V.
CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) (tt)
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ CHÍN
[566]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các
tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka trong lúc đang đi xuống từ
núi Gijjhakūṭa đã nhìn thấy con dê đực đang tình tự với
con dê cái, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, giờ chúng ta đặt tên con dê đực này là
Dabba Mallaputta và đặt tên con dê cái này là tỳ khưu ni Mettiyā,
rồi chúng ta sẽ phát biểu như vầy: “Này các đại đức,
trước đây chúng tôi nói về Dabba Mallaputta do đã được
nghe; bây giờ chúng tôi đã thấy được đương sự đang tình
tự với tỳ khưu ni Mettiyā.” Các vị ấy đã đặt tên con
dê đực ấy là Dabba Mallaputta và đã đặt tên con dê cái
ấy là tỳ khưu ni Mettiyā. Các vị ấy đã kể lại cho các
tỳ khưu rằng:
- Này
các đại đức, trước đây chúng tôi nói về Dabba Mallaputta
do đã được nghe; bây giờ chúng tôi đã thấy được đương
sự đang tình tự với tỳ khưu ni Mettiyā.
Các
tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, chớ có nói như thế. Đại đức Dabba Mallaputta
sẽ không làm như thế.
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại
đức Dabba Mallaputta rằng:
- Này
Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã hành động giống như
điều các tỳ khưu này vừa nói không?
- Bạch
ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết rõ mà.
Đến
lần thứ nhì, đức Thế Tôn ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, đức Thế Tôn đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta
rằng:
- Này
Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã hành động giống như
điều các tỳ khưu này vừa nói không?
- Bạch
ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết rõ mà.
- Này
Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu
ngươi có làm, hãy nói: “Có làm;” nếu ngươi không làm,
hãy nói: “Không làm.”
- Bạch
ngài, từ khi con được sanh ra, con không bao giờ thấy mình
là kẻ tầm cầu việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ,
huống gì là tỉnh thức.
Sau
đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, như vậy thì các ngươi hãy tra hỏi các tỳ
khưu này.
Nói
xong điều ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy
đi vào trú xá.
Sau
đó, các tỳ khưu ấy đã tra hỏi các vị tỳ khưu nhóm Mettiya
và Bhummajaka. Trong khi bị tra hỏi bởi các tỳ khưu ấy, các
vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.
- Này
các đại đức, có phải các vị nắm lấy sự kiện nhỏ
nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt
rồi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika?
- Này
các đại đức, đúng vậy.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại nắm lấy sự
kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan
hệ khác biệt rồi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về
tội pārājika?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. …(như trên)…
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các ngươi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt
nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi
bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại nắm lấy sự kiện
nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác
biệt rồi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika vậy? Này
những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin
cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các
tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:
“Vị tỳ khưu nào xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu
(khác) rồi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về
cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt và bôi nhọ về tội
pārājika (nghĩ rằng): ‘Chắc là ta có thể loại vị ấy
ra khỏi Phạm hạnh này.’ Sau đó vào lúc khác, dầu được
hỏi hay không được hỏi, và cuộc tranh tụng ấy là có quan
hệ khác biệt hẳn, sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã được
nắm lấy, và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm (cũng)
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”
[567]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Vị
tỳ khưu: là vị tỳ khưu khác.
Xấu
xa, sân hận: bị nổi giận, không được hài lòng, không được
thỏa mãn, có tâm giận dữ, sanh khởi lòng cay cú.
Bất
bình: là bị bất bình do sự nổi giận ấy, do sự sân hận
ấy, do sự không được hài lòng ấy, do sự không được
thỏa mãn ấy.
[568]
Thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt: hoặc là
có quan hệ khác biệt về tội hoặc là có quan hệ khác biệt
về tranh tụng.
[569]
Thế nào là cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt (aññabhāgiyaṃ)
đối với cuộc tranh tụng? Cuộc tranh tụng liên quan đến
tranh cãi là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng
liên quan đến khiển trách, đối với cuộc tranh tụng liên
quan đến tội, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm
vụ. Cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách là có quan
hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội,
đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, đối
với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cuộc tranh tụng
liên quan đến tội là có quan hệ khác biệt đối với cuộc
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, đối với cuộc tranh
tụng liên quan đến tranh cãi, đối với cuộc tranh tụng liên
quan đến khiển trách. Cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm
vụ là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên
quan đến tranh cãi, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến
khiển trách, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.
Như thế là cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt đối với
cuộc tranh tụng.
[570]
Thế nào là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ (tabbhāgiyaṃ)
đối với cuộc tranh tụng? Cuộc tranh tụng liên quan đến
tranh cãi là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên
quan đến tranh cãi. Cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách
là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến
khiển trách. Cuộc tranh tụng liên quan đến tội có thể là
có cùng quan hệ, có thể là có quan hệ khác biệt đối với
cuộc tranh tụng liên quan đến tội.
