MỤC
LỤC
Giới
thiệu
[3.1]
I. CHƯƠNG PĀRĀJIKA (Pārājikakaṇḍaṃ):
1.
Pārājika thứ nhất: Tội xúc chạm với người nam
[1]
Câu chuyện về Sāḷha cháu trai của Migāra và tỳ-khưu ni
Sundarīnandā. Sự quy định
[2]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[11]
Các trường hợp không phạm tội
2.
Pārājika thứ nhì: Che giấu tội pārājika của vị ni khác
[12]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Sundarīnandā và tỳ-khưu ni Thullanandā.
Sự quy định
[13]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[17]
Các trường hợp không phạm tội
3.
Pārājika thứ ba: Xu hướng theo tỳ-khưu tà kiến
[18]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[19]
Giải nghĩa từ ngữ.
[21]
Tuyên ngôn nhắc nhở. Phân tích điều học
[25]
Các trường hợp không phạm tội
4.
Pārājika thứ tư: Tình tứ hẹn hò với người nam
[26]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
[27]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[29]
Các trường hợp không phạm tội
[30]
Tổng kết chương pārājika.
[3.2]
II. CHƯƠNG MƯỜI BẢY PHÁP (Sattarasakaṇḍaṃ):
1.
Điều Saṅghādisesa (Tăng tàng) thứ nhất: Thưa kiện người
tại gia
[31]
Câu chuyện về việc tranh chấp giữa tỳ-khưu ni Thullanandā
và người gia chủ. Sự quy định
[32]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[34]
Các trường hợp không phạm tội
2.
Điều Saṅghādisesa thứ nhì: Cho người nữ phạm tội xuất
gia
[35]
Câu chuyện về người vợ dòng Licchavi. Sự quy định
[36]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[39]
Các trường hợp không phạm tội
3.
Điều Saṅghādisesa thứ ba: tỳ-khưu ni đi một mình
[40]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni học trò của Bhaddā Kāpilānī.
Sự quy định
[41]
Câu chuyện về hai tỳ-khưu ni sang sông. Sự quy định thêm
lần thứ nhất
[42]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định thêm lần
thứ nhì
[43]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni đi phía sau. Sự quy định thêm
lần thứ ba
[44]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[46]
Các trường hợp không phạm tội
4.
Điều Saṅghādisesa thứ tư: Làm hành sự không xin phép hội
chúng
[47]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Canḍakālī. Sự quy định
[48]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[51]
Các trường hợp không phạm tội
5.
Điều Saṅghādisesa thứ năm: Nhận vật thực từ tay của
người nam nhiễm dục vọng
[52]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Sundarīnandā. Sự quy định
[53]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[56]
Các trường hợp không phạm tội
6.
Điều Saṅghādisesa thứ sáu: Xúi giục vị tỳ-khưu ni khác
nhận vật thực từ tay của người nam nhiễm dục vọng
[57]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Sundarīnandā. Sự quy định
[58]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[60]
Các trường hợp không phạm tội
7.
Điều Saṅghādisesa thứ bảy: Nói hờn dỗi về việc hoàn
tục
[61]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
[62]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[64]
Tuyên ngôn nhắc nhở. Phân tích điều học
[68]
Các trường hợp không phạm tội
8.
Điều Saṅghādisesa thứ tám: Nói hội chúng là thiên vị
[69]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
[70]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[72]
Tuyên ngôn nhắc nhở. Phân tích điều học
[76]
Các trường hợp không phạm tội
9.
Điều Saṅghādisesa thứ chín: Sống thân cận với thế tục,
có sở hành xấu xa
[77]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni học trò của tỳ-khưu ni Thullanandā.
Sự quy định
[78]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[80]
Tuyên ngôn nhắc nhở. Phân tích điều học
[84]
Các trường hợp không phạm tội
10.
Điều Saṅghādisesa thứ mười: Xúi giục các tỳ-khưu ni sống
thân cận với thế tục
[85]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[86]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học
[87]
Tuyên ngôn nhắc nhở. Phân tích điều học
[91]
Các trường hợp không phạm tội
[92]
Tổng kết chương Mười Bảy Pháp
[3.3]
III. CHƯƠNG ƯNG XẢ (Nissaggiyakaṇḍaṃ):
PHẦN
BÌNH BÁT:
1.
Điều học thứ nhất (Tích trữ nhiều bình bát):
[93]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
[94]
Giải nghĩa từ ngữ. Cách thức xả bỏ bình bát phạm tội.
Phân tích điều học.
[100]
Các trường hợp không phạm tội
2.
