VIII.
CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ) (tt)
PHẦN
UỐNG RƯỢU - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[575]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn trong khi du hành ở xứ
Cetiya đã đi đến ngôi làng Bhaddavatikā. Những người giữ
bò, chăn dê, nông phu, khách đi đường đã nhìn thấy đức
Thế Tôn từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói
với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, xin đức Thế Tôn chớ đi đến Ambatittha. Bạch ngài,
ở Ambatittha có con rồng sống trong khu ẩn cư của đạo sĩ
thờ lửa là con rắn có pháp thuật, có nọc độc khủng khiếp,
chớ để nó hãm hại đức Thế Tôn.
Khi
được nói như thế, đức Thế Tôn đã im lặng. Đến lần
thứ nhì, ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, những người giữ bò, chăn dê, nông phu, khách
đi đường đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, xin đức Thế Tôn chớ đi đến Ambatittha. Bạch ngài,
ở Ambatittha có con rồng sống trong khu ẩn cư của đạo sĩ
thờ lửa là con rắn có pháp thuật, có nọc độc khủng khiếp,
chớ để nó hãm hại đức Thế Tôn.
Đến
lần thứ ba, đức Thế Tôn đã im lặng.
Sau
đó, trong khi tuần tự du hành đức Thế Tôn đã ngự đến
ngôi làng Bhaddavatikā. Tại nơi đó, đức Thế Tôn đã trú
ngụ ở ngôi làng Bhaddavatikā.
Khi
ấy, đại đức Sāgata đã đi về phía Ambatittha đến khu ẩn
cư của đạo sĩ thờ lửa, sau khi đến đã đi vào nhà thờ
lửa, rồi đã sắp đặt tấm thảm trải bằng cỏ, ngồi
xuống, xếp (chân) thế kiết già, giữ thân thẳng, tập trung
niệm ở phía trước. Con rồng ấy đã nhìn thấy đại đức
Sāgata đi vào, sau khi nhìn thấy đã trở nên không vui, bực
bội, rồi đã phun khói. Đại đức Sāgata cũng đã phun khói.
Khi ấy, con rồng không còn đè nén được cơn giận nên đã
phun ra lửa. Đại đức Sāgata cũng đã nhập thiền đề mục
lửa và đã phun ra lửa. Sau đó, đại đức Sāgata đã dùng
lửa (của ngài) đoạt lấy ngọn lửa của con rồng ấy rồi
đã đi về phía Bhaddavatikā.
Sau
đó, khi đã ngự tại Bhaddavatikā theo như ý thích, đức Thế
Tôn đã ra đi du hành về phía thành Kosambī. Các cư sĩ ở
thành Kosambī đã nghe được rằng: “Nghe nói ngài đại đức
Sāgata đã gây chiến với con rồng ở Ambatittha.” Sau đó,
trong khi tuần tự du hành, đức Thế Tôn đã ngự đến thành
Kosambī. Khi ấy, các cư sĩ ở thành Kosambī sau khi đi ra tiếp
đón đức Thế Tôn đã đi đến gặp đại đức Sāgata, sau
khi đến đã đảnh lễ đại đức Sāgata rồi đứng ở một
bên. Khi đã đứng một bên, các cư sĩ ở thành Kosambī đã
nói với đại đức Sāgata điều này:
- Thưa
ngài, vật gì các ngài đại đức khó có được và ưng ý?
Chúng tôi nên chuẩn bị vật gì?
Khi
được nói như thế, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nói với
các cư sĩ ở thành Kosambī điều này:
- Này
các đạo hữu, có thứ rượu cất tên Bồ Câu thì các tỳ
khưu khó có được và ưng ý, hãy chuẩn bị thức ấy.
Sau
đó, các cư sĩ ở thành Kosambī đã chuẩn bị rượu cất
tên Bồ Câu ở mỗi nhà, rồi khi nhìn thấy đại đức Sāgata
đang đi khất thực đã nói với đại đức Sāgata điều này:
- Thưa
ngài, xin ngài đại đức Sāgata hãy uống rượu cất tên Bồ
Câu. Thưa ngài, xin ngài đại đức Sāgata hãy uống rượu
cất tên Bồ Câu.
Sau
đó, khi đã uống rượu cất tên Bồ Câu ở mỗi nhà, đại
đức Sāgata trong lúc đang đi ra khỏi thành phố đã té ngã
ở cổng thành. Khi ấy, đức Thế Tôn đang đi ra khỏi thành
phố cùng với nhiều vị tỳ khưu đã nhìn thấy đại đức
Sāgata bị té ngã ở cổng thành, sau khi nhìn thấy đã bảo
các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, hãy đưa Sāgata về.
- Bạch
ngài, xin vâng.
Các
vị tỳ khưu ấy nghe theo lời đức Thế Tôn sau khi đưa đại
đức Sāgata về lại tu viện đã đặt nằm xuống, đầu hướng
về đức Thế Tôn. Khi ấy, đại đức Sāgata đã xoay tròn
vòng đưa hai chân hướng về đức Thế Tôn rồi nằm ngủ.
Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, phải chăng Sāgata đã có sự tôn kính và có
sự vâng lời đối với Như Lai.
- Bạch
ngài, đúng vậy.
- Này
các tỳ khưu, vậy bây giờ Sāgata có sự tôn kính và có sự
vâng lời đối với Như Lai không?
- Bạch
ngài, điều ấy không có.
- Này
các tỳ khưu, phải chăng Sāgata đã gây chiến với con rồng
ở Ambatittha?
- Bạch
ngài, đúng vậy.
- Này
các tỳ khưu, vậy bây giờ Sāgata có đủ sức gây chiến
với con rắn nước không?
- Bạch
ngài, điều ấy không có.
- Này
các tỳ khưu, vậy loại thức uống nào sau khi uống vào sẽ
trở thành mất tỉnh táo thì có nên uống loại ấy không?
- Bạch
ngài, điều ấy không nên.
- Này
các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho Sāgata, thật không
hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được
phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, vì sao Sāgata lại uống
men say vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Khi uống rượu và men say thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[576]
Rượu nghĩa là rượu từ bột, rượu từ bánh ngọt, rượu
từ cơm, đã được rắc men vào, đã được trộn vào các
hương liệu cần thiết.
Men
say nghĩa là chất mật từ bông hoa, nước trích ra từ trái
cây, nước trích ra từ mật ong, nước trích ra từ đường
mía đã được trộn vào các hương liệu cần thiết.
Uống:
vị uống vào dầu chỉ với (một chút ở) đầu cọng cỏ
kusa thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[577]
Men say, nhận biết là men say, vị uống vào thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Men
say, có sự hoài nghi, vị uống vào thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Men
say, (lầm) tưởng không phải là men say, vị uống vào thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Không
phải là men say, (lầm) tưởng là men say, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
phải là men say, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là men say, nhận biết không phải là men say thì vô tội.
[578]
Vị uống vào chất có màu sắc của men say có hương của
men say có vị của men say nhưng không phải là men say, khi được
nấu chung với xúp, khi được nấu chung với thịt, khi được
nấu chung với dầu ăn, ở trong nước mật của trái cây āmalaka,
vị uống nước cất không men say, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[579]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã chọc cười vị tỳ khưu nhóm
Mười Bảy Sư bằng cách dùng ngón tay thọt léc. Vị tỳ khưu
ấy trong lúc bị cười quá mức không thở được nên đã
chết đi. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại chọc cười vị tỳ khưu
bằng cách dùng ngón tay thọt léc?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi chọc cười vị tỳ khưu
bằng cách dùng ngón tay thọt léc, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại chọc cười vị
tỳ khưu bằng cách dùng ngón tay thọt léc vậy? Này những
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Khi thọt
léc bằng ngón tay thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[580]
Thọt léc bằng ngón tay nghĩa là kích thích bằng ngón tay.
Vị đã tu lên bậc trên, có ý định chọc cười vị đã
tu lên bậc trên rồi sờ vào cơ thể (vị kia) bằng cơ thể
(của mình) thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[581]
Vị đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên,
vị chọc cười bằng cách dùng ngón tay thọt léc thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị chọc cười bằng
cách dùng ngón tay thọt léc thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên,
vị chọc cười bằng cách dùng ngón tay thọt léc thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[582]
Vị sờ vào vật được gắn liền với cơ thể (vị kia) bằng
cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào cơ thể (vị kia) bằng vật được gắn liền với
cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật được gắn liền với cơ thể (vị kia) bằng
vật được gắn liền với cơ thể (của mình) thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào cơ thể (vị kia) bằng vật (do mình) ném ra thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật được gắn liền với cơ thể (vị kia) bằng
vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật (do vị kia) ném ra bằng vật (do mình) ném ra thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[583]
Với vị chưa tu lên bậc trên, vị sờ vào cơ thể (vị kia)
bằng cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật được gắn liền với cơ thể (vị kia) bằng
cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào cơ thể (vị kia) bằng vật được gắn liền với
cơ thể (của mình) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật được gắn liền với cơ thể (vị kia) bằng
vật được gắn liền với cơ thể (của mình) thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào cơ thể (vị kia) bằng vật (do mình) ném ra thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật được gắn liền với cơ thể (vị kia) bằng
vật (do mình) ném ra thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
sờ vào vật (do vị kia) ném ra bằng vật (do mình) ném ra thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[584]
Người chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc
trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[585]
Không có ý định chọc cười, vị sờ vào khi có việc cần
phải làm, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[586]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đùa nghịch ở trong nước
của giòng sông Aciravatī. Vào lúc bấy giờ, đức vua Pasenadi
xứ Kosala cùng với hoàng hậu Mallikā ngự ở tầng trên của
tòa lâu đài. Đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nhìn thấy các
tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đang đùa nghịch ở trong nước
của giòng sông Aciravatī, sau khi nhìn thấy đã nói với với
hoàng hậu Mallikā điều này:
- Này
hậu Mallikā, các vị A-la-hán này đùa nghịch ở trong nước.