Thế
nào là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có quan hệ khác
biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội? Tội
pārājika về việc đôi lứa là có quan hệ khác biệt đối
với tội pārājika về trộm cắp, đối với tội pārājika
về giết người, đối với tội pārājika về pháp thượng
nhân. Tội pārājika về trộm cắp là có quan hệ khác biệt
đối với tội pārājika về giết người, đối với tội
pārājika về pháp thượng nhân, đối với tội pārājika về
việc đôi lứa. Tội pārājika về giết người là có quan
hệ khác biệt đối với tội pārājika về pháp thượng nhân,
đối với tội pārājika về việc đôi lứa, đối với tội
pārājika về trộm cắp. Tội pārājika về pháp thượng nhân
là có quan hệ khác biệt đối với tội pārājika về việc
đôi lứa, đối với tội pārājika về trộm cắp, đối với
tội pārājika về giết người. Như thế là cuộc tranh tụng
liên quan đến tội có quan hệ khác biệt đối với cuộc
tranh tụng liên quan đến tội.
Thế
nào là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có cùng quan hệ
đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội? Tội pārājika
về việc đôi lứa là có cùng quan hệ đối với tội pārājika
về việc đôi lứa. Tội pārājika về trộm cắp là có cùng
quan hệ đối với tội pārājika về trộm cắp. Tội pārājika
về giết người là có cùng quan hệ đối với tội pārājika
về giết người. Tội pārājika về pháp thượng nhân là có
cùng quan hệ đối với tội pārājika về pháp thượng nhân.
Như thế là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có cùng quan
hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.
Cuộc
tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là có cùng quan hệ đối
với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.
Như
thế là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ đối với cuộc tranh
tụng.
[571]
Nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó: điều nhỏ nhặt nghĩa
là có mười điều nhỏ nhặt: điều nhỏ nhặt về sự xuất
thân, điều nhỏ nhặt về tên gọi, điều nhỏ nhặt về
dòng họ, điều nhỏ nhặt về đặc điểm, điều nhỏ nhặt
về tội vi phạm, điều nhỏ nhặt về bình bát, điều nhỏ
nhặt về y phục, điều nhỏ nhặt về thầy tế độ, điều
nhỏ nhặt về thầy dạy học, điều nhỏ nhặt về chỗ trú
ngụ.
[572]
Điều nhỏ nhặt về sự xuất thân nghĩa là có vị (xuất
thân) sát-đế-lỵ (khattiya) được thấy đang phạm tội pārājika,
rồi khi nhìn thấy vị (xuất thân) sát-đế-lỵ khác lại
buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) sát-đế-lỵ
phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là
sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn
lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng
nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời
nói.
Có
vị (xuất thân) bà-la-môn được thấy ...(như trên)... Có
vị (xuất thân) thương buôn được thấy ...(như trên)... Có
vị (xuất thân) hạng cùng đinh được thấy đang phạm tội
pārājika rồi khi nhìn thấy vị (xuất thân) hạng cùng đinh
khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) cùng
đinh phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải
là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ...(như trên)...,
hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
[573]
Điều nhỏ nhặt về tên gọi nghĩa là có vị (tên) Buddharakkhita
được thấy ...(như trên)... Có vị (tên) Dhammarakkhita được
thấy ...(như trên)... Có vị (tên) Saṅgharakkhita được thấy
đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị (tên) Saṅgharakkhita
khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (tên) Saṅgharakkhita
phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là
sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ...(như trên)..., hay
là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
[574]
Điều nhỏ nhặt về dòng họ nghĩa là có vị (họ) Gotama
được thấy ...(như trên)... Có vị (họ) Moggallāna được
thấy ...(như trên)... Có vị (họ) Kaccāyana được thấy ...(như
trên)... Có vị (họ) Vāsiṭṭha được thấy đang phạm tội
pārājika rồi khi nhìn thấy vị (họ) Vāsiṭṭha khác lại
buộc tội rằng: “Ngươi là vị (họ) Vāsiṭṭha phạm tội
pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi
không phải là Thích tử, ...(như trên)..., hay là hành sự của
hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo
từng lời nói.
[575]
Điều nhỏ nhặt về đặc điểm nghĩa là có vị cao được
thấy ...(như trên)... Có vị lùn được thấy ...(như trên)...
Có vị đen được thấy ...(như trên)... Có vị trắng được
thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị trắng
khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị trắng phạm tội
pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi
không phải là Thích tử, ...(như trên)..., hay là hành sự của
hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo
từng lời nói.
[576]
Điều nhỏ nhặt về tội vi phạm nghĩa là có vị đang vi
phạm tội nhẹ được thấy rồi buộc tội vị ấy về tội
pārājika rằng: “Ngươi phạm tội pārājika đã bị ta thấy,
ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử,
...(như trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa” thì
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.
[577]
Điều nhỏ nhặt về bình bát nghĩa là có vị mang bình bát
đồng được thấy ...(như trên)... Có vị mang bình bát đất
được thấy ...(như trên)... Có vị mang bình bát tráng men
(sāṭakapatta) được thấy ...(như trên)... Có vị mang bình
bát đất loại bình thường (sumbhakapatta) được thấy đang
phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị khác (cũng) mang
bình bát đất loại bình thường lại buộc tội rằng: “Ngươi
là vị mang bình bát đất loại bình thường phạm tội pārājika
đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không
phải là Thích tử, ...(như trên)..., hay là hành sự của hội
chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng
lời nói.
[578]
Điều nhỏ nhặt về y phục nghĩa là có vị mặc y paṃsukūla
được thấy ...(như trên)... Có vị mặc y của gia chủ được
thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị khác
(cũng) mặc y của gia chủ lại buộc tội rằng: “Ngươi là
vị mặc y của gia chủ phạm tội pārājika đã bị ta thấy,
ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử,
...(như trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa” thì
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.