Điều học thứ nhì (Không chia y đến các vị tỳ-khưu ni
khách):
[102]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[103]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
3.
Điều học thứ ba: (Xé rách y)
[106]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[107]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
4.
Điều học thứ tư (Yêu cầu vật này rồi đổi ý):
[110]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[111]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
5.
Điều học thứ năm (Bảo mua vật này rồi đổi ý):
[114]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[115]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
6.
Điều học thứ sáu (Bảo mua vật dụng bằng tài vật của
hội chúng):
[118]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[119]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
7.
Điều học thứ bảy (Yêu cầu mua vật dụng bằng tài vật
của hội chúng):
[122]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
[123]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
8.
Điều học thứ tám (Bảo mua vật dụng bằng tài vật của
nhóm):
[126]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
[127]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
9.
Điều học thứ chín (Yêu cầu mua vật dụng bằng tài vật
của nhóm):
[130]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
[131]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
10.
Điều học thứ mười (Bảo mua vật dụng bằng tài vật của
cá nhân):
[134]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[135]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
PHẦN
Y:
11.
Điều học thứ nhất (Sắm tấm choàng loại dày):
[138]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[139]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
12.
Điều học thứ nhì (Sắm tấm choàng loại nhẹ):
[142]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
[143]
Giải nghĩa từ ngữ. Phân tích điều học. Các trường hợp
không phạm tội
[146]
Tổng kết chương Ưng Xả
[3.4a]
IV. CHƯƠNG ƯNG ĐỐI TRỊ (Pācittiyakaṇḍaṃ):
PHẦN
TỎI:
1.
Điều học thứ nhất (Nhai tỏi):
[147]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā.
[148]
Chuyện tiền thân của tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
2.
Điều học thứ nhì (Cạo lông ở chỗ kín):
[154]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
3.
Điều học thứ ba: (Việc cọ xát bằng lòng bàn tay)
[157]
Câu chuyện về hai tỳ-khưu ni. Sự quy định
4.
Điều học thứ tư (Áp dụng gậy ngắn bằng nhựa cây):
[160]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni nọ. Sự quy định
5.
Điều học thứ năm (Việc làm sạch sẽ bằng nước):
[163]
Câu chuyện về bà Mahāpajāpati Gotamī. Sự quy định
6.
Điều học thứ sáu (Đứng gần phục vụ vị tỳ-khưu đang
ăn):
[168]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu bị tỳ-khưu ni đánh. Sự quy
định
7.
Điều học thứ bảy (Lúa còn nguyên hạt):
[172]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
8.
Điều học thứ tám ( Đổ bỏ vật dơ bên kia bức tường,
bên ngoài hàng rào):
[175]
Câu chuyện về người Bà-la-môn. Sự quy định
9.
Điều học thứ chín (Đổ bỏ vật dơ lên cỏ cây xanh):
[178]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
10.
Điều học thứ mười (Đi để xem vũ ca tấu nhạc):
[182]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
PHẦN
BÓNG TỐI:
11.
Điều học thứ nhất (Đứng chuyện trò với người nam trong
bóng tối):
[185]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni và người nam. Sự quy định
12.
Điều học thứ nhì (Đứng chuyện trò với người nam ở
chỗ được che khuất):
[188]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni và người nam. Sự quy định
13.
Điều học thứ ba: (Đứng chuyện trò với người nam ở khoảng
trống)
[191]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni và người nam. Sự quy định
14.
Điều học thứ tư (Đứng chuyện trò với người nam ở đường
xá):
[194]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
15.
Điều học thứ năm (Rời khỏi nhà gia chủ không thông báo):
[197]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni nọ. Sự quy định
16.
Điều học thứ sáu (Nằm ngồi ở trong nhà không hỏi ý gia
chủ):
[201]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
17.
Điều học thứ bảy (Trải ra chỗ nằm ở trong nhà không
hỏi ý gia chủ):
[205]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
18.
Điều học thứ tám (Than phiền với vị khác):
[209]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni học trò của Bhaddāya Kāpilānī.
Sự quy định
19.
Điều học thứ chín (Nguyền rủa bản thân và người khác):
[213]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
20.
Điều học thứ mười (Tự đánh đấm chính mình rồi khóc
lóc):
[217]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
[3.4b]
PHẦN LÕA THỂ:
21.
Điều học thứ nhất (Lõa thể tắm):
[220]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni tắm sông. Sự quy định
22.
Điều học thứ nhì (Kích thước y choàng tắm):
[223]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
23.