- Tâu
đại vương, chắc chắn là điều học chưa được đức Thế
Tôn quy định hoặc là các vị tỳ khưu ấy không biết.
Sau
đó, đức vua Pasenadi xứ Kosala đã khởi ý điều này: “Bằng
phương thức nào để ta không phải trình lên đức Thế Tôn
mà đức Thế Tôn có thể biết được các tỳ khưu này đùa
nghịch ở trong nước?” Khi ấy, đức vua Pasenadi xứ Kosala
đã cho mời các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đến rồi đã
dâng khối đường lớn cho các vị ấy (nói rằng):
- Thưa
các ngài, xin hãy dâng lên đức Thế Tôn khối đường này.
Các
tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư đã cầm lấy khối đường ấy
đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã nói với đức
Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, đức vua dâng khối đường này đến đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, đức vua đã gặp các ngươi ở đâu?
- Bạch
Thế Tôn, trong khi đang đùa nghịch ở trong nước của giòng
sông Aciravatī.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại đùa nghịch ở
trong nước vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Khi chơi giỡn ở trong nước thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).”
[587]
Chơi giỡn ở trong nước nghĩa là vị có ý định chơi giỡn
ở trong nước ngập trên mắt cá chân rồi hụp xuống hoặc
trồi lên hoặc bơi lội thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
[588]
Chơi giỡn ở trong nước, nhận biết là chơi giỡn, phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Chơi
giỡn ở trong nước, có sự hoài nghi, phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Chơi
giỡn ở trong nước, (lầm) tưởng là không chơi giỡn, phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
[589]
Vị đùa nghịch ở trong nước ngập dưới mắt cá chân thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị đùa nghịch với chiếc thuyền
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị đập vỗ trong nước
bằng cánh tay hoặc bằng bàn chân hoặc với khúc cây hoặc
với mảnh sành thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị đùa nghịch
nước hoặc cháo chua hoặc sữa tươi hoặc sữa pha loãng hoặc
nước nhuộm y hoặc nước tiểu hoặc nước bùn chứa ở
trong chậu thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[590]
Không chơi giỡn ở trong nước, (lầm) tưởng là chơi giỡn,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
chơi giỡn ở trong nước, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
chơi giỡn ở trong nước, nhận biết là không chơi giỡn ở
trong nước thì vô tội.
[591]
Không có ý định chơi giỡn, vị đi xuống nước khi có việc
cần phải làm rồi hụp xuống hoặc trồi lên hoặc bơi lội,
trong khi đi sang bờ bên kia rồi hụp xuống hoặc trồi lên
hoặc bơi lội, trong những lúc có sự cố, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[592]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī,
tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa hành xử
không đúng nguyên tắc. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này
đại đức Channa, chớ hành động như thế. Điều ấy không
được phép.
Vị
ấy hành động tỏ ra vẻ không tôn trọng. Các tỳ khưu ít
ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Channa lại thể hiện sự không tôn trọng?
…(như
trên)…
- Này
Channa, nghe nói ngươi thể hiện sự không tôn trọng, có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại thể hiện sự không tôn trọng
vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm
tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Khi có sự không tôn trọng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[593]
Sự không tôn trọng nghĩa là có hai sự không tôn trọng: sự
không tôn trọng người và sự không tôn trọng Pháp.
Sự
không tôn trọng người nghĩa là khi đang được vị đã tu
lên bậc trên nói về điều đã được quy định, vị (nghĩ
rằng): “Vị này bị phạt án treo, hoặc bị xem thường,
hoặc bị khiển trách, hoặc lời nói của vị này sẽ không
được thực hiện” rồi thể hiện sự không tôn trọng thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Sự
không tôn trọng Pháp nghĩa là khi đang được vị đã tu lên
bậc trên nói về điều đã được quy định, vị (nghĩ rằng):
“Làm thế nào để điều này có thể được hủy bỏ, hoặc
được thủ tiêu, hoặc được biến mất?” hoặc là vị
không có ý muốn học tập điều ấy rồi thể hiện sự không
tôn trọng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[594]
Vị đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên,
vị thể hiện sự không tôn trọng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị thể hiện sự không
tôn trọng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên,
vị thể hiện sự không tôn trọng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[595]
Khi đang được vị đã tu lên bậc trên nói về điều không
được quy định, vị (nghĩ rằng): “Thực hành điều này
không đưa đến sự đoạn trừ, không đưa đến sự từ bỏ,
không đưa đến sự hoan hỷ, không đưa đến sự giảm thiểu,
không đưa đến sự ra sức nỗ lực” rồi thể hiện sự
không tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
đang được vị chưa tu lên bậc trên nói về điều đã được
quy định hoặc không được quy định, vị (nghĩ rằng): “Thực
hành điều này không đưa đến sự đoạn trừ, không đưa
đến sự từ bỏ, không đưa đến sự hoan hỷ, không đưa
đến sự giảm thiểu, không đưa đến sự ra sức nỗ lực”
rồi thể hiện sự không tôn trọng thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[596]
Người chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc
trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[597]
Vị nói rằng: “Sự giáo dục của các vị thầy dạy học
của chúng tôi là như vầy, hãy kiểm tra,” vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NĂM:
[598]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã làm các vị tỳ khưu nhóm Mười
Bảy Sư kinh sợ. Trong lúc bị làm cho kinh sợ, các vị ấy
khóc lóc. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, vì sao các vị khóc lóc?
