VI.
CHƯƠNG ANIYATA (BẤT ĐỊNH)
Bạch
chư đại đức, hai điều aniyata (bất định) này được đưa
ra đọc tụng.
ĐIỀU
ANIYATA (BẤT ĐỊNH) THỨ NHẤT:
[633]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình
và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthi. Vào lúc bấy
giờ, người con gái của gia đình hộ độ đại đức Udāyi
đã được gả cho người con trai của gia đình nọ. Khi ấy
vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, đi
đến gia đình ấy, sau khi đến đã hỏi mọi người rằng:
- Cô
gái tên (như vầy) ở đâu?
Những
người ấy đã nói như vầy:
- Thưa
ngài, cô ấy đã được gả cho người con trai của gia đình
kia rồi.
Và
gia đình ấy cũng là người hộ độ của đại đức Udāyi.
Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gia đình ấy, sau khi
đến đã hỏi mọi người rằng:
- Cô
gái tên (như vầy) ở đâu?
- Thưa
ngài, cô ấy ngồi ở phòng trong.
Khi
ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người con gái ấy,
sau khi đến đã cùng với người con gái ấy một nam một
nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận
tiện cho hành động, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói
Pháp. [1]
[634]
Vào lúc bấy giờ, bà Visākhā mẹ của Migāra có nhiều con
trai, có nhiều cháu trai,[2] có các con trai không bệnh tật,
có các cháu trai không bệnh tật, được xem là điều đại
kiết tường. Trong những dịp tế lễ, hội hè, đình đám,
dân chúng thường ưu tiên thỉnh mời bà Visākhā mẹ của
Migāra đến dự tiệc. Khi ấy, bà Visākhā mẹ của Migāra
được gia đình ấy thỉnh mời đã đi đến. Rồi bà Visākhā
mẹ của Migāra đã nhìn thấy đại đức Udāyi cùng với người
con gái ấy một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo,
được che khuất, thuận tiện cho hành động, sau khi nhìn thấy
đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn.
Là việc ngài đại đức cùng với người nữ một nam một
nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận
tiện cho hành động. Thưa ngài, mặc dầu ngài đại đức
không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những người
không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.
Tuy
được bà Visākhā mẹ của Migāra nói như thế, đại đức
Udāyi đã không lưu tâm đến. Sau đó, bà Visākhā mẹ của
Migāra đã ra về và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ
khưu.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại cùng với người nữ một nam một
nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận
tiện cho hành động?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi cùng với người nữ một nam một nữ
ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện
cho hành động, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, … (như
trên) … Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với người
nữ một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo, được
che khuất, thuận tiện cho hành động vậy? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào cùng
với người nữ một nam một nữ ngồi ở chỗ ngồi kín đáo,
được che khuất, thuận tiện cho hành động, có nữ cư sĩ
có lời nói đáng tin cậy sau khi thấy rồi tố cáo vị ấy
với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika
(bất cộng trụ), hoặc là với tội saṅghādisesa (tăng tàng),
hoặc là với tội pācittiya (ưng đối trị). (Nếu) vị tỳ
khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử với một
tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika, hoặc
là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya; hoặc
là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo với tội
nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy. Đây là
điều aniyata (bất định).”
[635]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Người
nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không
phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái
mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.
Với:
cùng chung.
Một
nam một nữ: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.
Kín
đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với
tai.
Kín
đáo đối với mắt nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi
bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu
lên.
Kín
đáo đối với tai nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng)
bình thường.
Chỗ
ngồi được che khuất nghĩa là được che khuất bởi bức
tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc bởi tấm màn, hoặc bởi
khung chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc bởi cột nhà, hoặc
bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật gì.
Thuận
tiện cho hành động: là có thể thực hiện việc đôi lứa.
Ngồi:
Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc
nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi
gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai
đang nằm.
