IV.
CHƯƠNG PĀRĀJIKA THỨ TƯ
[227]
Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Vesālī,
Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra. Vào lúc bấy giờ, có
nhiều vị tỳ khưu đồng quan điểm, thân thiết đã vào mùa
(an cư) mưa ở bờ sông Vaggumudā. Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī
có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch
bệnh hoành hành, vật thực được phân phối theo thẻ, không
dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Khi ấy, các
vị tỳ khưu ấy đã khởi ý rằng: “Hiện nay, xứ Vajjī
có sự khó khăn về vật thực, đời sống khổ cực, dịch
bệnh hoành hành, vật thực được phân phối theo thẻ, không
dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Còn chúng
ta có sự hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau, vậy bằng
phương thức nào chúng ta có thể sống mùa (an cư) mưa một
cách thoải mái và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực?”
Một
số vị đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, chúng ta hãy quyết định làm công việc cho
các người tại gia đi; như thế họ sẽ nghĩ đến mà bố
thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa hợp, thân thiện,
không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa một cách thoải
mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.
Một
số vị đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công
việc cho các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta
hãy đưa tin tức cho các người tại gia đi; như thế họ sẽ
nghĩ đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự
hòa hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư)
mưa một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ
ăn khất thực.
Một
số vị đã nói như vầy:
- Này
các đại đức, thôi đi! Việc gì lại quyết định làm công
việc cho các người tại gia? Việc gì lại đưa tin tức cho
các người tại gia? Này các đại đức, chúng ta sẽ nói lời
ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân đến các người tại
gia rằng: “Vị tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, vị tỳ
khưu như vầy đạt nhị thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt
tam thiền, vị tỳ khưu như vầy đạt tứ thiền, vị tỳ
khưu như vầy là vị Nhập Lưu, vị tỳ khưu như vầy là vị
Nhất Lai, vị tỳ khưu như vầy là vị Bất Lai, vị tỳ khưu
như vầy là vị A-la-hán, vị tỳ khưu như vầy có tam Minh,
vị tỳ khưu như vầy có lục Thông;” như thế họ sẽ nghĩ
đến mà bố thí cho chúng ta. Như thế chúng ta có sự hòa
hợp, thân thiện, không cãi cọ nhau sẽ sống mùa (an cư) mưa
một cách thoải mái và sẽ không bị khó nhọc vì đồ ăn
khất thực.
- Này
các đại đức, chính điều này là tốt hơn hết tức là
việc chúng ta nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng nhân
đến các người tại gia.
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã nói lời ca ngợi lẫn nhau về
pháp thượng nhân đến các người tại gia:
- Vị
tỳ khưu như vầy đạt sơ thiền, ...(như trên)..., vị tỳ
khưu như vầy đạt tứ thiền, vị tỳ khưu như vầy là vị
Nhập Lưu, ...(như trên)..., vị tỳ khưu như vầy có lục Thông.
Khi
ấy, những người dân ấy (nghĩ rằng): “Quả thật điều
lợi ích đã có cho chúng ta! Quả thật chúng ta đã đạt được
điều tốt! Chúng ta có được các tỳ khưu như vầy trong
số các tỳ khưu có giới có thiện pháp vào mùa (an cư) mưa!
Quả thật từ trước đến nay không có các tỳ khưu như vầy
vào mùa (an cư) mưa như là các vị tỳ khưu có giới có thiện
pháp này vậy!” Họ cúng dường đến các tỳ khưu những
vật thực loại mềm mà họ không ăn cho chính bản thân, không
dâng đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các
tôi tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các
quan lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống.
Họ cúng dường đến các tỳ khưu những vật thực loại
cứng mà họ không nhai cho chính bản thân, không dâng đến
cha mẹ, ...(như trên)..., không cho đến các thân quyến cùng
huyết thống. Họ cúng dường đến các tỳ khưu những thức
nếm mà họ không nếm thử cho chính bản thân, không dâng
đến cha mẹ, ...(như trên)... không cho đến các thân quyến
cùng huyết thống. Họ cúng dường đến các tỳ khưu những
thức uống mà họ không uống cho chính bản thân, không dâng
đến cha mẹ, không cho đến vợ con, không cho đến các tôi
tớ và người làm công, không cho đến bạn bè và các quan
lại, không cho đến các thân quyến cùng huyết thống.
Sau
đó, các vị tỳ khưu ấy đã có được tướng mạo, căn
quyền sung mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh.
Điều
này đã trở thành thông lệ cho các tỳ khưu đã trải qua
mùa (an cư) mưa là đi đến diện kiến đức Thế Tôn. Khi
ấy, các vị tỳ khưu ấy trải qua ba tháng mùa (an cư) mưa
đã thu xếp chỗ trú ngụ, cầm y bát, ra đi về phía thành
Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, các vị đã đi đến thành
Vesālī, Mahāvana, giảng đường Kūṭāgāra gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
ở một bên.
[228]
Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu đã sống qua mùa (an cư)
mưa ở các phương thì ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ
xanh xao, thân hình nổi đầy gân; trái lại các vị tỳ khưu
ở bờ sông Vaggumudā có được tướng mạo, căn quyền sung
mãn, sắc diện rạng rỡ, sắc thân an tịnh.
Điều
này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm
nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn
đã nói với các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā điều
này:
- Này
các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được
tốt đẹp không? Các ngươi có sự hòa hợp, thân thiện, không
cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa có được thoải
mái không? Và chắc hẳn không bị khó nhọc vì đồ ăn khất
thực?
- Bạch
Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc đều tốt
đẹp. Và bạch ngài, chúng con có sự hòa hợp, thân thiện,
không cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải
mái, và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực.
Các
đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn
không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng
thời các vị vẫn không hỏi. Các đấng Như lai hỏi có liên
quan đến lợi ích và không (hỏi việc) không có liên quan
đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng
Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn
hỏi các tỳ khưu bởi hai lý do: “Chúng ta sẽ thuyết Pháp
hoặc sẽ quy định điều học cho các đệ tử.” Khi ấy,
đức Thế Tôn đã nói với các vị tỳ khưu ở bờ sông Vaggumudā
điều này:
- Này
các tỳ khưu, các ngươi có sự hòa hợp, thân thiện, không
cãi cọ nhau đã sống qua mùa (an cư) mưa được thoải mái
và không bị khó nhọc vì đồ ăn khất thực như thế nào?
