VIII.
CHƯƠNG PĀCITTIYA (ƯNG ĐỐI TRỊ) (tt)
PHẦN
ĐẠO SĨ LÕA THỂ - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[527]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī,
Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, có
vật thực cứng phát sanh đến hội chúng. Khi ấy, đại đức
Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
Ānanda, như thế thì hãy cho bánh ngọt đến những người
dùng vật thực thừa.
- Bạch
ngài, xin vâng.
Nghe
theo lời đức Thế Tôn, đại đức Ānanda đã bảo những
người dùng vật thực thừa ngồi xuống theo thứ tự rồi
trong lúc cho mỗi người một cái bánh ngọt đã cho người
nữ du sĩ ngoại đạo nọ hai cái bánh ngọt nghĩ rằng một
cái. Các nữ du sĩ ngoại đạo xung quanh đã nói với nữ du
sĩ ngoại đạo ấy điều này:
- Vị
sa-môn ấy là tình nhân của cô.
- Vị
sa-môn ấy không phải là tình nhân của tôi. Vị ấy đã cho
hai cái bánh ngọt nghĩ rằng một cái.
Đến
lần thứ nhì, đại đức Ānanda trong lúc cho mỗi người một
cái bánh ngọt đã cho chính nữ du sĩ ngoại đạo ấy hai cái
bánh ngọt nghĩ rằng một cái. Các nữ du sĩ ngoại đạo xung
quanh đã nói với nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này:
- Vị
sa-môn ấy là tình nhân của cô.
- Vị
sa-môn ấy không phải là tình nhân của tôi. Vị ấy đã cho
hai cái bánh ngọt nghĩ rằng một cái.
Đến
lần thứ ba, đại đức Ānanda trong lúc cho mỗi người một
cái bánh ngọt đã cho chính nữ du sĩ ngoại đạo ấy hai cái
bánh ngọt nghĩ rằng một cái. Các nữ du sĩ ngoại đạo xung
quanh đã nói với nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này:
- Vị
sa-môn ấy là tình nhân của cô.
- Vị
sa-môn ấy không phải là tình nhân của tôi. Vị ấy đã cho
hai cái bánh ngọt nghĩ rằng một cái.
- Tình
nhân! Không phải là tình nhân! Các cô ấy đã cãi vả nhau.
Có
đạo sĩ lõa thể nọ đã đi đến nơi phân phát thực phẩm.
Có vị tỳ khưu nọ sau khi nghiền cơm với nhiều bơ lỏng
rồi đã cho người đạo sĩ lõa thể ấy một khối cơm lớn.
Khi ấy, người đạo sĩ lõa thể ấy đã cầm lấy khối cơm
ấy rồi ra đi. Một đạo sĩ lõa thể khác đã nói với người
đạo sĩ lõa thể ấy điều này:
- Này
huynh đệ, từ đâu ngươi đã có được khối cơm vậy?
- Này
huynh đệ, đã có được từ nơi phân phát thực phẩm của
gia chủ đầu trọc tức là Sa-môn Gotama ấy.
Các
nam cư sĩ đã nghe được cuộc nói chuyện này của những
người đạo sĩ lõa thể ấy. Sau đó, các nam cư sĩ ấy đã
đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống
một bên, các nam cư sĩ ấy đã nói với đức Thế Tôn điều
này:
- Bạch
ngài, những tu sĩ ngoại đạo này có ý muốn bôi nhọ đức
Phật, có ý muốn bôi nhọ Giáo Pháp, có ý muốn bôi nhọ
Hội chúng. Bạch ngài, tốt thay các ngài đại đức không
nên tự tay cho đến các tu sĩ ngoại đạo.
Khi
ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích,
và tạo niềm phấn khởi cho các nam cư sĩ ấy bằng bài Pháp
thoại. Sau đó, các nam cư sĩ ấy khi đã được đức Thế
Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn
khởi bằng bài Pháp thoại đã từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi
ra đi. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy sau khi triệu tập hội chúng tỳ khưu lại đã thuyết
Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi bảo
các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho
các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội
chúng, ...(như trên)... nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp,
và nhằm sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
tự tay cho vật thực cứng hoặc vật thực mềm đến đạo
sĩ lõa thể, hoặc nam du sĩ ngoại đạo, hoặc nữ du sĩ ngoại
đạo thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[528]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Đạo
sĩ lõa thể nghĩa là bất cứ người lõa thể nào thành tựu
pháp du sĩ.
Nam
du sĩ ngoại đạo nghĩa là bất cứ người nam thành tựu pháp
du sĩ trừ ra tỳ khưu và sa di.
Nữ
du sĩ ngoại đạo nghĩa là bất cứ người nữ nào thành tựu
pháp du sĩ trừ ra tỳ khưu ni, vị ni tu tập sự, và sa di ni.
Vật
thực cứng nghĩa là trừ ra năm loại vật thực, nước và
tăm xỉa răng; phần còn lại gọi là vật thực cứng.
Vật
thực mềm nghĩa là năm loại vật thực (gồm có) cơm, xúp,
bánh, cá, thịt.
Cho:
Vị cho bằng thân, hoặc bằng vật được gắn liền với
thân, hoặc bằng cách buông ra thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
[529]
Tu sĩ ngoại đạo, nhận biết là tu sĩ ngoại đạo, vị tự
tay cho vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Tu
sĩ ngoại đạo, có sự hoài nghi, vị tự tay cho vật thực
cứng hoặc vật thực mềm thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Tu
sĩ ngoại đạo, (lầm) tưởng không phải là tu sĩ ngoại đạo,
vị tự tay cho vật thực cứng hoặc vật thực mềm thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
cho nước và tăm xỉa răng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là tu sĩ ngoại đạo, (lầm) tưởng là tu sĩ ngoại đạo,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là tu sĩ ngoại đạo, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Không
phải là tu sĩ ngoại đạo, nhận biết không phải là tu sĩ
ngoại đạo thì vô tội.