- Thưa
các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư này đã làm chúng
tôi kinh sợ.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại làm các tỳ khưu kinh sợ?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi làm các tỳ khưu kinh sợ,
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại làm các tỳ khưu
kinh sợ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào làm vị tỳ khưu kinh sợ
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[599]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Vị
tỳ khưu: là vị tỳ khưu khác.
Làm
kinh sợ: vị đã tu lên bậc trên có ý định làm kinh sợ
vị đã tu lên bậc trên rồi đem lại cảnh sắc hoặc cảnh
thinh hoặc cảnh khí hoặc cảnh vị hoặc cảnh xúc thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) cho dầu vị kia bị kinh sợ
hoặc không bị kinh sợ. Vị kể về sự nguy hiểm của trộm
cướp hoặc sự nguy hiểm của thú dữ hoặc sự nguy hiểm
của quỷ sứ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) cho dầu
vị kia bị kinh sợ hoặc không bị kinh sợ.
[600]
Vị đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên,
vị làm kinh sợ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị làm kinh sợ thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên,
vị làm kinh sợ thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[601]
Vị đã tu lên bậc trên có ý định làm kinh sợ vị chưa
tu lên bậc trên rồi đem lại cảnh sắc hoặc cảnh thinh hoặc
cảnh khí hoặc cảnh vị hoặc cảnh xúc thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác) cho dầu vị kia bị kinh sợ hoặc không bị kinh sợ.
Vị kể về sự nguy hiểm của trộm cướp hoặc sự nguy hiểm
của thú dữ hoặc sự nguy hiểm của quỷ sứ thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác) cho dầu vị kia bị kinh sợ hoặc không bị
kinh sợ.
[602]
Vị chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc
trên, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị
chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[603]
Vị không có ý định làm kinh sợ rồi đem lại cảnh sắc
hoặc cảnh thinh hoặc cảnh khí hoặc cảnh vị hoặc cảnh
xúc, vị kể về sự nguy hiểm của trộm cướp hoặc sự
nguy hiểm của thú dữ hoặc sự nguy hiểm của quỷ sứ, vị
bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ SÁU:
[604]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại xứ Bhagga, thành
Susumāragira, trong rừng Bhesakalā, chỗ vườn nai. Vào lúc bấy
giờ trong tháng mùa lạnh, các tỳ khưu sau khi đốt lên ngọn
lửa ở khúc gỗ lớn nọ có lỗ hổng rồi sưởi ấm. Và
ở trong lỗ hổng ấy có con rắn đen bị phỏng lửa nên bò
ra ngoài và tấn công các vị tỳ khưu. Các tỳ khưu đã chạy
nơi này nơi nọ.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu lại đốt lên ngọn lửa rồi sưởi ấm?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu đốt lên ngọn lửa rồi
sưởi ấm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại đốt lên
ngọn lửa rồi sưởi ấm vậy? Này các tỳ khưu, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào có ý định
sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học này
đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[605]
Vào lúc bấy giờ, có các tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu
thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu bị bệnh điều
này:
- Này
các đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được
thuận tiện không?
- Này
các đại đức, trước đây chúng tôi đốt lên ngọn lửa
rồi sưởi ấm, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ
đây, (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán,” trong
lúc ngần ngại nên không sưởi ấm; vì thế chúng tôi không
được thoải mái.
Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh đốt lên hoặc
bảo đốt lên ngọn lửa rồi sưởi ấm. Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào không bị bệnh có ý định sưởi ấm rồi đốt
lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế
Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[606]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ngần ngại trong việc đốt
đèn, trong việc đốt lửa ở nhà tắm hơi. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn
lửa khi có các nhân duyên như thế. Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào không bị bệnh có ý định sưởi ấm rồi đốt lên hoặc
bảo đốt lên ngọn lửa thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có nhân duyên như thế.”
[607]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Không
bệnh nghĩa là vị có được sự thoải mái khi không có ngọn
lửa.
Bị
bệnh nghĩa là vị không có sự thoải mái khi không có ngọn
lửa.