[636]
Có lời nói đáng tin cậy nghĩa là người nữ đã chứng Thánh
Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế (abhisametāvinī), đã hiểu
rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ (viññātasāsanā).[3]
Nữ
cư sĩ nghĩa là người nữ đã quy y đức Phật, đã quy y đức
Pháp, đã quy y đức Tăng.
Sau
khi thấy: sau khi đã nhìn thấy.
[637]
(Cô ấy) có thể tố cáo với một tội nào đó trong ba tội:
hoặc là với tội pārājika, hoặc là với tội saṅghādisesa
(tăng tàng), hoặc là với tội pācittiya (ưng đối trị). (Nếu)
vị tỳ khưu thú nhận việc ngồi thì nên được hành xử
với một tội nào đó trong ba tội: hoặc là với tội pārājika,
hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với tội pācittiya;
hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy ấy tố cáo
với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy theo tội ấy.
[638]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội
vi phạm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã ngồi nhưng
tôi đã không thực hiện việc đôi lứa” thì nên hành xử
theo việc ngồi.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không ngồi nhưng đã
nằm” thì nên hành xử theo việc nằm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không ngồi nhưng đã
đứng” thì không nên hành xử.
[639]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo tội
vi phạm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã nằm nhưng
tôi đã không thực hiện việc đôi lứa” thì nên hành xử
theo việc nằm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không nằm nhưng đã
ngồi” thì nên hành xử theo việc ngồi.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc đôi lứa với người nữ,”
nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không nằm nhưng đã
đứng” thì không nên hành xử.
[640]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với
người nữ,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành
xử theo tội vi phạm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với
người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi
đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ
thể” thì nên hành xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành
xử theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[641]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người
nữ,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử
theo tội vi phạm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người
nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi đã
nằm nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ thể”
thì nên hành xử theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành
xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[642]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
cùng với người nữ một nam một nữ đã ngồi ở chỗ ngồi
kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động,”
nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc
ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành
xử theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[643]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
cùng với người nữ một nam một nữ đã nằm xuống ở chỗ
ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động,”
nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử theo việc
nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành
xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[644]
Tội aniyata (bất định): không chắc chắn là tội pārājika
(bất cộng trụ), hay là tội saṅghādisesa (tăng tàng), hay
là tội pācittiya (ưng đối trị).
[645]
Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống,
thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống,
thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không
thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi.
Vị
thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống,
không thú nhận tội thì không nên hành xử.
Vị
không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống,
thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi
xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống,
không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi.
Vị
không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi
xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.
Dứt
điều aniyata (bất định) thứ nhất.
*******
ĐIỀU
ANIYATA (BẤT ĐỊNH) THỨ NHÌ:
[646]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
đại đức Udāyi (nghĩ rằng): “Đức Thế Tôn đã cấm đoán
việc cùng với người nữ một nam một nữ ngồi ở chỗ
ngồi kín đáo, được che khuất, thuận tiện cho hành động”
nên đã cùng với chính người con gái ấy một nam một nữ
ngồi ở nơi kín đáo, tùy lúc thì tâm sự, tùy lúc thì nói
Pháp.
Đến
lần thứ nhì, bà Visākhā mẹ của Migāra được gia đình
ấy thỉnh mời đã đi đến. Rồi bà Visākhā mẹ của Migāra
đã nhìn thấy đại đức Udāyi cùng với chính người con
gái ấy một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo, sau khi nhìn
thấy đã nói với đại đức Udāyi điều này:
- Thưa
ngài, điều này là không thích hợp, là không đúng đắn.
Là việc ngài đại đức cùng với người nữ một nam một
nữ ngồi ở nơi kín đáo. Thưa ngài, mặc dầu ngài đại
đức không có ước muốn gì đến chuyện ấy, tuy nhiên những
người không có niềm tin thì khó mà thuyết phục lắm.
Tuy
được bà Visākhā mẹ của Migāra nói như thế, đại đức
Udāyi đã không lưu tâm đến. Sau đó, bà Visākhā mẹ của
Migāra đã ra về và đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ
khưu.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao đại đức Udāyi lại cùng với người nữ một nam một
nữ ngồi ở nơi kín đáo?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. ...(như trên)...