[530]
Vị bảo (người khác) cho và không (tự mình) cho, vị cho sau
khi đã để gần bên, vị cho vật thoa bên ngoài, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[531]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã nói với vị tỳ
khưu là đệ tử của người anh điều này:
- Này
đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi vào làng để khất
thực.
Sau
khi bảo đừng bố thí cho vị ấy rồi đã đuổi đi (nói
rằng):
- Này
đại đức, hãy đi đi. Nói chuyện hoặc ngồi với ngươi
ta không được thoải mái. Nói chuyện hoặc ngồi mỗi một
mình ta còn có sự an lạc.
Khi
ấy thời giờ đã cận, vị tỳ khưu ấy đã không thể đi
khất thực. Khi đi trở về, vị ấy đã không có được phần
phân chia về vật thực nên bữa ăn đã bị lỡ. Sau đó, vị
tỳ khưu ấy đã đi đến tu viện và đã kể lại sự việc
ấy cho các tỳ khưu. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…,
các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya nói với vị tỳ khưu
rằng: “Này đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi vào làng
để khất thực,” sau khi bảo đừng bố thí cho vị ấy rồi
lại đuổi đi?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi nói với vị tỳ khưu rằng: “Này
đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi vào làng để khất
thực,” sau khi bảo đừng bố thí cho vị ấy rồi đuổi
đi, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi nói với vị tỳ khưu rằng: “Này
đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi vào làng để khất
thực,” sau khi bảo đừng bố thí cho vị ấy rồi lại đuổi
đi vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm
tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu nào nói với vị tỳ khưu như vầy:
‘Này đại đức, hãy đến. Chúng ta sẽ đi vào làng hoặc
thị trấn để khất thực,’ sau khi bảo bố thí hoặc bảo
đừng bố thí cho vị ấy rồi đuổi đi (nói rằng): ‘Này
đại đức, hãy đi đi. Nói chuyện hoặc ngồi với ngươi
ta không được thoải mái. Nói chuyện hoặc ngồi mỗi một
mình ta còn có sự an lạc.’ Sau khi thực hiện chỉ nguyên
nhân ấy không điều nào khác thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).”
[532]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Vị
tỳ khưu: là vị tỳ khưu khác.
Này
đại đức, hãy đến. (Chúng ta sẽ đi vào) làng hoặc thị
trấn: Làng, thị trấn, thành phố, làng luôn cả thị trấn.
Sau
khi bảo bố thí cho vị ấy: Sau khi bảo bố thí xúp, hoặc
bữa ăn, hoặc vật thực cứng, hoặc vật thực mềm.
Bảo
đừng bố thí: bảo đừng bố thí bất cứ vật gì.
Đuổi
đi: Vị có ý định cười, có ý định đùa giỡn, có ý định
ngồi ở chỗ kín đáo, có ý định hành xử sai nguyên tắc
với người nữ rồi nói như vầy: “Này đại đức, hãy
đi đi. Nói chuyện hoặc ngồi với ngươi ta không được thoải
mái. Nói chuyện hoặc ngồi mỗi một mình ta còn có sự an
lạc” vị đuổi đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi (vị
kia) đang lìa khỏi tầm nhìn hoặc tầm nghe, (vị đuổi đi)
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Khi (vị kia) đã lìa khỏi, (vị
đuổi đi) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Sau
khi thực hiện chỉ nguyên nhân ấy không điều nào khác: không
phải bất cứ nguyên nhân nào khác để đuổi đi.
[533]
Vị đã tu lên bậc trên, nhận biết là đã tu lên bậc trên,
vị đuổi đi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, vị đuổi đi thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đã tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là chưa tu lên bậc trên,
vị đuổi đi thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Vị
đưa ra lời ám chỉ về tật xấu (của vị kia) thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
đuổi đi người chưa tu lên bậc trên thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị đưa ra lời ám chỉ về tật xấu (của người
chưa tu lên bậc trên) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, (lầm) tưởng là đã tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Người
chưa tu lên bậc trên, nhận biết là chưa tu lên bậc trên,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[534]
Vị đuổi đi (nói rằng): “Cả hai đi chung sẽ không có vật
thực,” sau khi nhìn thấy vật có giá trị cao (nghĩ rằng):
“Vị ấy sẽ sanh khởi tâm tham” rồi đuổi đi, sau khi nhìn
thấy người nữ (nghĩ rằng): “Vị ấy sẽ sanh khởi sự
không phấn chấn” rồi đuổi đi, vị đuổi đi (nói rằng):
“Hãy mang về cháo hoặc bữa ăn hoặc vật thực cứng hoặc
vật thực mềm cho vị bị bệnh hoặc vị ở lại hoặc vị
canh giữ tu viện,” không có ý định hành xử sai nguyên tắc,
vị đuổi đi khi có việc cần phải làm, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[535]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi di đến nhà của
người bạn đã ngồi trong phòng ngủ với vợ của người
ấy. Khi ấy, người đàn ông ấy đã đi đến gặp đại đức
Upananda con trai dòng Sākya, sau khi đến đã đảnh lễ đại
đức Upananda con trai dòng Sākya rồi ngồi xuống ở một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, người đàn ông ấy đã nói
với người vợ điều này:
- Hãy
dâng đồ khất thực đến ngài đại đức.