Khi
ấy, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, các ngươi có thực chứng không?
- Bạch
Thế Tôn, không có thực chứng.
[229]
Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ,
không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép,
không nên làm! Này những kẻ rồ dại, tại sao các ngươi
vì lý do của bao tử lại nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp
thượng nhân đến các người tại gia? Này những kẻ rồ
dại, thà các người bị mổ banh bụng ra bởi con dao bén của
kẻ giết trâu bò còn là điều cao thượng, chớ vì lý do
của bao tử mà nói lời ca ngợi lẫn nhau về pháp thượng
nhân đến các người tại gia là không (cao thượng). Điều
ấy có lý do như thế nào? Này những kẻ rồ dại, bởi vì
do nguyên nhân kia [1] các ngươi có thể đi đến cái chết
hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi
tan rã thân xác và chết đi, các ngươi lại có thể bị sanh
vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này những
kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này,[2] khi tan rã thân
xác và chết đi, các ngươi có thể bị sanh vào bất hạnh,
cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này những kẻ rồ dại, sự
việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức
tin hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. ...(như trên)...
Sau
khi khiển trách, ngài đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các
tỳ khưu rằng:
[230]
Này các tỳ khưu, đây là năm kẻ cướp lớn được biết
đến ở thế gian? Thế nào là năm? Này các tỳ khưu, ở đây
có kẻ cướp lớn khởi ý như vầy: “Đến khi nào được
tháp tùng bởi một trăm hay một ngàn, ta sẽ vừa đi quanh
làng mạc phố thị kinh thành vừa giết vừa ra lệnh giết,
vừa chém vừa ra lệnh chém, vừa hành hạ vừa ra lệnh hành
hạ.” Một thời gian sau, được tháp tùng bởi một trăm
hay một ngàn, kẻ ấy vừa đi quanh làng mạc phố thị kinh
thành vừa giết vừa ra lệnh giết, vừa chém vừa ra lệnh
chém, vừa hành hạ vừa ra lệnh hành hạ. Này các tỳ khưu,
tương tợ như thế, ở đây có hạng ác tỳ khưu khởi ý
như vầy: “Đến khi nào được tùy tùng bởi một trăm hay
một ngàn, ta sẽ đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và
được tiếp rước, được cung kính, được nể sợ, được
cúng dường, được tôn trọng, và có được lợi lộc về
vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc
men chữa bệnh của các gia chủ và các bậc xuất gia.” Một
thời gian sau, được tùy tùng bởi một trăm hay một ngàn,
vị ấy đi quanh làng mạc phố thị kinh thành và được tiếp
rước, được cung kính, được nể sợ, được cúng dường,
được tôn trọng, và có được lợi lộc về vật dụng là
y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh
của các gia chủ và các bậc xuất gia. Này các tỳ khưu, đây
là kẻ cướp lớn thứ nhất được biết đến ở thế gian.
Này
các tỳ khưu, hơn nữa, ở đây có hạng ác tỳ khưu sau khi
đã học tập Pháp và Luật được công bố bởi Như Lai lại
xem là của chính bản thân. Này các tỳ khưu, đây là kẻ
cướp lớn thứ nhì được biết đến ở thế gian.
Này
các tỳ khưu, hơn nữa, ở đây có hạng ác tỳ khưu bôi nhọ
vị trong sạch, có Phạm hạnh, đang thực hành Phạm hạnh
thanh tịnh bằng điều phi Phạm hạnh không có nguyên cớ.
Này các tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ ba được biết
đến ở thế gian.
Này
các tỳ khưu, hơn nữa, ở đây có hạng ác tỳ khưu chiêu
dụ mua chuộc các người tại gia bằng các trọng vật là
các vật dụng chủ yếu của hội chúng như là tu viện, vùng
đất của tu viện, trú xá, vùng đất của trú xá, gường,
ghế, nệm, gối, chum đồng, chậu đồng, hũ đồng, vại đồng,
rìu, búa, cuốc, xẻng, lưỡi đục, dây leo, tre, cỏ muñja,
cỏ pabbaja, cỏ tiṇa, đất sét, đồ gỗ, đồ gốm. Này các
tỳ khưu, đây là kẻ cướp lớn thứ tư được biết đến
ở thế gian.
Này
các tỳ khưu, trong thế gian bao gồm cõi chư thiên, cõi Ma Vương,
cõi Phạm thiên, cho đến dòng dõi sa-môn, bà-la-môn, chư thiên,
và loài người, kẻ cướp lớn đứng hàng đầu là kẻ khoác
lác về pháp thượng nhân không có không thực chứng. Điều
ấy có lý do thế nào? Này các tỳ khưu, các ngươi đã ăn
thức ăn của xứ sở theo lối trộm cướp.
Vị
tuyên bố thế này,
bản
thân như thế khác,
ăn
cơm kiểu dối lường
như
cờ gian bạc lận.
Nhiều
kẻ cổ quấn y,
ác
pháp không thu thúc,
kẻ
ác, vì nghiệp ác
phải
sanh vào địa ngục.
Kẻ
ác giới buông lung
thà
ăn vào sắt cục
cháy
đỏ có lửa ngọn
hơn
đồ ăn xứ sở.
[231]
Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách các vị tỳ khưu ở
bờ sông Vaggumudā bằng nhiều phương thức về sự khó khăn
trong việc cấp dưỡng, về sự khó khăn trong việc ăn uống,
...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến
điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tuyên bố về
pháp thượng nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập
của bản thân, là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết
của bậc thánh rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như
vầy.’ Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được
hỏi, (vị ấy) có ước muốn được trong sạch tội đã vi
phạm lại nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không
biết như vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy,
tôi đã nói điều phù phiếm, điều dối trá;’ vị ấy cũng
là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.” Và điều
học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu
như thế.
[232]
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu trong khi không thấy
tưởng là đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt,
trong khi không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong
khi không thực chứng tưởng là đã thực chứng, đã nói một
cách thái quá về trí giải thoát. Một thời gian sau, các vị
lại có tâm thiên về tham ái, lại có tâm lại thiên về sân
hận, lại có tâm lại thiên về si mê. Các vị ấy đã có
nỗi nghi hoặc rằng: “Điều học đã được đức Thế Tôn
quy định; và chúng ta trong khi không thấy tưởng là đã thấy,
trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi không đắc
chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không thực chứng
tưởng là đã thực chứng, đã nói một cách thái quá về
trí giải thoát, phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?”
