III.
CHƯƠNG NISSAGGIYA
(ƯNG
XẢ)
Bạch
chư đại đức ni, ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả
đối trị) này
được
đưa ra đọc tụng.
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[93]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư thực hiện việc tích trữ nhiều
bình bát. Dân chúng trong lúc đi dạo quanh các trú xá nhìn
thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại thực hiện việc tích trữ nhiều bình
bát? Không lẽ các tỳ khưu ni sẽ làm việc buôn bán bình
bát hay sẽ lập nên gian hàng gốm sứ?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại thực hiện việc tích
trữ bình bát?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư thực hiện
việc tích trữ bình bát, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư lại thực
hiện việc tích trữ bình bát vậy? Này các tỳ khưu, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào
thực hiện việc tích trữ bình bát thì (bình bát ấy) nên
được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).” [1]
[94]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Bình
bát nghĩa là có hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát
đất. Bình bát có ba dạng: bình bát cỡ lớn, bình bát cỡ
vừa, bình bát cỡ nhỏ. Bình bát cỡ lớn nghĩa là chứa được
một nửa āḷhaka cơm,[2] một phần tư vật thực là thức
ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Bình bát cỡ vừa nghĩa
là chứa được một nāḷika cơm, một phần tư vật thực
là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Bình bát cỡ
nhỏ nghĩa là chứa được một pattha[3] cơm, một phần tư
vật thực là thức ăn tương xứng với phần (cơm) ấy. Lớn
hơn các cỡ ấy không phải là bình bát, nhỏ hơn không phải
là bình bát.
Thực
hiện việc tích trữ: (bình bát) chưa được chú nguyện để
dùng riêng, chưa được chú nguyện để dùng chung.
Nên
được xả bỏ: Khi mặt trời mọc thì phạm vào nissaggiya,
(bình bát ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng, hoặc
đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ
khưu, nên được xả bỏ như vầy:
[95]
Vị tỳ khưu ni ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
chư ni sư, bình bát này của tôi đã qua đêm giờ cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực. Bình bát đã
xả bỏ nên được cho lại.
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Bình bát
này thuộc về tỳ khưu ni tên (như vầy) là vật phạm vào
nissaggiya đã được xả bỏ đến hội chúng. Nếu là thời
điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho lại bình
bát này đến tỳ khưu ni tên (như vầy).”
[96]
Vị tỳ khưu ni ấy nên đi đến nhiều tỳ khưu ni, đắp thượng
y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu ni trưởng thượng,
ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
- Thưa
các đại đức ni, bình bát này của tôi đã qua đêm giờ
cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến các đại
đức ni.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực. Bình bát đã
xả bỏ nên được cho lại.
“Xin
các đại đức ni hãy lắng nghe tôi. Bình bát này thuộc về
tỳ khưu ni tên (như vầy) là vật phạm vào nissaggiya đã được
xả bỏ đến các đại đức ni. Nếu là thời điểm thích
hợp cho các đại đức ni, các đại đức ni nên cho lại bình
bát này đến tỳ khưu ni tên (như vầy).”
[97]
Vị tỳ khưu ni ấy nên đi đến gặp một vị tỳ khưu ni,
đắp thượng y một bên vai, ngồi chồm hổm, chắp tay lên,
và nên nói như vầy:
- Thưa
ni sư, bình bát này của tôi đã qua đêm giờ cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến đại đức ni.
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu ni ấy. Bình bát đã xả bỏ nên được cho lại:
“Tôi cho lại ni sư bình bát này.”
[98]
Khi đã qua đêm, nhận biết là đã qua đêm, phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
đã qua đêm, có sự hoài nghi, phạm tội nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị).
Khi
đã qua đêm, (lầm) tưởng là chưa qua đêm, phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
chưa chú nguyện để dùng riêng, (lầm) tưởng là đã chú
nguyện để dùng riêng, phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả
đối trị).
Khi
chưa chú nguyện để dùng chung, (lầm) tưởng là đã chú nguyện
để dùng chung, phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).
Khi
chưa được phân phát, (lầm) tưởng là đã được phân phát,
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
không bị mất trộm, (lầm) tưởng là đã bị mất trộm,
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
không bị hư hỏng, (lầm) tưởng là đã bị hư hỏng, phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
không bị vỡ, (lầm) tưởng là đã bị vỡ, phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị).
Khi
không bị cướp, (lầm) tưởng là đã bị cướp, phạm tội
nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
[99]
Bình bát là vật vi phạm nissaggiya, không xả bỏ rồi sử
dụng, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
chưa qua đêm, (lầm) tưởng là đã qua đêm, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa qua đêm, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa qua đêm, nhận biết là chưa qua đêm thì vô tội.
