơ Tổ Bồ Ðề Ðạt
Ma, sau khi đắc pháp bèn ẩn trốn bốn mươi năm, vì đương
thời Bồ Ðề Lưu Chi và Luật sư Quang Thống, chuyên gây khó
dễ với các đệ tử của Tổ sư Ðạt Ma, thậm chí gặp
là muốn giết. Bồ Ðề Ðạt Ma đã bị hai vị ấy dùng thuốc
đầu độc, huống chi là đệ tử của Ngài! Ðại sư Huệ
Khả nghe theo lời Thầy dạy nên đã ẩn núp, trốn tránh những
người gây khó dễ này. Cho đến lúc Ðại sư Huệ Khả tám
mươi tuổi, Ngài mới bắt đầu hoằng dương Phật pháp, giáo
hóa chúng sanh. Cho đến khi gặp Tam Tổ Tăng Xán, sau khi phú
pháp, dặn dò Tam Tổ phải cẩn thận bảo hộ giữ gìn y bát
làm chứng cứ, và cần phải ẩn trốn để tránh những sự
tật đố và bức hại.
Ðại
sư Huệ Khả lúc đó giả dạng điên khùng, nhưng khi gặp
chúng sanh hữu duyên, Ngài liền phổ độ giáo hóa họ. Tuy
Ngài giả dạng điên khùng, nhưng vì có duyên với chúng sanh
cho nên có rất nhiều người tin tưởng Ngài. Tuy Ngài đã
giả dạng điên khùng, nhưng bè nhóm của Bồ Ðề Lưu Chi
vẫn đem lòng ganh ghét, bèn đi đến quan phủ vu cáo Ðại
sư Huệ Khả, nói Ngài là yêu quái mê hoặc dân chúng, để
dân chúng sùng bái. Hoàng đế đương thời lại cả tin bèn
hạ thánh chỉ, ra lệnh quan phủ bắt Huệ Khả thẩm vấn:
–Ngươi
là người hay là yêu quái?
Huệ
Khả Ðại sư trả lời:
–Tôi
là yêu quái.
Viên
quan thẩm vấn vừa nghe Ngài nói như vậy, liền biết Ngài
bị oan ức, nên hỏi lại:
–Ông
nên nói cho rõ ràng, ông là người hay yêu quái?
–Tôi
thiệt đúng là yêu quái.
Vì
quốc pháp không cho phép yêu quái mê hoặc thế gian, cho nên
đành phải tâu lên Hoàng đế, đem Ngài đi chém để răn chúng.
Ôi, thế gian này có chân lý không vậy! Ngài là Tổ Sư đời
thứ hai mà quan phủ nói Ngài là yêu tinh.
Ðại
sư Huệ Khả rơi nước mắt, nói với đồ chúng rằng:
–Quả
báo này ta phải thọ thôi!
Nhị
Tổ rất nóng tính, cái gì cũng không sợ, nếu sợ chết Ngài
đã không tự nhận là yêu quái. Ngài cảm thấy thương tâm
là vì Phật Pháp lúc Ngài còn tại thế, chưa được người
ta hiểu biết rộng rãi. Ngài nói Phật Pháp đến thời Tứ
Tổ sẽ rơi vào danh tướng, có danh có tướng, liền chấp
vào danh tướng. Khóc xong Ngài liền nói với tên đao phủ:
–Ngươi
lại giết ta đi!
Ðao
phủ cầm đao chém đầu Ngài nhưng lạ thay lại không có máu
tuôn ra, chỉ tuôn ra dòng nước trắng như sữa. Quý vị nghĩ
đây có phần nào hoang đường không? Quý vị tin cũng được,
mà không tin cũng được. Quý vị tin, tôi có thể dùng lý
do rất đơn giản để giải thích. Ðây là lúc người tu hành
đạt đến thể thuần dương, tất cả máu huyết trong người
đều biến thành màu trắng. Quý vị nói không tin, đương
nhiên quý vị đã không tin rồi! Nếu quý vị tin, quý vị
cũng đã thành Tổ Sư thứ hai rồi.
Viên
quan chấp hành nhìn thấy tình hình như thế bèn y như sự
thật tâu lên hoàng đế:
–Người
đó thiệt là yêu quái, tôi đã giết ông ta nhưng không thấy
máu chảy ra, chỉ chảy ra dòng nước trắng như sữa, nhưng
gương mặt lúc chết giống như lúc sống, điều này chứng
minh ông ta chính thiệt là yêu quái.
Nhưng
Hoàng đế biết rằng đã giết lầm một bậc Thánh nhân,
vì ở Ấn Ðộ Tổ thứ hai mươi bốn là Tôn giả Sư Tử,
khi bị chặt đầu thì không chảy máu mà chỉ chảy nước
sữa màu trắng. Ðiều này chứng minh nhân thể thuần dương
vô âm, vì vô lậu không có vô minh nên âm đều biến thành
dương.
Có
người hỏi:
–Bạch
thầy, vừa rồi thầy nói Ðại sư Huệ Khả tính rất nóng,
làm sao không có vô minh?
Cần
biết rõ, tính nóng của Ðại sư Huệ Khả là tính nóng của
Ðại Nhẫn, Ðại Dũng, Ðại Trí, Ðại Huệ, hoàn toàn không
giống tính nóng như bom nổ của quý vị và tôi. Quý vị cần
nghe cho rõ ràng, tính nóng của mỗi người không giống nhau.
Tính nóng của trí huệ là có thể nhẫn với nhân quả tuần
hoàn, không có làm ngược lại với đạo lý.
Hoàng
đế sau khi biết Ðại sư Huệ Khả là vị nhục thân Bồ
Tát, bèn sanh lòng sám hối: "Có một vị Bồ Tát ở nước
ta, mà Trẫm không biết bảo hộ lại đem Ngài giết đi". Bèn
ra lệnh văn võ đại thần đều phải quy y Nhị Tổ Huệ Khả.
Tuy Ngài chết đi nhưng vẫn có thể thâu được một số đệ
tử như thế.
Ðời
Tùy, Tam Tổ Tăng Xán, không ai biết thân thế tánh danh của
Ngài. Lúc Ngài gặp Nhị Tổ, toàn thân Ngài đều là ghẻ
lác giống như người mắc bệnh phong cùi. Nhị Tổ hỏi:
–Ông
từ đâu đến đây? Ðến đây làm gì?
–Con
đến quy y Hòa Thượng cầu học Phật pháp.
–Ông
mắc bệnh như vậy thật không thanh tịnh, làm sao có thể
học được Phật pháp?
