II.
CHƯƠNG MƯỜI BẢY PHÁP
(SATTARASAKAṆḌAṂ)
Bạch
chư đại đức ni, mười bảy điều saṅghādisesa (tăng tàng)
này được đưa ra đọc tụng.
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NHẤT:
[31]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
có nam cư sĩ nọ sau khi dâng kho chứa đồ đạc đến hội
chúng tỳ khưu ni rồi đã qua đời. Người ấy có hai người
con trai: một người không có niềm tin và không mộ đạo,
một người có niềm tin và mộ đạo. Họ đã chia đều tài
sản thuộc về người cha. Khi ấy, người không có niềm tin
và không mộ đạo ấy đã nói với người có niềm tin và
mộ đạo điều này:
- Cái
kho chứa đồ đạc thuộc về chúng ta, hãy chia vật ấy.
Khi
được nói như thế, người có niềm tin và mộ đạo ấy
đã nói với người không có niềm tin và không mộ đạo ấy
điều này:
- Này
anh, chớ nói như thế. cha chúng ta đã dâng đến hội chúng
tỳ khưu ni rồi.
Đến
lần thứ nhì, người không có niềm tin và không mộ đạo
ấy đã nói với người có niềm tin và mộ đạo điều này:
- Cái
kho chứa đồ đạc thuộc về chúng ta, hãy chia vật ấy.
Khi
được nói như thế, người có niềm tin và mộ đạo ấy
đã nói với người không có niềm tin và không mộ đạo ấy
điều này:
- Này
anh, chớ nói như thế. cha chúng ta đã dâng đến hội chúng
tỳ khưu ni rồi.
Đến
lần thứ ba, người không có niềm tin và không mộ đạo ấy
đã nói với người có niềm tin và mộ đạo điều này:
- Cái
kho chứa đồ đạc thuộc về chúng ta, hãy chia vật ấy.
Khi
được nói như thế, người có niềm tin và mộ đạo ấy
(nghĩ rằng): “Nếu thuộc về ta, ta cũng sẽ dâng đến hội
chúng tỳ khưu ni” rồi đã nói với người không có niềm
tin và không mộ đạo ấy điều này:
- Chúng
ta hãy chia.
Khi
ấy, cái kho chứa đồ đạc ấy, trong lúc được phân chia
bởi những người ấy, đã thuộc về người không có niềm
tin và không mộ đạo ấy. Sau đó, người không có niềm tin
và không mộ đạo ấy đã đi đến gặp hội chúng tỳ khưu
ni và đã nói điều này:
- Thưa
các ni sư, xin hãy đi ra. Kho chứa đồ đạc là của chúng
tôi.
Khi
được nói như thế, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với người
đàn ông ấy điều này:
- Này
ông, chớ nói như thế. Cha các ông đã dâng đến hội chúng
tỳ khưu ni rồi.
- Vật
đã được dâng! Vật chưa được dâng!
Họ
đã hỏi các vị quan đại thần lo việc xử án.
Các
vị quan đại thần đã nói như vầy:
- Thưa
ni sư, người nào biết là đã được dâng đến hội chúng
tỳ khưu ni.
Khi
được nói như thế, tỳ khưu ni Thullanandā đã nói với các
vị quan đại thần ấy điều này:
- Thưa
các ngài, ngay cả các ngài cũng đã được thấy hoặc đã
được nghe sau khi xác định tận mắt và trong khi vật thí
đang được dâng cúng mà.
Khi
ấy, các vị quan đại thần ấy (nói rằng):
- Ni
sư đã nói đúng sự thật.
Rồi
đã xử hội chúng tỳ khưu ni được kho chứa đồ đạc ấy.
Khi ấy, người đàn ông ấy bị thua cuộc nên phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Những
bà cạo đầu khả ố này không phải là các nữ sa-môn, tại
sao các bà lại cho (người) cướp đoạt kho chứa đồ đạc
của chúng tôi?
Tỳ
khưu ni Thullanandā đã kể lại sự việc ấy cho các vị quan
đại thần. Các vị quan đại thần đã ra lệnh đánh đòn
người đàn ông ấy. Sau đó, người đàn ông ấy bị đánh
đòn nên đã bảo xây dựng chỗ ngụ cho các đạo sĩ lõa
thể ở nơi không xa tu viện của các tỳ khưu ni rồi đã
xúi giục các đạo sĩ lõa thể rằng:
- Hãy
lăng mạ các tỳ khưu ni ấy.
Tỳ
khưu ni Thullanandā đã kể lại sự việc ấy cho các vị quan
đại thần. Các vị quan đại thần đã ra lệnh giam giữ người
đàn ông ấy. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lần đầu làm cho (người ta) bị cướp
đoạt kho chứa đồ đạc, đến lần thứ nhì làm cho bị
đánh đập, đến lần thứ ba làm cho bị giam giữ, bây giờ
sẽ làm cho chết?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā lại sống làm người thưa kiện?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. ...(như trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā sống làm người
thưa kiện, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại sống làm người
thưa kiện vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào sống làm người
thưa kiện với nam gia chủ, hoặc với con trai của nam gia chủ,
hoặc với người nô tỳ, hoặc với người làm công, hoặc
ngay cả với sa-môn du sĩ, vị tỳ khưu ni này phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) ngay lúc vừa mới vi phạm, cần được tách riêng.”
[32]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Người
thưa kiện nghĩa là người gây ra vụ xử án được đề cập
đến.
Nam
gia chủ nghĩa là bất cứ người nam nào sống trong căn nhà.
Con
trai của gia chủ nghĩa là bất cứ những người nào là con
trai hoặc anh em trai.
Người
nô tỳ nghĩa là được bẩm sanh (antojāto), được mua bằng
của cải, bị bắt đi làm công việc.