[579]
Điều nhỏ nhặt về thầy tế độ nghĩa là có người đệ
tử của vị tên (như vầy) được thấy đang phạm tội pārājika
rồi khi nhìn thấy người đệ tử khác của vị tên (như
vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là người đệ tử của
vị tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi
không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ...(như
trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.
[580]
Điều nhỏ nhặt về thầy dạy học nghĩa là có người học
trò của vị tên (như vầy) được thấy đang phạm tội pārājika
rồi khi nhìn thấy người học trò khác của vị tên (như
vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là người học trò của
vị tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi
không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, ...(như
trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.
[581]
Điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ nghĩa là có vị ngụ ở
chỗ trú ngụ tên (như vầy) được thấy đang phạm tội pārājika
rồi khi nhìn thấy vị khác (cũng) ngụ ở chỗ trú ngụ tên
(như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị ngụ ở chỗ
trú ngụ tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy,
ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử,
với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành
sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng
tàng) theo từng lời nói.
[582]
Về tội pārājika: về bất cứ điều nào thuộc về bốn
điều.
Bôi
nhọ: hoặc là buộc tội, hoặc là cho người buộc tội.
Chắc
là ta có thể loại trừ vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này: Ta
có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi trạng thái tỳ khưu,
ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi pháp sa-môn, ta có thể
loại trừ (vị ấy) ra khỏi giới uẩn, ta có thể loại trừ
(vị ấy) ra khỏi đức tính khắc khổ.
[583]
Sau đó vào lúc khác: đã bôi nhọ trong giây phút nào thì trải
qua vào giây phút ấy, vào khoảng thời gian ấy, vào thời
điểm ấy.
Được
hỏi: đã bôi nhọ với sự việc nào thì được hỏi về
sự việc ấy.
Không
được hỏi: không được bất cứ ai đề cập đến.
[584]
Sự tranh tụng nghĩa là có bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng
liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển
trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên
quan đến nhiệm vụ.
[585]
Sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã được nắm lấy: điều nhỏ
nhặt nào đó trong mười điều nhỏ nhặt ấy đã được
nắm lấy.
[586]
Và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm: Tôi đã nói
điều rỗng không, tôi đã nói điều dối trá, tôi đã nói
điều không thật, tôi đã nói điều tôi không biết.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[587]
Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên
(cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị ấy với tội
pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, ngươi
không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha,
lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như
vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt
đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
Vị
tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya (trọng
tội) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị
ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là
sa-môn, ...(như trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa.”
Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ
nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
Vị
tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội pācittiya (ưng đối
trị) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị
ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là
sa-môn, ...(như trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa.”
Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ
nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
Vị
tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. ...(như trên)...
có sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội
saṅghādisesa. ...(như trên)... có sự ghi nhận là tội dubbhāsita
(ác khẩu) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội
vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải
là sa-môn, ...(như trên)..., hay là hành sự của hội chúng
nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều
nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
[588]
Vị tỳ khưu đang phạm tội thullaccaya (trọng tội) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên
(cơ sở) tội thullaccaya. ...(như trên)... có sự ghi nhận là
tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở) tội thullaccaya.
...(như trên)... có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ) trên (cơ sở) tội thullaccaya. ...(như trên)... có
sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội thullaccaya.
...(như trên)... có sự ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu)
trên (cơ sở) tội thullaccaya. ...(như trên)... có sự ghi nhận
là tội saṅghādisesa (tăng tàng) trên (cơ sở) tội thullaccaya,
nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi
không phải là sa-môn...(như trên)..., hay là hành sự của hội
chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và
điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.
Vị
tỳ khưu đang phạm tội pācittiya (ưng đối trị) đã được
thấy ...(như trên)... Vị tỳ khưu đang phạm tội pāṭidesanīya
(ưng phát lộ) đã được thấy ...(như trên)... Vị tỳ khưu
đang phạm tội dukkaṭa (tác ác) đã được thấy ...(như trên)...
Vị tỳ khưu đang phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) đã được
thấy ...(như trên)... và có sự ghi nhận là tội dubbhāsita
trên (cơ sở) tội dubbhāsita. ...(như trên)... và có sự ghi
nhận là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội dubbhāsita. ...(như
trên)... và có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên (cơ sở)
tội dubbhāsita. ...(như trên)... và có sự ghi nhận là tội
pācittiya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. ...(như trên)... và có
sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya trên (cơ sở) tội dubbhāsita.
...(như trên)... và có sự ghi nhận là tội dukkaṭa trên (cơ
sở) tội dubbhāsita, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika
(nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, ...(như trên)...,
hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan
hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm
lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng
lời nói.
Sau
khi đã thực hiện theo mỗi một nhân tố, sự xoay vòng nên
được thành lập.
[589]
Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên
(cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu cho người buộc tội vị
ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là
sa-môn, ...(như trên)..., hay là hành sự của hội chúng nữa.”
Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ
nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng) theo từng lời nói.
Vị
tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya (trọng
tội) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. ...(như trên)... và có
sự ghi nhận là tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở)
tội saṅghādisesa. ...(như trên)... và có sự ghi nhận là tội
pāṭidesanīya (ưng phát lộ) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa.