Tam
Tổ vốn rất thông minh, còn thông minh hơn Nhị Tổ nữa, bèn
thưa:
–Con
là người có bệnh, mà Ngài là một bậc Hòa Thượng, nhưng
tâm Ngài và con không có gì sai khác.
Nhị
Tổ nghe nói liền biết người này không phải tầm thường,
liền nói:
–Không
cần nói nữa, ta đã biết rồi.
Nói
xong bèn truyền pháp cho Tam Tổ và dạy Tam Tổ phải ẩn trốn
để tránh sự sát hại của dư đảng Bồ Ðề Lưu Chi:
–Không
nên để cho người biết ta đã truyền pháp cho ông.
Vì
thế Tam Tổ Tăng Xán học cách của Nhị Tổ, giả dạng điên
khùng, âm thầm đi các nơi giáo hóa chúng sanh. Lúc đó gặp
lúc Bắc Chu Vũ Ðế tiêu diệt Phật pháp nên Ngài ẩn cư
trong núi hơn mười mấy năm. Trên núi vốn có rất nhiều
sài lang hổ báo, nhưng khi Ngài vừa đến ở đây các loài
động vật đó đều bỏ đi hết.
Sau
khi truyền pháp cho Tứ Tổ Ðạo Tín, Tam Tổ bèn thiết Thiên
Tăng Trai (thỉnh một ngàn vị Tăng thọ trai cúng dường).
Trai đàn hoàn mãn, Ngài bèn nói với đại chúng:
–Các
ông cho rằng kiết già ngồi chết là phương pháp hay nhứt,
nay ta cho các ông xem một cách chết đặc biệt. Sự sanh tử
của tôi rất tự do, không bị hạn chế của thời gian.
Nói
xong, tay trái cầm lấy cành cây, chân giơ lên như thế mà
an nhiên thị tịch. Lúc Ngài viên tịch, là bao nhiêu tuổi,
là người ở địa phương nào, thân thế ra sao, đều không
ai biết.
Có
người nghe xong rất kinh sợ nghĩ rằng:
–Vị
Tổ thứ nhất là Bồ Ðề Ðạt Ma bị đầu độc chết, vị
Tổ thứ hai bị giết chết, vị Tổ thứ ba thì nắm lấy
cành cây mà thác. Tôi thiệt không dám làm Tổ Sư, nguy hiểm
quá!
Quý
vị muốn làm cũng làm không được, và không có khả năng
làm, vì quý vị sợ chết. Làm Tổ Sư có nghĩa là không sợ
chết, xem tử và sanh đều giống nhau không có gì sai khác,
cho nên nói rằng "Phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết
Bàn. Dạo chơi nhân gian, giáo hóa chúng sanh." Ðó mới có thể
làm Tổ Sư. Quý vị nhát gan như thế, có lòng sợ sệt, ngay
làm đồ đệ của Tổ Sư cũng còn không được. Tổ Sư đều
không sợ khổ, không sợ tai nạn, không sợ sanh, không sợ
chết. Quý vị không sợ chết thì mới có thể làm Tổ Sư.
Nay nếu ai không sợ chết, tôi liền phong người đó là Tổ
Sư.
Tứ
Tổ Ðạo Tín, lúc nhỏ theo Tam Tổ Tăng Xán xuất gia học
đạo, sáu mươi năm ngồi không nằm, đôi mắt thường nhắm,
dụng công biện đạo, không phải Ngài ngủ. Khi Ngài mở mắt,
người thường đều giật mình kinh sợ giống như bị động
đất. Tại sao vậy? Không ai biết được. Nhưng đó chính
là uy đức của Ngài.
Ðường
triều Trinh Quán năm thứ mười bảy (công nguyên năm 644),
Thái Tông phái sứ thần mời Ngài đến hoàng cung để cúng
dường, lễ Ngài làm thầy. Nếu như Pháp sư đời nay, Hoàng
đế không mời cũng tìm cách gặp Hoàng đế, dựa dẫm vào,
huống chi nay được lễ bái cung thỉnh? Nhưng Tứ Tổ đã
từ chối, lựa lời nói:
–Tôi
niên kỷ đã lớn, đi cũng đi không nổi. Tuổi già sức yếu,
cho nên không thể đi đến Kinh thành được.
Sứ
thần trở về tâu lên Hoàng đế, Hoàng đế nói:
–Ngươi
quay về nói với Tứ Tổ, bất luận là Ngài lớn tuổi đến
đâu đi nữa, ta vẫn mời Ngài vào hoàng cung cúng dường.
Sứ
giả đành đi đến chỗ Tứ Tổ, thưa với Ngài rằng:
–Hoàng
thượng nói bất luận là Ngài già yếu đến đâu, cũng dùng
kiệu để rước Ngài vào hoàng cung để cúng dường.
Ngày
xưa không có máy bay, không giống như bây giờ giao thông rất
tiện lợi. Tứ Tổ trả lời:
–Không
được, tôi đã quá già, nếu như ông nhất định muốn tôi
đi, thì chặt đầu tôi mà đem đi. Chớ tâm của tôi dù thế
nào đi nữa cũng nhất quyết không đi.
Sứ
giả không có cách nào, chỉ đành trở về đem sự việc như
thế báo cáo hoàng đế:
–Vị
Hòa Thượng đó thật là kỳ lạ, cũng không biết nhân tình
thế thái. Ông ta nói dù chặt đầu ông ta, ông ta cũng không
đến gặp bệ hạ.
–Ðược,
khanh hãy đi đem đầu ông ta mang về đây.
Vua
dùng một cái hộp, trong hộp có đựng một thanh gươm bén
giao cho sứ thần và nói:
–Cầm
lấy thanh gươm này, chặt đầu ông ta mang về đây.
Nhưng
lúc sắp khởi hành, Hoàng đế lại nói với sứ thần:
–Dù
thế nào đi nữa khanh cũng không được làm tổn thương đến
vị Hòa Thượng đó.
Sứ
thần hiểu rõ thâm ý của Hoàng đế, liền quay trở lại
đến chỗ của Tứ Tổ và nói:
–Lão
Hòa Thượng! Rốt cuộc Ngài có đi hay không? Nếu không đi,
thanh gươm này sẽ dùng để chặt đầu Ngài, đem đầu Ngài
đi gặp hoàng thượng.
Tổ
sư Ðạo Tín nói:
–Tốt
lắm! đầu của tôi có thể gặp hoàng thượng, đó là vinh
dự của tôi, mời Ngài lại chặt đầu của tôi đi!
Sứ
thần cầm thanh gươm làm điệu bộ như chặt đầu Tứ Tổ.