Các vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại đức Ānanda.
Đại đức Ānanda đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
Ānanda, có các vị tỳ khưu trong khi không thấy tưởng là
đã thấy, trong khi không đạt tưởng là đã đạt, trong khi
không đắc chứng tưởng là đã đắc chứng, trong khi không
thực chứng tưởng là đã thực chứng, đã nói với sự tự
tin thái quá về trí giải thoát; điều ấy vốn không thuộc
về trường hợp này.
Sau
đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết
Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- ...(như
trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tuyên bố về pháp thượng
nhân chưa được thắng tri, là pháp thể nhập của bản thân,
là pháp thuộc về trí tuệ và sự thấy biết của bậc thánh
rằng: ‘Tôi biết như vầy, tôi thấy như vầy.’ Sau đó
vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, (vị
ấy) có ước muốn được trong sạch tội đã vi phạm lại
nói như vầy: ‘Này các đại đức, tôi đã không biết như
vầy lại nói biết, đã không thấy lại nói thấy, tôi đã
nói điều phù phiếm, điều dối trá,’ ngoại trừ vì sự
tự tin thái quá; vị này cũng là vị phạm tội pārājika,
không được cộng trú.”
[233]
Vị nào: là bất cứ vị nào ...(như trên)...
Tỳ
khưu: ...(như trên)... Vị này là “vị tỳ khưu” được
đề cập trong ý nghĩa này.
Chưa
được thắng tri: là không có, không thực chứng, không được
biết rõ, trong khi không hiểu, trong khi không thấy thiện pháp
ở nơi mình (lại nói): “Tôi có các thiện pháp.”
Pháp
thượng nhân nghĩa là thiền, sự giải thoát, định, sự chứng
đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về Đạo, sự
thực chứng về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự không còn
bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng.
Là
pháp thể nhập của bản thân: hoặc là thể nhập các thiện
pháp ấy vào bản thân, hoặc là thể nhập bản thân vào các
thiện pháp ấy.
Trí
tuệ: là tam Minh.
Thấy
biết: điều gì là trí tuệ điều ấy là sự thấy biết.
Điều gì là sự thấy biết điều ấy là trí tuệ.
Tuyên
bố: vị nói ra đến người nữ, hoặc đến người nam, hoặc
đến người tại gia, hoặc đến vị xuất gia.
Tôi
biết như vầy, tôi thấy như vầy: Tôi biết các pháp này,
tôi thấy các pháp này, tôi có các pháp này, và tôi thuần
thục trong các pháp này.
[234]
Sau đó vào lúc khác: được thực hiện trong giây phút nào
thì trải qua vào giây phút ấy, vào khoảng thời gian ấy,
vào thời điểm ấy.
Dầu
được hỏi: Sự việc gì đã cho biết thì được hỏi về
việc ấy: “Điều gì đã được đại đức đắc chứng?
Được đại đức đắc chứng như thế nào? Được đại
đức đắc chứng vào lúc nào? Được đại đức đắc chứng
ở đâu? Các phiền não nào đã được đại đức dứt bỏ?
Đại đức đã đạt được các pháp nào?”
Hay
không được hỏi: hoặc không được bất cứ ai đề cập
đến.
Tội
đã vi phạm: vị có ước muốn xấu xa, bị thúc giục bởi
ước muốn, rồi khoác lác về pháp thượng nhân không có
không thực chứng thì phạm tội pārājika.
Có
ước muốn được trong sạch: hoặc là có ước muốn trở
thành người gia chủ, hoặc là có ước muốn trở thành nam
cư sĩ, hoặc là có ước muốn trở thành người phụ việc
cho tu viện, hoặc là có ước muốn trở thành vị sa di.
Này
các đại đức, tôi đã không biết như vầy lại nói biết,
đã không thấy lại nói thấy: Tôi không biết các pháp này,
tôi không thấy các pháp này, tôi không có các pháp này, và
tôi không thuần thục trong các pháp này.
Tôi
đã nói điều phù phiếm, điều dối trá: Điều phù phiếm
đã được tôi nói ra, điều dối trá đã được tôi nói
ra, điều không thực đã được tôi nói ra, điều không có
đã được tôi nói ra, trong lúc tôi không biết tôi lại nói
ra.
Ngoại
trừ vì sự tự tin thái quá: trừ ra sự tự tin thái quá.
[235]
Vị này cũng: được đề cập liên quan đến các vị trước
đây.
Là
vị phạm tội pārājika: cũng giống như cây thốt nốt bị
chặt ở ngọn không thể tăng trưởng được nữa; tương
tợ như thế, vị tỳ khưu có ước muốn xấu xa, bị thúc
giục bởi ước muốn, khi đã khoác lác về pháp thượng nhân
không có không thực chứng, thì không phải là sa-môn, không
phải là Thích tử; vì thế, được gọi là “vị phạm tội
pārājika.”
Không
được cộng trú: Sự cộng trú nghĩa là có chung hành sự,
có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học
tập giống nhau, điều ấy gọi là sự cộng trú. Vị ấy
không có được điều ấy, vì thế được gọi là “không
được cộng trú.”
[236]
Pháp thượng nhân nghĩa là thiền, sự giải thoát, định,
sự chứng đạt, trí tuệ và sự thấy biết, sự tu tập về
Đạo, sự thực chứng về Quả, sự dứt bỏ phiền não, sự
không còn bị che lấp của tâm, sự thỏa thích ở nơi thanh
vắng.
Thiền:
là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Sự
giải thoát: là vô phiền não giải thoát, vô tướng giải
thoát, vô nguyện giải thoát.[3]
Định:
là vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định.
Sự
chứng đạt: là sự chứng đạt về trạng thái vô phiền
não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng
đạt về trạng thái vô nguyện.
Trí
tuệ: là tam Minh.
Sự
tu tập về Đạo: là tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như
Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Thánh Đạo.
Sự
thực chứng về Quả: là sự thực chứng quả vị Nhập Lưu,
sự thực chứng quả vị Nhất Lai, sự thực chứng quả vị
Bất Lai, sự thực chứng quả vị A-la-hán.
Sự
dứt bỏ phiền não: là sự dứt bỏ tham ái, sự dứt bỏ
sân, sự dứt bỏ si.
Sự
không còn bị che lấp của tâm: nghĩa là tâm không còn bị
che lấp bởi tham ái, tâm không còn bị che lấp bởi sân, tâm
không còn bị che lấp bởi si.