...(như trên)... và có sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác)
trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. ...(như trên)... và có sự
ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa,
nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói
rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, ...(như trên)..., hay
là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ
khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy;
(nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời
nói.
[590]
Vị tỳ khưu đang phạm tội thullaccaya (trọng tội) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên
(cơ sở) tội thullaccaya. ...(như trên)... có sự ghi nhận là
tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở) tội thullaccaya.
...(như trên)... có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng
phát lộ) trên (cơ sở) tội thullaccaya. ...(như trên)... có
sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội thullaccaya.
...(như trên)... có sự ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu)
trên (cơ sở) tội thullaccaya. ...(như trên)... có sự ghi nhận
là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội thullaccaya, nếu cho
người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi
không phải là sa-môn...(như trên)..., hay là hành sự của hội
chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và
điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội
saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.
Vị
tỳ khưu đang phạm tội pācittiya (ưng đối trị) đã được
thấy ...(như trên)... Vị tỳ khưu đang phạm tội pāṭidesanīya
(ưng phát lộ) đã được thấy ...(như trên)... Vị tỳ khưu
đang phạm tội dukkaṭa (tác ác) đã được thấy ...(như trên)...
Vị tỳ khưu đang phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) đã được
thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội dubbhāsita trên
(cơ sở) tội dubbhāsita. ...(như trên)... có sự ghi nhận là
tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội dubbhāsita. ...(như trên)...
có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên (cơ sở) tội dubbhāsita.
...(như trên)... có sự ghi nhận là tội pācittiya trên (cơ
sở) tội dubbhāsita. ...(như trên)... có sự ghi nhận là tội
pāṭidesanīya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. ...(như trên)...
có sự ghi nhận là tội dukkaṭa trên (cơ sở) tội dubbhāsita,
nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói
rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là
Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā,
hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan
hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm
lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng
lời nói.
[591]
Vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội theo như
sự nhận biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì
vô tội.
Dứt
điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ chín.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI:
[592]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Vel,uvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta
đã đi đến gặp Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī,
và Samuddadatto; đến rồi đã nói với Kokālika, Kaṭamorakatissaka
con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto điều này:
- Này
các đại đức, hãy đi. Chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ
hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền
lãnh đạo.
Khi
được nói như thế, Kokālika đã nói với Devadatta điều này:
- Này
đại đức, Sa-môn Gotama thật sự có đại thần lực, có
đại oai lực. Làm thế nào chúng ta sẽ tiến hành việc chia
rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền
lãnh đạo được?
- Này
các đại đức, hãy đi. Chúng ta sẽ đi đến gặp Sa-môn Gotama
và yêu cầu năm sự việc: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là
người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự
đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự
ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây
là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết
đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm
thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch
ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng
cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy
phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị
nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến
trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ,
vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho
đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi
đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không
ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.”
Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm sự việc này. Và chúng
ta đây sẽ công bố cho dân chúng biết về năm sự việc này.
- Này
đại đức, với năm sự việc này thì có thể tiến hành
việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân
chia quyền lãnh đạo. Này đại đức, bởi vì dân chúng có
niềm tin với khổ hạnh.
[593]
Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Devadatta đã nói
với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn,
sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ,
sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức.
Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn,
sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ,
sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức.
Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở
rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị
ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực;
vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho
đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng
bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội.
Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào
đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời
không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.
- Này
Devadatta, thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống
ở rừng; vị nào muốn thì cứ cư ngụ ở trong làng. Vị
nào muốn thì hãy trở thành vị khất thực; vị nào muốn
thì cứ hoan hỷ việc thỉnh mời. Vị nào muốn thì hãy là
vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ; vị nào muốn thì
cứ hoan hỷ y của gia chủ. Này Devadatta, ta cho phép chỗ trú
ngụ là gốc cây trong tám tháng. Cá thịt là thanh tịnh với
ba điều kiện là: “Không thấy, không nghe, và không nghi ngờ.”
[594]
Khi ấy, Devadatta (biết rằng): “Đức Thế Tôn không cho phép
năm sự việc này,” nên mừng rỡ, phấn chấn cùng phe cánh
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng
vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau
đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi vào thành Rājagaha công bố
cho dân chúng biết về năm sự việc:
- Này
các đạo hữu, chúng tôi đã đi đến gặp Sa-môn Gotama và
đã yêu cầu năm sự việc: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là
người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự
đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự
ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây
là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết
đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm
thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch
ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng
cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy
phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị
nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến
trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ,
vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho
đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi
đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không
ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.”
Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi
sẽ thọ trì và thực hành năm sự việc này.
[595]
Ở nơi ấy, những người nào không có đức tin, không mộ
đạo, kém sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy:
- Các
sa-môn Thích tử này đúng là có sự từ bỏ, có sở hành
đoạn trừ; còn Sa-môn Gotama là kẻ xa hoa nên nghĩ đến việc
xa hoa.
Còn
những người nào có đức tin, mộ đạo, sáng suốt, những
người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Tại
sao Devadatta lại ra sức việc chia rẽ hội chúng của đức
Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?
