VII.
CHƯƠNG NISSAGGIYA (ƯNG XẢ) (tt)
PHẦN
TƠ TẰM - ĐIỀU HỌC THỨ NHẤT:
[74]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Āḷavī,
nơi tháp thờ Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm
Lục Sư đi đến gặp những người làm tơ tằm rồi nói như
vầy:
- Này
các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến
chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm (ngọa cụ)
có trộn lẫn tơ tằm.
Những
người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử này sau khi đi đến gặp chúng tôi
lại nói như vầy: “Này các đạo hữu, hãy nấu nhiều kén
tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng muốn làm
tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm.” Chúng tôi không có
lợi nhuận, chúng tôi thu nhập khó khăn, chúng tôi vì lý do
nuôi mạng, vì nguyên nhân vợ con mà gây nên việc giết chóc
nhiều sinh vật nhỏ bé.
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư sau khi đi đến gặp những người
làm tơ tằm lại nói như vầy: “Này các đạo hữu, hãy nấu
nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng
muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm”?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi đi đến gặp những người
làm tơ tằm rồi nói như vầy: “Này các đạo hữu, hãy nấu
nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi; chúng tôi cũng
muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm,” có đúng
không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi sau khi đi đến gặp
những người làm tơ tằm lại nói như vầy: “Này các đạo
hữu, hãy nấu nhiều kén tằm rồi bố thí đến chúng tôi;
chúng tôi cũng muốn làm tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm”?
Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm
tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm
tin của những người đã có đức tin. …(như trên)… Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Vị tỳ khưu nào bảo làm tấm trải nằm có trộn
lẫn tơ tằm thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy)
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[75]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Tấm
trải nằm nghĩa là sau khi trải ra, sự không cuộn lại đã
được thực hiện.
Bảo
làm: vị (tự) làm hoặc bảo làm sau khi đã trộn lẫn vào
cho dầu chỉ một sợi tơ tằm. Trong khi tiến hành thì (vị
ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng,
hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài,
tấm trải nằm có trộn lẫn tơ tằm này của tôi đã được
bảo làm, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến
hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại ...(như
trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)... “Tôi
cho lại đại đức.”
[76]
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần những người khác
chưa làm xong thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
(tự) làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Sau
khi thọ lãnh vật đã được làm bởi người khác, vị thọ
dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[77]
Vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc
màn che quanh làm tường, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhất.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ NHÌ:
[78]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī,
Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, các
tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu
thuần màu đen. Dân chúng trong khi đi dạo quanh các trú xá
nhìn thấy rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử này lại bảo làm tấm trải nằm bằng
lông cừu thuần màu đen giống như những kẻ tại gia hưởng
dục vậy?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại bảo làm tấm trải nằm
bằng lông cừu thuần màu đen?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bảo làm tấm trải nằm bằng
lông cừu thuần màu đen, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại bảo làm tấm trải
nằm bằng lông cừu thuần màu đen vậy? Này những kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu
nào bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen
thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội
pācittiya (ưng đối trị).
[79]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Màu
đen nghĩa là có hai loại màu đen: màu đen do tự nhiên hoặc
là màu đen nhuộm.
Tấm
trải nằm nghĩa là sau khi trải ra, sự không cuộn lại đã
được thực hiện.
Bảo
làm: vị (tự) làm hoặc bảo làm. Trong khi tiến hành thì (vị
ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt được thì phạm
vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả bỏ đến hội chúng,
hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân. Và này các tỳ khưu,
nên được xả bỏ như vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài,
tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen của tôi đã
được bảo làm, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật
này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại
...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)...
“Tôi cho lại đại đức.”
[80]
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần những người khác
chưa làm xong thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
(tự) làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Sau
khi thọ lãnh vật đã được làm bởi người khác, vị thọ
dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[81]
Vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc
màn che quanh làm tường, hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên,
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ nhì.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ BA:
[82]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã
cấm không được bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu
thuần màu đen” nên để vào chỉ chút ít màu trắng ở viền
rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu thuần màu đen
y như thế. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại để vào một chút ít màu
trắng ở viền rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu
thuần màu đen y như thế?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi để vào một chút ít màu
trắng ở viền rồi bảo làm tấm trải nằm bằng lông cừu
thuần màu đen y như thế, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại để vào một chút
ít màu trắng ở viền rồi bảo làm tấm trải nằm bằng
lông cừu thuần màu đen y như thế vậy? Này những kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các
ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Trong khi bảo
làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu nên lấy hai phần lông
cừu thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư
màu nâu đỏ. Nếu vị tỳ khưu không lấy hai phần lông cừu
thuần màu đen, phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu
nâu đỏ rồi bảo làm tấm trải nằm mới thì (vật ấy)
nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối
trị).”
[83]
Mới nghĩa là có liên quan việc làm (tấm thảm nằm) được
đề cập đến.
Tấm
trải nằm nghĩa là sau khi trải ra, sự không cuộn lại đã
được thực hiện.
Trong
khi bảo làm: trong khi (tự) làm hoặc trong khi bảo làm.
Nên
lấy hai phần lông cừu thuần màu đen: sau khi đã được mang
lại, thì nên lấy hai cân (tulā) [1] lông cừu thuần màu đen.
Phần
thứ ba màu trắng: một cân của màu trắng.
Phần
thứ tư màu nâu đỏ: một cân của màu nâu đỏ.