Sự
thỏa thích ở nơi thanh vắng: là sự thỏa thích ở nơi thanh
vắng với sơ thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với
nhị thiền, sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tam thiền,
sự thỏa thích ở nơi thanh vắng với tứ thiền.
[237]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng sơ thiền” (paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajjiṃ) bị phạm
tội pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ
nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta
đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng):
“Điều dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị
ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi
nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.
Với
năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị
ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi
nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt
điều mong mỏi.
Với
sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị
ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi
nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt
điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.
Với
bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị
ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi
nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt
điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn
đạt ý định.
[238]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng
sơ thiền” (paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajjāmi) bị phạm tội
pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói
điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta
đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng):
“Điều dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.
Với
năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi.
Với
sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.
Với
bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi chứng
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý
định.
[239]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng được sơ thiền” (paṭhamaṃ jhānaṃ samāpanno) bị
phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta
sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng):
“Ta đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết
rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước
tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,”
trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối
trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối
trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.
Với
năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước
tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,”
trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối
trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối
trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn
đạt điều mong mỏi.
Với
sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước
tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,”
trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối
trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối
trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn
đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.
Với
bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng được sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước
tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,”
trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối
trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối
trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn
đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã
diễn đạt ý định.
[240]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đạt
sơ thiền” (paṭhamassa jhānassa lābhimhi) bị phạm tội pārājika:
Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối
trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều
dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều
dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đạt
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.
Với
năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đạt
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi.
Với
sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đạt
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.
Với
bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đạt
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý
định.
[241]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi trú
sơ thiền” (paṭhamassa jhānassa vāsimhi) bị phạm tội pārājika:
Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối
trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều
dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều
dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi trú
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.
Với
năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi trú
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi.
Với
sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi trú
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.
Với
bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi trú
sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý
định.
[242]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
thực chứng sơ thiền” (paṭhamaṃ jhānaṃ sacchikataṃ mayā)
bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng:
“Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết
rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị
ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
thực chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên,
vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong
khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm.
Với
năm yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
thực chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên,
vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong
khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt
điều mong mỏi.
Với
sáu yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
thực chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên,
vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong
khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt
điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát.
Với
bảy yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
thực chứng sơ thiền” bị phạm tội pārājika: Trước tiên,
vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong
khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,”
sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã
được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt
điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn
đạt ý định.
[243]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được nhị thiền,
... tam thiền, ... tứ thiền, ... tôi đạt ... tôi trú tứ thiền,
... tôi đã thực chứng tứ thiền” bị phạm tội pārājika:
Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối
trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều
dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều
dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã
diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát,
đã diễn đạt ý định.
[244]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được vô phiền não
giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát,
... tôi đạt ... tôi trú vô nguyện giải thoát, ... tôi đã
thực chứng vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika
...(như trên)...
[245]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được vô phiền não
định, vô tướng định, vô nguyện định, ... tôi đạt ...
tôi trú vô nguyện định, ... tôi đã thực chứng vô nguyện
định” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[246]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sự chứng đạt
về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái
vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, ...
tôi đạt ... tôi trú sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện,
... tôi đã thực chứng sự chứng đạt về trạng thái vô
nguyện” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[247]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được tam Minh, ... tôi
đạt ... tôi trú tam Minh, ... tôi đã thực chứng tam Minh”
bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[248]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được tứ Niệm Xứ,
tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ... tôi đạt ... tôi trú tứ
Như Ý Túc, ... tôi đã thực chứng tứ Như Ý Túc” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
[249]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được ngũ Quyền, ngũ
Lực, ... tôi đạt ... tôi trú ngũ Lực, ... tôi đã thực chứng
ngũ Lực” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[250]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được thất Giác Chi,
... tôi đạt ... tôi trú thất Giác Chi, ... tôi đã thực chứng
thất Giác Chi” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[251]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được bát Thánh Đạo,
... tôi đạt ... tôi trú bát Thánh Đạo, ... tôi đã thực
chứng bát Thánh Đạo” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[252]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được quả vị Nhập
Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán,
... tôi đạt ... tôi trú quả vị A-la-hán, ... tôi đã thực
chứng quả vị A-la-hán” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[253]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
từ bỏ tham ái, tôi đã quăng bỏ tham ái, tôi đã thoát khỏi
tham ái, tôi đã dứt bỏ tham ái, tôi đã xa rời tham ái, tôi
đã khai trừ tham ái, tôi đã đoạn trừ tham ái ” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ
bỏ sân, ...(như trên)...” bị phạm tội pārājika ...(như
trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ
bỏ si, tôi đã quăng bỏ si, tôi đã thoát khỏi si, tôi đã
dứt bỏ si, tôi đã xa rời si, tôi đã khai trừ si, tôi đã
đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[254]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của
tôi không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị
che lấp bởi sân, tâm của tôi không bị che lấp bởi si”
bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng:
“Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết
rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị
ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,” đã
diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã
diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.
Dứt
phần liên quan đến sự trong sạch.
[255]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
nhị thiền, ... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và nhị thiền,
... tôi đã thực chứng sơ thiền và nhị thiền” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và tam thiền,
... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và tam thiền, ... tôi đã
thực chứng sơ thiền và tam thiền” bị phạm tội pārājika
...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và tứ thiền,
... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và tứ thiền, ... tôi đã
thực chứng sơ thiền và tứ thiền” bị phạm tội pārājika
...(như trên)...
[256]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
vô phiền não giải thoát, sơ thiền và vô tướng giải thoát,
sơ thiền và vô nguyện giải thoát, ... tôi đạt ... tôi trú
sơ thiền và vô nguyện giải thoát, ... tôi đã thực chứng
sơ thiền và vô nguyện giải thoát” bị phạm tội pārājika
...(như trên)...
[257]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
vô phiền não định, sơ thiền và vô tướng định, sơ thiền
và vô nguyện định, ... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và
vô nguyện định, ... tôi đã thực chứng sơ thiền và vô
nguyện định” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[258]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sơ thiền và
sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sơ thiền và sự
chứng đạt về trạng thái vô nguyện, ... tôi đạt ... tôi
trú sơ thiền và sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện,
... tôi đã thực chứng sơ thiền và sự chứng đạt về trạng
thái vô nguyện” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[259]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
tam Minh, ... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và tam Minh, ... tôi
đã thực chứng sơ thiền và tam Minh” bị phạm tội pārājika
...(như trên)...