Khi
ấy, người đàn bà ấy đã dâng đồ khất thực đến đại
đức Upananda con trai dòng Sākya. Sau đó, người đàn ông ấy
đã nói với đại đức Upananda con trai dòng Sākya điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy đi bởi vì đồ khất thực đã được dâng đến
ngài đại đức.
Khi
ấy, người đàn bà ấy biết được rằng: “Người đàn
ông này đã bị ám ảnh (bởi dục)!” nên đã nói với đại
đức Upananda con trai dòng Sākya điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy ngồi lại, chớ có đi.
Đến
lần thứ nhì, người đàn ông ấy …(như trên)…
Đến
lần thứ ba, người đàn ông ấy đã nói với đại đức
Upananda con trai dòng Sākya điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy đi bởi vì đồ khất thực đã được dâng đến
ngài đại đức.
Đến
lần thứ ba, người đàn bà ấy đã nói với đại đức Upananda
con trai dòng Sākya điều này:
- Thưa
ngài, xin hãy ngồi lại, chớ có đi.
Khi
ấy, người đàn ông ấy đã đi ra ngoài và phàn nàn với
các tỳ khưu rằng:
- Thưa
các ngài, ngài đại đức Upananda này đã ngồi trong phòng
ngủ với vợ của tôi. Vị ấy khi được tôi mời đi lại
không chịu đi. Chúng tôi có nhiều phận sự có nhiều công
việc phải làm.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi đi vào gia đình
chỉ có cặp vợ chồng lại ngồi xuống?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi sau khi đi vào gia đình chỉ có cặp
vợ chồng rồi ngồi xuống, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi sau khi đi vào gia đình chỉ có
cặp vợ chồng lại ngồi xuống vậy? Này kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào sau khi đi
vào gia đình chỉ có cặp vợ chồng rồi ngồi xuống thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[536]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Gia
đình chỉ có cặp vợ chồng nghĩa là chỉ có người đàn
bà và người đàn ông. Cả hai chưa đi ra, cả hai chưa đoạn
tận ái dục.
Sau
khi đi vào: sau khi đi vào bên trong.
Ngồi
xuống: Trong ngôi nhà lớn, vị đi qua khỏi khung cửa lớn
một tầm tay (1 mét 25) rồi ngồi xuống thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị). Trong ngôi nhà nhỏ, vị vượt qua khỏi trung
tâm của nhà rồi ngồi xuống thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
[537]
Trong phòng ngủ, nhận biết là phòng ngủ, vị đi vào gia đình
chỉ có cặp vợ chồng rồi ngồi xuống thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Trong
phòng ngủ, có sự hoài nghi, vị đi vào gia đình chỉ có cặp
vợ chồng rồi ngồi xuống thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Trong
phòng ngủ, (lầm) tưởng không phải là phòng ngủ, vị đi
vào gia đình chỉ có cặp vợ chồng rồi ngồi xuống thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Không
phải là phòng ngủ, (lầm) tưởng là phòng ngủ, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là phòng ngủ, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
phải là phòng ngủ, nhận biết không phải là phòng ngủ thì
vô tội.
[538]
Trong ngôi nhà lớn vị không đi qua khỏi khung cửa lớn một
tầm tay rồi ngồi xuống, trong ngôi nhà nhỏ vị không vượt
qua khỏi trung tâm của nhà rồi ngồi xuống, có vị tỳ khưu
thứ hai, cả hai (vợ chồng) đã đi ra khỏi, cả hai đã đoạn
tận ái dục, không phải ở trong phòng ngủ, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[539]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi di đến nhà của
người bạn đã cùng với vợ của người ấy ngồi xuống
ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất. Khi ấy, người đàn
ông ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ngài đại đức Upananda lại cùng với vợ tôi ngồi xuống
ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất?
Các
tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya lại cùng với người
nữ ngồi xuống ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi cùng với người nữ ngồi xuống ở
chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người nữ ngồi
xuống ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất vậy? Này kẻ
rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào cùng với người nữ ngồi xuống ở chỗ ngồi kín đáo,
được che khuất thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[540]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ: nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không
phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái
mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.
Với:
cùng chung.
Kín
đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với
tai.
Kín
đáo đối với mắt: nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi
bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu
lên.
Kín
đáo đối với tai: nghĩa là không thể nghe lời nói (với
giọng) bình thường.
Được
che khuất: nghĩa là chỗ ngồi được che khuất bởi bức tường,
bởi cánh cửa, bởi tấm màn, bởi khung chắn, bởi cội cây,
bởi cột nhà, bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.
Ngồi:
Khi người nữ đang ngồi, vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm
gần thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Trong lúc vị
tỳ khưu đang ngồi, người nữ ngồi gần hoặc nằm gần
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Hoặc cả hai đang
ngồi, hoặc cả hai đang nằm thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
[541]
Là người nữ, nhận biết là người nữ, vị ngồi xuống
ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Là
người nữ, có sự nghi ngờ, vị ngồi xuống ở chỗ ngồi
kín đáo, được che khuất thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Là
người nữ, (lầm) tưởng không phải là người nữ, vị ngồi
xuống ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vị
cùng với nữ dạ-xoa, hoặc ma nữ, hoặc người vô căn, hoặc
loài thú cái dạng người ngồi xuống ở chỗ ngồi kín đáo,
được che khuất thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là người nữ, (lầm) tưởng là người nữ, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là người nữ, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
phải là người nữ, nhận biết không phải là người nữ
thì vô tội.