Nếu
vị tỳ khưu không lấy hai phần lông cừu thuần màu đen,
phần thứ ba màu trắng, phần thứ tư màu nâu đỏ: sau khi
không để vào một cân màu trắng, một cân màu nâu đỏ rồi
(tự) làm hoặc bảo làm tấm trải nằm mới. Trong khi tiến
hành thì (vị ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự đạt
được thì phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được xả
bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân.
Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ...(như
trên)... “Bạch các ngài, tấm trải nằm của tôi đã được
bảo làm sau khi đã không để vào một cân màu trắng và một
cân màu nâu đỏ, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ vật
này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại
...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)...
“Tôi cho lại đại đức.”
[84]
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần những người khác
chưa làm xong thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
(tự) làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Sau
khi thọ lãnh vật đã được làm bởi người khác, vị thọ
dụng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[85]
Sau khi để vào một cân màu trắng và một cân màu nâu đỏ
rồi làm, sau khi để vào màu trắng nhiều hơn (hoặc) màu
nâu đỏ nhiều hơn rồi làm, sau khi lấy thuần màu trắng
(hoặc) thuần màu nâu đỏ rồi làm, vị làm tấm màn che,
hoặc tấm thảm trải nền đất, hoặc màn che quanh làm tường,
hoặc nệm, hoặc gối, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên
thì vô tội.
Dứt
điều học thứ ba.
*******
ĐIỀU
HỌC THỨ TƯ:
[86]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu bảo làm tấm trải nằm hàng năm. Các vị ấy
sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người
hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.”
Dân
chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao các sa-môn Thích tử lại bảo làm tấm trải nằm hàng
năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu:
“Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các
lông cừu”? Các tấm trải nằm của chúng tôi bị con cái
của chúng tôi tiêu tiểu và bị các con chuột gặm nhấm còn
được làm năm sáu năm một lần. Thế mà các sa-môn Thích
tử này lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi sống có
nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy
bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.”
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu lại bảo làm tấm trải nằm hàng năm rồi
sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người
hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu với các lông cừu.”?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu bảo làm tấm trải nằm
hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu
cầu: “Các người hãy bố thí các lông cừu. Có nhu cầu
với các lông cừu,” có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại bảo làm
tấm trải nằm hàng năm rồi sống có nhiều sự van xin, có
nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy bố thí các lông cừu.
Có nhu cầu với các lông cừu” vậy? Này các tỳ khưu, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Sau khi bảo làm tấm trải
nằm mới, vị tỳ khưu nên sử dụng sáu năm. Nếu chưa đủ
sáu năm mà cho đi hoặc không cho đi tấm trải nằm ấy rồi
bảo làm tấm trải nằm mới khác thì (vật ấy) nên được
xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
[87]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ ở thành Kosambī bị
bệnh. Các thân quyến đã phái người đưa tin đến gặp vị
tỳ khưu ấy nói rằng: “Ngài đại đức hãy đi đến. Chúng
tôi sẽ hộ độ.” Các tỳ khưu cũng đã nói như vầy:
- Này
đại đức, hãy đi. Các thân quyến sẽ hộ độ đại đức.
Vị
ấy đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, điều học đã được đức Thế Tôn quy định
rằng: “Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu
nên sử dụng sáu năm.” Và tôi thì bị bệnh nên không thể
mang theo tấm trải nằm mà ra đi được. Tôi không được
thoải mái khi không có tấm trải nằm. Tôi sẽ không đi.
Các
vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức
Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp
thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta cho phép ban cho sự đồng ý về tấm trải
nằm đối với vị tỳ khưu bị bệnh. Và này các tỳ khưu,
nên ban cho như vầy: Vị tỳ khưu bị bệnh ấy nên đi đến
nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở
chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp
tay lên, và nên nói như vầy:
- Bạch
các ngài, tôi bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm
mà ra đi được. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội
chúng sự đồng ý về tấm trải nằm.
Nên
được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần
thứ ba.
Hội
chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm,
đủ năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm
mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng
ý về tấm trải nằm. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội
chúng, hội chúng nên ban cho sự đồng ý về tấm trải nằm
đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) bị bệnh không thể mang theo tấm trải nằm
mà ra đi được. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng sự đồng
ý về tấm trải nằm. Hội chúng ban cho sự đồng ý về tấm
trải nằm đến vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào
đồng ý việc ban cho sự đồng ý về tấm trải nằm đến
vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng
ý có thể nói lên.
Sự
đồng ý về tấm trải nằm đã được hội chúng ban cho đến
vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Và
này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này
như vầy: “Sau khi bảo làm tấm trải nằm mới, vị tỳ khưu
nên sử dụng sáu năm. Nếu chưa đủ sáu năm mà cho đi hoặc
không cho đi tấm trải nằm ấy rồi bảo làm tấm trải nằm
mới khác thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị), ngoại trừ có sự đồng ý
của các tỳ khưu.”
[88]
Mới nghĩa là có liên quan việc làm (tấm thảm nằm) được
đề cập đến.
Tấm
trải nằm nghĩa là sau khi trải ra, sự không cuộn lại đã
được thực hiện.
Sau
khi bảo làm: sau khi (tự) làm hoặc sau khi bảo (người khác)
làm.
Nên
sử dụng sáu năm: nên sử dụng hơn sáu năm.
Nếu
chưa đủ sáu năm: còn ít hơn sáu năm.
Cho
đi tấm trải nằm ấy: sau khi cho đến những người khác.