Các
tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán,
chê
bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy
phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức Thế
Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi Devadatta
rằng:
- Này
Devadatta, nghe nói ngươi ra sức chia rẽ hội chúng, tức là
việc phân chia quyền lãnh đạo, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)... Này kẻ
rồ dại, vì sao ngươi lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức
là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy? Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên
phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào ra
sức chia rẽ hội chúng hợp nhất hoặc nắm lấy cuộc tranh
tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Vị
tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại
đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm
lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền,
chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội
chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên
tắc [1] thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỳ
khưu nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như
thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở
đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc
nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc
này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).”
[596]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Hội
chúng hợp nhất nghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết
lập trong cùng ranh giới (sīmā).
Ra
sức chia rẽ: vị (nghĩ rằng): “Làm thế nào để những
người này trở thành khác biệt, trở thành tách biệt, trở
thành phe nhóm?” rồi tầm cầu phe cánh, kết hợp nhóm bọn.
Hoặc
là cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ: là mười tám sự việc
làm chia rẽ.[2]
Nắm
lấy: là chọn lấy.
Loan
truyền: là khơi lên.
Chấp
giữ: là không chịu từ bỏ.
[597]
Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu chia rẽ hội chúng.
Bởi
các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy,
các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức
chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy
cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp
giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng
hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc,
thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ
nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt
bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe mà không
nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
tỳ khưu ấy nên được kéo[3] đến giữa hội chúng rồi
nên được nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ
hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa
đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy
hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện,
không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.”
Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần
thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt
đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[598]
Vị tỳ khưu ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu,
nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông
báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy
không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp
cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như
vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy
không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ
khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức
nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để
dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý
có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy)
ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ
sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như
vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý
việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ
sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói
lên.
Vị
tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để
dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[599]
Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya
(trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi).
Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).[4] Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì
tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai
lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[600]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm
tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không
dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[601]
Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên,[5]
vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI MỘT:
[602]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha,
Vel,uvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta
ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh
đạo. Các tỳ khưu đã nói như vầy:
- Devadatta
là người nói sai Pháp, Devadatta là người nói sai Luật. Vì
sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân
chia quyền lãnh đạo vậy?
Khi
được nói như thế, Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của
Khaṇḍadevī, và Samuddadatto đã nói với các vị tỳ khưu
ấy như vầy:
- Các
đại đức chớ có nói như thế. Devadatta là người nói đúng
Pháp. Devadatta là người nói đúng Luật. Devadatta nắm được
và phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng
tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy
hợp ý chúng tôi.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỳ khưu
lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly
khai?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các
tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội
chúng, các tỳ khưu lại là những kẻ ủng hộ tức là những
kẻ tuyên bố ly khai, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại
ấy, . .(như trên)... Này các tỳ khưu, vì sao trong khi Devadatta
ra sức chia rẽ hội chúng, những kẻ rồ dại ấy lại là
những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai vậy?
Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Các
tỳ khưu là những kẻ ủng hộ của chính vị tỳ khưu ấy
tức là những kẻ tuyên bố ly khai dầu là một vị, hoặc
hai vị, hoặc ba vị, và các vị ấy nói như vầy: ‘Các đại
đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu này.
Vị tỳ khưu này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này
là người nói đúng Luật. Vị tỳ khưu này nắm được rồi
phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi,
vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp
ý chúng tôi.’ Các vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các
tỳ khưu như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói như thế.
Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị
tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại
đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại
đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất,
thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống
được an lạc.’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy
mà các vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì các
vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến
lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở
đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này
là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).”
[603]
Của chính vị ấy: là của chính vị tỳ khưu chia rẽ hội
chúng.
Các
tỳ khưu là: Các vị tỳ khưu khác là.
Những
kẻ ủng hộ: (Vị chia rẽ hội chúng) có quan điểm gì, có
điều mong mỏi gì, có sự thích ý gì thì các vị ấy cũng
có quan điểm ấy, có điều mong mỏi ấy, có sự thích ý
ấy.
Những
kẻ tuyên bố ly khai: là những vị đứng trong phe, trong nhóm
của vị ấy.
Một
vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị: là một vị, hoặc hai vị,
hoặc ba vị, và các vị ấy nói như vầy: “Các đại đức
chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu này. Vị tỳ
khưu này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này là người
nói đúng Luật. Vị tỳ khưu này nắm được rồi phát biểu
về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu
và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.”
[604]
Các vị tỳ khưu ấy: các vị tỳ khưu là những kẻ ủng
hộ.
Bởi
các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy,
các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Các đại đức
chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người
nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói
đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia
rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng
vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một
nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến
lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các
vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không
dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe
mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Các
vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và
nên được nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế.
Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị
tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại
đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại
đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất,
thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống
được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên
được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ,
như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác).
[605]
Các vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và
này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng
cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ
năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên
(như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ
khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là
những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự
việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội
chúng nên nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như
vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên
(như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ
khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là
những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự
việc ấy. Hội chúng nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy)
và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức
nào đồng ý việc nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và
tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên (như vầy) và
tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ khưu tên (như
vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên
bố ly khai. Hội chúng nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy)
và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức
nào đồng ý việc nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và
tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Các
tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội
chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được
hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc
này là như vậy.”
[606]
Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya
(trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi).
Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng). Đối với các vị vi phạm tội saṅghādisesa,
thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do
hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực. Hai ba vị
nên được nhắc nhở chung (một lượt), không nên nhắc nhở
nhiều hơn số lượng đó.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[607]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, các
vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, các vị không dứt bỏ thì
phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, các vị
không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[608]
Các vị chưa được nhắc nhở, các vị dứt bỏ, các vị
có tâm bị rối loạn, các vị bị thọ khổ hành hạ, các
vị bị điên, các vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười một.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI HAI:
[609]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī,
ở tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa hành
xử sai nguyên tắc.
Các
tỳ khưu đã nói như vầy:
- Này
đại đức Channa, chớ có làm điều như vậy. Việc ấy không
được phép.
Vị
ấy đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, điều gì khiến các ngươi nghĩ là ta cần
được dạy bảo? Chính ta mới nên dạy bảo các ngươi. Đức
Phật là của chúng ta, Giáo Pháp là của chúng ta, Giáo Pháp
đã được chứng đạt bởi ngài thái tử của chúng ta. Cũng
giống như cơn gió mạnh thổi qua thì gom tụ cỏ, cành khô,
lá rụng đó đây chung lại thành đống; hoặc cũng giống
như dòng sông phát xuất từ ngọn núi thì gom tụ các loại
rong rêu chung lại thành đống; tương tợ như thế, các ngươi
có tên khác nhau, có họ khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có
gia tộc khác nhau đã được xuất gia và quy tụ chung lại.
Điều gì khiến các ngươi nghĩ là ta cần được dạy bảo?
Chính ta mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của
chúng ta, Giáo Pháp là của chúng ta, Giáo Pháp đã được chứng
đạt bởi ngài thái tử của chúng ta.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận,
ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê
bai rằng:
- Vì
sao trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, đại
đức Channa lại tỏ ra ương ngạnh?
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện
ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại
đức Channa rằng:
- Này
Channa, nghe nói trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng
theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)... không
nên làm. Này kẻ rồ dại, vì sao trong khi được các tỳ khưu
dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh vậy?
Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho
những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ
khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Ngay
cả vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy,[6] trong khi được
dạy bảo bởi các tỳ khưu về các điều học thuộc về
giới bổn lại tỏ ra ương ngạnh: ‘Các đại đức chớ
có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu;
tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức
dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại
việc đề cập đến tôi.’ Vị tỳ khưu ấy nên được nói
bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ tỏ ra ương
ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức
hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng
sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy
hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức
là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.’
Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu mà vị tỳ khưu
ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được
các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc
ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ
việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt
bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”
[610]
Ngay cả vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy: là vị khó dạy,
là hội đủ các đức tính làm cho vị ấy trở thành khó
dạy, không nhẫn nhịn, không nghiêm chỉnh thọ nhận sự giáo
huấn.
Về
các điều học thuộc về giới bổn: về các điều học thuộc
về giới bổn Pātimokkha.
Bởi
các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác.
Đúng
theo Pháp nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn
quy định, điều ấy nghĩa là đúng theo Pháp. Khi được dạy
bảo với điều ấy, lại tỏ ra ương ngạnh: “Các đại
đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt
hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến
các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy
kềm chế lại việc đề cập đến tôi.”
[611]
Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy.
Bởi
các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy,
các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức
chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ
dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp,
các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp;
bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được
phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự
khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì.
Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ,
như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm
tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe mà không nói thì
phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vị
tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên
được nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại
đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo
các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo
đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của
đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy
bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói
đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu
(vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu
không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[612]
Vị tỳ khưu ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu,
nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông
báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng
theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự
việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội
chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt
bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng
theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự
việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy)
để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc
nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc
ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy)
trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp lại
tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội
chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ
sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị
tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng;
vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Vị
tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để
dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng
ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[613]
Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya
(trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi).
Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng). Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì
tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai
lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.
Tội
saṅghādisesa (tăng tàng): ...(như trên)... vì thế được gọi
là “tội saṅghādisesa.”
[614]
Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị
không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm
tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không
dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).
Hành
sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội
dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Hành
sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
[615]
Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị
vi phạm đầu tiên thì vô tội.
Dứt
điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười hai.
*******
ĐIỀU
SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI BA:
[616]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ,
các vị nhóm Assaji và Punabbasuka[7] thường trú[8] tại vùng
Kiṭāgiri (núi Kiṭā) là những tỳ khưu tồi, không biết
hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy:
Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc
bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ
kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo
kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ
khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác
làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ
làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc
bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác
làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem
tặng tràng hoa kết một mặt, tràng hoa kết hai mặt, thảm
hoa, vòng hoa, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa
che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô
gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình.
Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những
cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình
ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung
trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung
một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm
trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ
đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa,
họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy
múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy
múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng
với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát,
tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ
lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người
nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ
mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên
không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân
cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò
vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngữa, họ chơi trò thổi kèn
bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn,
họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò
đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi
trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu
bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều
khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy
phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi
chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật
lộn, họ dùng tay đánh nhau. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa
nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây
này,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên
tắc theo nhiều cách.