Người
làm công nghĩa là người làm thuê, người khuân vác.
Sa-môn
du sĩ nghĩa là bất cứ người nào thành tựu pháp du sĩ trừ
ra tỳ khưu, tỳ khưu ni, cô ni tu tập sự, sa di, và sa di ni.
Vị
ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ thưa kiện” rồi tìm kiếm người
thứ hai hoặc (đích thân) đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Nói với người thứ nhất thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Nói với người thứ nhì thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).
Khi kết thúc vụ xử án thì phạm tội saṅghādisesa (tăng
tàng).
[33]
Ngay lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự
việc, không phải do sự nhắc nhở.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): Chỉ có hội chúng–không phải một
số tỳ khưu ni, không phải một tỳ khưu ni–ban cho hành phạt
mānatta của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, cho giải
tội; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.” Là việc
định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống
như tội ấy; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”
[34]
Vị ni đi trong khi bị những người khác lôi kéo đi, vị ni
yêu cầu sự bảo vệ, vị ni nói ra không nêu rõ (người nào),
vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
********
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NHÌ:
[35]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
ở thành Vesālī cô vợ của một người dòng dõi Licchavi nọ
ngoại tình. Khi ấy, người Licchavi ấy đã nói với người
đàn bà ấy điều này:
- Tốt
hơn cô hãy chừa. Tôi sẽ làm điều thất lợi cho cô.
Mặc
dầu được nói như thế, cô ta đã không lưu tâm đến. Vào
lúc bấy giờ, nhóm người Licchavi tụ họp lại ở Vesālī
vì công việc cần làm nào đó. Khi ấy, người Licchavi ấy
đã nói với những người Licchavi ấy điều này:
- Thưa
quý vị, quý vị hãy cho phép tôi đối với một người đàn
bà.
- Cô
ấy tên là gì?
- Vợ
của tôi ngoại tình. Tôi sẽ giết cô ta.
- Ngươi
tự biết lấy.
Người
đàn bà ấy đã nghe được rằng: “Nghe nói chồng có ý định
giết ta” rồi đã lấy đồ đạc quý giá đi đến thành
Sāvatthi gặp các tu sĩ ngoại đạo và đã cầu xin sự xuất
gia. Các tu sĩ ngoại đạo đã không chịu cho xuất gia. Cô
ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu ni và cầu xin sự xuất
gia. Các tỳ khưu ni cũng đã không chịu cho xuất gia. Cô ấy
đã đi đến gặp tỳ khưu ni Thullanandā đưa cho xem gói đồ
đạc rồi cầu xin sự xuất gia. Tỳ khưu ni Thullanandā đã
nhận lấy gói đồ đạc rồi đã cho xuất gia.
Khi
ấy, người Licchavi ấy trong lúc tìm kiếm người đàn bà
ấy đã đi đến thành Sāvatthi. Sau khi thấy (cô ấy) đã xuất
gia nơi các tỳ khưu ni liền đi đến gặp đức vua Pasenadi
xứ Kosala, sau khi đến đã nói với đức vua Pasenadi xứ Kosala
điều này:
- Tâu
bệ hạ, vợ của thần đã lấy đi đồ đạc quý giá và
đã đến thành Sāvatthi. Xin bệ hạ hãy cho phép thần đối
với cô ấy.
- Này
khanh, nếu thế thì hãy tìm kiếm rồi trình báo.
- Tâu
bệ hạ, đã tìm thấy. Cô ta đã xuất gia nơi các tỳ khưu
ni.
- Này
khanh, nếu đã được xuất gia nơi các tỳ khưu ni thì không
được phép làm gì cô ta cả. Pháp đã được khéo thuyết
giảng, hãy để cô ta thực hành Phạm hạnh một cách đúng
đắn để chấm dứt khổ đau.
Khi
ấy, người Licchavi ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các tỳ khưu ni lại cho nữ tặc xuất gia?
Các
tỳ khưu ni đã nghe được người Licchavi ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)...,
các vị ni ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā lại cho nữ tặc xuất gia?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. ...(như trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā cho nữ tặc xuất
gia, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā lại cho nữ tặc
xuất gia vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và
này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào biết được nữ đạo
tặc có tội tử hình được loan báo mà vẫn nhận vào cho
tu khi chưa xin phép đức vua, hoặc hội chúng, hoặc nhóm, hoặc
phường hội, hoặc phường thợ, ngoại trừ có sự được
phép; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới
vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách
riêng.”
[36]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Biết
nghĩa là vị tự mình biết, hoặc các người khác thông báo
cho cô ấy, hoặc cô kia thông báo.
Nữ
đạo tặc nghĩa là cô nào lấy đi theo lối trộm cắp vật
không được cho trị giá năm māsaka hoặc hơn năm māsaka; cô
ấy gọi là nữ đạo tặc.
Có
tội tử hình nghĩa là sau khi thực hiện việc khiến cho cô
ta đáng tội tử hình.
Được
loan báo nghĩa là những người khác biết (về cô ta) rằng:
“Cô này đáng tội tử hình.”
Khi
chưa xin phép: do chưa hỏi.
Đức
vua nghĩa là nơi nào đức vua cai quản thì nên xin phép đức
vua.
Hội
chúng nghĩa là hội chúng tỳ khưu ni được đề cập đến.
Nên xin phép hội chúng tỳ khưu ni.
Nhóm
nghĩa là nơi nào nhóm cai quản thì nên xin phép nhóm.
Phường
hội nghĩa là nơi nào phường hội cai quản thì nên xin phép
phường hội.
Cộng
đồng nghĩa là nơi nào cộng đồng cai quản thì nên xin phép
cộng đồng.