Nhưng nhìn thấy Tứ Tổ quả nhiên giơ đầu ra chịu chém
không chút sợ sệt, bèn bỏ gươm xuống, cất lại vào hộp.
Tổ sư Ðạo Tín nhắm mắt chờ sứ thần chém đầu, nhưng
chờ rất lâu mà không thấy động tĩnh, bèn tức giận la
lên:
–Tại
sao ngươi không chặt đầu ta.
Tình
hình lúc này cũng không khác gì trường hợp của Nhị Tổ.
Sứ thần nói:
–Nhà
Vua sai tôi chỉ được nói như vậy, nhưng không được làm
tổn hại đến Ngài.
Tổ
sư Ðạo Tín nghe xong cười lớn nói:
–Nay
ông đã biết, trên thế gian thiệt có người không sợ chết!
Tứ
Tổ họ Tư Mã, xuất gia pháp danh Ðạo Tín, là một giòng
họ có danh vọng thời bấy giờ. Từ nhỏ xuất gia học đạo,
tại thế bảy mươi hai năm, sáu mươi năm lưng không dính
chiếu, đã thành tựu cảnh giới bất khả tư nghì. Có lần
Ngài đang ở trên núi tu đạo, có một đám giặc cướp bao
vây thành khoảng hơn một trăm ngày, lương thực trong thành
cùng với nước uống đều dứt tuyệt, khô kiệt. Ðại sư
nhìn thấy tình hình như thế, bèn đến trong thành dạy tất
cả quan quân và dân chúng tụng "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
Ða." Niệm không bao lâu, giặc cướp bèn rút lui, giếng
nước đang khô cạn tự nhiên tràn ra những dòng nước ngọt,
đây là một cảnh giới cảm ứng.
Lúc
đó, Ngài dùng Phật nhãn quan sát, thấy núi Phá Ðầu ở Hà
Bắc, có mây tía xoay quanh, bao trùm cả khu núi đó. Những
vầng mây tía này là điều báo điềm lành, vì thế Ngài bèn
đến trú ngụ tại ngọn núi này, và đổi tên núi là Song
Phong Sơn.
Ngài
giáo hóa những chúng sanh cang cường khó độ, mong cho họ
bỏ ác làm lành, nhưng họ cứ y theo đường cũ tiếp tục
làm ác, không nghe theo lời giáo hóa. Tứ Tổ nhẫn nại áp
dụng các loại pháp môn phương tiện quyền xảo, khiến cho
họ bỏ tà quy chánh. Trong hơn bốn mươi năm hoằng dương
Phật pháp, Ngài giáo hóa chúng sanh nhiều vô số.
Một
ngày nọ Tứ Tổ nói với đồ chúng rằng:
–Các
ông phải làm cho ta một cái tháp, ta sắp đi rồi.
Khi
Bảo tháp vừa xây xong, đời Ðường Vĩnh Huy năm thứ hai
(công nguyên năm 651), ngày hai mươi bốn tháng chín nhuần,
Tứ Tổ không bệnh mà viên tịch. Ðồ đệ của Ngài liền
đặt Ngài vào trong Bảo tháp làm bằng đá. Bảo tháp vốn
dùng khóa sắt khóa cẩn thận. Một năm sau đó, cửa tháp
tự động mở ra, đồ chúng thấy Tứ Tổ vẫn đoan nhiên
chánh tọa bên trong, sinh động giống như lúc sống, nhưng
thịt thì đã khô. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, nhìn thấy tướng
hảo của Tứ Tổ như vậy rất hoan hỷ. Ngài bèn dùng vải
dầu phết vàng, giữ gìn nhục thể của Tứ Tổ. Cho đến
ngày nay nhục thể của Tứ Tổ vẫn còn lưu lại cho người
đời lễ bái chiêm ngưỡng cúng dường.
Ðường
triều Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, họ Châu, là người Hoàng Mai (huyện
Hoàng Mai nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, núi Song Phong thuộc huyện
Hoàng Mai), bảy tuổi xuất gia, bái Tứ Tổ làm Thầy, mười
ba tuổi thọ Sa di giới. Tánh tình hồn hậu ít nói, tuy các
bậc đồng học nhiều lần ăn hiếp khinh thường, Ngài vẫn
bình thản, xem như không có gì xảy ra. Ban ngày theo chúng công
quả, việc gì cũng làm; ban đêm ngồi thiền nhiếp trì thân
tâm, không nói chuyện thị phi, đi theo Tứ Tổ ba mươi năm
tu học Phật pháp. Ngũ Tổ thân cao tám thước, tướng mạo
kỳ đặc. Ngài trú trên ngọn núi Bằng Mậu, phía đông của
núi Song Phong, vì thế đương thời gọi là "Ðông Sơn pháp
môn." Có lần nhìn thấy một đám giặc cướp bao vây thành
Hồ Bắc, ngăn chận tất cả đường xá giao thông, Ngũ Tổ
từ Ðông Sơn đi vào trong thành. Lúc bọn giặc cướp trông
thấy Ngài sợ hãi không còn hồn vía. Vì đám giặc cướp
thấy không phải là Tổ Sư mà là vị Kim Giáp Kim Cang Vương
Bồ Tát, tay cầm bảo khí, oai đức lẫm liệt, hào quang sáng
ngời. Giặc cướp tứ tán rút lui, nhờ đó mà thành được
giải vây.
Ðại
sư làm sao có thể biến hiện thân Kim Cang Vương Bồ Tát?
Vì Ngũ Tổ là bậc chân tu, lại thường hay tụng chú Lăng
Nghiêm. Chú Lăng Nghiêm nói: "Nếu ai nhứt tâm tụng trì chú
Lăng Nghiêm, thì sẽ được tám vạn bốn ngàn Kim Cang Tạng
Bồ Tát bảo hộ trong bất cứ mọi trường hợp nguy hiểm
tai nạn nào." Vua Cao Tông đời Ðường, nhiều lần hạ chiếu
mời Ðại sư đến hoàng cung cúng dường, nhưng đều bị
Ðại sư khéo léo từ chối. Sau cùng Hoàng đế liền cho người
mang nhiều lễ vật, thuốc men quý giá đến cúng dường Ngũ
Tổ.
Ðường
Hàm Hanh năm thứ năm (công nguyên năm 674), Ngũ Tổ nói với
đệ tử rằng:
–Các
ông làm cho ta một ngôi tháp, ta sắp đi rồi.
Tháng
sau vào ngày mười bốn, Ngài lại hỏi:
–Tháp
đã chuẩn bị xong chưa?