[100]
Trong lúc rạng đông, vị ni chú nguyện để dùng riêng, vị
ni chú nguyện để dùng chung, vị ni phân phát, (bình bát) bị
mất trộm, (bình bát) bị hư hỏng, (bình bát) bị vỡ, (các
người khác) cướp rồi lấy đi, (các vị khác) lấy đi do
sự thân thiết, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
[101]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ni nhóm Lục Sư không cho lại
bình bát đã được xả bỏ. Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
-
Này các tỳ khưu, không nên không cho lại bình bát đã được
xả bỏ; vị ni nào không cho lại thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[102]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
nhiều vị tỳ khưu ni, khi trải qua mùa (an cư) mưa ở trú
xứ là thôn làng, đã đi đến thành Sāvatthi. Các vị ni ấy
có đầy đủ các pháp thực hành, đầy đủ oai nghi, (nhưng)
mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu. Các cư sĩ sau khi nhìn
thấy các tỳ khưu ni ấy (nghĩ rằng): “Các tỳ khưu ni này
có đầy đủ các pháp thực hành, đầy đủ oai nghi, (nhưng)
mặc vải tàn tạ và y phục thô xấu. Các tỳ khưu ni này
sẽ bị rách rưới” rồi đã dâng y ngoài hạn kỳ đến
hội chúng tỳ khưu ni. Tỳ khưu ni Thullanandā đã xác định
rằng:
- Kaṭhina
của chúng tôi đã được thành tựu, (vậy là) y trong thời
hạn.
Rồi
đã bảo phân chia. Các cư sĩ sau khi nhìn thấy các tỳ khưu
ni ấy đã nói điều này:
- Có
phải các ni sư cũng đã lãnh được y?
- Này
các đạo hữu, chúng tôi không được lãnh y. Ni sư Thullanandā
đã xác định rằng: “Kaṭhina của chúng tôi đã được
thành tựu, (vậy là) y trong thời hạn,” rồi đã bảo phân
chia.
Các
cư sĩ phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao ni sư Thullanandā lại xác định y ngoài hạn kỳ là: “Y
trong thời hạn” rồi bảo phân chia?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā lại xác định y ngoài hạn kỳ là: “Y
trong thời hạn” rồi bảo phân chia?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình lại sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā xác định y ngoài
hạn kỳ là: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia, có
đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại xác định
y ngoài hạn kỳ là: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia?
Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ
khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào xác định y ngoài hạn kỳ là: “Y trong
thời hạn” rồi bảo phân chia thì (y ấy) nên được xả
bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[103]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Y ngoài
hạn kỳ nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu thì được
phát sanh trong mười một tháng, khi Kaṭhina được thành tựu
thì được phát sanh trong bảy tháng; (y) được dâng xác định
trong thời gian trên thì (y) ấy gọi là y ngoài hạn kỳ. Vị
ni xác định: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia, khi
khởi sự thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được
thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng,
hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các
tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch
chư ni sư, y này của tôi đã được bảo chia phần sau khi
xác định y ngoài hạn kỳ là “Y trong thời hạn,” giờ
cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (y) này đến hội chúng.
...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)... các
đại đức ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại ni
sư.”
[104]
Y ngoài hạn kỳ, nhận biết là y ngoài hạn kỳ, vị ni xác
định: “Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Y ngoài
hạn kỳ, có sự hoài nghi, vị ni xác định: “Y trong thời
hạn” rồi bảo phân chia thì phạm tội nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị).
Y ngoài
hạn kỳ, (lầm) tưởng là y trong thời hạn, vị ni xác định:
“Y trong thời hạn” rồi bảo phân chia thì phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị).
Y trong
thời hạn, (lầm) tưởng là y ngoài hạn kỳ, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Y trong
thời hạn, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Y trong
thời hạn, nhận biết là y trong thời hạn thì vô tội.
[105]
Đối với y ngoài hạn kỳ vị ni nhận biết là y ngoài hạn
kỳ rồi bảo phân chia, đối với y trong thời hạn vị ni
nhận biết là y trong thời hạn rồi bảo phân chia, vị ni
bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ BA:
[106]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā sau khi trao đổi y với vị tỳ khưu
ni nọ rồi đã sử dụng. Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã
xếp y ấy lại rồi để riêng. Tỳ khưu ni Thullanandā đã
nói với vị tỳ khưu ni ấy điều này:
- Này
ni sư, cái y đã được tôi trao đổi với cô đâu rồi?