Ngoại
trừ có sự được phép: trừ ra sự được phép.
Sự
được phép nghĩa là có hai sự được phép: đã được xuất
gia nơi các tu sĩ ngoại đạo hoặc là đã được xuất gia
nơi các tỳ khưu ni khác. Ngoại trừ có sự được phép, vị
ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhận vào cho tu” rồi tìm kiếm nhóm
(tỳ khưu ni), hoặc vị ni tuyên ngôn, hoặc là bình bát, hoặc
là y, hoặc là chỉ định ranh giới (sīmā) thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Do lời đề nghị thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Do hai lời thông báo của hành sự thì phạm các
tội thullaccaya (trọng tội). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành
sự, thầy tế độ phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng), nhóm
(chứng minh) và vị ni tuyên ngôn phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[37]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Ngay
lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự việc,
không phải do sự nhắc nhở.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[38]
Nữ đạo tặc, nhận biết là nữ đạo tặc, vị ni nhận
vào cho tu thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) ngoại trừ
có sự được phép.
Nữ
đạo tặc, có sự hoài nghi, vị ni nhận vào cho tu thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác) ngoại trừ có sự được phép.
Nữ
đạo tặc, (lầm) tưởng không phải là nữ đạo tặc, vị
ni nhận vào cho tu thì vô tội ngoại trừ có sự được phép.
Không
phải là nữ đạo tặc, (lầm) tưởng là nữ đạo tặc, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là nữ đạo tặc, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
phải là nữ đạo tặc, nhận biết không phải là nữ đạo
tặc thì vô tội.
[39]
Vị ni không biết rồi nhận vào cho tu, sau khi xin phép rồi
nhận vào cho tu, nhận vào cho tu người đã được phép, vị
ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ BA:
[40]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
vị tỳ khưu ni học trò của Bhaddā Kāpilānī [1] sau khi gây
gỗ với các tỳ khưu ni đã đi đến gia đình thân quyến
ở trong thôn. Bhaddā Kāpilānī không nhìn thấy vị tỳ khưu
ni ấy nên đã hỏi các tỳ khưu ni rằng:
- Ni
tên (như vầy) đâu rồi, không có thấy?
- Thưa
ni sư, sau khi gây gỗ với các tỳ khưu ni thì không được
thấy.
- Này
các cô, hãy đi đến gia đình thân quyến này ở thôn kia rồi
tìm kiếm ở nơi đó.
Các
tỳ khưu ni sau khi đi đến nơi ấy đã nhìn thấy vị tỳ
khưu ni ấy và đã nói điều này:
- Này
ni sư, sao cô lại đi mỗi một mình? Chắc hẳn cô không bị
xâm phạm?
- Này
các ni sư, tôi không bị xâm phạm.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao tỳ khưu ni lại đi vào trong làng một mình?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni đi vào trong làng một
mình, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni lại đi vào trong làng một
mình vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này
các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào đi vào trong làng một mình;
vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm,
là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được tách riêng.”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu ni như thế.
[41]
Vào lúc bấy giờ, có hai tỳ khưu ni đang đi đường xa từ
Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường đi có con sông cần
phải băng qua. Khi ấy, hai tỳ khưu ni ấy đã đi đến gặp
các người chèo đò và đã nói điều này:
- Này
đạo hữu, tốt thay hãy đưa chúng tôi sang.
- Thưa
các ni sư, không thể đưa sang cả hai người cùng một lần.
Một
người (chèo đò) đã đưa một (vị tỳ khưu ni) sang. Người
đưa sang đã làm nhơ vị ni được đưa sang. Người không
đưa sang đã làm nhơ vị ni chưa được đưa sang. Hai cô ni
ấy sau khi gặp lại nhau đã hỏi rằng:
- Này
ni sư, chắc hẳn cô không bị xâm phạm?
- Này
ni sư, tôi đã bị xâm phạm. Này ni sư, còn cô chắc không
bị xâm phạm?
- Này
ni sư, tôi đã bị xâm phạm.
Sau
đó, hai tỳ khưu ni ấy đã đi đến thành Sāvatthi và đã
kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni
ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì
sao tỳ khưu ni lại đi sang bờ bên kia sông một mình?
Sau
đó, các tỳ khưu ni ấy đã kể lại sự việc ấy cho các
tỳ khưu. Các tỳ khưu đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn. ...(như trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni đi sang bờ bên kia sông
một mình, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni lại đi sang bờ bên kia sông
một mình vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và
này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào đi vào trong làng một
mình hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình; vị tỳ khưu
ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa
(tăng tàng) cần được tách riêng.” Và điều học này đã
được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.
[42]
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu ni trong khi đang đi
đến thành Sāvatthi thuộc xứ Kosala lúc tối trời đã ghé
vào ngôi làng nọ. Trong số đó, có vị tỳ khưu ni đẹp dáng,
đáng nhìn, khả ái. Có người đàn ông nọ đã sanh lòng say
đắm với hình dáng của vị tỳ khưu ni ấy. Khi ấy, người
đàn ông ấy trong khi sắp xếp chỗ ngủ cho các tỳ khưu ni
ấy đã sắp xếp chỗ ngủ của vị tỳ khưu ni ấy ở một
bên. Khi ấy, vị tỳ khưu ni ấy đã xét đoán ra rằng: “Người
đàn ông này đã bị ám ảnh rồi. Nếu trong đêm tối hắn
ta đến thì ta sẽ bị mất thể diện” nên đã đi đến
gia đình khác nữa rồi nằm ngủ (ở đó), không thông báo
cho các tỳ khưu ni. Sau đó trong đêm tối, người đàn ông
ấy đã đi đến và trong khi tìm kiếm vị tỳ khưu ni ấy
đã chạm vào các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu ni trong lúc không
nhìn thấy vị tỳ khưu ni ấy đã nói như vầy:
- Chắc
chắn là vị tỳ khưu ni ấy đã đi ra ngoài với người đàn
ông.