Chúng
đệ tử trả lời:
–Bạch
Ðại sư, tháp đã xây xong rồi.
–Nhiều
năm qua ta giáo hóa chúng sanh, độ hóa người có duyên, và
phú pháp cho Lục Tổ Huệ Năng. Nay các ông có mười người
là bậc pháp tự, hãy kiến lập đạo tràng, hộ trì Phật
giáo, hoằng dương chánh pháp, giáo hóa chúng sanh.
Mười
vị đại đệ tử tức là Thần Tú, Trí Thâm, Huệ Tạng,
Huyền Ước, Lão An, Pháp Như, Trí Ðức, Nghĩa Phương, Huệ
Năng và Lưu Chủ Bộ. Ngũ Tổ đưa tiễn mười vị này đi
khắp các nơi giáo hóa chúng sanh.
Không
lâu, Ngũ Tổ an tọa mà nhập Niết Bàn. Suốt bảy mươi bốn
năm, rộng mở giáo pháp, đồ chúng rất đông, truyền y bát
cho Ðại sư Huệ Năng.
Trên
đây đã lược thuật Tây Thiên Tổ thứ hai mươi tám Bồ
Ðề Ðạt Ma, đã đem pháp truyền vào phương Ðông, là Sơ
Tổ Thiền tông Trung Quốc. Ðời đời nối tiếp, nhất phái
đơn truyền, bẩm thừa chánh pháp nhãn tạng của Ðức Thích
Ca Mâu Ni, cho đến sự tích của Ðức Lục Tổ Huệ Năng.
"Lục
Tổ Pháp Bảo Ðàn Kinh lược tự," do Pháp Hải Thiền Sư,
đệ tử đắc pháp của Lục Tổ, biên soạn, ghi lại sự
tích sanh bình của Lục Tổ.
Ðại
sư tên là Huệ Năng. Thân phụ của Ngài họ Lư, húy Hạnh
Thao, thân mẫu của Ngài là Lý thị.
Ngài
sanh vào đời Ðường, niên hiệu Trinh Quán, năm thứ mười
hai, nhằm năm Mậu Tuất, tháng hai, ngày mùng tám, giờ tý.
Lúc
sanh Ngài có một đạo hào quang chiếu lên hư không, lại có
mùi thơm xông khắp cả nhà.
Trời
vừa rựng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến xin viếng và
gọi thân phụ Ngài mà nói rằng: "Nhơn có đứa nhỏ sanh ngày
đêm qua, nên chúng tôi đến đặt tên giùm. Nên đặt trên
chữ Huệ, dưới chữ Năng."
Thân
phụ Ngài hỏi: "Sao gọi là Huệ Năng?"
Một
vị tăng đáp: "Huệ nghĩa là đem pháp huệ mà thí cho chúng
sanh, Năng nghĩa là làm được việc Phật."
Nói
rồi hai vị tăng liền đi ra, chẳng biết đi xứ nào.
Ðại
sư khi lọt lòng mẹ, không bú sữa, ban đêm có thần nhơn
rưới nước cam lồ cho Ngài.
Giảng:
Ðại
sư tên Huệ Năng, cha tên Lư Hạnh Thao, Mẹ họ Lý. Ðại sư
sanh vào đời Ðường Trinh Quán năm thứ mười hai (công nguyên
năm 638), giờ Tý mùng tám tháng hai năm Mậu Tuất. Lúc Ngài
ra đời hào quang chiếu sáng hư không, giống như Phật đỉnh
phóng quang, hương lạ đầy nhà. Sáng sớm ngày hôm sau có
hai vị dị Tăng đến viếng thăm nói:
–Ðứa
trẻ ra đời tối hôm qua cùng với Phật pháp có duyên, vì
thế chúng tôi đến đây xin được đặt tên cho đứa bé,
thượng Huệ hạ Năng là tên.
Cha
của Ngài không hiểu bèn hỏi:
–Tại
sao gọi là Huệ Năng?
Tăng
đáp:
–"Huệ"
là dùng Phật pháp huệ thí chúng sanh, "Năng" là có thể hoằng
dương Phật pháp.
Nói
xong liền đi mất, không biết đi đâu. Huệ Năng sinh ra, không
uống sữa mẹ mà tự lớn. Theo truyền thuyết, mỗi đêm đều
có thần nhân đến cho uống nước cam lồ.
Ðến
lớn hai mươi bốn tuổi, Ngài nhờ nghe Kinh mà ngộ đạo.
Ngài đến viếng Ngũ Tổ Hoàng Mai mà cầu ấn khả.
Giảng:
Một
ngày nọ, Huệ Năng đang bán củi, nghe một người khách tụng
Kinh Kim Cang, nghe đến câu "ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ
tâm," liền lập tức khai ngộ. Hiện nay có nhiều người đã
từng nghe qua Kinh Kim Cang, nhưng không có ai khai ngộ.
Tôi hy vọng ở Tây phương, có người nghe đến câu "ưng vô
sở trụ, nhi sanh kỳ tâm" có thể hiểu rõ nghĩa lý mà lập
tức khai ngộ.
Sau
khi khai ngộ, Ðại sư không có đi khắp nơi rêu rao: "Xem nè!
Tôi đã khai ngộ rồi." Ngài không giống như một số người
hiện nay, chỉ mới hiểu có một chút kiến thức nông cạn
về Phật pháp, bèn đi khắp nơi khoe khoang mình đã khai ngộ.
Người xưa dù đã khai ngộ, cũng không dám khinh suất nói
rằng mình đã khai ngộ, hà huống những người vốn chưa
khai ngộ, càng không nên đi khắp nơi tuyên dương khoe khoang
như vậy. Nếu đã khai ngộ, cần phải đi tìm một vị Thiện
tri thức mắt sáng (minh nhãn) để chứng minh. Ðó chính là
nguyên nhân mà Lục Tổ đi Hoàng Mai cầu Ngũ Tổ ấn chứng.
Từ
xưa đến nay, người giác ngộ không bao giờ dám tự mình
ấn chứng mình, không giống như người bây giờ, chưa ngộ
nói ngộ, phạm đại vọng ngữ. Cần phải biết ngộ và chưa
ngộ sai khác một trời một vực, làm sao có thể chân ngụy
không phân biệt được, lấy giả thay thật, mắt cá lẫn
vào hạt châu, nhắm mắt nói mò ư?