Khi
ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã đem y ấy lại và đưa cho tỳ
khưu ni Thullanandā thấy. Tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với
vị tỳ khưu ni ấy điều này:
- Này
ni sư, hãy nhận lại y của cô đi. Y này là của tôi. Y nào
của cô là của chính cô, y nào của tôi là của chính tôi.
Hãy đưa đây, y này là của tôi. Hãy mang đi y của mình.
Rồi
đã giật lại. Sau đó, vị tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự
việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni ít ham muốn,
...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai
rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā sau khi trao đổi y với tỳ khưu ni rồi
giật lại?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình lại sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sau khi trao đổi
y với vị tỳ khưu ni rồi giật lại, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā sau khi trao đổi
y với tỳ khưu ni rồi giật lại vậy? Này các tỳ khưu, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào
khi đã trao đổi y với tỳ khưu ni sau đó lại nói như vầy:
‘Này ni sư, hãy nhận lấy y của cô. Y này là của tôi. Y
nào của cô là của chính cô, y nào của tôi là của chính
tôi. Hãy đưa đây, y này là của tôi. Hãy mang đi y của mình’
rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì (y ấy) nên được
xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[107]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Với
vị tỳ khưu ni: với vị tỳ khưu ni khác.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y[4] (có kích thước)
tối thiểu[5] cần phải chú nguyện để dùng chung.
Khi
đã trao đổi: sau khi trao đổi (y) lớn bằng (y) nhỏ hoặc
là (y) nhỏ bằng (y) lớn.
Giật
lại: vị ni tự mình giật lại thì phạm vào nissaggiya pācittiya
(ưng xả đối trị).
Bảo
giật lại: vị ni ra lệnh người khác thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Được ra lệnh một lần, (vị nghe lệnh) giật lại
nhiều lần thì phạm (chỉ một) nissaggiya, nên được xả
bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị
tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
...(như trên)... “Bạch chư ni sư, y này của tôi sau khi trao
đổi với tỳ khưu ni rồi đã giật lại, giờ cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ y này đến hội chúng. ...(như trên)...
hội chúng nên cho lại ...(như trên)... các đại đức ni nên
cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại ni sư.”
[108]
Người nữ đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên
bậc trên, vị ni trao đổi y rồi giật lại hoặc bảo giật
lại thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Người
nữ đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị ni trao đổi
y rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị).
Người
nữ đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc
trên, vị ni trao đổi y rồi giật lại hoặc bảo giật lại
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vị
ni trao đổi vật dụng khác rồi giật lại hoặc bảo giật
lại thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
ni trao đổi y hoặc vật dụng khác với người nữ chưa tu
lên bậc trên rồi giật lại hoặc bảo giật lại thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc
trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
nữ chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
nữ chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[109]
Vị ni kia cho, hoặc vị ni lấy đi trong khi có sự thân thiết
với vị ni kia, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ TƯ:
[110]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā bị bệnh. Khi ấy, có nam cư sĩ nọ
đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā, sau khi đến đã nói
với tỳ khưu ni Thullanandā điều này:
- Thưa
ni sư, có phải ni sư không được khoẻ? Vật gì cần được
mang lại?
- Này
đạo hữu, tôi có nhu cầu về bơ lỏng.
Sau
đó, nam cư sĩ ấy đã mang lại một đồng kahāpaṇa bơ lỏng
từ nhà của chủ tiệm buôn nọ rồi dâng cho tỳ khưu ni Thullanandā.
Tỳ khưu ni Thullanandā đã nói như vầy:
- Này
đạo hữu, tôi không có nhu cầu về bơ lỏng. Tôi có nhu cầu
về dầu ăn.
Khi
ấy, nam cư sĩ ấy đã đi đến gặp người chủ tiệm buôn
ấy, sau khi đến đã nói với người chủ tiệm buôn ấy điều
này:
- Này
ông, nghe nói ni sư không có nhu cầu về bơ lỏng mà có nhu
cầu về dầu ăn. Hãy nhận lấy bơ lỏng của ông và hãy
cho tôi dầu ăn.
- Này
ông, nếu chúng tôi nhận lại hàng hóa đã được bán ra thì
khi nào hàng hoá của chúng tôi mới bán ra được? Với việc
mua bơ lỏng thì bơ lỏng đã được mang đi. Ông hãy mang đến
phần mua của dầu ăn rồi dầu ăn sẽ được mang đi.[6]
Khi
ấy, nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao ni sư Thullanandā sau khi yêu cầu vật khác lại yêu cầu
vật khác nữa?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā sau khi yêu cầu vật khác lại yêu cầu
vật khác nữa?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình lại sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sau khi yêu cầu
vật khác lại yêu cầu vật khác nữa, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā sau khi yêu cầu
vật khác lại yêu cầu vật khác nữa vậy? Này các tỳ khưu,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu
ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
ni nào sau khi yêu cầu vật khác lại yêu cầu vật khác nữa
thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy)
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[111]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Sau
khi yêu cầu vật khác: sau khi yêu cầu bất cứ vật gì.