Sau
đó, khi trải qua đêm ấy vị tỳ khưu ni ấy đã đi đến
gặp các tỳ khưu ni ấy. Các tỳ khưu ni đã nói với vị
tỳ khưu ni ấy điều này:
- Này
ni sư, vì sao cô đã đi ra ngoài với người đàn ông?
- Này
các ni sư, tôi đã không đi ra ngoài với người đàn ông.
Và
đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu ni. Các tỳ khưu
ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì
sao tỳ khưu ni ban đêm lại trú ngụ riêng một mình?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni ban đêm trú ngụ riêng
một mình, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni ban đêm lại trú ngụ riêng
một mình vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào đi vào trong làng
một mình hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình, hoặc ban
đêm trú ngụ riêng một mình; vị tỳ khưu ni này cũng phạm
tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng
tàng) cần được tách riêng.” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu ni như thế.
[43]
Vào lúc bấy giờ, có nhiều tỳ khưu ni đang đi đường xa
đến thành Sāvatthi trong xứ Kosala. Tại nơi ấy, có vị tỳ
khưu ni nọ bị khó chịu vì việc đại tiện nên tách rời
ra mỗi một mình rồi đã đi ở phía sau. Nhiều người đã
nhìn thấy và đã làm nhơ vị tỳ khưu ni ấy. Sau đó, vị
tỳ khưu ni ấy đã đi đến gặp các tỳ khưu ni ấy. Các
tỳ khưu ni đã nói với tỳ khưu ni ấy điều này:
- Này
ni sư, vì sao cô mỗi một mình lại tách rời ra khỏi nhóm
vậy? Chắc hẳn cô đã không bị xâm phạm?
- Này
các ni sư, tôi đã bị xâm phạm.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao vị tỳ khưu ni một mình lại tách rời ra khỏi nhóm?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni một mình tách rời ra
khỏi nhóm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao vị tỳ khưu ni một mình lại tách rời
ra khỏi nhóm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào đi vào trong làng
một mình hoặc đi sang bờ bên kia sông một mình, hoặc ban
đêm trú ngụ riêng một mình, hoặc một mình tách rời ra
khỏi nhóm; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội ngay lúc vừa
mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng) cần được
tách riêng.”
[44]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Hoặc
đi vào trong làng một mình: vị ni trong khi vượt qua hàng rào
của ngôi làng được rào lại bước thứ nhất thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội), trong khi vượt qua bước thứ
nhì thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). Vị ni trong khi
vượt qua vùng phụ cận của ngôi làng không được rào lại
bước thứ nhất thì phạm tội thullaccaya (trọng tội), trong
khi vượt qua bước thứ nhì thì phạm tội saṅghādisesa (tăng
tàng).
Hoặc
đi sang bờ bên kia sông một mình: Sông nghĩa là bất cứ ở
nơi đâu làm ướt y nội của vị tỳ khưu ni, (được quấn)
che khuất cả ba vòng,[2] trong lúc (vị ni ấy) lội qua nơi
ấy. Vị ni trong khi vượt qua bước thứ nhất thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội), trong khi vượt qua bước thứ nhì thì
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hoặc
ban đêm trú ngụ riêng một mình: lúc mặt trời mọc lên,
trong khi lìa khỏi tầm tay của vị tỳ khưu ni thứ hai thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội), khi đã lìa khỏi thì phạm
tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hoặc
một mình tách rời ra khỏi nhóm: không phải ở trong làng,
ở trong rừng, vị ni trong khi lìa khỏi tầm nhìn hoặc tầm
nghe của vị tỳ khưu ni thứ nhì thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội), khi đã lìa khỏi thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).
[45]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Ngay
lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự việc,
không phải do sự nhắc nhở.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[46]
Trong lúc vị tỳ khưu ni thứ nhì bỏ đi hoặc hoàn tục hoặc
qua đời hoặc chuyển sang phe khác, trong những lúc có sự
cố, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ TƯ:
[47]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Caṇḍakālī là vị ni thường gây nên các sự
xung đột, gây nên các sự cãi cọ, gây nên các sự tranh luận,
gây nên các sự nói chuyện nhảm nhí, và gây nên các sự
tranh tụng trong hội chúng. Trong lúc hành sự đang được tiến
hành cho vị ni ấy, tỳ khưu ni Thullanandā đã phản đối.
Vào lúc bấy giờ, tỳ khưu ni Thullanandā đã đi vào làng vì
công việc cần làm nào đó. Khi ấy, hội chúng tỳ khưu ni
(nghĩ rằng): “Tỳ khưu ni Thullanandā đã đi vắng” nên đã
phạt án treo tỳ khưu ni Caṇḍakālī trong việc không nhìn
nhận tội. Tỳ khưu ni Thullanandā sau khi hoàn tất công việc
cần làm ấy ở trong làng đã quay trở về thành Sāvatthi.
Trong khi tỳ khưu ni Thullanandā đi về, tỳ khưu ni Caṇḍakālī
đã không sắp xếp chỗ ngồi, đã không đem lại nước rửa
chân, ghế kê chân, tấm chà chân, đã không đi ra tiếp rước
y bát, và đã không dâng nước uống. Tỳ khưu ni Thullanandā
đã nói với tỳ khưu ni Caṇḍakālī điều này:
- Này
cô ni, vì sao trong khi tôi đi về, cô đã không sắp xếp chỗ
ngồi, đã không đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm
chà chân, đã không đi ra tiếp rước y bát, và đã không dâng
nước uống vậy?