Hiện
nay lại có một số thanh niên vô ý thức, sau khi hút ma túy,
LSD, say túy lúy, mất hết trí khôn. Lúc đó, ma vương mê hoặc
thế gian, giả làm Thiện tri thức mà chứng minh cho họ rằng:
–Ðúng
rồi, ngươi đã đạt đến cảnh giới không, nhưng mà
ngươi không thể nào ở trong hư không, cần phải trở về
chỗ tôi, tôi có phòng ốc, có nhà cửa, lại có nơi nghỉ
mát, thoải mái tiện nghi!
Những
người này nghe xong liền bái ma vương làm thầy, thật ra mấy
người ác tri thức đó, vốn cũng không biết mình là thiệt
hay giả, cho nên có câu: "thầy trò cùng mê mờ, người mù
dắt người đui" vậy.
Cho
nên chúng ta cần phải dùng kinh điển để chứng minh. Kinh
điển hoàn toàn không có nói người ngu đó đang ở trong hư
không xây dựng phòng ốc. Dù hiện nay hỏa tiễn có thể bay
đến mặt trăng, nhưng trong không trung thì không thể nào kiến
lập lầu các được. Làm sao có thể lập luận ấu trĩ như
vậy?
Hiện
nay chúng ta rất bận rộn, sáng sớm bốn giờ đã thức dậy
tụng kinh. Chúng ta ở trên mặt đất này bận rộn xây dựng
nhà cửa, nhưng không thể xây dựng được ở hư không. Tại
sao vậy? Tại vì chúng ta đang ở trên mặt đất, cho nên nhà
cửa cũng cần phải xây dựng trên mặt đất. Chúng ta quên
mất thân này, mà tạo thân Kim Cang, thân này giống như nhà
ở của chúng ta, rồi một ngày nào đó bị hư hoại đi. Nay
từ sớm đến tối chúng ta bận rộn nung đúc, rèn luyện,
đến cuối cùng có thể tu hành đạt đến thân Kim Cang bất
hoại. Sau khi thành tựu thân Kim Cang bất hoại thì có thể
tùy tâm sở dục mà đi vào hư không, trên có thể lên đến
trời, dưới có thể đi xuống đất hoặc đến Long cung cũng
được. Không cần hộ chiếu hoặc hành trình cũng có thể
đi đến đích, phi hành tự tại khắp nơi, nhưng đầu tiên
quý vị cần phải tu cái thân bất hoại mới có thể đạt
cảnh giới này.
Ngũ
Tổ xem Ðại sư, nhận ra Ngài có tài đức xứng đáng, nên
phú chúc y bát và dạy Ngài nối ngôi Tổ sư. Lúc ấy nhằm
đời Ðường Cao Tông, ngươn niên Long Sóc, năm Tân Dậu.
Ngài
qua phương Nam ẩn dật mười sáu năm.
Giảng:
Sau
khi rời khỏi Hoàng Mai, Lục Tổ không có một chỗ trú ngụ
an toàn. Vì đồ đệ của Thần Tú và các giáo phái khác muốn
hãm hại Ngài, vì thế Ðại sư lánh nạn trong nhóm thợ săn
suốt mười sáu năm. Trong thời gian này không ai biết Ngài
là Lục Tổ. Ngài một mặt dụng công tu thiền định đồng
thời làm công việc canh giữ lưới cho đám người thợ săn.
Nếu thấy trong lưới có chim thú, Ngài đều tìm đủ mọi
cách phóng sanh chúng. Lúc này Ngài có đủ thời gian để tu
hành viên mãn công phu của mình mà không bị ai quấy rầy.
Nếu
quý vị không chân chánh tu hành thì mọi chuyện đều êm thuận.
Một khi phát tâm tu hành, thì ma chướng từ bốn phương tám
hướng kéo đến, và tất cả các hiện tượng không tưởng
tượng được đều có thể phát sanh.
Trong
thời gian mười sáu năm cùng sống với nhóm người thợ săn,
Lục Tổ được an ổn. Ðây là một sự ẩn náu một cách
sáng suốt – không cầu danh, không cầu lợi, không gây thiệt
hại cho người, mà là chân chánh dụng công tu hành.
Ðến
ngày mùng tám, tháng giêng, năm Bính Tý, đời Ðường Cao Tông
nguyên niên Nghi Phụng, Ngài cùng Ấn Tông Pháp sư luận bàn
đạo lý sâu mầu. Ấn Tông Pháp sư khế ngộ tông chỉ của
Ðại sư.
Giảng:
Hai
người đã thảo luận nhiều lần, đưa ra cách nhìn của mình
về đạo lý. Thế thì ai hỏi ai? Ðó là Pháp sư Ấn Tông
hỏi Lục Tổ Ðại sư vậy. Lục Tổ đã giải quyết vấn
đề tranh luận phướng động hay gió động, thật ra là tâm
động. Pháp sư Ấn Tông rất kinh ngạc nghe một người tại
gia mà có thể nói ra đạo lý thâm sâu như vậy bèn lập tức
rời pháp tòa cung thỉnh Lục Tổ vào trong liêu của mình đàm
luận. Ấn Tông Pháp sư hỏi:
–Ông
từ đâu đến, tên họ là gì ?
Pháp
sư Ấn Tông sau khi biết vị tại gia này là đệ tử đắc
pháp của Ngũ Tổ, là người đã được Ngũ Tổ truyền cho
y bát, Ngài lập tức đảnh lễ Lục Tổ. Sau đó cầu hỏi
những đạo lý nhiệm mầu sâu sắc trong kinh sách, thảo luận
về gió động phướng động. Sau khi cùng với Lục Tổ luận
bàn xong, Ðại sư Ấn Tông mới hiểu rõ và ngộ được nghĩa
lý của Thiền tông.
Ngày
rằm tháng ấy, Ấn Tông Pháp sư nhóm hết tứ chúng mà xuống
tóc cho Ðại sư, rồi qua mùng tám, tháng hai, lại nhóm hết
các vị danh đức mà truyền thọ Cụ túc giới cho Ngài.
Trí
Quang Luật sư ở Tây kinh làm Thọ giới sư,
Giảng:
Vào
ngày rằm tháng giêng Pháp sư Ấn Tông tập hợp tứ chúng
Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cử hành nghi lễ
thế độ cho Lục Tổ Ðại sư, khiến cho hiển hiện tướng
xuất gia mà thành Tỳ khưu.