Điều học thứ ba: (Tháo rời y của tỳ-khưu ni rồi không
may lại)
[227]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
24.
Điều học thứ tư (Xa y quá năm ngày):
[231]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
25.
Điều học thứ năm (Mặc y căn bản của vị khác không hỏi
ý):
[235]
Câu chuyện về hai vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
26.
Điều học thứ sáu (Ngăn cản lợi lộc về y của nhóm):
[239]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
27.
Điều học thứ bảy (Ngăn cản sự phân chia y đúng Pháp):
[242]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
28.
Điều học thứ tám (Cho y của sa-môn đến người tại gia
và ngoại đạo):
[246]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
29.
Điều học thứ chín (Để cho vượt quá thời hạn về y):
[249]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
30.
Điều học thứ mười (Ngăn cản sự thâu hồi Kaṭhina đúng
Pháp):
[253]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Tuyên ngôn thâu hồi
Kaṭhina.
[54]
Sự quy định
PHẦN
DÙNG CHUNG:
31.
Điều học thứ nhất (Hai tỳ-khưu ni nằm chung trên một chiếc
giường ):
[258]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
32.
Điều học thứ nhì (Hai tỳ-khưu ni nằm chung tấm trải tấm
đắp):
[261]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
33.
Điều học thứ ba: (Cố ý quấy rầy vị tỳ-khưu ni)
[265]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
34.
Điều học thứ tư (Không chăm sóc người nữ đệ tử bị
ốm đau):
[269]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
35.
Điều học thứ năm (Lôi kéo vị tỳ-khưu ni ra khỏi nơi trú
ngụ):
[272]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
36.
Điều học thứ sáu (Sống thân cận với nam gia chủ với
con trai gia chủ):
[276]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
[77]
Giải nghĩa từ ngữ. Tuyên ngôn nhắc nhở.
37.
Điều học thứ bảy (Đi du hành trong quốc độ có sự nguy
hiểm và kinh hoàng):
[283]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
38.
Điều học thứ tám (Đi du hành ngoài quốc độ (ở nơi) có
sự nguy hiểm và kinh hoàng):
[286]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
39.
Điều học thứ chín (Đi du hành trong mùa (an cư) mưa):
[289]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
40.
Điều học thứ mười (Sau mùa an cư không ra đi du hành):
[292]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni ở thành Rājagaha. Sự quy định
[3.4c]
PHẦN NHÀ TRIỂN LÃM TRANH:
41.
Điều học thứ nhất (Đi để xem nhà triển lãm tranh):
[295]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
42.
Điều học thứ nhì (Sử dụng ghế cao và ghế nệm lông thú):
[298]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
43.
Điều học thứ ba: (Xe chỉ sợi)
[301]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
44.
Điều học thứ tư (Phục vụ người tại gia):
[304]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
45.
Điều học thứ năm (Không giải quyết sự tranh tụng):
[306]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
46.
Điều học thứ sáu (Cho vật thực đến người tại gia):
[311]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
47.
Điều học thứ bảy (Sử dụng y nội trợ không chịu xả
bỏ):
[314]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
48.
Điều học thứ tám (Ra đi du hành khi chưa xả bỏ chỗ trú
ngụ):
[318]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
49.
Điều học thứ chín (Học tập kiến thức nhảm nhí):
[322]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
50.
Điều học thứ mười (Dạy kiến thức nhảm nhí):
[325]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
PHẦN
TU VIỆN:
51.
Điều học thứ nhất (Đi vào tu viện không báo trước):
[328]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định lần thứ
nhất.
[329]
Sự quy định thêm lần thứ nhất. Sự quy định thêm lần
thứ nhì.
52.
Điều học thứ nhì (Mắng nhiếc hoặc nguyền rủa tỳ-khưu):
[334]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
53.
Điều học thứ ba: (Bị kích động rồi chửi rủa nhóm)
[338]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
54.
Điều học thứ tư (Thọ thực xong lại thọ thực ở nơi
khác):
[342]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
55.
Điều học thứ năm (Bỏn xẻn về gia đình):
[346]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu nọ. Sự quy định
56.
Điều học thứ sáu (Mùa (an cư) mưa tại trú xứ không có
tỳ-khưu):
[349]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
57.
Điều học thứ bảy (Không thực hiện lễ Pavāraṇā ở cả
hai hội chúng):
[352]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
58.
Điều học thứ tám (Không đi giáo giới):
[355]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
59.
Điều học thứ chín (Không hỏi về lễ Uposatha và không thỉnh
cầu sự giáo giới):
[358]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
60.