Lại
yêu cầu vật khác nữa: vị ni yêu cầu vật khác trừ ra vật
ấy. Khi khởi sự thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt
được thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội
chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và
này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)...
“Bạch chư ni sư, vật này của tôi là vật khác nữa đã
được yêu cầu sau khi đã yêu cầu vật khác, giờ cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng. ...(như trên)...
hội chúng nên cho lại ...(như trên)... các đại đức ni nên
cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại ni sư.”
[112]
Vật ấy, nhận biết là vật ấy, vị ni yêu cầu vật khác
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vật
ấy, có sự hoài nghi, vị ni yêu cầu vật khác thì phạm tội
nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vật
ấy, (lầm) tưởng không phải là vật ấy, vị ni yêu cầu
vật khác thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Không
phải là vật ấy, (lầm) tưởng là vật ấy, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
phải là vật ấy, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
phải là vật ấy, nhận biết không phải là vật ấy thì
vô tội.
[113]
Vị ni yêu cầu thêm chính vật ấy, vị ni (nhận vật ấy
rồi) yêu cầu thêm vật khác, sau khi cho thấy sự lợi ích
rồi yêu cầu,[7] vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ NĂM:
[114]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā bị bệnh. Khi ấy, có nam cư sĩ nọ
đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā, sau khi đến đã nói
với tỳ khưu ni Thullanandā điều này:
- Thưa
ni sư, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được thuận
tiện không?
- Này
đạo hữu, sức khoẻ không khá. Mọi việc không được thuận
tiện.
- Thưa
ni sư, tôi sẽ để lại ở nhà của chủ tiệm buôn kia một
đồng kahāpaṇa. Ni sư muốn vật gì ở tiệm buôn kia thì
hãy bảo mang lại vật ấy.
Tỳ
khưu ni Thullanandā đã bảo cô ni tu tập sự nọ rằng:
- Này
cô ni tu tập sự, hãy đi rồi mang lại một đồng kahāpaṇa
dầu ăn từ nhà của chủ tiệm buôn kia.
Sau
đó, cô ni tu tập sự ấy đã mang lại một đồng kahāpaṇa
dầu ăn từ nhà của chủ tiệm buôn ấy và dâng cho tỳ khưu
ni Thullanandā. Tỳ khưu ni Thullanandā đã nói như vầy:
- Này
cô ni tu tập sự, tôi không có nhu cầu về dầu ăn. Tôi có
nhu cầu về bơ lỏng.
Khi
ấy, cô ni tu tập sự ấy đã đi đến gặp người chủ tiệm
buôn ấy, sau khi đến đã nói với người chủ tiệm buôn
ấy điều này:
- Này
đạo hữu, nghe nói ni sư không có nhu cầu về dầu ăn mà
có nhu cầu về bơ lỏng. Hãy nhận lấy dầu ăn của ông và
hãy cho tôi bơ lỏng.
- Thưa
sư cô, nếu chúng tôi nhận lại hàng hóa đã được bán ra
thì khi nào hàng hoá của chúng tôi mới bán ra được? Với
việc mua dầu ăn thì dầu ăn đã được mang đi. Sư cô hãy
mang đến phần mua của bơ lỏng rồi bơ lỏng sẽ được
mang đi.
Khi
ấy, cô ni tu tập sự ấy đã đứng khóc lóc. Các tỳ khưu
ni đã nói với cô ni tu tập sự ấy điều này:
- Này
cô ni tu tập sự, vì sao cô lại khóc lóc?
Khi
ấy, cô ni tu tập sự ấy đã kể lại sự việc cho các tỳ
khưu ni. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā sau khi bảo sắm vật khác lại bảo sắm
vật khác nữa?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sau khi bảo sắm
vật khác lại bảo sắm vật khác nữa, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā sau khi bảo sắm
vật khác lại bảo sắm vật khác nữa vậy? Này các tỳ khưu,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu
ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
ni nào sau khi bảo sắm vật khác lại bảo sắm vật khác nữa
thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy)
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[115]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Sau
khi bảo sắm vật khác: sau khi bảo sắm bất cứ vật gì.