Người
xuất gia có rất nhiều lý do xuất gia không giống nhau. Có
người vì cuộc sống khó khăn, nhìn thấy người xuất gia
được người cúng dường, có cái ăn có cái mặc vì thế
mà xuất gia. Có người xuất gia vì tuổi già không có con
cái chăm sóc, họ nghĩ: "Sau khi ta xuất gia, thâu nhận một
đứa đệ tử trẻ tuổi, nó sẽ lo lắng chăm sóc cho ta giống
như con ta vậy." Có người vì đã từng làm trộm cướp, hoặc
vì trốn tránh pháp luật, sau khi xuất gia xuống tóc, có thể
tránh được nạn chánh phủ bắt được chém đầu họ. Có
người lúc còn nhỏ đã bị đưa đến Chùa xuất gia. Ðây
là một vài lý do mà người ta xuất gia. Sau khi xuất gia, có
thể chân chánh dụng công tu hành hay không, thì thật là khó
nói.
Có
người mê tín (mê mà có lòng tin). Như một vài bậc
cha mẹ thấy con mình bệnh nặng, bèn nghĩ rằng: "Con của
mình có thể chết vì bệnh, cần nên đem nó đến Chùa cho
xuất gia." Do vì mê tín, cha mẹ bèn đưa con vào Chùa. Người
"mê tín" còn có chỗ hy vọng. Lại có người thì "tín mê"
(tin vào điều mê lầm) tức là chuyên tin theo những lập luận
tà tri tà kiến, tùy theo những tư tưởng không chính xác mà
chuyển biến theo, thật là như lời người ta thường nói:
"mê trong mê." Có người thì "mê mà không tin," (vừa
mê lại vừa không tin), trong cái mê của họ không tin tưởng
vào bất cứ việc gì. Nhưng có người thì "tin mà không
mê," những người này dùng chân tâm học Phật pháp, cho
đến khi hiểu rõ chân lý thì không còn mê mờ nữa.
Những
người xuất gia này có thể chân chánh dụng công tu học hay
không, cũng không chắc chắn lắm, hoặc có thể có một hoặc
hai phần trăm chân chánh tu học Phật pháp. Nhưng, nếu quý
vị hạ quyết tâm nhứt quyết khai ngộ, để liễu sanh thoát
tử, thì sau khi xuất gia có thể siêng năng nỗ lực dụng
công tu hành.
Có
một vài người xuất nhà thế gian, tức ra khỏi nhà tam thế:
dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Sau khi ra khỏi tam giới
sẽ không còn chấp vào dục sắc, sắc giới, vô sắc giới
vì họ không còn chỗ chấp trước, xem tam giới như hoa đốm
giữa hư không, cho nên nói vượt ra khỏi sự trói buộc của
tam giới, ra khỏi nhà tam giới. Có vài người xuất phiền
não gia, nếu quý vị xuất gia mà không đoạn phiền não, thì
không thể đắc đạo, vì thế nhất định phải trừ phiền
não.
Lục
Tổ là một ví dụ đặc biệt, không giống như các lý do
đã nói ở trên, vì Ngài đã đạt đến cảnh giới tự do
tự tại, xuất gia hay không xuất gia cũng không có gì sai biệt.
Lúc còn là cư sĩ, Ngài thực hành Bồ Tát đạo, không giống
như những người tại gia tầm thường khác.
Mùng
tám tháng hai là ngày Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất gia, trong
ngày này tập trung các bậc cao Tăng Ðại đức trong mười
phương – Pháp sư Trung Quốc và Pháp sư Ấn Ðộ – vân tập
lại, truyền giới cụ túc cho Lục Tổ. Pháp sư Ấn Tông mời
Luật sư Trí Quang ở Tây Kinh làm Truyền giới sư cho Lục
Tổ. Luật sư Trí Quang trì giới nghiêm minh, trong bốn oai nghi:
hành, trụ, tọa, ngọa đều đầy đủ bốn đại oai nghi.
Phàm nhứt cử, nhứt động của Luật sư, đều cần phải
hợp với luật nghi, không thể tùy tiện. Vì thế Kinh Lăng
Nghiêm nói: "Nghiêm tịnh tỳ ni, hoành phạm tam giới."
Huệ
Tĩch Luật sư ở Tô Châu làm Yết-ma,
Thông
Ứng Luật sư ở Kinh Châu làm Giáo thọ,
Kỳ
Ðà La Luật sư ở Trung Thiên Trúc thuyết giới,
Mật
Ða Tam Tạng ở Tây Thiên Trúc chứng giới.
Giảng:
Yết-ma
là Phạn ngữ, có nghĩa là biện sự, là người biện sự
trong lúc truyền giới. Yết-ma cần phải xác thực tất cả
mọi sở hành đều hợp với giới pháp, hợp với quy củ
mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đặt ra. Các việc làm nếu
không hợp với Phật pháp, thì không được Yết-ma chấp nhận.
Lúc
truyền giới, Truyền giới sư hỏi Thầy Yết-ma ba lần:
–Có
thể truyền giới cho người này không?
Mỗi
lần Yết ma đều phải trả lời:
–Có
thể.
Trên
giới đàn, Yết-ma ngồi bên trái của Giới sư, Giáo thọ
sư ngồi bên phải, còn lại bảy vị Chứng giới sư ngồi
hai bên. Tất cả là ba vị A-xà-lê và bảy vị Chứng giới
sư. Các Ngài đại diện cho mười phương chư Phật giảng
pháp và truyền giới. Cho nên xuất gia thọ giới là một việc
rất quan trọng.
"Giáo
thọ" tức truyền thọ kinh điển. Kỳ Ða La là tiếng Phạn,
nghĩa là "Công Ðức Hoa." Pháp sư Mật Ða tinh thông ba tạng
Kinh Luật Luận, cho nên tôn xưng Ngài là Tam Tạng Pháp sư.
Tất cả giới thần đều đến bảo hộ vị Pháp sư tài trí
này, trong cuộc đời của Ngài có rất nhiều sự tích thần
kỳ, "Mật Ða" có nghĩa là hưng thạnh, tươi tốt.
Nguyên
Giới đàn này do Tam Tạng Ðại sư Cầu Na Bạt Ðà La ở triều
nhà Tống, đứng ra sáng lập và có dựng bia ghi lời Sấm-truyền
rằng: "Sau sẽ có một vị Bồ Tát xác phàm thọ giới tại
chỗ nầy."
Giảng:
Cầu
Na Bạt Ðà La, nghĩa là "Công Ðức Hiền." Vị Pháp sư này
ở Chùa Quang Hiếu kiến lập một pháp đàn, trên pháp đàn
dựng một bia đá, có ghi lời dự ngôn: "Ðời sau có một
vị nhục thân Bồ Tát thọ giới cụ túc tại đây."