Điều học thứ mười (Cùng người nam nặn mụt nhọt ở
phần dưới thân):
[361]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni nọ. Sự quy định
[3.4d]
PHẦN SẢN PHỤ:
61.
Điều học thứ nhất (Tiếp độ người nữ mang thai):
[364]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
62.
Điều học thứ nhì (Tiếp độ người nữ còn cho con bú):
[368]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
63.
Điều học thứ ba: (Tiếp độ cô ni tu tập sự chưa thực
hành sáu pháp)
[372]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
64.
Điều học thứ tư (Tiếp độ cô ni tu tập sự chưa được
hội chúng chấp thuận):
[376]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
65.
Điều học thứ năm (Tiếp độ người nữ đã kết hôn khi
chưa đủ mười hai tuổi):
[380]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
66.
Điều học thứ sáu (Tiếp độ người nữ đã kết hôn khi
tròn đủ mười hai tuổi chưa thực hành điều học thuộc
về sáu pháp trong hai năm):
[384]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
67.
Điều học thứ bảy (Tiếp độ người nữ đã kết hôn khi
tròn đủ mười hai tuổi đã thực hành điều học thuộc
về sáu pháp trong hai năm chưa được hội chúng chấp thuận):
[388]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
68.
Điều học thứ tám (Sau khi tiếp độ người nữ đệ tử
không dạy dỗ):
[392]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
69.
Điều học thứ chín (Không hầu cận thầy tế độ trong hai
năm):
[395]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
70.
Điều học thứ mười (Sau khi tiếp độ người nữ đệ tử
lại không cách ly khiến chồng bắt lại):
[398]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
PHẦN
THIẾU NỮ:
71.
Điều học thứ nhất (Tiếp độ thiếu nữ chưa đủ hai mươi
tuổi):
[401]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
72.
Điều học thứ nhì (Tiếp độ thiếu nữ tròn đủ hai mươi
tuổi chưa thực hành điều học thuộc về sáu pháp trong hai
năm):
[405]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
73.
Điều học thứ ba: (Tiếp độ thiếu nữ tròn đủ hai mươi
tuổi đã thực hành điều học thuộc về sáu pháp trong hai
năm chưa được hội chúng chấp thuận)
[409]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
74.
Điều học thứ tư (Tiếp độ khi chưa đủ mười hai năm
thâm niên):
[413]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
75.
Điều học thứ năm (Tiếp độ khi tròn đủ mười hai năm
thâm niên nhưng chưa được hội chúng đồng ý ):
[416]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
76.
Điều học thứ sáu (Tiến hành việc phê phán hội chúng tỳ-khưu
ni):
[420]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Caṇḍakālī. Sự quy định
77.
Điều học thứ bảy (Bảo dâng y rồi hứa hẹn tiếp độ
nhưng không tiếp độ):
[423]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
78.
Điều học thứ tám (Bảo hầu cận rồi hứa hẹn tiếp độ
nhưng không tiếp độ):
[426]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
79.
Điều học thứ chín (Tiếp độ cô ni tu tập sự nhẫn tâm
gây sầu khổ người khác):
[429]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
80.
Điều học thứ mười (Tiếp độ cô ni tu tập sự không được
cha mẹ và người chồng cho phép):
[432]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
81.
Điều học thứ mười một (Tiếp độ cô ni tu tập sự với
sự chấp thuận của các tỳ-khưu phạm tội):
[435]
Câu chuyện về tỳ-khưu ni Thullanandā. Sự quy định
82.
Điều học thứ mười hai (Tiếp độ hàng năm):
[438]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
83.
Điều học thứ mười ba (Tiếp độ hai người trong một năm):
[441]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
[3.4e]
PHẦN THIẾU NỮ:
84.
Điều học thứ nhất (Sử dụng dù dép):
[444]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
lần thứ nhất
[445]
Sự quy định thêm
85.
Điều học thứ nhì (Đi xe):
[449]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
lần thứ nhất
[450]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni bị bệnh. Sự quy định thêm
86.
Điều học thứ ba (Mang váy):
[454]
Câu chuyện về tỳ-khưu nọ. Sự quy định
87.
Điều học thứ tư (Mang đồ trang sức của phụ nữ):
[457]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
88.
Điều học thứ năm (Tắm bằng vật thơm và có màu sắc):
[460]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
89.
Điều học thứ sáu (Tắm bằng bã dầu mè có tẩm hương):
[463]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
90.