- Thưa
ni sư, bởi vì sự việc này là như vậy giống như là người
không được sự quan tâm.
- Này
cô ni, vì sao cô lại không được sự quan tâm?
- Thưa
ni sư, các tỳ khưu ni này (nói rằng): “Cô này không được
sự quan tâm lại ngu dốt. Không còn cô kia thì ai sẽ lên tiếng
phản đối” rồi đã phạt án treo tôi trong việc không nhìn
nhận tội.
Tỳ
khưu ni Thullanandā (nói rằng): “Những cô ấy thì ngu dốt!
Những cô ấy không kinh ngiệm! Những cô ấy không biết về
hành sự hoặc sự sai trái của hành sự hoặc sự hư hỏng
của hành sự hoặc sự thành tựu của hành sự. Chúng ta mới
biết về hành sự hoặc sự sai trái của hành sự hoặc sự
hư hỏng của hành sự hoặc sự thành tựu của hành sự.
Chúng ta có thể thực hiện hành sự chưa được thực hiện
hoặc có thể hủy bỏ hành sự đã được thực hiện” rồi
đã triệu tập hội chúng tỳ khưu ni một cách vô cùng nhanh
chóng và đã phục hồi cho tỳ khưu ni Caṇḍakālī.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Thullanandā khi chưa xin phép hội chúng thực hiện
hành sự và không quan tâm đến ước muốn của nhóm lại
phục hồi cho vị tỳ khưu ni đã bị hội chúng hợp nhất
phạt án treo theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo
Sư?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Thullanandā khi chưa xin phép
hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến ước
muốn của nhóm lại phục hồi cho vị tỳ khưu ni đã bị
hội chúng hợp nhất phạt án treo theo Pháp theo Luật theo lời
dạy của bậc Đạo Sư, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Thullanandā khi chưa xin phép
hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến ước
muốn của nhóm lại phục hồi cho vị tỳ khưu ni đã bị
hội chúng hợp nhất phạt án treo theo Pháp theo Luật theo lời
dạy của bậc Đạo Sư vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như
trên)... Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào khi chưa xin
phép hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến
ước muốn của nhóm lại phục hồi cho vị tỳ khưu ni đã
bị hội chúng hợp nhất phạt án treo theo Pháp theo Luật theo
lời dạy của bậc Đạo Sư; vị tỳ khưu ni này cũng phạm
tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng
tàng) cần được tách riêng.”
[48]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Hội
chúng hợp nhất nghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết
lập trong cùng ranh giới (sīmā).
Bị
phạt án treo nghĩa là bị phạt án treo trong việc không nhìn
nhận tội, hoặc trong việc không sửa chữa lỗi, hoặc trong
việc không từ bỏ tà kiến ác.
Theo
Pháp, theo Luật: theo Pháp nào đó, theo Luật nào đó.
Theo
lời giáo huấn của bậc Đạo Sư: theo lời giáo huấn của
đức Phật, theo lời giáo huấn của đấng Chiến Thắng.
Khi
chưa xin phép hội chúng thực hiện hành sự: khi chưa hỏi
hội chúng đã làm hành sự.
Không
quan tâm đến ước muốn của nhóm: không biết đến ước
muốn của nhóm. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ phục hồi” rồi tìm
kiếm nhóm (tỳ khưu ni) hoặc chỉ định ranh giới (sīmā)
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời đề nghị thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời thông báo của hành sự thì
phạm các tội thullaccaya (trọng tội). Khi chấm dứt tuyên
ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
[49]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Ngay
lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự việc,
không phải do sự nhắc nhở.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[50]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni phục hồi thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni phục hồi thì phạm
tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni phục
hồi thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[51]
Vị ni phục hồi sau khi đã xin phép hội chúng thực hiện
hành sự, phục hồi sau khi đã quan tâm đến ước muốn của
nhóm, phục hồi vị ni đang thực hành các phận sự, phục
hồi khi hội chúng thực hiện hành sự không còn tồn tại,
vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NĂM:
[52]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Sundarīnandā là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái.
Nhiều người, sau khi nhìn thấy tỳ khưu ni Sundarīnandā ở
trong nhà ăn, bị nhiễm dục vọng rồi dâng đến tỳ khưu
ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng các thức ăn thượng hảo
hạng. Tỳ khưu ni Sundarīnandā thọ thực được như ý thích.
Các tỳ khưu ni khác không nhận lãnh được như ý. Các tỳ
khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Sundarīnandā nhiễm dục vọng lại tự tay thọ nhận
vật thực loại cứng loại mềm từ tay của người nam nhiễm
dục vọng rồi nhai và ăn?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng
tự tay thọ nhận vật thực loại cứng loại mềm từ tay
của người nam nhiễm dục vọng rồi nhai và ăn, có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Sundarīnandā nhiễm dục vọng
lại tự tay thọ nhận vật thực loại cứng loại mềm từ
tay của người nam nhiễm dục vọng rồi nhai và ăn vậy? Này
các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu,
các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu ni nào nhiễm dục vọng tự tay thọ nhận vật thực
loại cứng hoặc loại mềm từ tay của người nam nhiễm dục
vọng rồi nhai hoặc ăn; vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội
ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng tàng)
cần được tách riêng.”
[53]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
(Nữ)
nhiễm dục vọng nghĩa là người nữ có dục vọng, có sự
khao khát, có tâm quyến luyến.
(Nam)
nhiễm dục vọng nghĩa là người nam có dục vọng, có sự
khao khát, có tâm quyến luyến.