Có
ý định sưởi ấm: có ý muốn hơ nóng.
Ngọn
lửa nghĩa là lửa được đề cập đến.
Đốt
lên: vị tự mình đốt lên thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Bảo
đốt lên: vị ra lệnh người khác thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị). Khi được ra lệnh một lần, dầu (vị kia)
đốt nhiều lần vị (ra lệnh) phạm (chỉ một) tội pācittiya
(ưng đối trị).
Ngoại
trừ có nhân duyên như thế: trừ ra có nhân duyên như thế.
[608]
Không bị bệnh, nhận biết là không bị bệnh, vị có ý định
sưởi ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên
như thế.
Không
bị bệnh, có sự hoài nghi, vị có ý định sưởi ấm rồi
đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên như thế.
Không
bị bệnh, (lầm) tưởng là bị bệnh, vị có ý định sưởi
ấm rồi đốt lên hoặc bảo đốt lên ngọn lửa thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên như
thế.
Vị
nhặt lên khúc củi đang cháy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị
bệnh, (lầm) tưởng là không bị bệnh, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Bị
bệnh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Bị
bệnh, nhận biết là bị bệnh thì vô tội.
[609]
Vị bị bệnh, vị sưởi ấm khi (ngọn lửa) đã được thực
hiện bởi vị khác, vị sưởi ấm ở chỗ tro tàn (không còn
ngọn lửa), khi đốt đèn, khi đốt lửa (nung bình bát), ở
trong nhà tắm hơi, ngoại trừ có nhân duyên như thế, trong
những lúc có sự cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BẢY:
[610]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các
tỳ khưu thường tắm ở giòng sông Tapodā. [1] Khi ấy, đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha (nghĩ rằng): “Ta sẽ gội đầu”
rồi đã đi đến sông Tapodā và đã chờ đợi ở một bên
(nghĩ rằng): “Đến khi các ngài đại đức tắm xong.” Các
tỳ khưu đã tắm đến khi trời tối hẳn. Sau đó, đức vua
Seniya Bimbisāra xứ Magadha sau khi gội đầu xong vào ban đêm
thì cửa thành đã đóng nên đã ngụ lại bên ngoài thành.
Vào lúc sáng sớm, đức vua với dầu thoa chưa được tẩm
hương đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh
lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Đức Thế
Tôn đã nói với đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đang ngồi
một bên điều này:
- Tâu
đại vương, vì sao ngài lại đến sớm với dầu thoa chưa
được tẩm hương?
Khi
ấy, đức vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã trình sự việc
ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha bằng bài Pháp thoại. Sau đó,
khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến
khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, đức
vua Seniya Bimbisāra xứ Magadha đã từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi
ra đi. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại rồi đã hỏi
các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu sau khi nhìn thấy ngay cả
đức vua vẫn tắm không biết chừng mực?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy sau khi nhìn thấy
ngay cả đức vua vẫn tắm không biết chừng mực vậy? Này
các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).” Và điều học này đã được đức Thế
Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[611]
Vào lúc bấy giờ, nhằm lúc trời nóng nực nhằm lúc trời
oi bức, các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không tắm rồi đi
ngủ với thân thể đẫm mồ hôi. Y và chỗ nằm ngồi bị
dơ bẩn. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, vào lúc trời nóng nực vào lúc trời oi bức
ta cho phép tắm khi chưa đủ nửa tháng. Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào tắm khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường
hợp ấy là: (Nghĩ rằng): ‘Một tháng rưỡi còn lại của
mùa nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành
hai tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức;
đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học
này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như
thế.
[612]
Vào lúc bấy giờ, có các tỳ khưu bị bệnh. Các tỳ khưu
thăm hỏi bệnh tình đã nói với các tỳ khưu bị bệnh điều
này:
- Này
các đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được
thuận tiện không?
- Này
các đại đức, trước đây chúng tôi tắm khi chưa đủ nửa
tháng, nhờ thế chúng tôi được thoải mái. Giờ đây, (nghĩ
rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán,” trong lúc ngần ngại
nên không tắm; vì thế chúng tôi không được thoải mái.
Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu bị bệnh tắm khi chưa
đủ nửa tháng. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tắm khi chưa
đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại
trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là: (Biết
rằng): ‘Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng’ và tháng
đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành hai tháng rưỡi là
lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức, trường hợp bị
bệnh; đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và điều
học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu
như thế.