Lại
bảo sắm vật khác nữa: vị ni bảo sắm vật khác trừ ra
vật ấy. Khi khởi sự thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do
sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ
đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị tỳ
khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
...(như trên)... “Bạch chư ni sư, vật này của tôi là vật
khác nữa đã được bảo sắm sau khi đã bảo sắm vật khác,
giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội
chúng. ...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)...
các đại đức ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại
ni sư.”
[116]
Vật ấy, nhận biết là vật ấy, vị ni bảo sắm vật khác
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vật
ấy, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm vật khác thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vật
ấy, (lầm) tưởng không phải là vật ấy, vị ni bảo sắm
vật khác thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Không
phải là vật ấy, (lầm) tưởng là vật ấy, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
phải là vật ấy, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
phải là vật ấy, nhận biết không phải là vật ấy thì
vô tội.
[117]
Vị ni bảo sắm thêm chính vật ấy, vị ni (nhận vật ấy
rồi) bảo sắm thêm vật khác, sau khi cho thấy sự lợi ích
rồi bảo sắm, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ SÁU:
[118]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
các cư sĩ sau khi gom lại sự tự nguyện (hùn phước) cho nhu
cầu về y của hội chúng tỳ khưu ni đã để lại phần tài
vật ở nhà của người buôn vải nọ rồi đã đi đến gặp
các tỳ khưu ni và đã nói điều này:
- Thưa
các ni sư, phần tài vật cho nhu cầu về y đã được để
lại ở nhà của người buôn vải kia. Từ nơi ấy, các ni
sư hãy bảo mang y lại rồi chia phần.
Với
phần tài vật ấy, các tỳ khưu ni đã bảo sắm dược phẩm
cho bản thân rồi thọ dụng. Các cư sĩ biết được rồi
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa bằng phần
tài vật thuộc về hội chúng đã được chỉ định về việc
khác cho nhu cầu của việc khác?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa bằng phần
tài vật thuộc về hội chúng đã được chỉ định về việc
khác cho nhu cầu của việc khác?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo sắm vật khác nữa
bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đã được chỉ
định về việc khác cho nhu cầu của việc khác, có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác
nữa bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đã được
chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác vậy?
Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ
khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa bằng phần
tài vật thuộc về hội chúng đã được chỉ định về việc
khác cho nhu cầu của việc khác thì (vật khác nữa ấy) nên
được xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).”
[119]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Bằng
phần tài vật đã được chỉ định về việc khác cho nhu
cầu của việc khác: đã được dâng nhắm đến nhu cầu của
việc khác.
Thuộc
về hội chúng: vì lợi ích của hội chúng không phải của
nhóm không phải của một tỳ khưu ni.
Bảo
sắm vật khác nữa: vị ni bảo sắm vật khác trừ ra vật
đã được dâng theo ý định (của thí chủ). Khi khởi sự
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến
nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch chư ni
sư, vật này của tôi là vật khác nữa đã được bảo sắm
bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đã được chỉ
định về việc khác cho nhu cầu của việc khác, giờ cần
được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng. ...(như
trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)... các đại đức
ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại ni sư.”
[120]
Thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là thuộc về
nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa thì
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm
vật khác nữa thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là không thuộc
về nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Sau
khi nhận lại vật đã được xả bỏ, nên sử dụng như là
vật bố thí (yathādāne).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là thuộc
về nhu cầu của việc khác, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là không thuộc
về nhu cầu của việc khác thì vô tội.
[121]
Vị ni sử dụng phần còn lại (sau khi đã bảo sắm đủ vật
kia), vị ni sử dụng sau khi hỏi ý các người chủ, trong những
lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ BẢY:
[122]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
các cư sĩ sau khi gom lại sự tự nguyện (hùn phước) cho nhu
cầu về y của hội chúng tỳ khưu ni đã để lại phần tài
vật ở nhà của người buôn vải nọ rồi đã đi đến gặp
các tỳ khưu ni và đã nói điều này:
- Thưa
các ni sư, phần tài vật cho nhu cầu về y đã được để
lại ở nhà của người buôn vải kia. Từ nơi ấy, các ni
sư hãy bảo mang y lại rồi chia phần.
Các
tỳ khưu ni sau khi tự mình yêu cầu rồi đã bảo sắm dược
phẩm bằng phần tài vật ấy và thọ dụng. Các cư sĩ biết
được rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa do tự mình
yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đã được
chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác ?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa do tự mình
yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội chúng đã được
chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo sắm vật khác nữa
do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội chúng
đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc
khác, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác
nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội
chúng đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của
việc khác vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác
nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội
chúng đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của
việc khác thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và
(vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[123]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Bằng
phần tài vật đã được chỉ định về việc khác cho nhu
cầu của việc khác: đã được dâng nhắm đến nhu cầu của
việc khác.