Điều học thứ bảy (Bảo tỳ-khưu ni xoa bóp và chà xát cơ
thể):
[466]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
91,
92, 93. Điều học thứ tám, chín, mười (Bảo cô ni tu tập
sự, sa-di ni, người nữ tại gia xoa bóp và chà xát (cơ thể):
[469]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
94.
Điều học thứ mười một (Ngồi xuống ở phía trước tỳ-khưu
không hỏi ý):
[472]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
95.
Điều học thứ mười hai (Hỏi câu hỏi ở vị tỳ-khưu chưa
được thỉnh ý trước):
[476]
Câu chuyện về nhiều vị tỳ-khưu ni. Sự quy định
96.
Điều học thứ mười ba (Không mặc áo lót đi vào làng):
[480]
Câu chuyện về vị tỳ-khưu ni nọ. Sự quy định
[483]
Tổng kết chương Ưng Đối Trị. Bài kệ tóm lược.
V.
CHƯƠNG ƯNG PHÁT LỘ (Pāṭidesanīyakaṇḍaṃ):
1.
Điều học thứ nhất (Yêu cầu bơ lỏng rồi thọ dụng):
[484]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
lần thứ nhất
[485]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni bị bệnh. Sự quy định thêm
2-8.
Điều học thứ nhì ... Điều học thứ tám (Yêu cầu mật
ong ... đường mía ... cá ... thịt ... sữa tươi ... sữa đông
rồi thọ dụng):
[489]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
lần thứ nhất
[490]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni bị bệnh. Sự quy định thêm
[494]
Tổng kết chương Ưng Phát Lộ.
VI.
CHƯƠNG ƯNG HỌC PHÁP (Sekhiyakaṇḍaṃ):
[495]
Điều học về mặc y nội tròn đều: Câu chuyện về các
tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy định
(Có
sự thu gọn)
[498]
Điều học về đại tiện, tiểu tiện, và khạc nhổ ở trong
nước: Câu chuyện về các tỳ-khưu ni nhóm Lục Sư. Sự quy
định lần thứ nhất
[499]
Câu chuyện về các tỳ-khưu ni bị bệnh. Sự quy định thêm
[502]
Tổng kết chương Ưng Học Pháp.
VII.
CHƯƠNG CÁC PHÁP DÀN XẾP TRANH TỤNG (Adhikaraṇasamathā dhammā):
[503]
Giới thiệu bảy pháp dàn xếp bốn loại tranh tụng.
[504]
Tổng kết Bộ Phân Tích Giới Tỳ-khưu Ni.
PHẦN
GIỚI THIỆU
*****
Phân
Tích Giới Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīvibhaṅga) là phần thứ hai
của bộ Phân Tích Giới Bổn (Suttavibhaṅga) thuộc về Tạng
Luật (Vinayapiṭaka), phần thứ nhất là Phân Tích Giới Tỳ
Khưu (Bhikkhuvibhaṅga) được trình bày với tên gọi là Đại
Phân Tích (Mahāvibhaṅga).
Tổng
cộng điều học của các tỳ khưu ni gồm có 311 điều được
phân chia như sau:
1/-
8 Pārājika (bất cộng trụ)
2/-
17 Saṅghādisesa (tăng tàng)
3/-
30 Nissaggiya Pācittiya (ưng xả đối trị)
4/-
166 Pācittiya (ưng đối trị)
5/-
8 Pāṭidesanīya (ưng phát lộ)
6/-
75 Sekhiya (ưng học)
7/-
7 Adhikaraṇasamathā Dhammā (các pháp dàn xếp tranh tụng).
Tuy
nhiên chỉ có những điều học quy định riêng (asādhāraṇapaññatti)
được trình bày trong tập này, còn những điều quy định
chung cho tỳ khưu và tỳ khưu ni (sādhāraṇapaññatti) cần
phải xem ở Phân Tích Giới Tỳ Khưu (Bhikkhuvibhaṅga). Ngài
Buddhaghosa trong Chú Giải Tạng Luật Samantapāsādikā đã giúp
chúng ta xác định những điều học chung này, tuy nhiên thứ
tự các điều học trong giới bổn đầy đủ của các tỳ
khưu ni được trình bày như thế nào không thấy ngài đề
cập đến.
Sau
khi hoàn tất phần nghiên cứu tài liệu này, chúng tôi có
lưu ý một số vấn đề như sau:
1/-
Tỳ khưu ni không có phần giới aniyata (bất định). Tỳ khưu
và tỳ khưu ni đều có 30 điều nissaggiya pācittiya (ưng xả
đối trị), tuy có số lượng giống nhau nhưng một số điều
học lại khác nhau, 75 điều sekhiya (ưng học) và 7 pháp dàn
xếp tranh tụng hoàn toàn giống nhau.