[260]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
tứ Niệm Xứ, sơ thiền và tứ Chánh Cần, sơ thiền và tứ
Như Ý Túc, ... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và tứ Như Ý
Túc, ... tôi đã thực chứng sơ thiền và tứ Như Ý Túc”
bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[261]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
ngũ Quyền, sơ thiền và ngũ Lực, ... tôi đạt ... tôi trú
sơ thiền và ngũ Lực, ... tôi đã thực chứng sơ thiền và
ngũ Lực” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[262]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
thất Giác Chi, ... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và thất
Giác Chi, ... tôi đã thực chứng sơ thiền và thất Giác Chi”
bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[263]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
bát Thánh Đạo, ... tôi đạt ... tôi trú sơ thiền và bát
Thánh Đạo, ... tôi đã thực chứng sơ thiền và bát Thánh
Đạo” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
[264]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
quả vị Nhập Lưu, sơ thiền và quả vị Nhất Lai, sơ thiền
và quả vị Bất Lai, sơ thiền và quả vị A-la-hán, ... tôi
đạt ... tôi trú sơ thiền và quả vị A-la-hán, ... tôi đã
thực chứng sơ thiền và quả vị A-la-hán” bị phạm tội
pārājika ...(như trên)...
[265]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
tôi đã từ bỏ tham ái, ...(như trên)... Tôi đã chứng sơ
thiền ...(như trên)... và tôi đã từ bỏ sân ...(như trên)...
Tôi đã chứng sơ thiền ...(như trên)... và tôi đã từ bỏ,
đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã
khai trừ, đã đoạn trừ si” bị phạm tội pārājika ...(như
trên)...
[266]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được sơ thiền và
tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái, và tâm của tôi
không bị che lấp bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp
bởi si” bị phạm tội pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi
ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị
ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau khi đã
nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta
nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong
mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.
Dứt
phần phân tích theo sự xoay vòng.
[267]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được nhị thiền và
tam thiền, ... tôi đạt ... tôi trú nhị thiền và tam thiền,
... tôi đã thực chứng nhị thiền và tam thiền” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
... tôi chứng ... tôi đã chứng được nhị thiền và tứ
thiền, ... tôi đạt ... tôi trú nhị thiền và tứ thiền,
... tôi đã thực chứng nhị thiền và tứ thiền” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
nhị thiền và vô phiền não giải thoát, nhị thiền và vô
tướng giải thoát, nhị thiền và vô nguyện giải thoát, nhị
thiền và vô phiền não định, nhị thiền và vô tướng định,
nhị thiền và vô nguyện định, nhị thiền và sự chứng
đạt về trạng thái vô phiền não, nhị thiền và sự chứng
đạt về trạng thái vô tướng, nhị thiền và sự chứng
đạt về trạng thái vô nguyện, nhị thiền và tam Minh, nhị
thiền và tứ Niệm Xứ, nhị thiền và tứ Chánh Cần, nhị
thiền và tứ Như Ý Túc, nhị thiền và ngũ Quyền, nhị thiền
và ngũ Lực, nhị thiền và thất Giác Chi, nhị thiền và bát
Thánh Đạo, nhị thiền và quả vị Nhập Lưu, nhị thiền
và quả vị Nhất Lai, nhị thiền và quả vị Bất Lai, nhị
thiền và quả vị A-la-hán, ...(như trên)... Tôi đã chứng
được nhị thiền và tôi đã từ bỏ tham ái, ...(như trên)...
và tôi đã từ bỏ sân ...(như trên)... và tôi đã từ bỏ,
đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã
khai trừ, đã đoạn trừ si ...(như trên)... Tôi đã chứng
nhị thiền và tâm của tôi không bị che lấp bởi tham ái,
tôi đã chứng nhị thiền và tâm của tôi không bị che lấp
bởi sân, tôi đã chứng nhị thiền và tâm của tôi không
bị che lấp bởi si” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng được nhị thiền và
sơ thiền, ... tôi đạt ... tôi trú nhị thiền và sơ thiền,
... tôi đã thực chứng nhị thiền và sơ thiền” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
Dứt
phần tổng hợp theo sự xoay vòng.
Sau
khi thực hiện theo mỗi một nhân tố như thế,
phần
tổng hợp theo sự xoay vòng nên được tiến hành một cách
tròn đủ.
Phần
này được tóm tắt.
[268]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của
tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... tôi chứng
... tôi đã chứng được sơ thiền. ... tâm của tôi không
bị che lấp bởi si và tôi đạt ... tôi trú sơ thiền, tâm
của tôi không bị che lấp bởi si và tôi đã thực chứng
sơ thiền” bị phạm tội pārājika ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi
không bị che lấp bởi si và tôi đã chứng ... tôi chứng ...
tôi đã chứng được nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô
phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải
thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định,
sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt
về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái
vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như
Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Thánh Đạo,
quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả
vị A-la-hán, ...(như trên)... Tôi đã từ bỏ tham ái, ...(như
trên)... Tôi đã từ bỏ sân ...(như trên)... Tôi đã từ bỏ,
đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã
khai trừ, đã đoạn trừ si ...(như trên)... Tâm của tôi không
bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi
sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm
tội pārājika ...(như trên)...
Dứt
phần tóm tắt liên quan đến một nhân tố.
[269]
Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân
tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến
năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên
quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố,
phần liên quan đến chín nhân tố, phần liên quan đến mười
nhân tố nên được phân tích giống y như cách đã được
phân tích ở phần liên quan đến một nhân tố.
Đây
là phần liên quan đến tất cả các nhân tố.
[270]
Với ba yếu tố, ... Với bảy yếu tố, vị cố tình nói điều
dối trá: “Tôi đã chứng ... tôi chứng ... tôi đã chứng
được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, vô phiền
não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện giải thoát,
vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện định, sự
chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự chứng đạt
về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về trạng thái
vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như
Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Thánh Đạo,
quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả
vị A-la-hán, ...(như trên)... Tôi đã từ bỏ tham ái, ...(như
trên)... Tôi đã từ bỏ sân ...(như trên)... Tôi đã từ bỏ,
đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ, đã xa rời, đã
khai trừ, đã đoạn trừ si ...(như trên)... Tâm của tôi không
bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp bởi
sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” bị phạm
tội pārājika: Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ
nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta
đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng):
“Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan
điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều
khao khát, đã diễn đạt ý định.