Hoặc
không cho đi: sau khi không cho đến bất cứ ai.
Ngoại
trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu: Trừ ra có sự đồng
ý của các tỳ khưu.
Vị
(tự) làm hoặc bảo làm tấm trải nằm mới khác. Trong khi
tiến hành thì (vị ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do sự
đạt được thì phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được
xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân.
Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ...(như
trên)... “Bạch các ngài, tấm trải nằm của tôi đã được
bảo làm chưa đủ sáu năm giờ cần được xả bỏ, ngoại
trừ có sự đồng ý của các tỳ khưu. Tôi xả bỏ vật này
đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại
...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)...
“Tôi cho lại đại đức.”
[89]
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần những người khác
chưa làm xong thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
[90]
Vị làm khi được sáu năm, vị làm khi đã quá sáu năm, vị
làm hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác, vị nhận được
(tấm trải nằm) đã được làm bởi người khác rồi sử
dụng, vị làm tấm màn che, hoặc tấm thảm trải nền đất,
hoặc màn che quanh làm tường, hoặc nệm, hoặc gối, với
sự đồng ý của các tỳ khưu, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tư.
********
ĐIỀU
HỌC THỨ NĂM:
[91]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, đức Thế
Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, ta muốn thiền tịnh trong ba tháng. Không ai đi
đến gặp ta ngoại trừ một vị mang lại vật thực.
- Bạch
ngài, xin vâng. Các vị tỳ khưu ấy đã trả lời đức Thế
Tôn.
Và
quả thật không có vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại
trừ một vị mang lại vật thực. Vào lúc bấy giờ, hội
chúng ở thành Sāvatthi đã thực hiện quy định là: “Này
các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh trong ba tháng.
Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn ngoại trừ một
vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến gặp đức Thế Tôn
nên bị buộc sám hối tội pācittiya (ưng đối trị).”
[92]
Khi ấy, đại đức Upasena con trai của Vaṅganta cùng tập thể
đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ
đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Điều
này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm
nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn
đã nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều
này:
- Này
Upasena, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt
đẹp không? Các ngươi đi đường xa có được ít mệt nhọc
không?
- Bạch
Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp.
Bạch ngài, chúng con đi đường xa được ít mệt nhọc.
Vào
lúc bấy giờ, vị tỳ khưu đệ tử của đại đức Upasena
con trai của Vaṅganta ngồi xuống không xa đức Thế Tôn. Khi
ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này
tỳ khưu, đối với ngươi các y paṃsukūla có dễ chịu không?
- Bạch
ngài, đối với con các y paṃsukūla không có dễ chịu.
- Này
tỳ khưu, vậy tại sao ngươi lại là vị hành pháp sử dụng
y paṃsukūla?
- Bạch
ngài, thầy tế độ của con là vị hành pháp sử dụng y paṃsukūla;
như thế con cũng là vị hành pháp sử dụng y paṃsukūla.
Khi
ấy, đức Thế Tôn đã nói với đại đức Upasena con trai
của Vaṅganta điều này:
- Này
Upasena, quả thật tập thể này có niềm tin đối với ngươi.
Này Upasena, ngươi hướng dẫn tập thể bằng cách nào?
- Bạch
ngài, ai cầu xin con sự tu lên bậc trên thì con nói với người
ấy như vầy: “Này đạo hữu, ta là vị hành pháp ở rừng,
hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla,
nếu ngươi cũng sẽ là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi
khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla như thế thì ta
sẽ cho ngươi tu lên bậc trên.” Nếu (người ấy) đồng
ý với con thì con cho tu lên bậc trên, nếu không đồng ý
với con thì con không cho tu lên bậc trên. Vị nào cầu xin
con pháp nương nhờ thì con nói với vị ấy như vầy: “Này
đại đức, ta là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất
thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, nếu ngươi cũng sẽ
là vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp
sử dụng y paṃsukūla như thế thì ta sẽ ban cho ngươi pháp
nương nhờ.” Nếu (vị ấy) đồng ý với con thì con ban cho
pháp nương nhờ, nếu không đồng ý với con thì con không
ban cho pháp nương nhờ. Bạch ngài, con hướng dẫn tập thể
như thế.
- Này
Upasena, tốt lắm, tốt lắm! Này Upasena, ngươi hướng dẫn
tập thể tốt lắm. Này Upasena, ngươi có biết về quy định
của hội chúng ở thành Sāvatthi không?
- Bạch
ngài, con quả thật không biết về quy định của hội chúng
ở thành Sāvatthi.
- Này
Upasena, hội chúng ở thành Sāvatthi đã thực hiện quy định
là: “Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh
trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn
ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến
gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội pācittiya (ưng
đối trị).”
- Bạch
ngài, hội chúng ở thành Sāvatthi sẽ được biết tiếng bởi
quy định của chính họ. Chúng con sẽ không quy định điều
không được quy định hoặc sẽ không hủy bỏ điều đã
được quy định. Chúng con sẽ thọ trì và thực hành các
điều học theo như đã được quy định.
- Này
Upasena, tốt lắm, tốt lắm! Không nên quy định điều không
được quy định hoặc không nên hủy bỏ điều đã được
quy định. Nên thọ trì và thực hành các điều học theo như
đã được quy định. Này Upasena, ta cho phép: “Các vị tỳ
khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất
thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, hãy để các vị ấy
đi đến diện kiến ta một cách thoải mái.”