- Này
Udāyi, nghe nói ngươi cùng với người nữ một nam một nữ
ngồi ở nơi kín đáo, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- …
(như trên) … Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cùng với
người nữ một nam một nữ ngồi ở nơi kín đáo vậy? Này
kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những
kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu,
các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Hơn nữa,
khi chỗ ngồi là không được che khuất, không thuận tiện
cho hành động, nhưng thích hợp để nói với người nữ bằng
những lời dâm dục. Vị tỳ khưu nào ở chỗ ngồi có hình
thức như thế cùng với người nữ một nam một nữ ngồi
ở nơi kín đáo, có nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy sau
khi thấy rồi tố cáo vị ấy với một tội nào đó trong
hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa (tăng tàng), hoặc
là với tội pācittiya (ưng đối trị). (Nếu) vị tỳ khưu
thú nhận việc ngồi thì nên hành xử với một tội nào đó
trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với
tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy
ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy
theo tội ấy. Đây cũng là điều aniyata (bất định).”
[647]
Hơn nữa, khi chỗ ngồi là không được che khuất: là không
được che khuất bởi bức tường, hoặc bởi cánh cửa, hoặc
bởi tấm màn, hoặc bởi khung chắn, hoặc bởi cội cây, hoặc
bởi cột nhà, hoặc bởi nhà kho, hoặc bởi bất cứ vật
gì.
Không
thuận tiện cho hành động: là không thể thực hiện việc
đôi lứa.
Nhưng
thích hợp để thốt ra với người nữ bằng những lời dâm
dục: là có thể nói với người nữ bằng những lời dâm
dục
[648]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Ở
chỗ ngồi có hình thức như thế: ở chỗ ngồi y như thế
ấy.
Người
nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không
phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả
năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật
và không dâm dật.
Với:
cùng chung.
Một
nam một nữ: chỉ có vị tỳ khưu và người nữ.
Kín
đáo: nghĩa là kín đáo đối với mắt, kín đáo đối với
tai.
Kín
đáo đối với mắt nghĩa là không thể nhìn thấy trong khi
bị che mắt lại, trong khi nhướng mày, trong khi ngẩng đầu
lên.
Kín
đáo đối với tai nghĩa là không thể nghe lời nói (với giọng)
bình thường.
Ngồi:
Khi người nữ đang ngồi thì vị tỳ khưu ngồi gần hoặc
nằm gần, khi vị tỳ khưu đang ngồi thì người nữ ngồi
gần hoặc nằm gần, hoặc cả hai đang ngồi, hoặc cả hai
đang nằm.
[649]
Có lời nói đáng tin cậy: nghĩa là người nữ đã chứng
Thánh Quả, đã thông suốt Tứ Diệu Đế (abhisametāvinī),
đã hiểu rõ Tam Học: Giới, Định, Tuệ (viññātasāsanā).
Nữ
cư sĩ nghĩa là người nữ đã quy y đức Phật, đã quy y đức
Pháp, đã quy y đức Tăng.
Sau
khi thấy: sau khi đã nhìn thấy.
[650]
(Cô ấy) có thể tố cáo với một tội nào đó trong hai tội:
hoặc là với tội saṅghādisesa (tăng tàng), hoặc là với
tội pācittiya (ưng đối trị), (nếu) vị tỳ khưu thú nhận
việc ngồi thì nên được hành xử với một tội nào đó
trong hai tội: hoặc là với tội saṅghādisesa, hoặc là với
tội pācittiya; hoặc là nữ cư sĩ có lời nói đáng tin cậy
ấy tố cáo với tội nào thì nên hành xử vị tỳ khưu ấy
theo tội ấy.
[651]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với
người nữ,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành
xử theo tội vi phạm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với
người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là tôi
đã ngồi nhưng tôi đã không thực hiện việc xúc chạm cơ
thể” thì nên hành xử theo việc ngồi.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với
người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không
ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành xử theo việc nằm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã ngồi và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với
người nữ,” nếu vị ấy nói như vầy: “Tôi đã không
ngồi nhưng đã đứng” thì không nên hành xử.