Thuộc
về hội chúng: vì lợi ích của hội chúng không phải của
nhóm không phải của một tỳ khưu ni.
Do
tự mình yêu cầu: sau khi tự mình yêu cầu.
Bảo
sắm vật khác nữa: vị ni bảo sắm vật khác trừ ra vật
đã được dâng theo ý định (của thí chủ). Khi khởi sự
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến
nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch chư ni
sư, vật này của tôi là vật khác nữa đã được bảo sắm
do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về hội chúng
đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc
khác, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến
hội chúng. ...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)...
các đại đức ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại
ni sư.”
[124]
Thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là thuộc về
nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa thì
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm
vật khác nữa thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là không thuộc
về nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Sau
khi nhận lại vật đã được xả bỏ, nên sử dụng như là
vật bố thí (yathādāne).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là thuộc
về nhu cầu của việc khác, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là không thuộc
về nhu cầu của việc khác thì vô tội.
[125]
Vị ni sử dụng phần còn lại (sau khi đã bảo sắm đủ vật
kia), vị ni sử dụng sau khi hỏi ý các người chủ, trong những
lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ TÁM:
[126]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni thường trú ở căn phòng của phường hội
nọ bị thiếu thốn về cháo. Khi ấy, phường hội ấy sau
khi gom lại sự tự nguyện (hùn phước) cho nhu cầu về cháo
của các tỳ khưu ni đã để lại phần tài vật ở nhà của
chủ tiệm buôn nọ rồi đã đi đến gặp các tỳ khưu ni
và đã nói điều này:
- Thưa
các ni sư, phần tài vật cho nhu cầu về cháo đã được để
lại ở nhà của người chủ hiệu buôn kia. Từ nơi ấy, các
ni sư hãy bảo mang gạo đến rồi bảo nấu cháo và thọ dụng.
Các
tỳ khưu ni đã bảo sắm dược phẩm bằng phần tài vật
ấy rồi thọ dụng. Phường hội ấy biết được rồi phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa bằng phần
tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ định về việc khác
cho nhu cầu của việc khác ?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa bằng phần
tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ định về việc khác
cho nhu cầu của việc khác?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo sắm vật khác nữa
bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ định
về việc khác cho nhu cầu của việc khác, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác
nữa bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ định
về việc khác cho nhu cầu của việc khác vậy? Này các tỳ
khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ
khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa bằng phần tài vật thuộc
về nhóm đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu
của việc khác thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ
và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[127]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Bằng
phần tài vật đã được chỉ định về việc khác cho nhu
cầu của việc khác: đã được dâng nhắm đến nhu cầu của
việc khác.
Thuộc
về nhóm: vì lợi ích của nhóm không phải của hội chúng
không phải của một tỳ khưu ni.
Bảo
sắm vật khác nữa: vị ni bảo sắm vật khác trừ ra vật
đã được dâng theo ý định (của thí chủ). Khi khởi sự
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến
nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch chư ni
sư, vật này của tôi là vật khác nữa đã được bảo sắm
bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ định
về việc khác cho nhu cầu của việc khác, giờ cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng. ...(như trên)...
hội chúng nên cho lại ...(như trên)... các đại đức ni nên
cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại ni sư.”
[128]
Thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là thuộc về
nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa thì
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm
vật khác nữa thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là không thuộc
về nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Sau
khi nhận lại vật đã được xả bỏ, nên sử dụng như là
vật bố thí (yathādāne).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là thuộc
về nhu cầu của việc khác, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là không thuộc
về nhu cầu của việc khác thì vô tội.
[129]
Vị ni sử dụng phần còn lại (sau khi đã bảo sắm đủ vật
kia), vị ni sử dụng sau khi hỏi ý các người chủ, trong những
lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ CHÍN:
[130]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu ni thường trú ở căn phòng của phường hội
nọ bị thiếu thốn về cháo. Khi ấy, phường hội ấy sau
khi gom lại sự tự nguyện (hùn phước) cho nhu cầu về cháo
của các tỳ khưu ni đã để lại phần tài vật ở nhà của
chủ tiệm buôn nọ rồi đã đi đến gặp các tỳ khưu ni
và đã nói điều này:
- Thưa
các ni sư, phần tài vật cho nhu cầu về cháo đã được để
lại ở nhà của người chủ hiệu buôn kia. Từ nơi ấy, các
ni sư hãy bảo mang gạo đến rồi bảo nấu cháo và thọ dụng.