Dứt
phần liên quan đến tất cả các nhân tố.
Dứt
phần giảng giải về trường hợp liên quan đến sự trong
sạch.
[271]
Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng
sơ thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
nhị thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm tội
pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
tam thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika;
(người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
tứ thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika;
(người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát, vô nguyện
giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định, vô nguyện
định, sự chứng đạt về trạng thái vô phiền não, sự
chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng đạt về
trạng thái vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ Chánh Cần,
tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác Chi, bát Thánh
Đạo, quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất
Lai, quả vị A-la-hán” và (người nghe) hiểu được thì phạm
tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã từ
bỏ tham ái, ...(như trên)... Tôi đã từ bỏ sân ...(như trên)...
Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ,
đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” và (người
nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika; (người nghe) không
hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như
trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi
không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp
bởi sân, và tâm của tôi không bị che lấp bởi si” và (người
nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika; (người nghe) không
hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng tội): Trước
tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,”
trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối
trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối
trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn
đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã
diễn đạt ý định.
Dứt
phần phân tích theo sự xoay vòng theo từ được chọn lọc
thuộc
về các sự việc căn bản.
[272]
Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng
nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã
chứng tam thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm
tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi
không bị che lấp bởi si” và (người nghe) hiểu được thì
phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị
thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
sơ thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika;
(người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). ...(như trên)...
Phần
tóm tắt theo sự xoay vòng có liên quan đến một nhân tố
thuộc
về các sự việc căn bản.
Phần
nhân tố được tóm tắt.
[273]
Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi
không bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá:
“Tôi đã chứng sơ thiền” và (người nghe) hiểu được
thì phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không
bị che lấp bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm
của tôi không bị che lấp bởi sân” và (người nghe) hiểu
được thì phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Dứt
phần tóm tắt có liên quan đến một nhân tố
thuộc
về các sự việc căn bản.
[274]
Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng
sơ thiền và nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá:
“Tôi đã chứng tam thiền” và (người nghe) hiểu được
thì phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ
thiền và nhị thiền” lại cố tình nói điều dối trá:
“Tâm của tôi không bị che lấp bởi si” và (người nghe)
hiểu được thì phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu
được thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Phần
phân tích theo sự xoay vòng có liên quan đến hai nhân tố
thuộc
về các sự việc căn bản.
[275]
Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng
nhị thiền và tam thiền” lại cố tình nói điều dối trá:
“Tôi đã chứng tứ thiền” và (người nghe) hiểu được
thì phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị
thiền và tam thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm
của tôi không bị che lấp bởi si” và (người nghe) hiểu
được thì phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tôi đã chứng nhị
thiền và tam thiền” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi
đã chứng sơ thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm
tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Phần
tổng hợp theo sự xoay vòng có liên quan đến hai nhân tố
thuộc
về các sự việc căn bản.
[276]
Với ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi
không bị che lấp bởi sân và tâm của tôi không bị che lấp
bởi si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tôi đã chứng
sơ thiền” và (người nghe) hiểu được thì phạm tội pārājika;
(người nghe) không hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị có ý định nói rằng: “Tâm của tôi không
bị che lấp bởi sân và tâm của tôi không bị che lấp bởi
si” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi không
bị che lấp bởi tham ái” và (người nghe) hiểu được thì
phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
Dứt
phần tóm tắt có liên quan đến hai nhân tố
thuộc
về các sự việc căn bản.
[277]
Phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn
nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan
đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần
liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân
tố, phần liên quan đến mười nhân tố nên được thực
hiện theo như đã được giảng giải ở phần có liên quan
đến mỗi một nhân tố thuộc về phần có từ được chọn
lọc. Phần có liên quan đến một nhân tố được phân tích
như thế nào thì nên được phân tích giống y như thế.
Đây
là phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.
[278]
Với ba yếu tố, ...(như trên)... Với bảy yếu tố, vị có
ý định nói rằng: “Tôi đã chứng sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền, tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng
giải thoát, vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô
tướng định, vô nguyện định, sự chứng đạt về trạng
thái vô phiền não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng,
sự chứng đạt về trạng thái vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm
Xứ, tứ Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất
Giác Chi, bát Thánh Đạo, quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất
Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán và tôi đã từ bỏ
tham ái, ...(như trên)... Tôi đã từ bỏ sân ...(như trên)...
Tôi đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt bỏ,
đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si, và tâm của tôi
không bị che lấp bởi tham ái, tâm của tôi không bị che lấp
bởi sân” lại cố tình nói điều dối trá: “Tâm của tôi
không bị che lấp bởi si” và (người nghe) hiểu được thì
phạm tội pārājika; (người nghe) không hiểu được thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội): Trước tiên, vị ấy khởi ý
rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy
biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói
(vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được ta nói,”
đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi,
đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý định.
Dứt
phần trùng lặp theo sự xoay vòng thuộc về các sự việc
căn bản.
Dứt
phần giảng giải về trường hợp “Có ý định nói.”
[279]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị (tỳ
khưu) nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu
ấy đã chứng ... chứng ... đã chứng được sơ thiền, vị
tỳ khưu ấy có sự đạt được ... có sự an trú của sơ
thiền, sơ thiền đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu
ấy” và (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội); (người nghe) không hiểu được thì phạm tội
dukkaṭa (tác ác): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta
sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng):
“Ta đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết
rằng): “Điều dối trá đã được ta nói.”
Với
bốn yếu tố, với năm yếu tố, với sáu yếu tố, với bảy
yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị (tỳ khưu)
nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy
đã chứng ... chứng ... đã chứng được sơ thiền, vị tỳ
khưu ấy có sự đạt được ... có sự an trú của sơ thiền,
sơ thiền đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy”
và (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội); (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác): Trước tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói
điều dối trá,” trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta
đang nói điều dối trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng):
“Điều dối trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan
điểm, đã diễn đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều
khao khát, đã diễn đạt ý định.