2/-
Đức Phật quy định các điều học cho các tỳ khưu ni thông
qua các tỳ khưu. Mỗi khi có sự việc sanh khởi, các tỳ khưu
ni đã kể lại sự việc cho các tỳ khưu rồi các tỳ khưu
mới trình lên đức Phật. Khi đức Phật quy định điều
học, ngài cũng quy định gián tiếp qua các tỳ khưu: "... Và
này các tỳ khưu, các tỳ khưu ni hãy phổ biến điều học
này ..." Cũng nên lưu ý về thể của động từ sử dụng
trong lời nói của đức Phật: Động từ "uddissantu" trong trường
hợp của các tỳ khưu ni thuộc mệnh lện cách hàm ý sự
chỉ thị, sự ra lệnh, nên được dịch là "hãy," còn "uddisseyyātha"
áp dụng cho các tỳ khưu thuộc giả định cách có ý nghĩa
khuyên bảo nhẹ nhàng được dịch là "nên;" chúng tôi chưa
tìm ra được lý giải về văn phạm cho điểm này, cũng có
thể việc nói gián tiếp hay trực tiếp là lý do của sự
khác biệt này. Và trong các câu chuyện ở Tạng Luật, dường
như chỉ có bà Mahāpajāpati Gotamī là chủ động thưa chuyện
cùng đức Phật, còn các tỳ khưu ni chỉ lắng nghe và trả
lời mỗi khi đức Phật hỏi đến.
3/-
Các tỳ khưu ni khi đến với đức Phật đều đứng cho dù
nghe Pháp. Điều này được ghi nhận ở các đoạn văn "...
rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng ở một bên..." Và khi
từ giã đức Phật, chỉ có phần mô tả việc các tỳ khưu
ni đảnh lễ đức Phật, hướng vai phải nhiễu quanh và ra
đi, không có đoạn "... từ chỗ ngồi đứng dậy..." Riêng
đối với các tỳ khưu, vị tỳ khưu ni cần phải xin phép
khi ngồi xuống ở phía trước (pācittiya điều 94).
4/-
Tội quy định cho tỳ khưu thường được giảm nhẹ so với
các tỳ khưu ni trong khi cả hai đều thực hiện hành động
phạm tội giống nhau. Ví dụ như việc che giấu tội pārājika
của vị khác, tỳ khưu phạm pācittiya (ưng đối trị) điều
64 tỳ khưu ni lại phạm pārājika (bất cộng trụ) điều 2,
hoặc vị xu hướng theo tà kiến và vẫn không dứt bỏ sau
khi được nhắc nhở, tỳ khưu phạm pācittiya (ưng đối trị)
điều 68 còn tỳ khưu ni phạm pārājika (bất cộng trụ) điều
3, v.v...
5/-
Tuy nhiên, tỳ khưu ni cũng được 2 điều giảm nhẹ là chỉ
hầu cận ni sư tế độ 2 năm trong khi tỳ khưu tối thiểu
phải 5 năm hoặc hơn và tỳ khưu ni không phải hành parivāsa
khi phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng), bù lại phải thực
hành mānatta nửa tháng ở cả hai hội chúng (trong khi đó tỳ
khưu phải hành parivāsa tùy theo số ngày che giấu và chỉ
6 đêm mānatta). Phải chăng điều này chứng tỏ bản chất
người nữ không biết giấu diếm tội của bản thân nên
hành phạt parivāsa không cần thiết?
6/-
Vấn đề xuất gia cho người nữ có phần phức tạp hơn,
ví dụ như ni sư tế độ phải 12 năm thâm niên (so với tỳ
khưu chỉ 10 năm), mỗi năm chỉ có thể cho tu lên bậc trên
1 nữ đệ tử (không thấy quy định cho tỳ khưu). Sau khi cho
tu lên bậc trên xong, cần phải di chuyển vị tân tỳ khưu
ni đi xa để tránh trường hợp người chồng bắt lại (pācittiya
điều 70).