[542]
Có bất cứ người nam nào có trí suy xét là người thứ nhì,
vị đứng không ngồi, không mong mỏi chỗ kín đáo, đang bận
tâm chuyện khác rồi ngồi xuống, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NĂM:
[543]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi di đến nhà của
người bạn đã cùng với vợ của người ấy một nam một
nữ ngồi ở nơi kín đáo. Khi ấy, người đàn ông ấy phàn
nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao ngài đại đức Upananda lại cùng với vợ tôi một nam
một nữ ngồi ở nơi kín đáo?
Các
tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya lại cùng với người
nữ một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi cùng với người nữ một nam một nữ
ngồi ở nơi kín đáo, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người nữ một
nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo vậy? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
cùng với người nữ một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[544]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ: nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không
phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả
năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật
và không dâm dật.
Với:
cùng chung.
Một
nam một nữ: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.
Kín
đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với
tai.
Kín
đáo đối với mắt: nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi
bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu
lên.
Kín
đáo đối với tai: nghĩa là không thể nghe lời nói (với
giọng) bình thường.
Ngồi:
Khi người nữ đang ngồi, vị tỳ khưu ngồi gần hoặc nằm
gần thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Trong lúc vị
tỳ khưu đang ngồi, người nữ ngồi gần hoặc nằm gần
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị). Hoặc cả hai đang
ngồi, hoặc cả hai đang nằm thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).
[545]
Là người nữ, nhận biết là người nữ, vị ngồi xuống
ở chỗ ngồi kín đáo một nam một nữ thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Là
người nữ, có sự nghi ngờ, vị ngồi xuống ở chỗ ngồi
kín đáo một nam một nữ thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).
Là
người nữ, (lầm) tưởng không phải là người nữ, vị ngồi
xuống ở chỗ ngồi kín đáo một nam một nữ thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
Vị
cùng với nữ dạ-xoa, hoặc ma nữ, hoặc người vô căn, hoặc
loài thú cái dạng người ngồi xuống ở chỗ ngồi kín đáo
một nam một nữ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là người nữ, (lầm) tưởng là người nữ, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là người nữ, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
phải là người nữ, nhận biết không phải là người nữ
thì vô tội.
[546]
Có bất cứ người nam nào có trí suy xét là người thứ nhì,
vị đứng không ngồi, không mong mỏi chỗ kín đáo, đang bận
tâm chuyện khác rồi ngồi xuống, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ năm.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ SÁU:
[547]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, gia
đình hộ độ của đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã
thỉnh mời đại đức Upananda con trai dòng Sākya với bữa
trai phạn và cũng đã thỉnh mời các vị tỳ khưu khác với
bữa trai phạn. Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai
dòng Sākya thường đi giao thiệp với các gia đình trước
bữa ăn. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói với những
người ấy điều này:
- Này
các đạo hữu, hãy dâng bữa trai phạn.
- Thưa
các ngài, xin hãy chờ đến khi ngài đại đức Upananda đến.
Đến
lần thứ nhì, các vị tỳ khưu ấy đã nói với những người
ấy điều này:
- Này
các đạo hữu, hãy dâng bữa trai phạn.
- Thưa
các ngài, xin hãy chờ đến khi ngài đại đức Upananda đến.
Đến
lần thứ ba, các vị tỳ khưu ấy đã nói với những người
ấy điều này:
- Này
các đạo hữu, hãy dâng bữa trai phạn trước khi thời giờ
đi quá.
- Thưa
các ngài, chúng tôi đã làm bữa trai phạn vì nguyên nhân là
ngài đại đức Upananda. Thưa các ngài, xin hãy chờ đến khi
ngài đại đức Upananda đến.
Sau
đó, đại đức Upananda con trai dòng Sākya sau khi đi giao thiệp
với các gia đình trước bữa ăn đã đi đến kịp giờ ngọ.
Các tỳ khưu đã không thọ thực được như ý. Các tỳ khưu
ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya khi đã được thỉnh
mời, khi đã có bữa trai phạn còn đi đến các gia đình trước
bữa ăn?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi khi đã được thỉnh mời, khi đã có
bữa trai phạn còn đi đến các gia đình trước bữa ăn, có
đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi khi đã được thỉnh mời, khi đã
có bữa trai phạn còn đi đến các gia đình trước bữa ăn
vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm
tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu nào khi đã được thỉnh mời, khi
đã có bữa trai phạn còn đi đến các gia đình trước bữa
ăn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).” Và điều học
này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như
thế.
[548]
Vào lúc bấy giờ, gia đình hộ độ của tỳ khưu Upananda
con trai dòng Sākya đã cho người đem lại vật thực loại
cứng nhằm dâng đến hội chúng (dặn dò) rằng: “Nên trình
cho ngài đại đức Upananda thấy rồi mới dâng đến hội
chúng.” Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng
Sākya đi vào làng để khất thực. Khi ấy, những người ấy
sau khi đi đến tu viện đã hỏi các vị tỳ khưu rằng:
- Thưa
các ngài, ngài đại đức Upananda ở đâu vậy?
- Này
các đạo hữu, đại đức Upananda con trai dòng Sākya này đã
đi vào làng để khất thực.
- Thưa
các ngài, vật thực loại cứng này (được dặn dò rằng):
“Nên trình cho ngài đại đức Upananda thấy rồi mới dâng
đến hội chúng.”
Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, như vậy thì sau khi thọ lãnh các ngươi hãy
để riêng ra cho đến khi Upananda trở về.
Khi
ấy, đại đức Upananda con trai dòng Sākya (nghĩ rằng): “Đức
Thế Tôn đã cấm đi đến các gia đình trước bữa ăn”
nên đã đi giao thiệp với các gia đình sau bữa ăn rồi về
lại trong ngày. Món vật thực cứng đã bị bỏ đi.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya lại đi đến các
gia đình sau bữa ăn?