[613]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi thực hiện công trình
mới, trong lúc ngần ngại không tắm rồi đi ngủ với thân
thể đẫm mồ hôi. Y và chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, trong trường hợp có công việc ta cho phép tắm
khi chưa đủ nửa tháng. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tắm
khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp
ấy là: (Nghĩ rằng): ‘Một tháng rưỡi còn lại của mùa
nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành hai
tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức, trường
hợp bị bệnh, trường hợp có công việc; đây là duyên cớ
trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được đức
Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[614]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu sau khi đi đường xa, trong
lúc ngần ngại không tắm rồi đi ngủ với thân thể đẫm
mồ hôi. Y và chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, trong trường hợp đi đường xa ta cho phép tắm
khi chưa đủ nửa tháng. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tắm
khi chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp
ấy là: (Nghĩ rằng): ‘Một tháng rưỡi còn lại của mùa
nóng’ và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành hai
tháng rưỡi là lúc trời nóng nực là lúc trời oi bức, trường
hợp bị bệnh, trường hợp có công việc, trường hợp đi
đường xa; đây là duyên cớ trong trường hợp ấy.” Và
điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các
tỳ khưu như thế.
[615]
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trong khi thực hiện
việc may y ở ngoài trời đã bị bao phủ bởi cơn gió có
bụi, và trời thì mưa lâm râm. Các vị tỳ khưu trong lúc
ngần ngại không tắm rồi đi ngủ với thân thể bị ẩm
ướt. Y và chỗ nằm ngồi bị dơ bẩn. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, trong trường hợp mưa gió ta cho phép tắm khi
chưa đủ nửa tháng. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tắm khi
chưa đủ nửa tháng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị)
ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp ấy là:
(Nghĩ rằng): ‘Một tháng rưỡi còn lại của mùa nóng’
và tháng đầu tiên của mùa mưa, như vậy thành hai tháng rưỡi
là lúc trời nóng nực, là lúc trời oi bức, trường hợp
bị bệnh, trường hợp có công việc, trường hợp đi đường
xa, trường hợp mưa gió; đây là duyên cớ trong trường hợp
ấy.”
[616]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa
đủ nửa tháng: chưa tới nửa tháng.
Tắm:
Vị tắm với bột tắm hoặc với đất sét, trong lúc thực
hiện thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi hoàn tất việc tắm
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Ngoại
trừ có duyên cớ: trừ ra có duyên cớ.
Lúc
trời nóng nực nghĩa là một tháng rưỡi còn lại của mùa
nóng.
Lúc
trời oi bức nghĩa là tháng đầu tiên của mùa mưa; vị (biết
rằng): “Như vậy thành hai tháng rưỡi là lúc trời nóng
nực là lúc trời oi bức” rồi nên tắm.
Trường
hợp bị bệnh nghĩa là vị không có thoải mái khi không tắm;
vị (nghĩ rằng): “Trường hợp bị bệnh” rồi nên tắm.
Trường
hợp có công việc nghĩa là ngay cả việc căn phòng được
quét bụi; vị (nghĩ rằng): “Trường hợp có công việc”
rồi nên tắm.
Trường
hợp đi đường xa nghĩa là (biết rằng) “Ta sẽ đi nửa
do tuần”[2] rồi nên tắm. Vị sắp sửa đi thì nên tắm.
Vị đã đi thì nên tắm.
Trường
hợp mưa gió nghĩa là các vị tỳ khưu đã bị bao phủ bởi
cơn gió có bụi, hoặc là hai hoặc ba giọt nước mưa đã
rơi trên thân thể; vị (nghĩ rằng): “Trường hợp mưa gió”
rồi nên tắm.
[617]
Chưa đủ nửa tháng, nhận biết là chưa đủ, vị tắm thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Chưa
đủ nửa tháng, có sự hoài nghi, vị tắm thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Chưa
đủ nửa tháng, (lầm) tưởng là đã hơn, vị tắm thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Hơn
nửa tháng, (lầm) tưởng là chưa đủ, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Hơn
nửa tháng, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hơn
nửa tháng, nhận biết là đã hơn thì vô tội.
[618]
Khi có duyên cớ, vị tắm khi được nửa tháng, vị tắm khi
hơn nửa tháng, vị tắm khi đi sang bờ bên kia sông, ở tất
cả các xứ sở vùng biên địa,[3] trong những lúc có sự
cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TÁM:
[619]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
nhiều vị tỳ khưu và các du sĩ ngoại đạo đang đi đường
xa từ thành Sāketa đến thành Sāvatthi. Giữa đường, bọn
trộm cướp đã xuất hiện và cướp bóc các vị ấy. Quân
lính của đức vua xuất phát từ thành Sāvatthi sau khi bắt
được bọn cướp ấy cùng với đồ đạc đã phái sứ giả
đến gặp các tỳ khưu (nói rằng):
- Các
đại đức hãy đi đến, các vị hãy nhận ra rồi hãy lấy
đi y của chính mình.
Các
vị tỳ khưu không nhận ra được y. Dân chúng phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các ngài đại đức lại không nhận biết y của chính
bản thân?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy
nhân sự kiện ấy sau khi triệu tập hội chúng tỳ khưu lại
đã thuyết Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ
khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho
các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội
chúng, ...(như trên)... nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp,
và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nhận
được y mới nên áp dụng một cách hoại sắc nào đó trong
ba cách hoại sắc là màu xanh, màu bùn, màu đen sẫm. Nếu
vị tỳ khưu không áp dụng một cách hoại sắc nào đó trong
ba cách hoại sắc mà sử dụng y mới thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).”