7/-
Về phần giới tử ni muốn tu lên bậc trên phải có sự cho
phép của cha mẹ và người chồng (đã xuất giá vẫn còn
lệ thuộc vào cha mẹ), phải tròn đủ hai mươi tuổi, đã
thực hành sáu pháp trong hai năm, và sự truyền pháp tu lên
bậc trên cần được tiến hành lần lượt ở cả hai hội
chúng. Giới tử ni được chia làm hai hạng: Kumārībhūtā có
thể hiểu là hạng người nữ chưa có sự tiếp xúc thể
xác với người nam và hạng thứ nhì là Gihigatā (nghĩa là
người nữ đã đi đến nhà) được dịch là người nữ đã
kết hôn; ở phần giải nghĩa từ ngữ ghi là "người nữ
đã đi đến ở giữa (những) người nam" (lối nói bóng bẩy
của sự tiếp xúc thể xác với người nam). Nếu vị tỳ
khưu ni cho tu lên bậc trên hạng người nữ gihigatā chưa đủ
12 năm (ūnadvādasavassā) thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) điều 65. Nên hiểu như thế nào về việc chưa đủ
12 năm? Học giả I. B. Horner lý luận lòng vòng về vấn đề
này: Là kém 12 tuổi? Hay kết hôn chưa đủ 12 năm? Lời giải
thích của ngài Buddhaghosa cũng không soi sáng được vấn đề.
Chúng tôi đã suy nghĩ về lời giải thích của đức Phật
về lý do không thể cho tu lên bậc trên hạng người nữ này
khi chưa đủ 12 năm "không có khả năng chịu đựng sự lạnh,
sự nóng, ..." và hiểu theo nghĩa đơn giản của lời giải
nghĩa từ ngữ ở trên: người nữ "có sự tiếp xúc thể
xác với người nam" khi bản thân chưa đủ 12 tuổi. Do thể
chất và tâm lý của người nữ vào lứa tuổi ấy chưa được
chuẩn bị đầy đủ nên việc người nam xâm phạm tiết hạnh
sẽ gây ra những tác hại về tâm sinh lý khiến khả năng
chịu đựng của hạng người nữ ấy bị kém đi (Dịch giả
I.B. Horner cho biết rằng ở Ấn Độ có những địa phương
vẫn duy trì tập tục cưới gả các cô gái lúc còn 8 tuổi).
8/-
Xã hội Ấn Độ thời đó có vẻ rất nguy hiểm đối với
nữ giới qua những sự việc bất trắc xảy ra cho các tỳ
khưu ni đi riêng lẻ hay nhóm.
9/-
Vấn đề thâu hồi Kaṭhina lại được tìm thấy ở bộ Luật
này (pācittiya điều 30, [253]) thay vì được kết tập ở chương
Kaṭhina (Đại Phẩm – Mahāvagga, chương VII).
Chúng
tôi chỉ liệt kê một số vấn đề nổi bật đã được
đánh dấu trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi còn
có các thắc mắc như sau:
1/-
Phải chăng bộ Luật chúng ta đang nghiên cứu ở đây đã
được rút gọn lại? Hay nói cách khác, phải chăng có một
bộ Luật được kết tập đầy đủ cho tỳ khưu ni để tiện
việc học tập? Theo Đại Phẩm - Mahāvagga, vào ngày lễ Uposatha
các tỳ khưu không được đọc tụng giới bổn Pātimokkha
khi có sự hiện diện của vị tỳ khưu ni (chương II, [201]).
Như thế, các tỳ khưu ni đã đọc tụng riêng theo như ở
lời mở đầu và kết thúc của mỗi loại điều học, hoặc
ở lời kết thúc giới bổn đã xác định rõ. Ngoài ra, cần
phải có sự chuyển đổi về văn tự ở các điều học đã
được quy định chung, ví dụ ở điều pārājika thứ nhất
phải đọc "yā pana bhikkhunī" thay vì đọc "yo pana bhikkhu,"
"antamaso tiracchānagatena" thay vì "antamaso tiracchānagatāya" v.v...
cho thấy việc lưu truyền một bộ giới bổn đầy đủ của
các tỳ khưu ni là hợp lý. Nếu chấp nhận giả thiết như
vậy, phải chăng bộ Luật của tỳ khưu ni đã được rút
gọn lại sau khi sự tồn tại của các tỳ khưu ni không còn
nữa? Vào thời gian nào?
2/-
Ngoại trừ một số sinh hoạt của các tỳ khưu ni qua các
câu chuyện, chúng tôi vẫn không nghiệm ra được các hành
sự của các tỳ khưu ni đã được tiến hành như thế nào?
Ví dụ như các tỳ khưu ni tụng đọc giới bổn vào lúc nào
trong ngày lễ Uposatha? Trước hay sau khi đi nghe giáo giới?