…(như
trên)…
- Này
Upananda, nghe nói ngươi đi đến các gia đình sau bữa ăn, có
đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại đi đến các gia đình sau bữa
ăn vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm
tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu nào khi đã được thỉnh mời, khi
đã có bữa trai phạn còn đi đến các gia đình trước bữa
ăn hoặc sau bữa ăn thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[549]
Vào lúc bấy giờ, nhằm thời hạn dâng y các tỳ khưu trong
lúc ngần ngại không đi giao thiệp với các gia đình. Y được
phát sanh ít ỏi. Các vị đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép đi giao thiệp với các gia đình trong
thời hạn dâng y. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào khi đã
được thỉnh mời, khi đã có bữa trai phạn còn đi đến
các gia đình trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ
trong trường hợp ấy là: trong thời hạn dâng y. Đây là duyên
cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[550]
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu làm công việc may y có
nhu cầu về kim, chỉ, dao nhỏ. Các tỳ khưu trong lúc ngần
ngại không đi giao thiệp với các gia đình. Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép đi giao thiệp với các gia đình trong
lúc may y. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào khi đã được thỉnh
mời, khi đã có bữa trai phạn còn đi đến các gia đình trước
bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp
ấy là: trong thời hạn dâng y, trong lúc may y. Đây là duyên
cớ trong trường hợp ấy.” Và điều học này đã được
đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.
[551]
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu bị bệnh có nhu cầu về
các dược phẩm. Các tỳ khưu trong lúc ngần ngại không đi
giao thiệp với các gia đình. Các vị đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép (vị tỳ khưu) có sự thông báo đến
vị tỳ khưu hiện diện được đi giao thiệp với các gia
đình. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào khi đã được thỉnh
mời, khi đã có bữa trai phạn, chưa có sự thông báo đến
vị tỳ khưu hiện diện lại đi đến các gia đình trước
bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì phạm tội pācittiya (ưng đối
trị) ngoại trừ có duyên cớ. Duyên cớ trong trường hợp
ấy là: trong thời hạn dâng y, trong lúc may y. Đây là duyên
cớ trong trường hợp ấy.”
[552]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Đã
được thỉnh mời nghĩa là đã được thỉnh mời với bất
cứ loại vật thực nào thuộc về năm loại vật thực.
Có
bữa trai phạn nghĩa là đã được thỉnh mời với món gì
thì bữa trai phạn là với món đó.
Vị
tỳ khưu hiện diện nghĩa là có thể có sự thông báo để
đi vào (làng).
Vị
tỳ khưu không hiện diện nghĩa là không thể có sự thông
báo để đi vào (làng).
Trước
bữa ăn nghĩa là đã được thỉnh mời với món gì thì chưa
được ăn món đó.
Sau
bữa ăn nghĩa là đã được thỉnh mời với món gì thì món
đó đã được ăn, dầu chỉ với (một chút ở) đầu cọng
cỏ kusa.
Gia
đình nghĩa là có bốn loại gia đình: gia đình sát-đế-lỵ,
gia đình bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình hạng
cùng đinh.
Đi
đến các gia đình: Vị đang bước vào khu vực lân cận ngôi
nhà của người khác thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Vị
vượt qua ngưỡng cửa bước thứ nhất thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Vị vượt qua ngưỡng cửa bước thứ nhì thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).
Ngoại
trừ có duyên cớ: trừ ra có nguyên cớ.
Trong
thời hạn dâng y nghĩa là khi Kaṭhina không được thành tựu
thì tháng cuối cùng của mùa mưa, khi Kaṭhina được thành
tựu thì năm tháng.
Trong
lúc may y nghĩa là trong lúc y đang được may.
[553]
Đã được thỉnh mời, nhận biết là đã được thỉnh mời,
vị chưa có sự thông báo đến vị tỳ khưu hiện diện lại
đi đến các gia đình trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Đã
được thỉnh mời, có sự nghi ngờ, vị chưa có sự thông
báo đến vị tỳ khưu hiện diện lại đi đến các gia đình
trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì phạm tội pācittiya (ưng
đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Đã
được thỉnh mời, (lầm) tưởng là không được thỉnh mời,
vị chưa có sự thông báo đến vị tỳ khưu hiện diện lại
đi đến các gia đình trước bữa ăn hoặc sau bữa ăn thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có duyên cớ.
Không
được thỉnh mời, (lầm) tưởng là đã được thỉnh mời,
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
được thỉnh mời, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
được thỉnh mời, nhận biết là không được thỉnh mời
thì vô tội.
[554]
Khi có duyên cớ, có sự thông báo đến vị tỳ khưu hiện
diện rồi đi vào (làng), không có vị tỳ khưu hiện diện
rồi đi vào (làng) không có sự thông báo, đường đi ngang
qua ngôi nhà của người khác, đường đi ngang qua khu vực
lân cận ngôi nhà (của người khác), vị đi đến tu viện
ở giữa làng, vị đi đến tu viện của các tỳ khưu ni, vị
đi đến chỗ ngụ của các tu sĩ ngoại đạo, vị đi trở
về, vị đi đến nhà của thí chủ, trong những lúc có sự
cố, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ sáu.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BẢY:
[555]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng
Sākya, trong thành Kapilavatthu, tu viện Nigrodha. Vào lúc bấy
giờ, Mahānāma dòng Sākya có nhiều dược phẩm. Khi ấy, Mahānāma
dòng Sākya đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã
đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi
đã ngồi xuống một bên, Mahānāma dòng Sākya đã nói với
đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, tôi muốn thỉnh cầu hội chúng về dược phẩm trong
bốn tháng.