[620]
Mới nghĩa là đề cập đến việc làm thành được phép chưa
được thực hiện.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y.
Nên
áp dụng một cách hoại sắc nào đó trong ba cách hoại sắc:
nên áp dụng dầu chỉ với (một chút ở) đầu cọng cỏ
kusa.
Màu
xanh nghĩa là có hai loại màu xanh: màu xanh của rỉ đồng
và màu xanh lá cây.
Màu
bùn nghĩa là nước (bùn) được đề cập đến.
Màu
đen sẫm nghĩa là bất cứ (phẩm màu) gì liên quan đến màu
đen.
Nếu
vị tỳ khưu không áp dụng một cách hoại sắc nào đó trong
ba cách hoại sắc: sau khi không áp dụng một cách hoại sắc
nào đó trong ba cách hoại sắc dầu chỉ với (một chút ở)
đầu cọng cỏ kusa, vị sử dụng y mới thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
[621]
Khi chưa áp dụng, nhận biết là chưa áp dụng, vị sử dụng
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
chưa áp dụng, có sự hoài nghi, vị sử dụng thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Khi
chưa áp dụng, (lầm) tưởng là đã áp dụng, vị sử dụng
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
đã áp dụng, (lầm) tưởng là chưa áp dụng, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Khi
đã áp dụng, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Khi
đã áp dụng, nhận biết là đã áp dụng thì vô tội.
[622]
Sau khi áp dụng rồi sử dụng, sự làm thành được phép (kappa)
bị hủy hoại, chỗ làm thành được phép bị sờn, (y) chưa
được làm thành được phép được may chung với (y) đã được
làm thành được phép, khi có miếng vá, khi có làm đường
viền, khi có sự mạng lại, vị bị điên, vị vi phạm đầu
tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tám.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ CHÍN:
[623]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi chú nguyện để
dùng chung y của mình đến vị tỳ khưu là đệ tử của người
anh lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện (của vị
ấy). Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy
cho các tỳ khưu:
- Này
các đại đức, đại đức Upananda con trai dòng Sākya này sau
khi chú nguyện để dùng chung y của mình đến tôi lại sử
dụng khi chưa có sự xả lời nguyện.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi chú nguyện
để dùng chung y của mình đến vị tỳ khưu lại sử dụng
khi chưa có sự xả lời nguyện?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi sau khi chú nguyện để dùng chung y của
mình đến vị tỳ khưu lại sử dụng khi chưa có sự xả
lời nguyện, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi chú nguyện để dùng chung
y của mình đến vị tỳ khưu lại sử dụng khi chưa có sự
xả lời nguyện vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng
thêm niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào sau khi đích thân chú nguyện
để dùng chung y đến vị tỳ khưu hoặc đến vị tỳ khưu
ni hoặc đến vị ni tu tập sự hoặc đến vị sa di hoặc
đến vị sa di ni lại sử dụng khi chưa có sự xả lời nguyện
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[624]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Đến
vị tỳ khưu: là đến vị tỳ khưu khác.
Tỳ
khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở
cả hai hội chúng.
Cô
ni tu tập sự nghĩa là người nữ thực hành sự học tập
về sáu pháp trong hai năm.
Sa
di nghĩa là người nam tu tập theo mười điều học.
Sa
di ni nghĩa là người nữ tu tập theo mười điều học.
Đích
thân: sau tự mình chú nguyện để dùng chung.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước)
tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.
Sự
chú nguyện để dùng chung nghĩa là có hai sự chú nguyện để
dùng chung: sự chú nguyện để dùng chung có mặt và sự chú
nguyện để dùng chung vắng mặt. Sự chú nguyện để dùng
chung có mặt nghĩa là (nói rằng): “Tôi chú nguyện để dùng
chung y này đến ngươi hoặc đến vị tên (như vầy).” Sự
chú nguyện để dùng chung vắng mặt nghĩa là (nói rằng):
“Tôi trao y này đến ngươi vì mục đích chú nguyện để
dùng chung.” Vị kia nên nói rằng: “Ai là bạn bè hoặc là
người thân thiết của ngài?” “Vị tên (như vầy) và tên
(như vầy).” Vị kia nên nói rằng: “Tôi sẽ trao cho những
người ấy. Ngài hãy sử dụng vật thuộc về của những
người ấy hoặc ngài hãy phân phát hoặc ngài hãy tiến hành
như là có duyên cớ.”