Các
tỳ khưu ni sau khi tự mình yêu cầu rồi đã bảo sắm dược
phẩm bằng phần tài vật ấy và thọ dụng. Phường hội
ấy biết được rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa do tự mình
yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ
định về việc khác cho nhu cầu của việc khác ?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được các cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị
ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác nữa do tự mình
yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã được chỉ
định về việc khác cho nhu cầu của việc khác?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu ni bảo sắm vật khác nữa
do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã
được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác,
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao các tỳ khưu ni lại bảo sắm vật khác
nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm
đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc
khác vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này
các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác nữa do
tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã
được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác
thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và (vị ni ấy)
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[131]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Bằng
phần tài vật đã được chỉ định về việc khác cho nhu
cầu của việc khác: đã được dâng nhắm đến nhu cầu của
việc khác.
Thuộc
về nhóm: vì lợi ích của nhóm không phải của hội chúng
không phải của một tỳ khưu ni.
Do
tự mình yêu cầu: sau khi tự mình yêu cầu.
Bảo
sắm vật khác nữa: vị ni bảo sắm vật khác trừ ra vật
đã được dâng theo ý định (của thí chủ). Khi khởi sự
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến
nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch chư ni
sư, vật này của tôi là vật khác nữa đã được bảo sắm
do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về nhóm đã
được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác,
giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội
chúng. ...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)...
các đại đức ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại
ni sư.”
[132]
Thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là thuộc về
nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa thì
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm
vật khác nữa thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là không thuộc
về nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Sau
khi nhận lại vật đã được xả bỏ, nên sử dụng như là
vật bố thí (yathādāne).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là thuộc
về nhu cầu của việc khác, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là không thuộc
về nhu cầu của việc khác thì vô tội.
[129]
Vị ni sử dụng phần còn lại (sau khi đã bảo sắm đủ vật
kia), vị ni sử dụng sau khi hỏi ý các người chủ, trong những
lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
BÌNH BÁT - ĐIỀU HỌC THỨ MƯỜI:
[134]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng
thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về thuyết Pháp thoại. Nhiều
người thăm viếng tỳ khưu ni Thullanandā. Vào lúc bấy giờ,
căn phòng của tỳ khưu ni Thullanandā bị hư hoại. Dân chúng
đã nói với tỳ khưu ni Thullanandā điều này:
- Thưa
ni sư, tại sao phòng ở này của ni sư bị hư hoại?
- Này
các đạo hữu, không có các thí chủ, không có các nhân công.
Khi
ấy, những người ấy sau khi gom lại sự tự nguyện (hùn
phước) cho nhu cầu về phòng ở của tỳ khưu ni Thullanandā
rồi đã dâng lên phần tài vật thuộc về tỳ khưu ni Thullanandā.
Tỳ khưu ni Thullanandā sau khi tự mình yêu cầu rồi đã bảo
sắm dược phẩm bằng phần tài vật ấy và thọ dụng. Dân
chúng biết được rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao ni sư Thullanandā lại bảo sắm vật khác nữa do tự mình
yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về cá nhân đã được
chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc khác?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā bảo sắm vật
khác nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về
cá nhân đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của
việc khác, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại bảo sắm vật
khác nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về
cá nhân đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của
việc khác vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào bảo sắm vật khác
nữa do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về cá
nhân đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của
việc khác thì (vật khác nữa ấy) nên được xả bỏ và
(vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[135]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Bằng
phần tài vật đã được chỉ định về việc khác cho nhu
cầu của việc khác: đã được dâng nhắm đến nhu cầu của
việc khác.
Thuộc
về cá nhân: vì lợi ích của một tỳ khưu ni không phải
của hội chúng không phải của nhóm.
Do
tự mình yêu cầu: sau khi tự mình yêu cầu.
Bảo
sắm vật khác nữa: vị ni bảo sắm vật khác trừ ra vật
đã được dâng theo ý định (của thí chủ). Khi khởi sự
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến
nhóm, hoặc đến một vị tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch chư ni
sư, vật này của tôi là vật khác nữa đã được bảo sắm
do tự mình yêu cầu bằng phần tài vật thuộc về cá nhân
đã được chỉ định về việc khác cho nhu cầu của việc
khác giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến
hội chúng. ...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)...
các đại đức ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại
ni sư.”
[136]
Thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là thuộc về
nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa thì
phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm
vật khác nữa thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối
trị).
Thuộc
về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là không thuộc
về nhu cầu của việc khác, vị ni bảo sắm vật khác nữa
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Sau
khi nhận lại vật đã được xả bỏ, nên sử dụng như là
vật bố thí (yathādāne).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, (lầm) tưởng là thuộc
về nhu cầu của việc khác, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, có sự hoài nghi, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Không
thuộc về nhu cầu của việc khác, nhận biết là không thuộc
về nhu cầu của việc khác thì vô tội.
[137]
Vị ni sử dụng phần còn lại (sau khi đã bảo sắm đủ vật
kia), vị ni sử dụng sau khi hỏi ý các người chủ, trong những
lúc có sự cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
*******
PHẦN
Y - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[138]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng
thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về thuyết Pháp thoại. Khi ấy
vào mùa lạnh, đức vua Pasenadi xứ Kosala sau khi khoác lên tấm
choàng len đắt giá đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā,
sau khi đến đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi
xuống ở một bên. Tỳ khưu ni Thullanandā đã chỉ dạy, thức
tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua
Pasenadi xứ Kosala đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại.
Sau đó, khi đã được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, thức
tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp
thoại, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nói với tỳ khưu ni
Thullanandā điều này:
- Thưa
ni sư, có nhu cầu về vật gì xin ni sư cứ nói.
- Tâu
đại vương, nếu ngài có ý định bố thí đến tôi thì hãy
dâng tấm choàng len này.
Khi
ấy, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã dâng tỳ khưu ni Thullanandā
tấm choàng len rồi đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
tỳ khưu ni Thullanandā, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra
đi. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Các
tỳ khưu ni này ham muốn quá độ, không tự biết đủ! Tại
sao lại yêu cầu đức vua tấm choàng len?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā lại yêu cầu đức vua tấm choàng len?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā yêu cầu đức
vua tấm choàng len, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại yêu cầu đức
vua tấm choàng len vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni, trong khi bảo sắm tấm
choàng loại dày, nên bảo sắm tối đa là bốn kaṃsa. Nếu
bảo sắm vượt quá trị giá ấy thì (vật ấy) nên được
xả bỏ và (vị ni ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[139]
Tấm choàng loại dày nghĩa là bất cứ loại tấm choàng nào
vào mùa đông.
Trong
khi bảo sắm: trong khi yêu cầu.
Nên
bảo sắm tối đa là bốn kaṃsa: nên bảo sắm vật trị giá
là mười sáu kahāpaṇa.[8]
Nếu
bảo sắm vượt quá trị giá ấy: vị ni yêu cầu vượt quá
trị giá ấy, khi khởi sự thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Do sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, nên được xả
bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến một vị
tỳ khưu ni. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
...(như trên)... “Bạch chư ni sư, tấm choàng loại dày này
của tôi đã được bảo sắm vượt quá bốn kaṃsa, giờ
cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.
...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như trên)... các
đại đức ni nên cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại ni
sư.”
[140]
Hơn bốn kaṃsa, nhận biết là hơn, vị ni bảo sắm thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Hơn
bốn kaṃsa, có sự hoài nghi, vị ni bảo sắm thì phạm tội
nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Hơn
bốn kaṃsa, (lầm) tưởng là kém, vị ni bảo sắm thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Kém
bốn kaṃsa, (lầm) tưởng là hơn, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Kém
bốn kaṃsa, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Kém
bốn kaṃsa, nhận biết là kém thì vô tội.
[141]
Vị ni bảo sắm (vật trị giá) tối đa là bốn kaṃsa, vị
ni bảo sắm (vật trị giá) tối đa kém bốn kaṃsa, của các
thân quyến, của những người nói lời thỉnh cầu, vì nhu
cầu của vị khác, bằng vật sở hữu của bản thân, vị
ni bảo sắm vật có giá trị thấp đối với người có ý
định bảo sắm vật giá trị cao, vị ni bị điên, vị ni
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
PHẦN
Y - ĐIỀU HỌC THỨ NHÌ:
[142]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇd$ika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Thullanandā là vị ni nghe nhiều, chuyên đọc tụng
thuộc lòng, tự tin, rành rẽ về thuyết Pháp thoại. Khi ấy
vào mùa nóng, đức vua Pasenadi xứ Kosala sau khi khoác lên tấm
choàng sợi lanh đắt giá đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā,
sau khi đến đã đảnh lễ tỳ khưu ni Thullanandā rồi ngồi
xuống ở một bên. Tỳ khưu ni Thullanandā đã chỉ dạy, thức
tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức vua
Pasenadi xứ Kosala đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại.
Sau đó, khi đã được tỳ khưu ni Thullanandā chỉ dạy, thức
tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp
thoại, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nói với tỳ khưu ni
Thullanandā điều này:
- Thưa
ni sư, có nhu cầu về vật gì xin ni sư cứ nói.
- Tâu
đại vương, nếu ngài có ý định