- Này
Mahānāma, tốt lắm, tốt lắm! Này Mahānāma, như thế ngươi
hãy thỉnh cầu hội chúng về dược phẩm trong bốn tháng.
Các
tỳ khưu ngần ngại không nhận lời. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép chấp nhận sự thỉnh cầu về vật
dụng trong bốn tháng.
Vào
lúc bấy giờ, các tỳ khưu yêu cầu dược phẩm (một số
lượng) rất ít ỏi ở Mahānāma dòng Sākya. Giống như trước
đây, dược phẩm của Mahānāma dòng Sākya vẫn dồi dào. Đến
lần thứ nhì, Mahānāma dòng Sākya đã đi đến gặp đức
Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi
xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Mahānāma
dòng Sākya đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, tôi muốn thỉnh cầu hội chúng về dược phẩm trong
bốn tháng kế tiếp.
- Này
Mahānāma, tốt lắm, tốt lắm! Này Mahānāma, như thế ngươi
hãy thỉnh cầu hội chúng về dược phẩm trong bốn tháng
kế tiếp.
Các
tỳ khưu ngần ngại không nhận lời. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép chấp nhận sự thỉnh cầu tiếp tục.
Vào
lúc bấy giờ, các tỳ khưu yêu cầu dược phẩm (một số
lượng) rất ít ỏi ở Mahānāma dòng Sākya. Giống như trước
đây, dược phẩm của Mahānāma dòng Sākya vẫn dồi dào. Đến
lần thứ ba, Mahānāma dòng Sākya đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Mahānāma dòng Sākya
đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, tôi muốn thỉnh cầu hội chúng về dược phẩm đến
trọn đời.
- Này
Mahānāma, tốt lắm, tốt lắm! Này Mahānāma, như thế ngươi
hãy thỉnh cầu hội chúng về dược phẩm đến trọn đời.
Các
tỳ khưu ngần ngại không nhận lời. Các vị đã trình sự
việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép chấp nhận sự thỉnh cầu vĩnh viễn.
[556]
Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư quấn y bê bối,
trùm y luộm thuộm, không được chỉnh tề nên bị Mahānāma
dòng Sākya nói rằng:
- Thưa
các ngài, tại sao các ngài lại quấn y bê bối, trùm y luộm
thuộm, không được chỉnh tề? Chẳng phải vị xuất gia nên
quấn y đàng hoàng, trùm y gọn gàng, có sự chỉnh tề hay
sao?
Các
tỳ khưu nhóm Lục Sư đã kết oan trái với Mahānāma dòng
Sākya. Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã khởi ý điều
này: “Có phương kế gì chúng ta có thể làm cho Mahānāma
dòng Sākya bị xấu hổ?” Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Lục
Sư đã khởi ý điều này: “Này các đại đức, hội chúng
đã được Mahānāma dòng Sākya thỉnh cầu về dược phẩm.
Này các đại đức, vậy chúng ta hãy yêu cầu Mahānāma dòng
Sākya về bơ lỏng đi.” Sau đó, các tỳ khưu nhóm Lục Sư
đã đi đến gặp Mahānāma dòng Sākya, sau khi đến đã nói
với Mahānāma dòng Sākya điều này:
- Này
đạo hữu, có nhu cầu về một chum (doṇa [1]) bơ lỏng.
- Thưa
các ngài, xin hãy chờ đợi đến ngày mai. Nhiều người đã
đi đến trại bò để lấy bơ lỏng; các ngài sẽ mang đi
đúng hẹn.
Đến
lần thứ nhì, …(như trên)…
Đến
lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã nói với Mahānāma
dòng Sākya điều này:
- Này
đạo hữu, có nhu cầu về một chum bơ lỏng.
- Thưa
các ngài, xin hãy chờ đợi đến ngày mai. Nhiều người đã
đi đến trại bò để lấy bơ lỏng; các ngài sẽ mang đi
đúng hẹn.
- Này
đạo hữu, đạo hữu không chịu bố thí khi được yêu cầu,
việc gì khiến đạo hữu nói lời thỉnh cầu khi không có
ý định bố thí vậy?
Khi
ấy, Mahānāma dòng Sākya phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao khi được nói rằng: “Thưa các ngài, xin hãy chờ đợi
đến ngày mai” các đại đức lại không chịu chờ đợi?
Các
tỳ khưu đã nghe được Mahānāma dòng Sākya phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư khi được Mahānāma dòng Sākya
nói rằng: “Thưa các ngài, xin hãy chờ đợi đến ngày mai”
lại không chịu chờ đợi?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi khi được Mahānāma dòng Sākya
nói rằng: “Thưa các ngài, xin hãy chờ đợi đến ngày mai”
lại không chịu chờ đợi, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi khi được Mahānāma dòng
Sākya nói rằng: “Thưa các ngài, xin hãy chờ đợi đến ngày
mai” lại không chịu chờ đợi vậy? Này những kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu không
bị bệnh nên chấp nhận sự thỉnh cầu về vật dụng trong
bốn tháng ngoại trừ có sự thỉnh cầu tiếp tục, ngoại
trừ có sự thỉnh cầu đến trọn đời. Nếu chấp nhận
vượt quá hạn ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[557]
Vị tỳ khưu không bị bệnh nên chấp nhận sự thỉnh cầu
về vật dụng trong bốn tháng: sự thỉnh cầu trong trường
hợp bị bệnh nên được chấp nhận, lời thỉnh cầu tiếp
tục cũng nên được chấp nhận (nói rằng): “Khi nào tôi
bị bệnh, khi ấy tôi sẽ yêu cầu.” Lời thỉnh cầu đến
trọn đời cũng nên được chấp nhận (nói rằng): “Khi nào
tôi bị bệnh, khi ấy tôi sẽ yêu cầu.”