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị (tỳ khưu)
nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy
đã chứng ... chứng ... đã chứng được nhị thiền, tam thiền,
tứ thiền, vô phiền não giải thoát, vô tướng giải thoát,
vô nguyện giải thoát, vô phiền não định, vô tướng định,
vô nguyện định, sự chứng đạt về trạng thái vô phiền
não, sự chứng đạt về trạng thái vô tướng, sự chứng
đạt về trạng thái vô nguyện, tam Minh, tứ Niệm Xứ, tứ
Chánh Cần, tứ Như Ý Túc, ngũ Quyền, ngũ Lực, thất Giác
Chi, bát Thánh Đạo, quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai,
quả vị Bất Lai và quả vị A-la-hán. Vị tỳ khưu ấy có
sự đạt được ... có sự an trú vào quả vị A-la-hán, quả
vị A-la-hán đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu ấy”
và (người nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội); (người nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa
(tác ác) ...(như trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị (tỳ khưu)
nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy
đã từ bỏ tham ái, ...(như trên)... đã từ bỏ sân ...(như
trên)... đã từ bỏ, đã quăng bỏ, đã thoát khỏi, đã dứt
bỏ, đã xa rời, đã khai trừ, đã đoạn trừ si” và (người
nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng tội); (người
nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác) ...(như
trên)...
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị (tỳ khưu)
nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy
có tâm không bị che lấp bởi tham ái, có tâm không bị che
lấp bởi sân, có tâm không bị che lấp bởi si” và (người
nghe) hiểu được thì phạm tội thullaccaya (trọng tội); (người
nghe) không hiểu được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác): Trước
tiên, vị ấy khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,”
trong khi nói (vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối
trá,” sau khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối
trá đã được ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn
đạt điều mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã
diễn đạt ý định.
Với
ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị (tỳ khưu)
nào cư ngụ trong trú xá của đạo hữu, vị tỳ khưu ấy
đã chứng ... chứng... đã chứng được sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền, tứ thiền ở nơi thanh vắng; vị tỳ khưu ấy có
sự đạt được ... có sự an trú của tứ thiền ở nơi thanh
vắng, tứ thiền đã được thực chứng bởi vị tỳ khưu
ấy ở nơi thanh vắng” và (người nghe) hiểu được thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội); (người nghe) không hiểu
được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác): Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý
định.
[280]
Với ba yếu tố, vị cố tình nói điều dối trá: “Vị nào
thọ dụng y của đạo hữu, thọ dụng vật thực của đạo
hữu, thọ dụng chỗ trú ngụ của đạo hữu, thọ dụng thuốc
men trị bệnh của đạo hữu, trú xá của đạo hữu đã được
thọ dụng bởi vị nào, y của đạo hữu đã được thọ
dụng bởi vị nào, vật thực của đạo hữu đã được thọ
dụng bởi vị nào, chỗ trú ngụ của đạo hữu đã được
thọ dụng bởi vị nào, thuốc men trị bệnh của đạo hữu
đã được thọ dụng bởi vị nào, vị nào đạo hữu đã
đi đến và đã dâng y, đã dâng vật thực, đã dâng chỗ
trú ngụ, đã dâng thuốc men trị bệnh, vị tỳ khưu ấy đã
chứng ... chứng ... đã chứng được sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền, tứ thiền ở nơi thanh vắng; vị tỳ khưu ấy có
sự đạt được ... có sự an trú của tứ thiền ở nơi thanh
vắng, tứ thiền ở nơi thanh vắng đã được thực chứng
bởi vị tỳ khưu ấy” và (người nghe) hiểu được thì
phạm tội thullaccaya (trọng tội); (người nghe) không hiểu
được thì phạm tội dukkaṭa (tác ác): Trước tiên, vị ấy
khởi ý rằng: “Ta sẽ nói điều dối trá,” trong khi nói
(vị ấy biết rằng): “Ta đang nói điều dối trá,” sau
khi đã nói (vị ấy biết rằng): “Điều dối trá đã được
ta nói,” đã diễn đạt quan điểm, đã diễn đạt điều
mong mỏi, đã diễn đạt điều khao khát, đã diễn đạt ý
định.
Dứt
mười lăm phần trùng lặp.
Dứt
phần giảng giải về các trường hợp liên quan đến vật
dụng.
[281]
Vì sự tự tin thái quá, vị không có ý định khoác lác, vị
bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành
hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.
[282]
Khi
tự tin thái quá,
trong
rừng, đi khất thực,
thầy
tế độ, oai nghi,
các
trói buộc, hoang vắng,
trú
xá, được hộ độ,
không
phải là việc khó,
tinh
tấn, rồi tử thần,
sợ
hãi, này đại đức
ân
hận, hành chơn chánh,
với
kiên trì gắn bó
đưa
đến sự thành tựu,
rồi
có hai câu chuyện
chịu
đựng về cảm thọ,
bà-la-môn
năm chuyện,
ba
chuyện vị đề cập
trí
giải thoát, ngụ nhà,
các
dục đã ngăn chặn,
thỏa
thích, và ra đi,
bộ
xương và miếng thịt
hai
chuyện kẻ giết bò,
cục
thịt kẻ bẫy chim,
không
da người hàng thịt,
cây
gươm kẻ mổ heo,
cây
lao thợ săn nai,
mũi
tên người xử án,
cây
kim kẻ dạy thú,
người
đâm thọc bị khâu,
mang
tinh hoàn quan tòa,
chìm
hố kẻ ngoại tình,
bà-la-môn
quỷ quyệt
là
kẻ bị ăn phân,
không
da gái lăng loàn,
gớm
ghiếc bà bói toán,
thị
héo hon tàn tạ
đổ
than hồng tình địch,
đầu
cụt kẻ trảm tù,
tỳ
khưu, tỳ khưu ni,
ni
tập sự, sa di,
rồi
vị sa di ni,
đã
xuất gia trong Luật
của
Phật Kassapa
chúng
đã làm ác nghiệp,
giòng
sông Tapodā,
thành
Rājagaha,
chiến
trận (Licchavi),
và
chuyện rồng lặn hụp,
tỳ
khưu Sobhita
là
vị A-la-hán
nhớ
được năm trăm kiếp.
[283]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ do sự tự tin thái
quá đã nói về trí giải thoát (aññā). Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định;
phải chăng ta đã phạm tội pārājika?” Sau đó, vị tỳ khưu
ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, do sự tự tin thái quá thì vô tội.