Ðến
đời Lương Võ Ðế, nguyên niên Thiên Giám, lại có Tam Tạng
Ðại sư Trí Dược từ Tây Thiên Trúc ngồi thuyền vượt
biển sang Trung Quốc, đem một cây Bồ đề từ Thiên Trúc
trồng nơi bờ ranh Giới đàn ấy, và cũng có đặt bia ghi
lời dự ngôn như vầy: "Sau nầy một trăm bảy mươi năm,
sẽ có một vị Bồ Tát xác phàm khai diễn pháp thượng thừa
ở dưới cội cây nầy, cứu độ vô số chúng sanh, ấy là
vị Pháp chủ truyền thọ tâm ấn của Phật."
Giảng:
Lương
Vũ Ðế Thiên Giám nguyên niên (công nguyên năm 502), từ Ấn
Ðộ Tam Tạng Pháp sư Trí Dược ngồi thuyền vượt biển
đến đây, nhìn thấy pháp đàn và bia đá này, bèn lấy cây
Bồ đề mà Ngài đã đem từ Ấn Ðộ đến đây, trồng bên
cạnh pháp đàn và lập bia dự đoán rằng:
–Một
trăm bảy mươi năm sau, sẽ có một vị nhục thân Bồ Tát
ở dưới cội Bồ đề này, khai diễn Phật pháp thượng thừa,
trực chỉ tâm địa kiến tánh pháp môn mà thành tựu Phật
đạo.
Cây
Bồ đề khắp nơi đều có thể sanh trưởng, tại Trung Quốc
hiện có rất nhiều loại cây này.
Xưa
kia Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trên hội Linh Sơn niêm hoa thị
chúng, đem tâm ấn của chư Phật truyền cho Tôn giả Ma Ha
Ca Diếp. Tổ sư là người truyền Phật tâm ấn, mà Pháp sư
là người giảng kinh thuyết pháp.
Nhục
thân bất hoại của Ðại sư Trí Dược hiện vẫn còn bảo
tồn trong Chùa Nguyệt Hoa cách Chùa Nam Hoa năm dặm. Người
quản lý trong Chùa đã xuất gia, không chiêu đãi khách thập
phương, vì thế nếu muốn đi đến tham quan, phải tự chuẩn
bị đồ ăn thức uống. Lúc tôi ở Chùa Nam Hoa đã từng đến
Chùa Nguyệt Hoa, nhìn thấy nhục thân của Ðại sư Trí Dược
được giữ gìn toàn vẹn, hoàn chỉnh, không có một chút
hư tổn.
Thật
quả như lời sấm truyền, Ðại sư đã đến chỗ nầy mà
thế phát và thọ giới, và chỉ bày yếu chỉ của tâm pháp
truyền thừa cho tứ chúng vậy.
Giảng:
Lục
Tổ sau khi xuống tóc thọ Cụ-túc giới, bèn giảng kinh thuyết
pháp cho tứ chúng nghe, truyền thọ bất nhị pháp môn, tức
là từ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đời đời tương truyền
pháp môn tâm ấn.
Qua
năm sau, nhằm mùa xuân, Ðại sư từ giả đồ chúng mà về
chùa Bảo Lâm. Khi ấy sư Ấn Tông cùng các vị tăng, người
tục, có trên một ngàn người đến tiễn Ngài thẳng tới
Tào Khê.
Giảng:
Mùa
Xuân năm sau, Lục Tổ từ giã đại chúng mà trở về Bảo
Lâm. Y phục màu đen (tư) là của người xuất gia, lúc đó
người tại gia mặc đồ trắng (bạch), vì thế nói: tư bạch
hàng ngàn người đưa tiễn Ðại sư đến Tào Khê.
Có
người chưa đến Tào Khê mà nói rằng mình đã đến đó,
họ ngụy truyền cái gọi là Tào Khê Pháp môn và Thiền tông
bí truyền. Thời mạt pháp khắp nơi đều có hiện tượng
này: giả Phật giáo đồ, giả nhãn hiệu.
Lúc
ấy có Thông Ứng Luật sư ở Kinh Châu, cùng các vị học
giả kể có một trăm người, đều theo học với Ðại sư.
Khi
Ðại sư đến chùa Bảo Lâm tại Tào Khê, thấy chùa chật
hẹp, không đủ dung nạp đồ chúng, thì có ý muốn mở rộng
ra. Ngài đến viếng một người trong xóm là Trần Á Tiên
mà nói rằng: "Lão tăng đến đây muốn cầu thí chủ cho một
khoảnh đất vừa đủ trải tấm tọa cụ được chăng?"
Giảng:
Lúc
đó Luật sư Thông Ứng ở Kinh Châu biết Lục Tổ là vị
pháp chủ truyền Phật tâm ấn, bèn dẫn đồ đệ của mình
theo Ðại sư học pháp. Lúc Ðại sư đến Tào Khê, nhìn thấy
giảng đường nhỏ hẹp, không thể dung nạp số người đông
như thế, bèn có ý mở rộng giảng đường. Ngài đến thăm
địa chủ Trần Á Tiên nói:
–Thí
chủ có thể cúng dường cho lão Tăng một mảnh đất bằng
miếng tọa cụ này chăng?
Trần
Á Tiên nói: "Tấm tọa cụ của Hòa Thượng rộng bao nhiêu?"
Ðại
sư lấy tấm tọa cụ chỉ cho Trần Á Tiên xem, Á Tiên thưa:
Ðược. Ðại sư liền lấy tấm tọa cụ phóng ra, bao trùm
hết bốn cảnh Tào Khê, lại có bốn vị Thiên Vương hiện
thân ngồi trấn bốn hướng.
Giảng:
Ðại
sư đưa miếng tọa cụ của Ngài cho Trần Á Tiên xem. Ông
ta nói:
–Nếu
Ngài chỉ cần mảnh đất to bằng tấm tọa cụ thì con sẵn
lòng cúng dường.
Nhưng
lúc Ðại sư trải tấm tọa cụ ra, không những khắp cả
Chùa Nam Hoa mà cả hơn mười mẫu đất đều được che phủ.
Lúc đó Tứ đại thiên vương hiện thân, ngồi trấn ở bốn
phương, cho nên mới có cảnh giới kỳ diệu như vậy xuất
hiện.
Nay
tại cảnh chùa có núi Thiên Vương vì nhơn chuyện này mà
đặt ra tên núi ấy. Trần Á Tiên thưa: "Con biết pháp lực
của Hòa Thượng thật là quảng đại, nhưng vì phần mộ
của cao tổ con đều nằm trong khoảnh đất nầy, ngày sau
nếu có cất tháp, xin giữ lại các phần mộ, còn giai dư
con hỷ cúng hết, để làm ngôi Bảo-phường vĩnh viễn. Lại
chỗ đất nầy có long mạch hình voi trắng, vậy chỉ nên
bình thiên chẳng nên bình địa."