Vào
lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu đứng ở bên ngoài cổng
ra vào (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ buộc đại đức Upasena
con trai của Vaṅganta sám hối tội pācittiya.” Sau đó, đại
đức Upasena con trai của Vaṅganta cùng tập thể đã từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải
nhiễu quanh, rồi ra đi. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã nói
với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này:
- Này
đại đức Upasena, đại đức có biết quy định của hội
chúng ở thành Sāvatthi không?
- Này
các đại đức, đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy:
“Này Upasena, ngươi có biết về quy định của hội chúng
ở thành Sāvatthi không?” “Bạch ngài, con quả thật không
biết về quy định của hội chúng ở thành Sāvatthi.” “Này
Upasena, hội chúng ở thành Sāvatthi đã thực hiện quy định
là: ‘Này các đại đức, đức Thế Tôn muốn thiền tịnh
trong ba tháng. Không ai được đi đến gặp đức Thế Tôn
ngoại trừ một vị mang lại vật thực. Vị nào đi đến
gặp đức Thế Tôn nên bị buộc sám hối tội pācittiya.’”
“Bạch ngài, hội chúng ở thành Sāvatthi sẽ được biết
tiếng bởi quy định của chính họ. Chúng con sẽ không quy
định điều không được quy định hoặc sẽ không hủy bỏ
điều đã được quy định. Chúng con sẽ thọ trì và thực
hành các điều học theo như đã được quy định.” Này các
đại đức, đức Thế Tôn đã cho phép rằng: “Các vị tỳ
khưu nào là những vị hành pháp ở rừng, hành pháp đi khất
thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla, hãy để các vị ấy
đi đến diện kiến ta một cách thoải mái.”
Khi
ấy, các vị tỳ khưu ấy (bàn bạc rằng): “Đại đức Upasena
con trai của Vaṅganta đã nói rằng: ‘Không nên quy định
điều không được quy định hoặc không nên hủy bỏ điều
đã được quy định. Nên thọ trì và thực hành các điều
học theo như đã được quy định’ có phải là sự thật
không vậy?”
[93]
Các tỳ khưu đã nghe rằng: “Nghe nói đức Thế Tôn đã cho
phép rằng: ‘Các vị tỳ khưu nào là những vị hành pháp
ở rừng, hành pháp đi khất thực, hành pháp sử dụng y paṃsukūla,
hãy để các vị ấy đi đến diện kiến ta một cách thoải
mái.’” Các vị ấy ao ước được diện kiến đức Thế
Tôn nên đã quăng bỏ các tấm trải nằm và thọ trì pháp
của vị ở trong rừng, pháp của vị đi khất thực, pháp
của vị sử dụng y paṃsukūla.
Sau
đó, đức Thế Tôn trong khi đi dạo quanh các chỗ trú ngụ
cùng với nhiều vị tỳ khưu đã nhìn thấy các tấm trải
nằm bị quăng bỏ chỗ này chỗ nọ, sau khi nhìn thấy đã
hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, những tấm trải nằm bị quăng bỏ chỗ này
chỗ nọ là của vị nào vậy?
Khi
ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, chính vì điều ấy ta sẽ quy định điều học
cho các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm đem lại sự
tốt đẹp cho hội chúng, nhằm đem lại sự an lạc cho hội
chúng, nhằm việc trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm
sự lạc trú của các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa
các lậu hoặc trong hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu
hoặc trong tương lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, nhằm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin, nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp, nhằm
sự hỗ trợ Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ
biến điều học này như vầy: “Trong khi bảo thực hiện
tấm lót ngồi (tọa cụ), vị tỳ khưu nên lấy một gang tay
của đức Thiện Thệ[2] ở phần xung quanh của tấm lót cũ
để hoại vẻ đẹp. Nếu vị tỳ khưu không lấy một gang
tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ
mà bảo làm tấm lót ngồi mới thì (vật ấy) nên được
xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[94]
Tấm lót ngồi nghĩa là có đường viền quanh được nói đến.
Tấm
trải nằm nghĩa là sau khi trải ra, sự không cuộn lại đã
được thực hiện.
Sau
khi bảo làm: sau khi (tự) làm hoặc sau khi bảo (người khác)
làm.
Tấm
lót cũ nghĩa là đã được ngồi dầu chỉ một lần, đã
được nằm dầu chỉ một lần.
Nên
lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh để
hoại vẻ đẹp: để có được trạng thái bền chắc, sau
khi cắt vòng tròn hoặc vuông vức rồi nên trải ra ở một
góc, hoặc sau khi tháo rời rồi nên trải ra.
Nếu
vị tỳ khưu không lấy một gang tay của đức Thiện Thệ
ở phần xung quanh của tấm lót cũ: sau khi không lấy một
gang tay của đức Thiện Thệ ở phần xung quanh của tấm lót
cũ rồi (tự) làm hoặc bảo làm tấm lót ngồi mới, trong
khi tiến hành thì (vị ấy) phạm tội dukkaṭa (tác ác). Do
sự đạt được thì phạm vào nissaggiya, (vật ấy) cần được
xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân.
Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ...(như
trên)... “Bạch các ngài, tấm lót ngồi này của tôi đã
được bảo làm sau khi không lấy một gang tay của đức Thiện
Thệ ở phần xung quanh của tấm lót cũ, giờ cần được
xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.” ...(như trên)...
hội chúng nên cho lại ...(như trên)... chư đại đức nên
cho lại ...(như trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[95]
Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm
tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì
phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
bảo những người khác hoàn tất phần những người khác
chưa làm xong thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Vị
(tự làm) hoặc bảo làm vì nhu cầu của vị khác thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[96]
Sau khi đã lấy một gang tay của đức Thiện Thệ ở phần
xung quanh của tấm lót cũ rồi làm; trong khi không có, đã
lấy ít hơn rồi làm; trong khi không có, đã không lấy rồi
làm; vị nhận được (tấm lót ngồi) đã được làm bởi
người khác rồi sử dụng; vị làm tấm màn che, hoặc tấm
thảm trải nền đất, hoặc màn che quanh làm tường, hoặc
nệm, hoặc gối; vị bị điên; vị vi phạm đầu tiên thì
vô tội.
Dứt
điều học thứ năm.
********
ĐIỀU
HỌC THỨ SÁU:
[97]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
có vị tỳ khưu nọ khi đang đi đến thành Sāvatthi trong xứ
Kosala, ở giữa đường có các lông cừu đã được phát sanh.
Khi ấy, vị tỳ khưu ấy đã dùng thượng y gói các lông cừu
ấy lại thành gói rồi đi. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị
tỳ khưu ấy đã chế giễu rằng:
- Thưa
ngài, chúng được mua bao nhiêu? Lợi nhuận sẽ là bao nhiêu?
Trong
khi bị những người ấy chế giễu, vị tỳ khưu ấy đã
trở nên xấu hổ. Sau đó, khi đến thành Sāvatthi vị tỳ
khưu ấy đã đứng thẳng người ném các lông cừu ấy xuống.
Các tỳ khưu đã nói với vị tỳ khưu ấy như vầy:
- Này
đại đức, vì sao đại đức lại đứng thẳng người ném
các lông cừu này xuống vậy?
- Này
các đại đức, như thế là vì nguyên nhân các lông cừu này
mà tôi đã bị dân chúng chế giễu.
- Này
đại đức, thế đại đức đã mang những lông cừu này khoảng
bao xa vậy?
- Này
các đại đức, hơn ba do tuần.[3]
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao vị tỳ khưu lại mang các lông cừu hơn ba do tuần?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, nghe nói ngươi mang các lông cừu hơn ba do tuần,
có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại mang các lông cừu hơn ba do
tuần vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu trong khi đi đường xa có các
lông cừu được phát sanh, vị tỳ khưu mong muốn thì nên
thọ lãnh. Sau khi thọ lãnh, nên dùng tay mang tối đa ba do tuần
khi không có người mang. Nếu mang vượt quá khoảng cách ấy
cho dầu không có người mang vác thì (vật ấy) nên được
xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[98]
Vị tỳ khưu trong khi đi đường xa: là vị đang đi đường.
Các
lông cừu được phát sanh: là được phát sanh từ hội chúng,
hoặc từ nhóm, hoặc từ thân quyến, hoặc từ bạn bè, hoặc
từ vật quăng bỏ (paṃsukūla), hoặc từ vật sở hữu của
bản thân.
Mong
muốn: vị đang ước muốn thì nên thọ lãnh.
Sau
khi thọ lãnh thì nên dùng tay mang tối đa ba do tuần: Nên dùng
tay mang nhiều nhất ba do tuần.
Khi
không có người mang vác: không có người nào khác khuân vác:
hoặc là người nữ, hoặc là người nam, hoặc là người
tại gia, hoặc là vị xuất gia.
Nếu
mang vượt quá khoảng cách ấy cho dầu không có người mang
vác: Vượt quá ba do tuần bước thứ nhất thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). Vượt quá ba do tuần bước thứ nhì thì
(các lông cừu ấy) phạm vào nissaggiya. Đứng trong khoảng
ba do tuần và làm rơi ngoài ba do tuần thì (các lông cừu ấy)
phạm vào nissaggiya. Sau khi để ở trên xe hoặc trong gói đồ
của người khác mà họ không hay biết, vị vượt quá ba do
tuần thì (các lông cừu ấy) phạm vào nissaggiya, cần được
xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc đến cá nhân.
Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy: ...(như
trên)... “Bạch các ngài, các lông cừu này của tôi đã vượt
quá ba do tuần, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ các
vật này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên
cho lại ...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như
trên)... “Tôi cho lại đại đức.”
[99]
Hơn ba do tuần, nhận biết là đã hơn, vị vượt qua ba do
tuần thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Hơn
ba do tuần, có sự hoài nghi, vị vượt qua ba do tuần thì phạm
tội nissaggiya pācittiya.
Hơn
ba do tuần, (lầm) tưởng là chưa hơn, vị vượt qua ba do tuần
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Khi
chưa hơn ba do tuần, (lầm) tưởng là đã hơn, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Khi
chưa hơn ba do tuần, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa.
Khi
chưa hơn ba do tuần, nhận biết là chưa hơn thì vô tội.
[100]
Vị mang đi ba do tuần, vị mang đi chưa hơn ba do tuần, vị
mang đi ba do tuần rồi mang lui lại, sau khi đi ba do tuần vị
có ý định tìm trú xứ rồi mang hơn khoảng cách đó, vị
nhận lại vật bị cướp rồi mang đi, vị nhận lại vật
bị trộm rồi mang đi, vị bảo người khác mang, vị mang vật
đã là thành phẩm (katabhaṇḍaṃ), vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ sáu.
********
ĐIỀU
HỌC THỨ BẢY:
[101]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự giữa dân chúng dòng
Sākya (Thích ca), trong thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), tu viện
Nigrodha. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Lục Sư bảo
các tỳ khưu ni giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu.