[617]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã trải qua mùa (an
cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthi để diện
kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kiṭāgiri. Khi ấy vào
buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, và đi
vào vùng Kiṭāgiri để khất thực. Vị ấy có phong cách chững
chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước
lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duổi. Dân chúng sau khi
nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói như vầy:
- Người
này là ai mà trông giống như kẻ ngu trong nhóm người ngu,
giống như kẻ khờ trong nhóm người khờ, giống như kẻ ngớ
ngẩn trong nhóm người ngớ ngẩn vậy? Khi gã đi đến, ai
mà chịu bố thí đồ ăn đây? Trong khi các ngài thuộc nhóm
Assaji và Punabbasuka của chúng ta thì lịch thiệp, thân thiện,
nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao, luôn mời mọc đến
thăm viếng, không có hợm hĩnh, khuôn mặt lại rạng rỡ,
luôn mở đầu câu chuyện; chính vì thế, đồ ăn khất thực
nên được cúng dường đến các ngài.
Có
nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đi khất
thực ở vùng Kiṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần vị
tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy
và đã nói điều này:
- Thưa
ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?
- Này
đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.
- Thưa
ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.
Khi
ấy, nam cư sĩ ấy đã dẫn vị tỳ khưu ấy về nhà, dâng
thức ăn, và đã nói điều này:
- Thưa
ngài, ngài sẽ đi đâu?
- Này
đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế
Tôn.
- Thưa
ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của
đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy
thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri
đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú
tại vùng Kiṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ
thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy:
Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc
bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ
kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo
kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ
khác làm tràng hoa kết hai mặt, ...(như trên)... Họ hành xử
sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước
đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo,
mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng
trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt
ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay
nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kiṭāgiri,
như vậy sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri có thể tồn tại.”
- Này
đạo hữu, được rồi.
Vị
tỳ khưu ấy sau khi lắng nghe nam cư sĩ ấy đã ra đi về hướng
thành Sāvatthi. Tuần tự, vị ấy đã đến thành Sāvatthi,
Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn,
sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
ở một bên.
[618]
Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn
là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức
Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:
- Này
tỳ khưu, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt
đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc
không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đến vậy?
- Bạch
Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp.
Bạch ngài, con đi đường xa không mệt lắm. Bạch ngài, con
đây đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi
đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú
tại vùng Kiṭāgiri. Bạch ngài, khi ấy vào buổi sáng con đã
mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kiṭāgiri để khất thực.
Bạch ngài, có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy con đang đi khất
thực ở vùng Kiṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần con,
sau khi đến đã đảnh lễ con và đã nói điều này: “Thưa
ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?” “Này
đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.” “Thưa
ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.” Bạch ngài, khi
ấy nam cư sĩ ấy đã dẫn con về nhà, dâng thức ăn, rồi
đã nói điều này: “Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?” “Này
đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế
Tôn.” “Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh
lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con
và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống
ở vùng Kiṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka
thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không
biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức
như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ
tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, ...(như trên)... Họ hành
xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người
trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ
đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội
chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu
tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành
thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng
Kiṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri có thể
tồn tại.” Bạch Thế Tôn, con từ xứ đó đi đến.
[619]
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã
triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu
rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường
trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết
hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy:
Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc
bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ
kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo
kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ
khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác
làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ
làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc
bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác
làm vòng hoa che ngực. … (như trên) … . Họ hành xử sai nguyên
tắc theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo,
có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những
tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng
đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu
tồi cư ngụ, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại
ấy, … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ
dại ấy lại hành xử sai nguyên tắc có hình thức như thế?
Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc
bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ
kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo
kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ
khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác
làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ
làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc
bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác
làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem
tặng tràng hoa kết một mặt, tràng hoa kết hai mặt, thảm
hoa, vòng hoa, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa
che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô
gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình.
Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những
cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình
ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung
trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung
một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm
trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ
đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa,
họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy
múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy
múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng
với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát,
tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ
lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người
nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ
mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên
không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân
cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò
vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngữa, họ chơi trò thổi kèn
bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn,
họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò
đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi
trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu
bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều
khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy
phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi
chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật
lộn, họ dùng tay đánh nhau. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa
nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây
này,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên
tắc theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo,
có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những
tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng
đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu
tồi cư ngụ. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại
niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… và
làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức
tin.
[620]
Sau đó, khi đã khiển trách các vị tỳ khưu Assaji và Punabbasuka
bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp thoại
rồi bảo Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền
Liên) rằng:
- Này
Sāriputta và Moggallāna, hai ngươi hãy đi đến vùng Kiṭāgiri
rồi hãy thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri
đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka, các vị này
là những đệ tử của hai ngươi.[9]
- Bạch
ngài, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka thì dữ tợn và
thô lỗ, làm thế nào chúng con thực thi hành sự xua đuổi
ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu ấy được?
- Này
Sāriputta và Moggallāna, chính vì điều ấy hai ngươi hãy đi
cùng với nhiều vị tỳ khưu.
- Bạch
ngài, xin vâng. Sāriputta và Moggallāna đã trả lời đức Thế
Tôn.
[621]
- Và này các tỳ khưu, nên thực thi như vầy: Trước hết,
các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka cần được quở trách;
sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở
cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm
Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình
và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của
các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe
đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không
những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Nếu
là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực
thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các
tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm
Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.’
Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm
Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình
và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của
các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe
đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không
những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Hội
chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối
với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ
khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng
Kiṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự
xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm
Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka
không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri’ xin im lặng; vị
nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka
này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành
động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này
không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa.
Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được
nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi
hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ
khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji
và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.’ Đại
đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi
vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka
rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được
cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng
ý có thể nói lên.
Hành
sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu
nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và
Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri’ đã được
hội chúng thực thi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên
mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”
[622]
Sau đó, hội chúng tỳ khưu dẫn đầu là Sāriputta và Moggallāna
đã đi đến vùng Kiṭāgiri và đã thực thi hành sự xua đuổi
ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và
Punabbasuka rằng: “Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không
được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.” Khi được hội chúng
thực thi hành sự xua đuổi, các vị ấy không làm bổn phận
một cách nghiêm chỉnh,[10] không trở nên thu thúc, không làm
bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng,
họ mắng chửi, họ nói xấu, họ bị sa đọa do có sự thiên
vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên
vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bỏ đi, họ
hoàn tục.
Các
tỳ khưu ít ham muốn, ...(như trên)..., các vị ấy phàn nàn,
phê phán, chê bai rằng:
- Vì
sao các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka khi được hội chúng
thực thi hành sự xua đuổi lại không làm bổn phận một
cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận
để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại
mắng chửi, họ lại nói xấu, họ lại bị sa đọa do có
sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có
sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ
lại bỏ đi, họ lại hoàn tục?
[623]
Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc ấy lên
đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân
sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã
hỏi các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, nghe nói khi được hội chúng thực thi hành sự
xua đuổi, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không làm bổn
phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không
làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài
lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, họ bị sa đọa do có
sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có
sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ
bỏ đi, họ hoàn tục, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại
ấy, ...(như trên)... Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ
dại ấy khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi,
lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, ...(như trên)...
lại hoàn tục vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không
đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ...(như trên)...
Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy:
“Vị
tỳ khưu sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ
là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái.
Những hành động sai trái của vị ấy không những được
nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị
hư hỏng vì vị ấy không những được nhìn thấy mà còn
được nghe đồn nữa. Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi
các tỳ khưu như vầy: ‘Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng
các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động
sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà
còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại
đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn
nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở
đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được
nói như thế bởi các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy lại nói
với các tỳ khưu ấy như vầy: ‘Các tỳ khưu có sự thiên
vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị
vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như
nhau họ lại xua đuổi vị này, họ lại không xua đuổi vị
kia.’ Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như
vầy: ‘Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không
có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét,
không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì
sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình
và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của
đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe
đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không
những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại
đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối
với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được các tỳ khưu
nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế,
thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến
lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở
đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này
là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa
(tăng tàng).”
[624]
Vị tỳ khưu (sống nương tựa) vào ngôi làng hoặc thị trấn
nọ: là ngôi làng, là thị trấn, là thành phố, là ngôi làng
và luôn cả thị trấn.
Sống
nương tựa: các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực,
chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bịnh là phụ thuộc vào
nơi ấy.
Gia
đình nghĩa là có bốn loại gia đình: Gia đình sát-đế-lỵ,
gia đình bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình hạng
cùng đinh.
Kẻ
làm hư hỏng các gia đình: là kẻ làm các gia đình trở thành
hư hỏng với bông hoa, hoặc với trái cây, hoặc với bột
tắm, hoặc với với đất sét, hoặc với gỗ chà răng, hoặc
với tre, hoặc bằng cách thức chữa bệnh, hoặc bằng cách
đi bộ đưa tin.
Có
hành động sai trái: vị trồng bông hoa, vị bảo kẻ khác
trồng, vị tưới bông hoa, vị bảo kẻ khác tưới, vị hái
bông hoa, vị bảo kẻ khác hái, vị kết lại bông hoa, vị
bảo kẻ khác kết lại.
[625]
Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa:
Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.
Các
gia đình bị hư hỏng vì vị ấy: Trước kia họ mộ đạo,
vì vị ấy họ trở nên không còn mộ đạo. Họ đã có niềm
tin trở thành không có niềm tin.
Không
những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những
ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.
[626]
Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu làm hư hỏng các gia đình.
Bởi
các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy,
các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Chính đại
đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai
trái. Những hành động sai trái của đại đức không những
được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình
bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy
mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú
xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ
rồi!” Và khi được các tỳ khưu nói như thế, vị tỳ khưu
ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: “Các tỳ khưu
có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có
sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng
với tội như nhau các vị lại xua đuổi vị này, các vị
lại không xua đuổi vị kia.”
[627]
Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu được thực thi hành sự.
Bởi
các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy,
các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức
chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị
vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên
vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại
đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai
trái. Những hành động sai trái của đại đức không những
được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình
bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy
mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú
xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ
rồi!”
Nên
được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần
thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt
đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác
ác).
Vị
tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên
được nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các
tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên
vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự
thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng
các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động
sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà
còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại
đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn
nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở
đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Nên được nói
đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu
(vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu
không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[628]
Vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và này
các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần
được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng
lực:
“Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua
đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương,
có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự
thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy.
Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên
nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc
ấy. Đây là lời đề nghị.
Bạch
các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này
tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua
đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương,
có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự
thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy.
Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt
bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở
vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin
im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: ...(như trên)...
Tôi
xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin
hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy)
khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên
án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên
vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì
sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc
nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy.
Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên
(như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào
không đồng ý có thể nói lên.
Vị
tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nh