Về
sau khi chùa được kiến thiết, nhất nhất đều làm y theo
lời thỉnh cầu của Trần Á Tiên.
Mỗi
lần Ðại sư đi dạo trong cảnh chùa, gặp chỗ nào nước
non xinh đẹp, Ngài dừng chơn ngồi nghĩ.
Giảng:
Nay
trong cảnh Chùa có Thiên Vương Lĩnh, chính vì câu chuyện này
mà được tên. Trần Á Tiên nói:
–Con
biết Hòa Thượng Ngài pháp lực thần thông quảng đại, nhưng
phần mộ cao tổ của con đều ở trong mảnh đất này, tương
lai sau này nếu xây dựng Chùa Tháp xin Ngài chừa lại phần
mộ của tổ tiên con, ngoài ra các phần đất khác con đều
cúng dường Tam Bảo, vĩnh viễn làm đất Già lam.
Long
mạch của đất này rất thạnh, núi giống như hình voi trắng,
là nơi "bảo sở," tức là một chỗ rất tốt để xây dựng
đạo tràng. Hình địa thế cao thì vật kiến trúc nên xây
dựng thấp một chút. Ðịa thế thấp thì có thể xây dựng
cao một chút, khiến cho các mái nhà có thể quân bằng, nhưng
không nên san bằng đất đai, vì nếu đào đất sợ rằng
sẽ làm tổn thương đến long mạch của núi, phá hoại phong
thủy, tổn hại linh khí.
Lục
Tổ thường thường dạo chơi trong cảnh Chùa, nhìn thấy chỗ
nào có phong cảnh đẹp liền ngừng lại để nghỉ ngơi.
Vì
thế, mà mười ba Lan-nhã đã được lập lên ở những nơi
ấy, một trong những Lan-nhã đó nay là Hoa Quả viện. Cả
thảy đều phụ thuộc đạo tràng Bảo Lâm.
Nguyên
nơi đạo tràng Bảo Lâm, khi trước cũng có Tam Tạng Ðại
sư Trí Dược ở Tây Thiên Trúc, từ Nam Hải qua cửa Tào Khê,
lấy tay bụm nước uống, nghe mùi thơm ngọt, thì lấy làm
lạ, bèn kêu môn nhơn mà bảo rằng: "Nước ở đây không
khác gì bên Tây Thiên Trúc, trên nguồn khe chắc có thắng
địa, lập Lan-nhã được." Sư lần theo dòng nước lên tới
nguồn khe, nhìn quanh bốn phương, non nước xây vòng, đầu
non chân giụm, xinh đẹp lạ thường... Sư khen rằng: "Cảnh
núi nầy rõ ràng giống như cảnh núi Bảo Lâm ở Tây Thiên
Trúc."
Giảng:
Tại
sao khu đất bao quanh Chùa Nam Hoa gọi là Bảo Lâm? Bảo Lâm
có nghĩa là Vô Thượng Pháp Bảo diễn hóa tại chỗ này,
người y pháp tu hành nhiều như cây trong rừng. Ấn Ðộ Ðại
sư Trí Dược lúc uống nước tại Tào Khê, cảm thấy mùi
vị ngon ngọt chẳng khác nào ở Ấn Ðộ, Ngài biết rằng
trên đầu nguồn chắc chắn có thắng địa, có thể kiến
lập Tự viện. Ngược theo dòng nước lên đến đầu nguồn,
đến núi Bảo Lâm lúc hoàng hôn xuống, nhìn chung quanh, khắp
nơi đều là sơn thanh thủy tú, Ngài tán thán rằng:
–Núi
này thật giống núi Bảo Lâm ở Thiên Trúc, nên đặt tên
nơi nầy là Bảo Lâm đạo trường.
Không
phải chỉ có một mình Ngài, Tam tạng Trí Dược mà có rất
nhiều đồ đệ đi theo. Ngài nói với họ rằng:
–Ðầu
nguồn của dòng suối là một thắng địa, có thể kiến lập
Tự viện.
Tự
viện, tên gọi Lan-nhã là tiếng Phạn, nghĩa là tịch tĩnh
xứ, là nơi thanh tịnh tu hành. Ðất này thanh khiết, núi non
xanh biếc bao quanh, phong cảnh tú lệ, thật là nơi thắng địa
tu hành.
Sư
kêu dân làng Tào Hầu mà bảo rằng: "Nơi núi nầy nên lập
một cảnh chùa, sau đây một trăm bảy mươi năm, sẽ có một
vị Vô Thượng Pháp Bảo diễn hóa tại chỗ nầy, số người
đắc đạo nhiều như cây rừng, vậy nên đặt hiệu chùa
là Bảo Lâm."
Thuở
ấy có quan Châu mục tỉnh Thiều Châu, tên là Hầu Kỉnh Trung,
lấy những lời ấy mà làm biểu dâng vua, vua nhận lời xin,
lại ban cho một tấm biểu hiệu là Bảo Lâm. Thế mới thành
một cảnh chùa Phật. Ấy là một ngôi chùa có trước hết
đời nhà Lương, niên hiệu Thiên Giám, năm thứ ba.
Giảng:
Thôn
này gọi là Tào Hầu, là hậu duệ của Tào Tháo thời đại
Tam Quốc. Ðại sư Trí Dược dự đoán một trăm bảy mươi
năm sau, "Vô Thượng Pháp Bảo" tức là Lục Tổ trụ tại
Bảo Lâm và giáo hóa chúng sanh. Tăng chúng xuất gia và người
tại gia tại chỗ này, người khai ngộ đông như số cây trong
rừng, vì vậy đất này gọi là "Bảo Lâm." Lúc đó, trưởng
quan Thiều Châu Hầu Kỉnh Trung đem lời dự đoán của Ðại
sư Trí Dược tâu với triều đình, Lương Võ Ðế bèn ân
tứ là Bảo Lâm. Thiên Giám năm thứ ba (công nguyên năm 504),
xây dựng Chùa này, tức là Chùa Nam Hoa hiện nay.
Trước
điện chùa có một cái ao, trong đó có một con rồng thường
trồi lên hụp xuống, làm náo động các cây rừng. Một ngày
kia, rồng hiện hình rất lớn, làm cho sóng nổi nước trào,
mây mù tối mịt, các môn đồ đều kinh hãi.
Ðại
sư nạt rằng: "Ngươi có thể hiện hình lớn, mà không hiện
hình nhỏ được. Nếu ngươi là thần long thì biến hóa được;
nhỏ biến ra lớn, lớn bi