Trong khi giặt, trong khi nhuộm, và trong khi chải các lông cừu,
các tỳ khưu ni xao lãng việc đọc tụng, việc vấn hỏi,
(việc tu tập) tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng
tuệ.[4]
Khi
ấy, bà Mahāpajāpati Gotamī đã đi đến gặp đức Thế Tôn,
sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn, rồi đứng ở một
bên. Đức Thế Tôn đã nói với bà Mahāpajāpati Gotamī đang
đứng một bên điều này:
- Này
Gotamī, chắc hẳn các tỳ khưu ni sống không có dễ duôi,
tinh cần, và bản thân có nỗ lực?
- Bạch
ngài, sự không dễ duôi của các tỳ khưu ni từ đâu có được
khi các ngài đại đức nhóm Lục Sư bảo các tỳ khưu ni giặt,
bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu? Trong khi giặt, trong
khi nhuộm, và trong khi chải các lông cừu, các tỳ khưu ni
xao lãng việc đọc tụng, việc vấn hỏi, (việc tu tập) tăng
thượng giới, tăng thượng tâm, tăng thượng tuệ.
Khi
ấy, đức Thế Tôn đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích,
và tạo niềm phấn khởi cho bà Mahāpajāpati Gotamī bằng bài
Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài
Pháp thoại, bà Mahāpajāpati Gotamī đã đảnh lễ đức Thế
Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau
đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu
tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu nhóm
Lục Sư rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bảo các tỳ khưu ni giặt,
bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
- Này
các tỳ khưu, là các nữ thân quyến của các ngươi hay không
phải là các nữ thân quyến?
- Bạch
Thế Tôn, không phải là các nữ thân quyến.
- Này
những kẻ rồ dại, những người nam không phải là thân quyến
không biết điều gì thích hợp hay không thích hợp, điều
gì làm hài lòng hay không làm hài lòng những người nữ không
phải là thân quyến. Này những kẻ rồ dại, trong trường
hợp ấy sao các ngươi lại bảo các tỳ khưu ni không phải
là thân quyến giặt, bảo nhuộm, và bảo chải các lông cừu
vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm
niềm tin của những người đã có đức tin. …(như trên)…
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bảo tỳ khưu ni không phải
là thân quyến giặt, hoặc bảo nhuộm, hoặc bảo chải các
lông cừu thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm
tội pācittiya (ưng đối trị).”
[102]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
(Người
nữ) Không phải là thân quyến nghĩa là người nữ không có
sự liên hệ họ hàng cho đến bảy thế hệ tổ tiên từ
dòng bên mẹ hoặc từ dòng bên cha.
Tỳ
khưu ni nghĩa là người nữ đã được tu lên bậc trên ở
cả hai hội chúng.
Bảo
giặt: vị chỉ thị rằng: “Hãy giặt” thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). (Các lông cừu) đã được giặt thì phạm vào nissaggiya.
Bảo
nhuộm: vị chỉ thị rằng: “Hãy nhuộm” thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác). (Các lông cừu) đã được nhuộm thì phạm
vào nissaggiya.
Bảo
chải: vị chỉ thị rằng: “Hãy chải” thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác). (Các lông cừu) đã được chải thì phạm vào nissaggiya,
nên được xả bỏ đến hội chúng, hoặc đến nhóm, hoặc
đến cá nhân. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ như
vầy: ...(như trên)... “Bạch các ngài, các lông cừu này của
tôi đã được bảo tỳ khưu ni không phải là thân quyến
giặt, giờ cần được xả bỏ. Tôi xả bỏ (các lông cừu)
này đến hội chúng.” ...(như trên)... hội chúng nên cho lại
...(như trên)... chư đại đức nên cho lại ...(như trên)...
“Tôi cho lại đại đức.”
[103]
Không phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân
quyến, vị bảo giặt các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya (ưng xả đối trị).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo giặt, bảo nhuộm các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo giặt, bảo chải các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo giặt, bảo nhuộm, bảo chải các lông cừu thì phạm
tội nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm các lông cừu thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm, bảo chải các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm, bảo giặt các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo nhuộm, bảo chải, bảo giặt các lông cừu thì phạm
tội nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo chải các lông cừu thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo chải, bảo giặt các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo chải, bảo nhuộm các lông cừu thì phạm tội nissaggiya
pācittiya và tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, nhận biết không phải là thân quyến,
vị bảo chải, bảo giặt, bảo nhuộm các lông cừu thì phạm
tội nissaggiya pācittiya và hai tội dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là thân quyến, có sự hoài nghi, ...(như trên)...
Không
phải là thân quyến, (lầm) tưởng là thân quyến, ...(như
trên)...
Vị
bảo giặt các lông cừu của vị khác thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vị
bảo cô ni tu lên bậc trên từ một hội chúng giặt thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, (lầm) tưởng không phải là thân quyến, phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Là
thân quyến, nhận biết là thân quyến thì vô tội.
[104]
Khi vị (tỳ khưu ni) là thân quyến đang giặt có vị (tỳ
khưu ni) thứ nhì không phải là thân quyến (phụ giúp), vị
(tỳ khưu ni) giặt khi chưa được nói, vị bảo giặt vật
đã là thành phẩm chưa được sử dụng, (vị bảo) cô ni
tu tập sự, (vị bảo) sa di ni, vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ bảy.