[284]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ cư ngụ ở trong rừng
sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng
ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi
nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ
khưu, không nên cư ngụ ở trong rừng sau khi đã mong mỏi;
vị nào cư ngụ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi khất thực sau khi mong
mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!”
Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi
hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ
khưu, không nên đi khất thực sau khi đã mong mỏi; vị nào
đi thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[285]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ
khưu khác điều này:
- Này
đại đức, tất cả các vị đệ tử của thầy tế độ
của chúng ta đều là các vị A-la-hán.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch
Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya
(trọng tội).[4]
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với vị tỳ khưu
khác điều này:
- Này
đại đức, tất cả các vị học trò của thầy tế độ
của chúng ta đều có đại thần lực, có đại oai lực.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch
Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya
(trọng tội).
[286]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi kinh hành sau khi
mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân chúng sẽ kính trọng ta!”
Dân chúng đã kính trọng vị ấy. Vị ấy đã có nỗi nghi
hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ
khưu, không nên đi kinh hành sau khi đã mong mỏi; vị nào đi
kinh hành thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đứng yên sau khi đã mong
mỏi ...(như trên)... ngồi xuống sau khi đã mong mỏi ...(như
trên)... nằm xuống sau khi mong mỏi rằng: “Như vầy thì dân
chúng sẽ kính trọng ta!” Dân chúng đã kính trọng vị ấy.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika. Và này các tỳ
khưu,
không nên nằm xuống sau khi đã mong mỏi; vị nào nằm xuống
thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).
[287]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác về pháp
thượng nhân đến vị tỳ khưu khác. Vị ấy cũng đã nói
như vầy:
- Này
đại đức, những sự trói buộc (saṃyojanā) của tôi cũng
đã được đoạn tận.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[288]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng
vẻ rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị tỳ khưu
biết được tâm người khác đã phản bác vị tỳ khưu ấy
rằng:
- Này
đại đức, chớ có nói như thế. Điều ấy đại đức không
có.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa
(tác ác).
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đi đến nơi vắng vẻ
rồi khoác lác về pháp thượng nhân. Có vị thiên nhân đã
phản bác vị tỳ khưu ấy rằng:
- Thưa
ngài, chớ có nói như thế. Điều ấy ngài không có.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội dukkaṭa
(tác ác)..
[289]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư
sĩ nọ điều này:
- Này
đạo hữu, vị tỳ khưu sống trong trú xá của đạo hữu
là vị A-la-hán.
Và
vị tỳ khưu ấy sống trong trú xá của người ấy. Vị ấy
đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch
Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya
(trọng tội).
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nói với nam cư sĩ
nọ điều này:
- Này
đạo hữu, vị tỳ khưu mà ngươi hộ độ bằng vật dụng
là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh
là vị A-la-hán.
Và
người ấy đang hộ độ vị tỳ khưu ấy bằng vật dụng
là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men trị bệnh.
Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc và đã trình sự việc ấy lên
đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch
Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya
(trọng tội).
[290]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ
khưu đã nói với vị ấy điều này:
- Đại
đức có pháp thượng nhân không?
- Này
các đại đức, không phải là việc khó để nói lên trí
giải thoát.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chỉ có những vị thinh văn của
đức Thế Tôn mới có thể nói như thế. Và ta không phải
là thinh văn của đức Thế Tôn; phải chăng ta đã phạm tội
pārājika?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế
Tôn.
- Này
tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch
Thế Tôn, con không có ý định khoác lác.
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Đại
đức có pháp thượng nhân không?
- Này
các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự
tinh tấn được ra sức.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Này
đại đức, chớ có sợ hãi!
- Này
các đại đức, tôi không có sợ tử thần.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Này
đại đức, chớ có sợ hãi!
- Này
các đại đức, có lẽ vị nào có sự ân hận thì vị ấy
mới sợ hãi.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Đại
đức có pháp thượng nhân không?
- Này
các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự
hành trì chơn chánh.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Đại
đức có pháp thượng nhân không?
- Này
các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự
tinh tấn được ra sức.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.[5]
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Đại
đức có pháp thượng nhân không?
- Này
các đại đức, pháp sẽ được thành tựu với vị có sự
kiên trì gắn bó.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Này
đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được
tốt đẹp không?
- Này
các đại đức, người nào khác thì không thể chịu đựng
nỗi.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, vị không có ý định khoác lác thì vô tội.
Vào
lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị bệnh. Các tỳ khưu
đã nói với vị ấy điều này:
- Này
đại đức, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được
tốt đẹp không?
- Này
các đại đức, phàm nhân thì không thể chịu đựng nỗi.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)... Vị ấy đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?
- Bạch
Thế Tôn, con có ý định khoác lác.
- Này
tỳ khưu, ngươi không phạm tội pārājika mà phạm tội thullaccaya
(trọng tội).
[291]
Vào lúc bấy giờ, có người bà-la-môn nọ đã thỉnh mời
các tỳ khưu và đã nói điều này:
- Thưa
các ngài, xin các ngài A-la-hán hãy ngự đến.
Các
vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các
vị A-la-hán và người bà-la-môn này gọi chúng ta bằng từ
A-la-hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế nào đây?” Các
vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.
Vào
lúc bấy giờ, có người bà-la-môn nọ đã thỉnh mời các
tỳ khưu và đã nói điều này:
- Thưa
các ngài, xin các ngài A-la-hán hãy ngồi xuống.
...(như
trên)...
- Thưa
các ngài, xin các ngài A-la-hán hãy thọ thực.
...(như
trên)...
- Thưa
các ngài, xin các ngài A-la-hán hãy được hài lòng.
...(như
trên)...
- Thưa
các ngài, xin các ngài A-la-hán hãy ra đi.
Các
vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Chúng ta không phải là các
vị A-la-hán và người bà-la-môn này lại đối xử với chúng
ta bằng danh xưng A-la-hán. Vậy chúng ta nên xử trí như thế
nào đây?” Các vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
- Này
các tỳ khưu, vô tội trong việc xưng hô theo đức tin.
[292]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khoác lác với vị
tỳ khưu khác về pháp thượng nhân. Vị ấy cũng đã nói
như vầy:
- Này
đại đức, tôi cũng đã đoạn tận các lậu hoặc.
Vị
ấy đã có nỗi nghi hoặc: ...(như trên)...
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
Vào
lúc bấy gi