Chưa
có sự xả lời nguyện nghĩa là chưa được cho lại[4] đến
vị ấy hoặc là vị ấy sử dụng trong khi không có thân thiết
với vị kia thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[625]
Chưa có sự xả lời nguyện, nhận biết là chưa có sự xả
lời nguyện, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Chưa
có sự xả lời nguyện, có sự hoài nghi, vị sử dụng thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Chưa
có sự xả lời nguyện, (lầm) tưởng là đã có sự xả lời
nguyện, vị sử dụng thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
chú nguyện để dùng riêng hoặc vị phân phát (y ấy) thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Có
sự xả lời nguyện, (lầm) tưởng là chưa có sự xả lời
nguyện, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Có
sự xả lời nguyện, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Có
sự xả lời nguyện, nhận biết là đã có sự xả lời nguyện
thì vô tội.
[626]
Hoặc là vị kia cho lại, hoặc là vị ấy (vị chủ nhân)
sử dụng trong khi thân thiết với vị kia, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ chín.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ MƯỜI:
[627]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư có các vật dụng không được
cất giữ. Các tỳ khưu nhóm Lục Sư thu giấu bình bát và
y của các tỳ khưu nhóm Mười Bảy Sư. Các tỳ khưu nhóm
Mười Bảy Sư đã nói với các tỳ khưu nhóm Lục Sư điều
này:
- Này
các đại đức, hãy cho lại chúng tôi bình bát và y.
Các
tỳ khưu nhóm Lục Sư cười. Các vị ấy khóc lóc. Các tỳ
khưu đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, vì sao các vị khóc lóc?
- Thưa
các đại đức, các tỳ khưu nhóm Lục Sư này thu giấu bình
bát và y của chúng tôi.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại thu giấu bình bát và y của
các tỳ khưu?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi thu giấu bình bát và y của
các tỳ khưu, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại thu giấu bình bát
và y của các tỳ khưu vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thu giấu
hoặc bảo thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa cụ hoặc ống
đựng kim hoặc dây thắt lưng của vị tỳ khưu cho dầu chỉ
muốn cười giỡn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[628]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Của
vị tỳ khưu: là của vị tỳ khưu khác.
Bình
bát nghĩa là có hai loại bình bát: bình bát sắt và bình bát
đất.
Y nghĩa
là bất cứ loại y nào thuộc về sáu loại y (có kích thước)
tối thiểu cần phải chú nguyện để dùng chung.
Tọa
cụ nghĩa là nói đến vật có đường biên.
Ống
đựng kim nghĩa là có kim hoặc không có kim.
Dây
thắt lưng nghĩa là có hai loại dây thắt lưng: loại tết
bằng vải sợi, loại tết kiểu đuôi heo.
Thu
giấu: vị tự mình thu giấu thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Bảo
thu giấu: vị ra lệnh vị khác thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị). Khi được ra lệnh một lần, dầu (vị kia) thu
giấu nhiều lần (vị ra lệnh) phạm (chỉ một) tội pācittiya
(ưng đối trị).
Cho
dầu chỉ muốn cười giỡn: là có ý định đùa nghịch.
[629]
Vị đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên,
vị thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa
cụ hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng cho dầu chỉ
muốn cười giỡn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị thu giấu hoặc bảo
thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa cụ hoặc ống đựng kim
hoặc dây thắt lưng cho dầu chỉ muốn cười giỡn thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên,
vị thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa
cụ hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng cho dầu chỉ
muốn cười giỡn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
thu giấu hoặc bảo thu giấu vật dụng khác cho dầu chỉ muốn
cười giỡn thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
thu giấu hoặc bảo thu giấu bình bát hoặc y hoặc tọa cụ
hoặc ống đựng kim hoặc dây thắt lưng của người chưa
tu lên bậc trên cho dầu chỉ muốn cười giỡn thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[630]
Không có ý định đùa giỡn, vị thu dọn vật được để
lộn xộn, vị thu dọn (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho lại sau khi
thuyết Pháp thoại,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều học thứ mười.
Phần
Uống Rượu là phần thứ sáu.
*******
Tóm
lược phần này:
Rượu,
ngón tay, đùa nghịch,
không
tôn trọng, làm sợ,
ngọn
lửa, tắm, hoại sắc,
đích
thân, và thu giấu.
*******
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Tapodā (nghĩa là nước nóng) vừa là tên của một cái hồ
vừa là tên của một giòng sông. Nước ở hồ thì mát nhưng
khi ra đến giòng sông thì nóng (xem Phân Tích Giới Tỳ Khưu
– Bhikkhuvibhaṅga 1, điều Pārājika thứ 4, [296]).
[2]
Tương đương 5 miles, hoặc 8 km (theo The Buddhist Monastic Code).
[3]
Xin xem thêm Đại Phẩm 2 - Mahāvagga II, chương V, [21-23])
[4]
Nghĩa là vị kia chưa nói với vị chủ nhân của y rằng: “Ngài
hãy sử dụng hoặc ngài hãy phân phát hoặc ngài hãy tiến
hành như là có duyên cớ.”