Người
nam nghĩa là nam nhân loại, không phải dạ-xoa nam, không phải
ma nam, không phải thú đực, có sự hiểu biết, có khả năng
bị dục chiếm ngự.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực (mềm), nước
và tăm xỉa răng, phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp,
bánh, cá, thịt. (Nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi
thọ nhận thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Mỗi lần
nuốt xuống thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
[54]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
Ngay
lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự việc,
không phải do sự nhắc nhở.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
Vị
ni thọ nhận nước và tăm xỉa răng thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[55]
Khi một bên nhiễm dục vọng, vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ
nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). Vị ni thọ nhận nước và tăm xỉa răng thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Khi
cả hai nhiễm dục vọng, vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai,
ta sẽ ăn” rồi thọ nhận từ tay của dạ-xoa nam hoặc ma
nam hoặc người nam vô căn hoặc loài thú đực dạng người
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần nuốt xuống thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội). Vị ni thọ nhận nước
và tăm xỉa răng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi một
bên nhiễm dục vọng, vị ni (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta
sẽ ăn” rồi thọ nhận thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Mỗi lần nuốt xuống thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị
ni thọ nhận nước và tăm xỉa răng thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[56]
Cả hai không nhiễm dục vọng, vị ni biết rằng: “(Người
đàn ông này) không nhiễm dục vọng” rồi thọ nhận, vị
ni bị điên, vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ SÁU:
[57]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Sundarīnandā là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái.
Nhiều người, sau khi nhìn thấy tỳ khưu ni Sundarīnandā ở
trong nhà ăn, bị nhiễm dục vọng rồi dâng đến tỳ khưu
ni Sundarīnandā các thức ăn thượng hảo hạng. Tỳ khưu ni
Sundarīnandā trong lúc ngần ngại nên không thọ nhận. Vị
tỳ khưu ni đứng kế đã nói với tỳ khưu ni Sundarīnandā
điều này:
- Này
ni sư, vì sao ni sư lại không thọ nhận?
- Này
ni sư, (những người đàn ông này) nhiễm dục vọng.
- Này
ni sư, ni sư mới nhiễm dục vọng.
- Này
ni sư, tôi không nhiễm dục vọng.
- Này
ni sư, cá nhân người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không
nhiễm dục vọng thì sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm
dục vọng? Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy dâng vật
thực loại cứng hoặc loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ
tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao vị tỳ khưu ni lại nói như vầy: “Này ni sư, cá nhân
người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không nhiễm dục
vọng thì sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm dục vọng?
Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy dâng vật thực loại
cứng hoặc loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ tự tay thọ
nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi”?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói vị tỳ khưu ni nói như vầy: “Này
ni sư, cá nhân người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không
nhiễm dục vọng thì sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm
dục vọng? Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy dâng vật
thực loại cứng hoặc loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ
tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi,” có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao vị tỳ khưu ni lại nói như vầy: “Này
ni sư, cá nhân người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không
nhiễm dục vọng thì sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm
dục vọng? Này ni sư, cá nhân người đàn ông ấy dâng vật
thực loại cứng hoặc loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ
tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi”? Này các
tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các
tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu ni nào nói như vầy: ‘Này ni sư, cá nhân người
đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không nhiễm dục vọng thì
sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm dục vọng? Này ni sư,
cá nhân người đàn ông ấy dâng vật thực loại cứng hoặc
loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ tự tay thọ nhận vật
ấy rồi nhai hoặc ăn đi;’ vị tỳ khưu ni này cũng phạm
tội ngay lúc vừa mới vi phạm, là tội saṅghādisesa (tăng
tàng) cần được tách riêng.”
[58]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Nói
như vầy: Vị ni xúi giục rằng: “Này ni sư, cá nhân người
đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không nhiễm dục vọng thì
sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm dục vọng? Này ni sư,
cá nhân người đàn ông ấy dâng vật thực loại cứng hoặc
loại mềm nào đến ni sư, ni sư cứ tự tay thọ nhận vật
ấy rồi nhai hoặc ăn đi” thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Do lời nói của vị ni ấy, vị ni kia (nghĩ rằng): “Ta sẽ
nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận thì (vị ni xúi giục) phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần (vị ni kia) nuốt xuống thì
(vị ni xúi giục) phạm tội thullaccaya (trọng tội). Khi chấm
dứt bữa ăn thì (vị ni xúi giục) phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).
Vị
ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị ni
trước đây.
Ngay
lúc vừa mới vi phạm: vị ni vi phạm do thực hiện sự việc,
không phải do sự nhắc nhở.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
Vị
ni xúi giục rằng: “Hãy thọ nhận nước và tăm xỉa răng”
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời nói của vị ni ấy,
vị ni kia (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ
nhận thì (vị ni xúi giục) phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[59]
Khi một bên nhiễm dục vọng, (trường hợp) vật thực loại
cứng hoặc loại mềm từ tay của dạ-xoa nam hoặc ma nam hoặc
người nam vô căn hoặc loài thú đực dạng người, vị ni
xúi giục rằng: “Hãy nhai hoặc ăn đi” thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Do lời nói của vị ni ấy, vị ni kia (nghĩ rằng):
“Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ nhận thì (vị ni xúi giục)
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Mỗi lần (vị ni kia) nuốt xuống
thì (vị ni xúi giục) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi chấm
dứt bữa ăn thì (vị ni xúi giục) phạm tội thullaccaya (trọng
tội).