Ni viện có xác định ranh giới (sīmā) riêng hay không? Nếu
có, các tỳ khưu ni sẽ tự thực hiện lấy hay cần phải
có sự giúp đỡ của các tỳ khưu? Trong lúc tra cứu cách
giải quyết cho một số vấn đề, chúng tôi đã không tìm
được lời giải thích của ngài Buddhaghosa hoặc lời giải
thích không rõ ràng. Chúng tôi tự hỏi rằng: Phải chăng ngài
đã không có sự tham khảo với các tỳ khưu ni thời đó?
Hay nói theo sự suy diễn là không còn sự sinh hoạt của tỳ
khưu ni vào thế kỷ thứ 5 sau Công Nguyên ở đảo Laṅkā?
Nếu
xem xét kỹ lưỡng hai bộ Luật của tỳ khưu và tỳ khưu
ni, chúng ta có thể tìm ra những sự khác biệt về tâm lý
giữa hai giới tính đã được đức Phật nghiệm ra bằng
sự tu chứng và giác ngộ của bản thân, trong khi hiện nay
môn Tâm Lý Học phải tốn nhiều công sức với các sự nghiên
cứu để tìm ra nguyên lý và áp dụng vào thực tế. Chúng
tôi nghĩ rằng còn nhiều vấn đề lý thú khác mà bản thân
chúng tôi đã bỏ sót hay không đủ khả năng để phát hiện.
*
Bản
dịch Phân Tích Giới Bổn – Suttavibhaṅga của chúng tôi được
thực hiện và trình bày theo văn bản Pali La tinh từ Compact
Disk BUDSIR IV của trường đại học Mahidol ở thủ đô Bangkok,
Thái Lan. Phần mục lục chúng tôi thực hiện theo các chữ
số đánh dấu ở đầu mỗi vấn đề; trình bày theo cách
này sẽ giúp quý vị tiết kiệm được thời gian trong việc
xác định vấn đề cần tham khảo. Tuy đã nỗ lực tối đa
nhưng chúng tôi biết rằng bản dịch này vẫn còn nhiều sai
sót, rất mong nhận được những sự chỉ dạy và ý kiến
đóng góp của quý vị. Xin email về: dinda@u.washington.edu
Xin
chân thành ghi nhận công đức của Thượng Tọa Tiến Sĩ Bửu
Chánh về CD Tam Tạng BUDSIR IV. Chúng tôi cũng xin tán dương
công đức của Đại Đức Giác Hạnh về CD Tam Tạng Chattha
Saṅgāyana, đồng thời đã cho mượn dài hạn các bản dịch
tiếng Anh của Cô I. B. Horner. CD Buddhasāsanā quà biếu của
Dr. Bình Anson đã đóng góp phần công đức không nhỏ với
hai bản dịch từ Hán tạng: Luật Tỳ-khưu ni bản dịch của
Hòa thượng Thích Trí Quang và Luật Ma-ha Tăng-kỳ của Pháp
sư Phật-đà Bạt-đà-la (Thích Phước Sơn dịch).
Chúng
tôi cũng xin ghi nhận sự ủng hộ nhiệt tình của Đại Đức
Hộ Phạm đã hy sinh nhiều thời gian cùng chúng tôi suy nghĩ
để tìm ra phương thức giải quyết cho những điểm khó về
văn phạm cũng như từ ngữ. Cũng cần nhắc đến các sự
ủng hộ và lời động viên thăm hỏi của các vị: Ven. Chánh
Minh, Ven. Cittānanda, Ven. Khánh Hỷ, Ven. Chánh Kiến, Dr. Bình
Anson, bà Diệu Đài, anh Phạm Trọng Độ, đạo hữu Lương
Xuân Lộc, chú Nguyễn Hữu Danh, gia đình Nguyễn Ngọc Vivian,
gia đình Lê Thị Tích, cô Trần Liêng. Không có sự khích lệ
của quý vị, bản dịch này không thể hoàn thành. Mong sao
các ước nguyện của quý vị sẽ được thành tựu như ý
và nhanh chóng y như việc chúng tôi đã hoàn tất bản dịch
này.
Công
đức này xin dâng đến Hòa Thượng trụ trì và chư tỳ khưu
chùa Sri Jayawardhanaramaya, Colombo, Tích Lan đã bảo bọc và tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong công việc học tập
và nghiên cứu Phật Pháp trong thời gian qua.
Mong
sao hết thảy chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào
quang của Chánh Pháp.
Colombo,
ngày 31 tháng 03 năm 2004
Bhikkhu
Indacanda
(Trương
đình Dũng)
(Hiệu
đính lần thứ nhất hoàn tất ngày 10/10/2004)
Source:
http://www.budsas.org/