********
ĐIỀU
HỌC THỨ TÁM:
[105]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha
(Vương Xá), Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc.
Vào lúc bấy giờ, đại đức Upananda con trai dòng Sākya là
vị thường tới lui với gia đình nọ và là vị nhận bữa
ăn thường kỳ. Khi nào gia đình ấy có được vật thực
loại cứng hoặc loại mềm, phần chia trong số đó được
để dành cho đại đức Upananda con trai dòng Sākya. Vào lúc
bấy giờ, gia đình ấy có được miếng thịt nhằm lúc chiều
tối. Trong số đó, phần chia của đại đức Upananda con trai
dòng Sākya được để dành lại. Đến canh cuối của đêm,
đứa bé trai của gia đình ấy thức dậy khóc lóc rằng:
- Hãy
cho con thịt.
Khi
ấy, người đàn ông ấy đã nói với người vợ điều này:
- Hãy
cho đứa bé phần chia của ngài đại đức. Sau khi mua phần
khác tôi sẽ dâng ngài.
Sau
đó vào buổi sáng, đại đức Upananda con trai dòng Sākya đã
mặc y, cầm y bát, đi đến gia đình ấy, sau khi đến đã
ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy,
người đàn ông ấy đã đi đến gặp đại đức Upananda con
trai dòng Sākya, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Upananda
con trai dòng Sākya rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi
xuống một bên, người đàn ông ấy đã nói với đại đức
Upananda con trai dòng Sākya điều này:
- Thưa
ngài, hôm qua lúc chiều tối có được miếng thịt. Trong số
đó, phần chia của ngài đại đức đã được để dành.
Thưa ngài, vào canh cuối của đêm, đứa bé trai này đã thức
dậy khóc lóc rằng: “Hãy cho con thịt.” Phần chia của ngài
đại đức đã được cho đến đứa bé. Thưa ngài, hãy để
vật gì đó được mang lại với một đồng tiền (kahāpaṇa)?[5]
- Này
đạo hữu, đồng tiền đã được ta từ bỏ.
- Thưa
ngài, đúng vậy. Đã được từ bỏ.
- Này
đạo hữu, hãy trao cho ta chính đồng tiền ấy.
Khi
ấy, người đàn ông ấy đã trao đồng tiền cho đại đức
Upananda con trai dòng Sākya rồi phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Chúng
tôi nhận lãnh tiền bạc như thế nào thì các sa-môn Thích
tử này thọ lãnh tiền bạc y như thế.
Các
tỳ khưu đã nghe được người đàn ông ấy phàn nàn, phê
phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các
vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Upananda con trai dòng Sākya lại thọ lãnh tiền
bạc?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
Upananda, nghe nói ngươi thọ lãnh tiền bạc, có đúng không
vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại thọ lãnh tiền bạc vậy?
Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của
những người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào nhận lấy hoặc bảo nhận lấy vàng bạc
hoặc ưng thuận (vàng bạc) đã được mang đến thì (vật
ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy) phạm tội pācittiya (ưng
đối trị).”
[106]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Vàng
nghĩa là màu da của bậc Đạo Sư được nói đến.
Bạc
nghĩa là đồng tiền kahāpaṇa, tiền māsaka bằng đồng, tiền
māsaka bằng gỗ, tiền māsaka bằng nhựa cánh kiến, những
vật nào dùng trong việc buôn bán.
Nhận
lấy: bản thân cầm lấy thì phạm vào nissaggiya.
Bảo
nhận lấy: bảo người khác cầm lấy thì phạm vào nissaggiya.
Hoặc
ưng thuận (vàng bạc) đã được mang đến: hoặc ưng thuận
(vàng bạc) đã được mang đến (nói rằng): “Vật này hãy
là của ngài” thì phạm vào nissaggiya, nên được xả bỏ
ở giữa hội chúng. Và này các tỳ khưu, nên được xả bỏ
như vầy: Vị tỳ khưu ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp
thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng
thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:
“Bạch các ngài, tôi đã thọ lãnh vàng bạc, vật này nên
được tôi xả bỏ. Tôi xả bỏ vật này đến hội chúng.”
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người
phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy thì nên nói
với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hãy nhận biết vật
này.” Nếu người ấy nói rằng: “Với vật này, hãy để
cho vật gì được mang lại?” Không nên nói rằng: “Hãy
mang lại vật này hoặc vật này.” Nên đề cập đến vật
được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc
đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao
đổi và đem lại vật được phép thì tất cả nên thọ dụng
trừ ra vị đã thọ lãnh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể
đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu
không thể đạt được thì nên nói với người ấy rằng:
“Này đạo hữu, hãy quăng bỏ vật này.” Nếu người ấy
quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy)
không quăng bỏ thì nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc
là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể
bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi
sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không
thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã
được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ.
Và
này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị
tỳ khưu nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm
thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đây là lời
đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ
định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc.
Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên
(như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc xin im lặng; vị nào
không đồng ý có thể nói lên.
Vị
tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là
vị quăng bỏ vàng bạc. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Vị
tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đã không làm dấu
hiệu rồi nên ném đi. Nếu sau khi đã làm dấu hiệu rồi
ném đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[107]
Vàng bạc, nhận biết là vàng bạc, vị thọ lãnh vàng bạc
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vàng
bạc, có sự hoài nghi, vị thọ lãnh vàng bạc thì phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Vàng
bạc, (lầm) tưởng không phải là vàng bạc, vị thọ lãnh
vàng bạc thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Không
phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc thì
vô tội.
[108]
Sau khi nhặt lấy hoặc bảo nhặt lấy ở trong khuôn viên tu
viện hoặc ở trong chỗ ngụ, vị giữ lại (nghĩ rằng): “Là
của ai, người ấy sẽ mang đi,” vị bị điên, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều học thứ tám.
********
ĐIỀU
HỌC THỨ CHÍN:
[109]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các tỳ khưu nhóm Lục Sư tiến hành việc trao đổi bằng
vàng bạc dưới nhiều hình thức. Dân chúng phàn nàn, phê
phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các sa-môn Thích tử lại tiến hành việc trao đổi bằng
vàng bạc dưới nhiều hình thức, giống như những kẻ tại
gia hưởng dục vậy?
Các
tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê
bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Lục Sư lại tiến hành việc trao đổi
bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi tiến hành việc trao đổi
bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tiến hành việc
trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều hình thức? Này những
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những
người đã có đức tin. …(như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ
khưu nào tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới nhiều
hình thức thì (vật ấy) nên được xả bỏ và (vị ấy)
phạm tội pācittiya (ưng đối trị).”
[110]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Dưới
nhiều hình thức nghĩa là đã được chế biến, chưa được
chế biến, đã được chế biến và chưa được chế biến.
Đã được chế biến nghĩa là làm thành vật (trang sức) ở
đầu, làm thành vật (trang sức) ở cổ, làm thành vật (trang
sức) ở tay, làm thành vật (trang sức) ở bàn chân, làm thành
vật (trang sức) ở hông. Chưa được chế biến nghĩa là việc
làm thành khối được nói đến. Đã được chế biến và
chưa được chế biến nghĩa là cả hai điều ấy.
Vàng
bạc nghĩa là có màu sắc của bậc Đạo Sư, là đồng tiền
kahāpaṇa, tiền māsaka bằng đồng, tiền māsaka bằng gỗ,
tiền māsaka bằng nhựa cánh kiến, những vật nào dùng trong
việc buôn bán.
Tiến
hành: vị trao đổi vật đã được chế biến bằng vật đã
được chế biến thì phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật
chưa được chế biến bằng vật đã được chế biến thì
phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật đã được chế biến
và chưa được chế biến bằng vật đã được chế biến
thì phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật đã được chế
biến bằng vật chưa được chế biến thì phạm vào nissaggiya.
Vị trao đổi vật chưa được chế biến bằng vật chưa được
chế biến thì phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật đã được
chế biến và chưa được chế biến bằng vật chưa được
chế biến thì phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật đã được
chế biến bằng vật đã được chế biến và chưa được
chế biến thì phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật chưa
được chế biến bằng vật đã được chế biến và chưa
được chế biến thì phạm vào nissaggiya. Vị trao đổi vật
đã được chế biến và chưa được chế biến bằng vật
đã được chế biến và chưa được chế biến thì phạm
vào nissaggiya. Nên được xả bỏ ở giữa hội chúng. Và này
các tỳ khưu, nên được xả bỏ như vầy:
Vị
tỳ khưu ấy nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một
bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi
chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch các
ngài, tôi đã tiến hành việc trao đổi bằng vàng bạc dưới
nhiều hình thức, vật này nên được tôi xả bỏ. Tôi xả
bỏ vật này đến hội chúng.”
Sau
khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi
vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người
phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy thì nên nói
với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hãy nhận biết vật
này.” Nếu người ấy nói rằng: “Với vật này, hãy để
cho vật gì được mang lại?” Không nên nói rằng: “Hãy
mang lại vật này hoặc vật này.” Nên đề cập đến vật
được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc
đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao
đổi và đem lại vật được phép thì tất cả nên thọ dụng
trừ ra vị đã thọ lãnh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể
đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu
không thể đạt được thì nên nói với người ấy rằng:
“Này đạo hữu, hãy quăng bỏ vật này.” Nếu người ấy
quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy)
không quăng bỏ thì nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc
là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể
bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi
sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không
thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã
được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ.
Và
này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, vị
tỳ khưu nên được yêu cầu; sau khi yêu cầu, hội chúng cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm
thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định vị tỳ
khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc. Đây là lời
đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ
định vị tỳ khưu tên (như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc.
Đại đức nào đồng ý việc chỉ định vị tỳ khưu tên
(như vầy) là vị quăng bỏ vàng bạc xin im lặng; vị nào
không đồng ý có thể nói lên.
Vị
tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định là
vị quăng bỏ vàng bạc. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
Vị
tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đã không làm dấu
hiệu rồi nên ném đi. Nếu sau khi đã làm dấu hiệu rồi
ném đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[111]
Vàng bạc, nhận biết là vàng bạc, vị trao đổi vàng bạc
thì phạm tội nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị).
Vàng
bạc, có sự hoài nghi, vị trao đổi vàng bạc thì phạm tội
nissaggiya pācittiya.
Vàng
bạc, (lầm) tưởng không phải là vàng bạc, vị trao đổi
vàng bạc thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, vị trao đổi
vàng bạc thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, vị trao đổi vàng bạc
thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là vàng bạc, nhận biết không phải là vàng bạc, vị
trao đổi vàng bạc thì phạm tội nissaggiya pācittiya.
Không
phải là vàng bạc, (lầm) tưởng là vàng bạc, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Không
phải là vàng bạc, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác
ác).