Vị
ni xúi giục rằng: “Hãy thọ nhận nước và tăm xỉa răng”
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do lời nói của vị ni ấy,
vị ni kia (nghĩ rằng): “Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn” rồi thọ
nhận thì (vị ni xúi giục) phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[60]
Vị ni biết rằng: “(Người đàn ông này) không nhiễm dục
vọng” rồi xúi giục, vị ni (nghĩ rằng): “Cô ta (sẽ) nổi
giận và không thọ nhận” rồi xúi giục, vị ni (nghĩ rằng):
“Cô ta (sẽ) không thọ nhận vì lòng thương hại đến gia
đình” rồi xúi giục, vị ni bị điên, vị ni vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ BẢY:
[61]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Caṇḍakālī sau khi gây gỗ với các tỳ khưu ni
đã nổi giận, bất bình rồi nói như vầy:
-
Tôi lìa bỏ đức Phật, tôi lìa bỏ đức Pháp, tôi lìa bỏ
đức Tăng (Saṅgha), tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn
Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ
sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự
học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện
của các nữ sa-môn ấy.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Caṇḍakālī khi nổi giận, bất bình lại nói như
vầy: “Tôi lìa bỏ đức Phật, tôi lìa bỏ đức Pháp, tôi
lìa bỏ đức Tăng, tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn
Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ
sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự
học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện
của các nữ sa-môn ấy”?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Caṇḍakālī khi nổi giận,
bất bình rồi nói như vầy: “Tôi lìa bỏ đức Phật, ...(như
trên)..., tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ
này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác
thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập,
tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các
nữ sa-môn ấy,” có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Caṇḍakālī khi nổi giận,
bất bình lại nói như vầy: “Tôi lìa bỏ đức Phật, ...(như
trên)..., tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ
này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác
thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập,
tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các
nữ sa-môn ấy”? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem
lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu ni nào nổi giận, bất bình
rồi nói như vầy: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật, ...(như trên)...,
tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là
các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh
tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi
sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các nữ
sa-môn ấy.’ Vị tỳ khưu ni ấy nên được nói bởi các
tỳ khưu ni như sau: ‘Này ni sư, khi nổi giận, bất bình chớ
nói như vầy: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật, ...(như trên)..., tôi
lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là các
nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh tịnh,
khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực
hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các nữ sa-môn ấy.’
Này ni sư, hãy hoan hỷ, Pháp đã được khéo thuyết giảng,
hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn để chấm
dứt khổ đau.’ Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu
ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ
khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần
thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến
lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt
đẹp; nếu không dứt bỏ, vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội
(khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa
(tăng tàng) cần được tách riêng.”
[62]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Nổi
giận, bất bình: không được hài lòng, có tâm bực bội,
sanh khởi lòng cay cú.
Nói
như vầy: “Tôi lìa bỏ đức Phật, ...(như trên)..., tôi lìa
bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là các nữ
sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh tịnh,
khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực
hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các nữ sa-môn ấy.”
[63]
Vị tỳ khưu ni ấy: vị tỳ khưu ni nào nói như thế ấy.
Bởi
các tỳ khưu ni: bởi các tỳ khưu ni khác. Các vị ni nào thấy,
các vị ni nào nghe, các vị ni ấy nên nói rằng: “Này ni
sư, khi nổi giận, bất bình chớ nói như vầy: ‘Tôi lìa
bỏ đức Phật, ...(như trên)..., tôi lìa bỏ sự học tập.
Các nữ sa-môn Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng
có những nữ sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận,
ưa thích sự học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong
sự hiện diện của các nữ sa-môn ấy.’ Này ni sư, hãy hoan
hỷ, Pháp đã được khéo thuyết giảng, hãy thực hành Phạm
hạnh một cách đúng đắn để chấm dứt khổ đau.” Nên
được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần
thứ ba. Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt
đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Các vị ni sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Vị
tỳ khưu ni ấy nên được kéo đến giữa hội chúng rồi
nên được nói rằng: “Này ni sư, khi nổi giận, bất bình
chớ nói như vầy: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật, ...(như trên)...,
tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn Thích nữ này là
các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ sa-môn khác thanh
tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, tôi
sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện của các nữ
sa-môn ấy.’ Này ni sư, hãy hoan hỷ, Pháp đã được khéo
thuyết giảng, hãy thực hành Phạm hạnh một cách đúng đắn
để chấm dứt khổ đau.” Nên được nói đến lần thứ
nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ni ấy) dứt
bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[64]
Vị tỳ khưu ni ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ
khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu
ni này tên (như vầy) khi nổi giận, bất bình rồi nói như
vầy: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật, tôi lìa bỏ đức Pháp, tôi
lìa bỏ đức Tăng, tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn
Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ
sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự
học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện
của các nữ sa-môn ấy.’ Vị ni ấy không chịu từ bỏ sự
việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội
chúng nên nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ
sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu
ni này tên (như vầy) khi nổi giận, bất bình rồi nói như
vầy: ‘Tôi lìa bỏ đức Phật, tôi lìa bỏ đức Pháp, tôi
lìa bỏ đức Tăng, tôi lìa bỏ sự học tập. Các nữ sa-môn
Thích nữ này là các nữ sa-môn hạng gì? Cũng có những nữ
sa-môn khác thanh tịnh, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự
học tập, tôi sẽ thực hành Phạm hạnh trong sự hiện diện
của các nữ sa-môn ấy.’ Vị ni ấy không chịu từ bỏ sự
việc ấy. Hội chúng nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy)
để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức ni nào đồng ý việc
nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc
ấy xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để
dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[65]
Do lời đề nghị thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do hai lời
thông báo của hành sự thì phạm các tội thullaccaya (trọng
tội). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng). Đối với vị ni vi phạm tội saṅghādisesa (tăng
tàng) thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya
do hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.
[66]
Vị ni này cũng: được đề cập có liên quan đến các vị
ni trước đây.
(Khi
được nhắc nhở) đến lần thứ ba: vị ni vi phạm tội do
sự nhắc nhở đến lần thứ ba, không phải do thực hiện
sự việc.