[652]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
đã nằm và đang thực hiện việc xúc chạm cơ thể với người
nữ,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử
theo tội vi phạm.
...(như
trên)... “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không thực
hiện việc xúc chạm cơ thể” thì nên hành xử theo việc
nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành
xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[653]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng
ngài đại đức đã ngồi và đang nói với người nữ bằng
những lời dâm dục,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì
nên hành xử theo tội vi phạm.
Nếu
cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng ngài
đại đức đã ngồi và đang nói với người nữ bằng những
lời dâm dục,” nếu vị ấy nói như vầy: “Sự thật là
tôi đã ngồi nhưng tôi đã không nói với người nữ bằng
những lời dâm dục” thì nên hành xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành
xử theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[654]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã nghe được rằng
ngài đại đức đã nằm và đang nói với người nữ bằng
những lời dâm dục,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì
nên hành xử theo tội vi phạm.
...(như
trên)... “Sự thật là tôi đã nằm nhưng tôi đã không nói
bằng những lời dâm dục” thì nên hành xử theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành
xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[655]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
cùng với người nữ một nam một nữ đã ngồi ở chỗ kín
đáo,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử
theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã nằm” thì nên hành
xử theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không ngồi nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[656]
Nếu cô ấy tố cáo như vầy: “Tôi đã thấy ngài đại đức
cùng với người nữ một nam một nữ đã nằm ở chỗ kín
đáo,” nếu vị ấy thú nhận điều ấy thì nên hành xử
theo việc nằm.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã ngồi” thì nên hành
xử theo việc ngồi.
...(như
trên)... “Tôi đã không nằm nhưng đã đứng” thì không
nên hành xử.
[657]
Đây cũng là: được gọi như thế vì có liên quan đến điều
trước.
Tội
aniyata (bất định): không chắc chắn là tội saṅghādisesa
(tăng tàng), hay là tội pācittiya (ưng đối trị).
[658]
Vị thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống,
thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống,
thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống, không
thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi.
Vị
thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi xuống,
không thú nhận tội thì không nên hành xử.
Vị
không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống,
thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi
xuống, thú nhận tội thì nên hành xử theo tội vi phạm.
Vị
không thú nhận việc đi đến, thú nhận việc ngồi xuống,
không thú nhận tội thì nên hành xử theo việc ngồi.
Vị
không thú nhận việc đi đến, không thú nhận việc ngồi
xuống, không thú nhận tội thì không nên hành xử.
Dứt
điều aniyata (bất định) thứ nhì.
*******
[659]
Bạch chư đại đức, hai điều aniyata (bất định) đã được
đọc tụng xong. Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức
rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề
này?
Đến
lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh
tịnh trong vấn đề này?
Đến
lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh
tịnh trong vấn đề này?
Các
đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận
sự việc này là như vậy.
Dứt
Chương Aniyata (Bất Định).
*******
Tóm
lược chương này:
Thuận
tiện cho hành động,
như
thế, không như thế,
đức
Phật khéo xếp đặt
điều
bất định như thế.
*******
[1]
Xem xét khi nào không có ai qua lại thì hỏi han chuyện gia đình:
“Chắc là cô hạnh phúc? Chắc là cô không bị mệt nhọc?
Chắc là cô không bị đói?” v.v... Khi nào có ai đi lại gần
thì nói Pháp: “Nên thọ bát quan trai giới. Nên dâng thức
ăn theo thẻ.” v.v... (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).
[2]
Bà có 10 người con trai và 10 người con gái. Mỗi người con
trai hoặc gái có 20 người con. Tổng cọng bà có 420 người
con cháu cả thảy (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).
[3]
Hai từ trong ngoặc đơn được ghi nghĩa theo lời giải thích
của ngài Buddhaghosa.