[558]
Nếu chấp nhận vượt quá hạn ấy: Có sự thỉnh cầu có
sự giới hạn về dược phẩm không có sự giới hạn về
đêm. Có sự thỉnh cầu có sự giới hạn về đêm không có
sự giới hạn về dược phẩm. Có sự thỉnh cầu có sự
giới hạn về dược phẩm và có sự giới hạn về đêm.
Có sự thỉnh cầu không có sự giới hạn về dược phẩm
và không có sự giới hạn về đêm.
Có
sự giới hạn về dược phẩm nghĩa là các dược phẩm được
xét đến rồi (nói rằng): “Tôi nói lời thỉnh cầu với
chừng này dược phẩm.”
Có
sự giới hạn về đêm nghĩa là các đêm được xét đến
rồi (nói rằng): “Tôi nói lời thỉnh cầu trong (thời hạn)
chừng này đêm.”
Có
sự giới hạn về dược phẩm và có sự giới hạn về đêm
nghĩa là các dược phẩm được xét đến và các đêm được
xét đến rồi (nói rằng): “Tôi nói lời thỉnh cầu với
chừng này dược phẩm trong (thời hạn) chừng này đêm.”
Không
có sự giới hạn về dược phẩm và không có sự giới hạn
về đêm nghĩa là các dược phẩm không được xét đến và
các đêm không được xét đến.
[559]
Khi có sự giới hạn về dược phẩm, trừ ra các dược phẩm
đã được thỉnh cầu, vị yêu cầu các loại dược phẩm
khác thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
có sự giới hạn về đêm, trừ ra các đêm đã được thỉnh
cầu, vị yêu cầu trong các đêm khác thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Khi
có sự giới hạn về sự thỉnh cầu và có sự giới hạn
về đêm, trừ ra các dược phẩm đã được thỉnh cầu và
trừ ra các đêm đã được thỉnh cầu, vị yêu cầu các loại
dược phẩm khác trong các đêm khác thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Khi
không có sự giới hạn về sự thỉnh cầu và không có sự
giới hạn về đêm thì vô tội.
[560]
Khi không cần dùng dược phẩm, vị yêu cầu dược phẩm thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
cần dùng dược phẩm này, vị yêu cầu dược phẩm khác thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
đã quá hạn ấy, nhận biết là đã quá hạn ấy, vị yêu
cầu dược phẩm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
đã quá hạn ấy, có sự hoài nghi, vị yêu cầu dược phẩm
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
đã quá hạn ấy, (lầm) tưởng là chưa quá hạn ấy, vị
yêu cầu dược phẩm thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
chưa quá hạn ấy, (lầm) tưởng là đã quá hạn ấy, phạm
tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn ấy, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa quá hạn ấy, nhận biết là chưa quá hạn ấy thì vô
tội.
[561]
Vị yêu cầu các loại dược phẩm đã được thỉnh cầu,
vị yêu cầu trong (thời hạn) các đêm đã được thỉnh cầu,
sau khi nói rõ rồi yêu cầu: “Chúng tôi đã được quý vị
thỉnh cầu các loại dược phẩm này, giờ chúng tôi có nhu
cầu về dược phẩm loại này và loại này,” sau khi nói
rõ rồi yêu cầu: “(Thời hạn) các đêm chúng tôi được
quý vị thỉnh cầu đã trôi qua, giờ chúng tôi có nhu cầu
về dược phẩm,” của các thân quyến, của những người
nói lời thỉnh cầu, vì nhu cầu của vị khác, bằng vật
sở hữu của bản thân, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều học thứ bảy.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TÁM:
[562]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đức vua Pasenadi xứ Kosala cùng với quân đội đi đánh trận.
Các tỳ khưu nhóm Lục Sư đã đi để xem quân đội động
binh. Đức vua Pasenadi xứ Kosala đã nhìn thấy các tỳ khưu
nhóm Lục Sư đang đi lại từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã
cho người gọi đến rồi đã nói điều này:
- Thưa
các ngài, vì sao các ngài lại đi đến nơi này?
- Tâu
đại vương, chúng tôi có ý muốn xem.
- Thưa
các ngài, việc gì lại nhìn trẫm đang say sưa chiến trận?
Sao không chiêm ngưỡng đức Thế Tôn?
Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại đi đến để xem quân đội động
binh? Chúng tôi không có lợi nhuận, chúng tôi thu nhập khó
khăn, chúng tôi vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân vợ con
mà phải đi vào quân đội.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại đi để xem quân đội động
binh?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đi để xem quân đội động
binh, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại đi để xem quân
đội động binh vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này
không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay
làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin.
…(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào đi để xem quân
đội động binh thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[563]
Vào lúc bấy giờ, có người cậu của vị tỳ khưu nọ bị
bệnh ở trong binh đội. Người ấy đã phái sứ giả đi đến
gặp vị tỳ khưu ấy (nhắn rằng): “Bởi vì cậu bị bệnh
ở trong binh đội. Đại đức hãy đi đến. Cậu mong sự đi
đến của đại đức.” Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã khởi
ý rằng: “Đức Thế Tôn đã quy định điều học cho các
tỳ khưu rằng: “Không được đi để xem quân đội động
binh, và người cậu này của ta thì bị bệnh ở trong binh
đội, vậy ta nên thực hành như thế nào?” Các vị đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân
lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo
các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép đi đến binh đội khi có nhân duyên
như thế. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào đi để xem quân đội
động binh thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ
có nhân duyên như thế.”