Cần
được tách riêng: bị tách riêng ra khỏi hội chúng.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[67]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
ni không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị ni không dứt bỏ thì
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị ni không
dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[68]
Vị ni chưa được nhắc nhở, vị ni dứt bỏ, vị ni bị điên,
vị ni vi phạm đầu tiên thì vô tội.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ TÁM:
[69]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
tỳ khưu ni Caṇḍakālī bị xử thua trong cuộc tranh tụng
nào đó nên nổi giận, bất bình rồi nói như vầy:
-
Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì thương, các tỳ khưu ni
có sự thiên vị vì ghét, các tỳ khưu ni có sự thiên vị
vì si mê, các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi.
Các
tỳ khưu ni ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ni ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ni sư Caṇḍakālī bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào
đó nên nổi giận, bất bình rồi nói như vầy: “Các tỳ
khưu ni có sự thiên vị vì thương, ...(như trên)..., các tỳ
khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi”?
...(như
trên)...
- Này
các tỳ khưu, nghe nói tỳ khưu ni Caṇḍakālī bị xử thua
trong cuộc tranh tụng nào đó nên nổi giận, bất bình rồi
nói như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì thương,
...(như trên)..., các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi,”
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao tỳ khưu ni Caṇḍakālī bị xử thua trong
cuộc tranh tụng nào đó nên nổi giận, bất bình rồi nói
như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì thương, ...(như
trên)..., các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi”? Này
các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu,
các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học này như vầy: “Vị
tỳ khưu ni nào bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó nên
nổi giận, bất bình rồi nói như vầy: ‘Các tỳ khưu ni
có sự thiên vị vì thương, ...(như trên)..., các tỳ khưu
ni có sự thiên vị vì sợ hãi.’ Vị tỳ khưu ni ấy nên
được nói bởi các tỳ khưu ni như sau: ‘Này ni sư, khi bị
xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó rồi nổi giận, bất
bình chớ nên nói như vầy: ‘Các tỳ khưu ni có sự thiên
vị vì thương, ...(như trên)..., các tỳ khưu ni có sự thiên
vị vì sợ hãi.’ Chính ni sư mới thiên vị vì thương, mới
thiên vị vì ghét, mới thiên vị vì si mê, mới thiên vị
vì sợ hãi.’ Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu
ni mà vị tỳ khưu ni ấy vẫn chấp giữ y như thế, vị tỳ
khưu ni ấy nên được các tỳ khưu ni nhắc nhở đến lần
thứ ba để từ bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến
lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt
đẹp; nếu không dứt bỏ, vị tỳ khưu ni này cũng phạm tội
(khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba, là tội saṅghādisesa
(tăng tàng) cần được tách riêng.”
[70]
Vị ni nào: là bất cứ vị ni nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni: ...(như trên)... vị ni này là “vị tỳ khưu ni”
được đề cập trong ý nghĩa này.
Trong
cuộc tranh tụng nào đó: Tranh tụng nghĩa là có bốn sự tranh
tụng: sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng
liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội,
sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Bị
xử thua nghĩa là bị thất bại được đề cập đến.
Nổi
giận, bất bình: không được hài lòng, có tâm bực bội,
sanh khởi lòng cay cú.
Nói
như vầy: “Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì thương, ...(như
trên)..., các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi.”
[71]
Vị tỳ khưu ni ấy: là vị tỳ khưu ni nói như thế ấy.
Bởi
các tỳ khưu ni: bởi các tỳ khưu ni khác. Các vị ni nào thấy,
các vị ni nào nghe, các vị ni ấy nên nói rằng: “Này ni
sư, khi bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó rồi nổi
giận, bất bình chớ nên nói như vầy: ‘Các tỳ khưu ni có
sự thiên vị vì thương, ...(như trên)..., các tỳ khưu ni có
sự thiên vị vì sợ hãi.’ Chính ni sư mới thiên vị vì
thương, mới thiên vị vì ghét, mới thiên vị vì si mê, mới
thiên vị vì sợ hãi.” Nên được nói đến lần thứ nhì.
Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ,
như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Các vị ni sau khi nghe mà không nói thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
tỳ khưu ni ấy nên được kéo đến giữa hội chúng rồi
nên được nói rằng: “Này ni sư, khi bị xử thua trong cuộc
tranh tụng nào đó rồi nổi giận, bất bình chớ nên nói
như vầy: ‘Các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì thương, ...(như
trên)..., các tỳ khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi.’ Chính
ni sư mới thiên vị vì thương, mới thiên vị vì ghét, mới
thiên vị vì si mê, mới thiên vị vì sợ hãi.” Nên được
nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba.
Nếu (vị ni ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp;
nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[72]
Vị tỳ khưu ni ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ
khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được
thông báo bởi vị tỳ khưu ni có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu
ni này tên (như vầy) bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào
đó nên nổi giận, bất bình rồi nói như vầy: ‘Các tỳ
khưu ni có sự thiên vị vì thương, ...(như trên)..., các tỳ
khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi.’ Vị ni ấy không chịu
từ bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy)
để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch
chư đại đức ni, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Tỳ khưu
ni này tên (như vầy) bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào
đó nên nổi giận, bất bình rồi nói như vầy: ‘Các tỳ
khưu ni có sự thiên vị vì thương, ...(như trên)..., các tỳ
khưu ni có sự thiên vị vì sợ hãi.’ Vị ni ấy không chịu
từ bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở tỳ khưu ni tên
(như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức ni nào đồng
ý việc nhắc nhở tỳ khưu ni tên (như vầy) để dứt bỏ
sự việc ấy xin im lặng; vị ni nào không đồng ý có thể
nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: ...(như trên)...
Tỳ
khưu ni tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để
dứt bỏ sự việ