[564]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Động
binh nghĩa là quân đội sau khi đi ra từ làng thì đóng trại
hoặc là tiến tới.
Quân
đội nghĩa là các tượng binh, các kỵ binh, các xa binh, các
bộ binh. Tượng binh thì có mười hai người đàn ông (một
con voi). Kỵ binh thì có ba người đàn ông (một con ngựa).
Xa binh thì có bốn người đàn ông (một chiếc xe). Bốn người
đàn ông có vũ khí ở tay là bộ binh. Vị đi để xem thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác). Đứng ở nơi ấy nhìn thì phạm
tội pācittiya (ưng đối trị). Sau khi rời khỏi khu vực lân
cận của quang cảnh, vị lại nhìn nữa thì phạm tội pācittiya
(ưng đối trị).
Ngoại
trừ có nhân duyên như thế: trừ ra có nhân duyên như thế.
[565]
Khi động binh, nhận biết là động binh, vị đi để xem thì
phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên
như thế.
Khi
động binh, có sự hoài nghi, vị đi để xem thì phạm tội
pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ có nhân duyên như thế.
Khi
động binh, (lầm) tưởng không phải là động binh, vị đi
để xem thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị) ngoại trừ
có nhân duyên như thế.
Vị
đi để xem mỗi một (loại binh chủng) thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). Đứng ở nơi ấy nhìn thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác). Sau khi rời khỏi khu vực lân cận của quang cảnh, vị
lại nhìn nữa thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là động binh, (lầm) tưởng là động binh, phạm tội
dukkaṭa.
Không
phải là động binh, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Không
phải là động binh, nhận biết không phải là động binh thì
vô tội.
[566]
Vị đứng ở trong tu viện nhìn thấy, (việc động binh) di
chuyển đến chỗ đứng hoặc chỗ ngồi hoặc chỗ nằm của
vị tỳ khưu, vị nhìn thấy khi đi ngược chiều, ngoại trừ
có nhân duyên như thế, trong những lúc có sự cố, vị bị
điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tám.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ CHÍN:
[567]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
khi có công việc cần thiết các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau
khi đi đến nơi binh đội rồi cư ngụ trong binh đội hơn
hai ba đêm.
Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại cư ngụ trong binh đội? Chúng
tôi không có lợi nhuận, chúng tôi thu nhập khó khăn, chúng
tôi vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân vợ con mà phải sống
trong binh đội.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại cư ngụ trong binh đội hơn
hai ba đêm?
…(như
trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi cư ngụ trong binh đội hơn
hai ba đêm, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại cư ngụ trong binh
đội hơn hai ba đêm vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Nếu có nhân duyên nào đó
khiến vị tỳ khưu ấy đi đến nơi binh đội, vị tỳ khưu
ấy nên cư ngụ trong binh đội hai ba đêm; nếu vượt hơn
số ấy thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[568]
Nếu có nhân duyên nào đó khiến vị tỳ khưu ấy đi đến
nơi binh đội: nếu có duyên cớ, nếu có việc cần làm.
Vị
tỳ khưu ấy nên cư ngụ trong binh đội hai ba đêm: nên trú
hai ba đêm.
Nếu
vượt hơn số ấy: khi mặt trời lặn vào ngày thứ tư, vị
cư ngụ trong binh đội thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
[569]
Khi hơn hai ba đêm, nhận biết là đã hơn, vị cư ngụ trong
binh đội thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
hơn hai ba đêm, có sự hoài nghi, vị cư ngụ trong binh đội
thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
hơn hai ba đêm, (lầm) tưởng là còn kém, vị cư ngụ trong
binh đội thì phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Khi
còn kém hai ba đêm, (lầm) tưởng là đã hơn, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Khi
còn kém hai ba đêm, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
còn kém hai ba đêm, nhận biết còn kém thì vô tội.
[570]
Vị cư ngụ hai ba đêm, vị cư ngụ còn kém hai ba đêm, sau
khi cư ngụ hai đêm vào đêm thứ ba sau khi đi ra khỏi trước
rạng đông rồi cư ngụ trở lại, vị bị bệnh rồi cư ngụ,
vị cư ngụ vì có việc cần làm đối với người bệnh,
binh đội bị bao vây bởi quân địch, vị bị cản trở bởi
điều gì đó, trong những lúc có sự cố, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ chín.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ MƯỜI:
[571]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
trong khi cư ngụ hai ba đêm trong binh đội các tỳ khưu nhóm
Lục Sư đi đến nơi tập trận, nơi đóng quân, nơi dàn binh,
đội chủ lực. Có vị tỳ khưu nọ thuộc nhóm Lục Sư sau
khi đi đến nơi tập trận đã bị trúng mũi tên. Dân chúng
đã chế giễu vị tỳ khưu ấy rằng:
- Thưa
ngài, chắc hẳn đã là trận chiến cừ khôi? Ngài chiếm được
bao nhiêu mục tiêu?
Trong
khi bị những người ấy chế giễu, vị tỳ khưu ấy đã
xấu hổ. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại đi đến để xem nơi tập trận?
Chúng tôi không có lợi nhuận, chúng tôi thu nhập khó khăn,
chúng tôi vì lý do nuôi mạng, vì nguyên nhân vợ con mà phải
đi đến nơi tập trận.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê