I.
CHƯƠNG PĀRĀJIKA THỨ NHẤT
[10]
Vào lúc bấy giờ, ở không xa thành Vesālī có ngôi làng Kalanda.
Ở nơi ấy, có người con trai nhà đại phú tên là Sudinna
Kalandaputta.[1] Khi ấy, Sudinna Kalandaputta đã đi đến Vesālī
cùng với nhiều người bạn do công việc cần làm nào đó.
Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, được vây quanh bởi hội
chúng đông đảo, đang ngồi thuyết giảng Giáo Pháp. Sudinna
Kalandaputta đã nhìn thấy đức Thế Tôn được vây quanh bởi
hội chúng đông đảo đang ngồi thuyết giảng Giáo Pháp. Sau
khi nhìn thấy, Sudinna Kalandaputta đã khởi ý điều này:[2]
“Hay là ta cũng nên nghe Pháp?” Khi ấy, Sudinna Kalandaputta
đã đi đến gần hội chúng ấy, sau khi đến đã ngồi xuống
ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta
đã khởi ý điều này: “Theo như ta hiểu về Pháp đã được
đức Thế Tôn thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc
dễ làm đối với người đang sống ở gia đình để thực
hành Phạm hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn
trong sạch như vỏ ốc được cạo sạch. Hay là ta nên cạo
bỏ râu tóc, khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống
không nhà?” Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy,
thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài
Pháp thoại, hội chúng ấy đã từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, và
ra đi. Sau đó, khi hội chúng đã đứng dậy không bao lâu,
Sudinna Kalandaputta đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến
đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.
Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta đã nói với
đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế Tôn
thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm đối
với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm hạnh
một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch như vỏ
ốc được cạo sạch. Bạch ngài, con muốn cạo bỏ râu tóc,
khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà.
Xin đức Thế Tôn hãy (làm lễ) xuất gia cho con.
- Này
Sudinna, vậy ngươi đã được mẹ và cha cho phép về việc
rời nhà xuất gia sống không nhà chưa?
- Bạch
ngài, con chưa được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà.
- Này
Sudinna, các đức Như Lai không (làm lễ) xuất gia cho người
con trai chưa được mẹ và cha cho phép.
- Bạch
ngài, bằng cách nào khiến mẹ và cha sẽ cho phép con về việc
rời nhà xuất gia sống không nhà thì con đây sẽ làm theo
cách ấy.
[11]
Sau đó, khi đã hoàn tất công việc cần làm ấy ở Vesālī,
Sudinna Kalandaputta đã đi về lại làng Kalanda đến gặp mẹ
và cha, sau khi đến đã nói với mẹ và cha điều này:
- Mẹ
và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế
Tôn thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm
đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm
hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch
như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc,
khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà.
Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.
Khi
được nói như thế, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã
nói với Sudinna Kalandaputta điều này:
- Này
Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến
của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được
chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất
cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha
đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con
đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà được?
Đến
lần thứ nhì, Sudinna Kalandaputta đã nói với mẹ và cha điều
này:
- Mẹ
và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế
Tôn thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm
đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm
hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch
như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc,
khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà.
Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.
Đến
lần thứ nhì, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với
Sudinna Kalandaputta điều này:
- Này
Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến
của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được
chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất
cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha
đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con
đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà được?
Đến
lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã nói với mẹ và cha điều
này:
- Mẹ
và cha à, theo như con hiểu về Pháp đã được đức Thế
Tôn thuyết giảng thì việc ấy không phải là việc dễ làm
đối với người đang sống ở gia đình để thực hành Phạm
hạnh một cách đầy đủ trọn vẹn, hoàn toàn trong sạch
như vỏ ốc được cạo sạch. Con muốn cạo bỏ râu tóc,
khoác lên các y màu ca-sa, rời nhà xuất gia sống không nhà.
Hãy cho phép con về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.
Đến
lần thứ ba, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với
Sudinna Kalandaputta điều này:
- Này
Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến
của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được
chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất
cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha
đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con
đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà được?
Khi
ấy, Sudinna Kalandaputta (nghĩ rằng): “Mẹ và cha không cho phép
ta về việc rời nhà xuất gia sống không nhà!” rồi đã
nằm xuống ngay tại chỗ ấy trên nền đất không có trải
lót (nói rằng):
- Đối
với tôi, hoặc là cái chết ngay tại đây, hoặc là sự xuất
gia.
Sau
đó, Sudinna Kalandaputta đã không ăn một bữa, đã không ăn
hai bữa, đã không ăn ba bữa, đã không ăn bốn bữa, đã
không ăn năm bữa, đã không ăn sáu bữa, đã không ăn bảy
bữa.
[12]
Khi ấy, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với Sudinna
Kalandaputta điều này:
- Này
Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến
của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được
chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất
cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha
đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con
đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna thương, con hãy
đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn,
trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các
dục, trong khi làm các điều phước thiện, con có thể thỏa
thích, chớ mẹ và cha không cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà.
Khi
được nói như vậy, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.
Đến
lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta đã nói với
Sudinna Kalandaputta điều này:
- Này
Sudinna thương, con chính là con trai một, yêu dấu, quý mến
của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được
chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna thương, con không biết bất
cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha
đành phải xa con một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc con
đang còn sống mẹ và cha lại cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna thương, con hãy
đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa. Trong khi ăn,
trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ hưởng các
dục, trong khi làm các điều phước thiện, con có thể thỏa
thích, chớ mẹ và cha không cho phép con về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà.
Đến
lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.
[13]
Sau đó, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến
gặp Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với Sudinna Kalandaputta
điều này:
- Này
Sudinna mến, bạn chính là con trai một, yêu dấu, quý mến
của mẹ và cha, được lớn lên trong sung sướng, và được
chăm sóc cẩn thận. Này Sudinna mến, bạn không biết bất
cứ điều gì về khổ đau. Chỉ có sự chết thì mẹ và cha
đành phải xa bạn một cách miễn cưỡng; làm sao trong lúc
bạn đang còn sống mẹ và cha lại cho phép bạn về việc
rời nhà xuất gia sống không nhà được? Này Sudinna mến,
bạn hãy đứng dậy, hãy ăn, hãy uống, và hãy chơi đùa.
Trong khi ăn, trong khi uống, trong khi chơi đùa, trong khi thọ
hưởng các dục, trong khi làm các điều phước thiện, bạn
có thể thỏa thích, chớ mẹ và cha không cho phép bạn về
việc rời nhà xuất gia sống không nhà.
Khi
được nói như vậy, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.
Đến
lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã
nói với Sudinna Kalandaputta điều này:
- Này
Sudinna thương, bạn chính là ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, Sudinna Kalandaputta đã im lặng.
Khi
ấy, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến
gặp mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói
với mẹ và cha của Sudinna Kalandaputta điều này:
- Mẹ
và cha à, Sudinna này nằm trên nền đất không có trải lót
(nói rằng): “Đối với tôi, hoặc là cái chết ngay tại
đây, hoặc là sự xuất gia.” Nếu mẹ và cha không cho phép
Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà, anh ta sẽ
đi đến cái chết ngay tại chỗ ấy. Vả lại, nếu mẹ và
cha cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất gia sống không nhà,
mẹ và cha sẽ còn nhìn thấy anh ta cho dù đã xuất gia. Nếu
Sudinna không thỏa thích trong việc rời nhà xuất gia sống
không nhà, thì anh ta còn chốn nào khác đây? Anh ta sẽ quay
trở về ngay tại chỗ này. Mẹ và cha hãy cho phép Sudinna về
việc rời nhà xuất gia sống không nhà đi.
- Các
con thương, mẹ và cha cho phép Sudinna về việc rời nhà xuất
gia sống không nhà.
[14]
Sau đó, những người bạn của Sudinna Kalandaputta đã đi đến
gặp Sudinna Kalandaputta, sau khi đến đã nói với Sudinna Kalandaputta
điều này:
- Này
Sudinna mến, hãy đứng dậy đi. Bạn đã được mẹ và cha
cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không nhà.
Khi
ấy, Sudinna Kalandaputta (nghĩ rằng): “Nghe nói ta đã được
mẹ và cha cho phép về việc rời nhà xuất gia sống không
nhà” nên mừng rỡ phấn chấn, vừa đứng dậy vừa dùng
bàn tay phủi khắp mình mẩy. Sau đó nhiều ngày, Sudinna Kalandaputta
đã phục hồi lại sức khoẻ và đã đi đến gặp đức Thế
Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống
ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Sudinna Kalandaputta
đã nói với đức Thế Tôn điều này:
- Bạch
ngài, con đã được mẹ và cha cho phép về việc rời nhà
xuất gia sống không nhà. Bạch ngài, xin đức Thế Tôn hãy
(làm lễ) xuất gia cho con.
Rồi
Sudinna Kalandaputta đã đạt được sự xuất gia trong sự hiện
diện của đức Thế Tôn, đã đạt được sự tu lên bậc
trên. Khi đã được tu lên bậc trên không bao lâu, đại đức
Sudinna đã thọ trì và thực hành các đức hạnh đầu đà
có hình thức như vầy: là vị ngụ ở rừng, là vị chuyên
khất thực, là vị mặc y paṃsukūla,[3] là vị đi khất thực
theo tuần tự từng nhà. Đại đức đã sống nương tựa vào
ngôi làng nọ trong xứ Vajjī.
[15]
Vào lúc bấy giờ, xứ Vajjī có sự khó khăn về vật thực,
đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành (setaṭṭhikā),
vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống
bằng sự ra sức khất thực. Khi ấy, đại đức Sudinna đã
khởi ý điều này: “Hiện nay, xứ Vajjī có sự khó khăn
về vật thực, đời sống khổ cực, dịch bệnh hoành hành,
vật thực được phân phối theo thẻ, không dễ dàng sinh sống
bằng sự ra sức khất thực. Vả lại, nhiều quyến thuộc
của ta ở trong thành Vesālī thì giàu sang, có nhiều của cải,
nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và
dồi dào lúa gạo, hay là ta nên sống nương tựa vào quyến
thuộc vậy? Hơn nữa, do có liên quan đến ta, quyến thuộc
sẽ cúng dường vật thí, sẽ làm các điều phước thiện,
và các tỳ khưu sẽ nhận được lợi lộc còn ta sẽ không
bị khó nhọc về đồ ăn khất thực.” Sau đó, đại đức
Sudinna đã thu xếp sàng tọa, cầm y bát, và ra đi về phía
thành Vesālī. Trong khi tuần tự du hành, đại đức đã đến
được thành Vesālī. Tại nơi ấy trong thành Vesālī, đại
đức Sudinna trú ở Mahāvana, nơi giảng đường Kūṭāgāra.
Quyến
thuộc của đại đức Sudinna đã nghe được rằng: “Nghe
nói Sudinna con trai của Kalanda đã đến thành Vesālī.” Họ
đã đem lại cúng dường đến đại đức Sudinna bữa ăn gồm
sáu mươi nồi cơm. Khi ấy, đại đức Sudinna đã phân chia
cho các tỳ khưu sáu mươi nồi cơm ấy rồi vào buổi sáng
đã mặc y, cầm y bát, đi vào làng Kalanda để khất thực,
trong khi đi tuần tự từng nhà để khất thực đã đi đến
nhà của cha mình. Vào lúc bấy giờ, người nữ tỳ của quyến
thuộc của đại đức Sudinna có ý định đổ đi món cháo
chua đã để cách đêm. Khi ấy, đại đức Sudinna đã nói
với người nữ tỳ của quyến thuộc ấy điều này:
- Này
chị gái, nếu vật ấy cần phải đổ bỏ thì hãy trút vào
đây trong bình bát của tôi.
Khi
ấy, trong lúc đang trút món cháo chua đã để cách đêm ấy
vào bình bát của đại đức Sudinna, người nữ tỳ của quyến
thuộc của đại đức Sudinna đã nhận ra đặc điểm của
các cánh tay, của các bàn chân, và của giọng nói (của đại
đức Sudinna).[4] Sau đó, người nữ tỳ của quyến thuộc
của đại đức Sudinna đã đi đến gặp mẹ của đại đức
Sudinna, sau khi đến đã nói với mẹ của đại đức Sudinna
điều này:
- Bẩm
bà, bà nên biết là công tử Sudinna đã trở về.
- Này
nô tỳ, nếu ngươi nói đúng, ta sẽ ban cho ngươi khỏi kiếp
tôi tớ.
Vào
lúc bấy giờ, đại đức Sudinna (ngồi) tựa vào chân của
vách tường nọ rồi thọ thực món cháo chua đã để cách
đêm ấy. Và người cha của đại đức Sudinna trong lúc đi
công chuyện đã nhìn thấy đại đức Sudinna (ngồi) tựa vào
chân của vách tường nọ đang thọ thực món cháo chua đã
để cách đêm ấy, sau khi nhìn thấy đã đi đến gần đại
đức Sudinna, sau khi đến đã nói với đại đức Sudinna điều
này:
- Này
Sudinna thương, lẽ nào con lại ăn món cháo chua đã để cách
đêm? Này Sudinna thương, hay là con nên đi về nhà mình đi?
- Này
gia chủ, tôi đã đi đến nhà của ông rồi. Từ nơi đó mà
tôi đã nhận được món cháo chua đã để cách đêm này.
Khi
ấy, người cha của đại đức Sudinna đã nắm lấy cánh tay
của đại đức Sudinna và nói với đại đức Sudinna điều
này:
- Này
Sudinna thương, hãy đi. Chúng ta sẽ đi về nhà.
Sau
đó, đại đức Sudinna đã đi đến nhà của cha mình, sau khi
đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn.
Khi ấy, người cha của đại đức Sudinna đã nói với đại
đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, hãy ăn đi.
- Này
gia chủ, thôi đi. Việc thọ thực ngày hôm nay của tôi đã
hoàn tất.
- Này
Sudinna thương, vậy hãy nhận lời bữa ăn vào ngày mai.
Đại
đức Sudinna đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó,
đại đức Sudinna đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
[16]
Sau đó, khi trải qua đêm ấy mẹ của đại đức Sudinna đã
cho phủ lên mặt đất bằng phân bò tươi rồi bảo người
chất thành hai đống gồm một vàng, một bạc. Các đống
ấy lớn đến mức khiến người đàn ông đứng ở phía bên
này không nhìn thấy người đàn ông đứng ở phía bên kia,
và người đàn ông đứng ở phía bên kia không nhìn thấy
người đàn ông đứng ở phía bên này. Sau khi đã cho che lại
các đống ấy bằng những tấm thảm, cho sắp đặt chỗ ngồi
ở giữa, và cho che màn xung quanh, mẹ của đại đức Sudinna
đã bảo người vợ cũ của đại đức Sudinna rằng:
- Này
con dâu, như thế thì khi trang điểm với đồ trang sức nào
mà con đã được con trai Sudinna yêu thương quý mến thì con
hãy trang điểm với đồ trang sức ấy.
- Thưa
mẹ, xin vâng. Người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả
lời mẹ của đại đức Sudinna.
Sau
đó vào buổi sáng, đại đức Sudinna đã mặc y, cầm y bát,
rồi đi đến tư gia của cha mình, sau khi đến đã ngồi xuống
trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người cha
của đại đức Sudinna đã đi đến gặp đại đức Sudinna,
sau khi đến đã cho mở hai đống ấy ra rồi đã nói với
đại đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, phần này là vật hồi môn của người đàn
bà là của mẹ con, phần kia là của cha, phần kia là của
ông nội. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc
sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm
các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy
quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm
thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước
thiện đi.
- Cha
à, tôi không thể nào, tôi không có khả năng (làm như thế).
Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.
Đến
lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, người cha của đại đức Sudinna đã nói với
đại đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, phần này là vật hồi môn của người đàn
bà là của mẹ con, phần kia là của cha, phần kia là của
ông nội. Này Sudinna thương, con có thể quay trở lại cuộc
sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của cải và làm
các điều phước thiện được mà. Này Sudinna thương, hãy
quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại gia tầm
thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều phước
thiện đi.
- Này
gia chủ, nếu gia chủ không nổi giận thì chúng ta nên bàn
về điều ấy.
- Này
Sudinna thương, hãy nói đi.
- Này
gia chủ, nếu vậy thì hãy cho người thực hiện những bao
tải thật lớn, cho người đổ đầy vàng bạc vào, cho người
đưa lên các xe kéo hàng, rồi nhận chìm ở giữa giòng sông
Gaṅgā. Điều ấy có lý do là gì? Này gia chủ, bởi vì từ
đó là nguyên nhân khiến ông có sự sợ hãi, hoặc có sự
kinh hoàng, hoặc có lông dựng đứng lên, hoặc là sự gìn
giữ; điều ấy sẽ không có cho ông nữa.
Khi
được nói như thế, người cha của đại đức Sudinna đã
tỏ ra không hài lòng:
- Tại
sao con trai Sudinna lại nói như thế?
Sau
đó, người cha của đại đức Sudinna đã bảo người vợ
cũ của đại đức Sudinna rằng:
- Này
con dâu, nếu vậy thì con là người được yêu thương quý
mến, có lẽ con trai Sudinna sẽ làm theo lời con.
Khi
ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã ôm lấy hai
bàn chân của đại đức Sudinna và nói với đại đức Sudinna
điều này:
- Công
tử ơi, các nàng tiên nữ ấy như thế nào khiến chàng thực
hành Phạm hạnh vì các nàng ấy vậy?
- Này
chị gái, tôi thực hành Phạm hạnh không phải vì các nàng
tiên nữ.
Khi
ấy, người vợ cũ của đại đức Sudinna (nghĩ rằng): “Từ
nay, công tử Sudinna xưng hô với ta bằng tiếng chị gái”
nên đã ngất đi rồi ngã xuống ngay tại chỗ ấy. Sau đó,
đại đức Sudinna đã nói với người cha điều này:
- Này
gia chủ, nếu vật thực sẽ được bố thí thì hãy bố thí
đi. Ông chớ có quấy rầy chúng ta nữa.
- Này
Sudinna thương, hãy ăn đi.
Khi
ấy, mẹ và cha của đại đức Sudinna đã tự tay làm hài
lòng và thỏa mãn đại đức Sudinna với thức ăn thượng
hạng loại cứng loại mềm. Sau đó, khi đại đức Sudinna
đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, mẹ của
đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải,
nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và
dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, con có thể quay trở
lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của
cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna
thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại
gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều
phước thiện đi.
- Mẹ
à, tôi không thể nào, tôi không có khả năng (làm như thế).
Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.
Đến
lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại
đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải,
nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và
dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, chính vì điều ấy con
hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy
tài sản không người thừa tự của chúng ta.
- Mẹ
à, điều này tôi có thể làm được.
- Này
Sudinna thương, hiện nay con ngụ ở đâu vậy?
- Mẹ
à, ở Mahāvana.
Sau
đó, đại đức Sudinna đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra
đi.
[17]
Sau đó, mẹ của đại đức Sudinna đã bảo người vợ cũ
của đại đức Sudinna rằng:
- Này
con dâu, nếu vậy thì khi nào đến thời kỳ, kinh nguyệt của
con xuất hiện, khi ấy con hãy cho mẹ hay.
- Thưa
mẹ, xin vâng. Người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả
lời mẹ của đại đức Sudinna.
Sau
đó chẳng bao lâu, người vợ cũ của đại đức Sudinna đã
đến thời kỳ, nàng đã có kinh nguyệt. Khi ấy, người vợ
cũ của đại đức Sudinna đã nói với mẹ của đại đức
Sudinna điều này:
- Thưa
mẹ, con đã đến thời kỳ, kinh nguyệt của con đã xuất
hiện.
- Này
con dâu, vậy thì con đã được con trai Sudinna yêu thương quý
mến khi trang điểm với đồ trang sức nào, (giờ) con hãy
trang điểm với đồ trang sức ấy.
- Thưa
mẹ, xin vâng. Người vợ cũ của đại đức Sudinna đã trả
lời mẹ của đại đức Sudinna.
Sau
đó, mẹ của đại đức Sudinna đã đưa người vợ cũ của
đại đức Sudinna đi đến Mahāvana gặp đại đức Sudinna,
sau khi đến đã nói với đại đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải,
nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và
dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, con có thể quay trở
lại cuộc sống tại gia tầm thường để thọ hưởng của
cải và làm các điều phước thiện được mà. Này Sudinna
thương, hãy quay về đi con. Hãy quay trở lại cuộc sống tại
gia tầm thường, hãy thọ hưởng của cải và làm các điều
phước thiện đi.
- Mẹ
à, tôi không thể nào, tôi không có khả năng (làm như thế).
Tôi đang thỏa thích thực hành Phạm hạnh.
Đến
lần thứ nhì, ...(như trên)...
Đến
lần thứ ba, mẹ của đại đức Sudinna đã nói với đại
đức Sudinna điều này:
- Này
Sudinna thương, gia đình này thì giàu sang, có nhiều của cải,
nhiều tài sản, có vô số vàng bạc, vô số vật dụng, và
dồi dào lúa gạo. Này Sudinna thương, chính vì điều ấy con
hãy để lại chủng tử. Chớ để các Licchavi đoạt lấy
tài sản không người thừa tự của chúng ta.
- Mẹ
à, điều này tôi có thể làm được.
Rồi
đã nắm lấy cánh tay của người vợ cũ đi vào trong (khu
rừng) Mahāvana. Trong khi điều học chưa được quy định,
vị ấy không nhận thức được điều nguy hại nên đã tiến
hành việc đôi lứa với người vợ cũ ba lần. Do việc ấy,
nàng ta đã mang thai.
[18]
Chư thiên ở địa cầu đã đồn đãi lời rằng: “Ngài ơi,
hội chúng tỳ khưu thật sự không có sự ô uế, không bị
điều tai tiếng, nay Udinna Kalandaputta đã gây nên sự ô uế,
đã gây nên điều tai tiếng!” Sau khi nghe được tiếng đồn
của chư thiên ở địa cầu, chư thiên ở cõi Tứ Đại Thiên
Vương đã đồn đãi lời rằng: ...(như trên)... chư thiên
ở cõi Đạo Lợi ...(như trên)... chư thiên ở cõi Dạ Ma ...(như
trên)... chư thiên ở cõi Đẩu Suất ...(như trên)... chư thiên
ở cõi Hóa Lạc Thiên ...(như trên)... chư thiên ở cõi Tha
Hóa Tự Tại ...(như trên)... chư thiên thuộc hàng Phạm thiên
đã đồn đãi lời rằng: “Ngài ơi, hội chúng tỳ khưu thật
sự không có sự ô uế, không bị điều tai tiếng, nay Udinna
Kalandaputta đã gây nên sự ô uế, đã gây nên điều tai tiếng!”
Vào thời khắc ấy vào giây phút ấy, lời đồn đãi như
thế ấy đã đi đến các cõi trời Phạm thiên.
Sau
đó, khi bào thai ấy đã được phát triển đầy đủ, người
vợ cũ của đại đức Sudinna đã sanh con trai. Khi ấy, những
người bạn của đại đức Sudinna đã đặt tên cho đứa
bé trai là “Bījako (Chủng Tử),” đã đặt tên cho người
vợ cũ của đại đức Sudinna là “Bījakamātā (Mẹ của Chủng
Tử),” và đã đặt tên cho đại đức Sudinna là “Bījakapitā
(Cha của Chủng Tử).” Thời gian sau, cả hai người ấy đã
rời nhà xuất gia sống không nhà[5] và đã chứng đắc quả
vị A-la-hán.
[19]
Sau đó, đại đức Sudinna đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi
lên nỗi ân hận: “Thật là điều không lợi ích đã có
cho ta! Thật là điều lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt
được điều xấu! Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi
vì ta đây đã xuất gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết
giảng như vầy lại không thể thực hành Phạm hạnh thanh
tịnh một cách trọn vẹn đến cuối cuộc đời!” Do chính
sự ăn năn ấy và do nỗi ân hận ấy, vị ấy đã trở nên
ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi
đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở, buồn
bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn. Khi ấy, những vị tỳ khưu
bạn của đại đức Sudinna đã nói với đại đức Sudinna
điều này:
- Này
đại đức Sudinna, trước đây đại đức có sắc tướng,
các căn rạng rỡ, sắc diện an tịnh, nước da trong sáng,
thanh khiết. Hiện nay, trong lúc này đại đức đây lại trở
nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình
nổi đầy gân, tâm trở nên lãnh đạm, trì trệ, khổ sở,
buồn bã, ăn năn, và có vẻ thờ thẩn. Này đại đức Sudinna,
không lẽ đại đức không thỏa thích thực hành Phạm hành
hay sao?
- Này
các đại đức, không phải tôi không thỏa thích thực hành
Phạm hạnh mà tôi đã tạo nên ác pháp, tôi đã thực hiện
việc đôi lứa với người vợ cũ. Này các đại đức, tôi
đây đã khởi lên sự ăn năn, đã khởi lên nỗi ân hận:
“Thật là điều không lợi ích đã có cho ta! Thật là điều
lợi ích đã không có cho ta! Ta đã đạt được điều xấu!
Ta đã không đạt được điều tốt! Bởi vì ta đây đã xuất
gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại
không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn
vẹn đến cuối cuộc đời!”
- Này
đại đức Sudinna, đại đức có sự ăn năn là phải lẽ,
có nỗi ân hận là phải lẽ. Bởi vì đại đức đã xuất
gia trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại
không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn
vẹn đến cuối cuộc đời. Này đại đức, chẳng phải đức
Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để
đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa
đến tham ái, đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không
còn sự ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng
buộc, đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn
chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay
sao? Này đại đức, ở đây trong khi đức Thế Tôn thuyết
giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì đại
đức lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng pháp để đưa
đến sự không còn sự ràng buộc thì đại đức lại nghĩ
đến sự ràng buộc, thuyết giảng pháp để đưa đến sự
không còn chấp thủ thì đại đức lại nghĩ đến sự chấp
thủ. Này đại đức, chẳng phải đức Thế Tôn bằng nhiều
phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không
còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam
mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế các sự khao khát,
để trừ diệt các sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái
sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch
diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao? Này đại đức, chẳng
phải đức Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã đề cập
đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ
về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các
nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt
các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các
nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này đại đức, sự việc
này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức
tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc này đem lại
sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm
thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.
Sau
đó, khi đã khiển trách đại đức Sudinna bằng nhiều phương
thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
[20]
Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã
triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức
Sudinna rằng:
- Này
Sudinna, nghe nói ngươi thực hiện việc đôi lứa với người
vợ cũ, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại , thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không
tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không
nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi đã xuất gia trong
Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không
thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn
đến cuối cuộc đời? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng
nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến
sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái,
đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc
chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết
giảng pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không
phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao? Này kẻ rồ dại,
thế mà ở đây trong khi ta thuyết giảng pháp để đưa đến
sự không còn tham ái thì ngươi lại nghĩ đến tham ái, thuyết
giảng pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì ngươi
lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng pháp để đưa
đến sự không còn chấp thủ thì ngươi lại nghĩ đến sự
chấp thủ. Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương
thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn
tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong
các nỗi đam mê, để kềm chế sự khao khát, để trừ diệt
sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận
ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa
đến Niết Bàn hay sao? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng
nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục,
đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã
đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã
đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập
đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay
sao? Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong
miệng của con rắn có nọc độc khủng khiếp còn là điều
cao thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của người
nữ là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt
dương vật vào trong miệng của con hắc xà còn là điều cao
thượng, nhưng đặt dương vật vào trong âm vật của người
nữ là không (cao thượng). Này kẻ rồ dại, thà ngươi đặt
dương vật vào trong hố than được đốt cháy có ngọn lửa
sáng rực còn là điều cao thượng, chớ đặt dương vật
vào trong âm vật của người nữ là không (cao thượng). Điều
ấy có lý do như thế nào? Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên
nhân kia[6] ngươi có thể đi đến cái chết hoặc khổ gần
như chết, nhưng không vì nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác
và chết đi ngươi lại có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi
khổ, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ rồ dại, quả thật do
nguyên nhân này,[7] khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi có
thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục.
Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây lại là ngươi, tức là
việc ngươi bị vướng vào việc kết hợp của hai người,
theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không tốt đẹp,
là việc làm của các dân làng, là việc làm của những người
thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa.
Này kẻ rồ dại, đối với các pháp bất thiện ngươi là
người vi phạm đầu tiên, trước tất cả. Này kẻ rồ dại,
sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có
đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã
có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này
đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức
tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có
đức tin.
Sau
đó, khi đã khiển trách đại đức Sudinna bằng nhiều phương
thức, đức Thế Tôn đã chê bai về sự khó khăn trong việc
cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu
quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng
nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đã ngợi khen về sự
dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn
uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự
tiết chế, sự hài hòa, sự đoạn giảm, sự ra sức nỗ lực.
Ngài đã thuyết Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các
tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, như thế thì ta sẽ quy định điều học cho
các tỳ khưu vì mười điều lợi ích: Nhằm sự tốt đẹp
cho hội chúng, nhằm sự an lạc cho hội chúng, nhằm việc
trấn áp những nhân vật ác xấu, nhằm sự lạc trú của
các tỳ khưu hiền thiện, nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc trong
hiện tại, nhằm sự trừ diệt các lậu hoặc trong tương
lai, nhằm đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin,
nhằm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin,
nhằm sự tồn tại của Chánh Pháp,[8] và nhằm sự hỗ trợ
Luật. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều
học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thực hiện việc đôi
lứa là vị phạm tội pārājika, không được cộng trú.”[9]
Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho
các tỳ khưu như thế.
Dứt
tụng phẩm về Sudinna.
[21]
Vào lúc bấy giờ, tại Mahāvana (Đại Lâm) ở Vesālī, có
vị tỳ khưu nọ dùng thức ăn dụ dỗ con khỉ cái rồi thực
hiện việc đôi lứa với nó. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ
khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, rồi đi vào thành Vesālī để
khất thực. Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu trong lúc
đi dạo quanh các chỗ trú ngụ đã đi đến trú xá của vị
tỳ khưu ấy. Con khỉ cái ấy đã nhìn thấy các vị tỳ khưu
ấy từ đàng xa đang đi lại, sau khi thấy đã đi đến gần
các vị tỳ khưu ấy, sau khi đến gần đã lúc lắc hông ở
phía trước các vị tỳ khưu ấy, đã lúc lắc đuôi, đã
đưa hông ra, và làm dấu hiệu. Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy
đã khởi ý điều này: “Không còn nghi ngờ gì nữa, vị
tỳ khưu ấy thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái này!”
rồi đã nấp vào ở một bên. Sau đó, vị tỳ khưu ấy sau
khi đi khất thực ở trong thành Vesālī đã mang đồ ăn khất
thực quay trở về. Khi ấy, con khỉ cái ấy đã đi đến gần
vị tỳ khưu ấy. Rồi vị tỳ khưu ấy đã thọ dụng đồ
khất thực ấy một phần và cho con khỉ cái ấy một phần.
Sau đó, khi đã ăn xong đồ khất thực ấy con khỉ cái ấy
đã đưa hông ra cho vị tỳ khưu ấy. Khi ấy, vị tỳ khưu
ấy thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái ấy. Sau đó,
các vị tỳ khưu ấy đã nói với vị tỳ khưu ấy điều
này:
- Này
đại đức, chẳng phải điều học đã được đức Thế
Tôn quy định hay sao? Này đại đức, tại sao đại đức lại
thực hiện việc đôi lứa với con khỉ cái này?
- Này
các đại đức, đúng vậy. Điều học đã được đức Thế
Tôn quy định và điều ấy là với người nữ chứ không
phải với thú cái.
- Này
đại đức, chẳng phải điều ấy là đúng như thế hay sao?
Này đại đức, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không
tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không
nên làm! Này đại đức, tại sao đại đức sau khi xuất gia
trong Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại
không thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn
vẹn đến cuối cuộc đời? Này đại đức, chẳng phải đức
Thế Tôn bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để
đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa
đến tham ái, ...(như trên)... đã đề cập đến sự lắng
dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này đại
đức, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ
chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người
đã có đức tin. Này đại đức, hơn nữa chính sự việc
này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức
tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có
đức tin.
Sau
đó, khi đã khiển trách vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương
thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức
Thế Tôn.
[22]
Khi đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã
triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi vị tỳ khưu
ấy rằng:
- Này
tỳ khưu, nghe nói ngươi đã thực hiện việc đôi lứa với
con khỉ cái, có đúng không vậy?
- Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.
Đức
Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:
- Này
kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không
tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không
nên làm! Này kẻ rồ dại, tại sao ngươi sau khi xuất gia trong
Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không
thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn
đến cuối cuộc đời? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng
nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến
sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái,
...(như trên)... đã đề cập đến sự lắng dịu của các
nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, thà ngươi
đặt dương vật vào trong miệng của con rắn có nọc độc
khủng khiếp còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật
vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Này
kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong miệng của
con hắc xà còn là điều cao thượng, nhưng đặt dương vật
vào trong âm vật của con khỉ cái là không (cao thượng). Này
kẻ rồ dại, thà ngươi đặt dương vật vào trong hố than
được đốt cháy có ngọn lửa sáng rực còn là điều cao
thượng, chớ đặt dương vật vào trong âm vật của con khỉ
cái là không (cao thượng). Điều ấy có lý do như thế nào?
Này kẻ rồ dại, bởi vì do nguyên nhân kia[10] ngươi có thể
đi đến cái chết hoặc khổ gần như chết, nhưng không vì
nguyên nhân kia, khi tan rã thân xác và chết đi, ngươi lại
có thể bị sanh vào bất hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa
ngục. Này kẻ rồ dại, quả thật do nguyên nhân này,[11] khi
tan rã thân xác và chết đi, ngươi có thể bị sanh vào bất
hạnh, cõi khổ, đọa xứ, địa ngục. Này kẻ rồ dại, thế
mà ở đây lại là ngươi, tức là việc ngươi bị vướng
vào việc kết hợp của hai người, theo từng cặp, ở nơi
kín đáo, là việc làm không tốt đẹp, là việc làm của
các dân làng, là việc làm của những người thấp kém, là
xấu xa, kết cuộc phải dùng nước tẩy rửa. Này kẻ rồ
dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa
có đức tin, ...(như trên)... Và này các tỳ khưu, các ngươi
nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào
thực hiện việc đôi lứa ngay cả với loài thú cái là vị
phạm tội pārājika, không được cộng trú.” Và điều học
này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như
thế.
Dứt
chuyện con khỉ cái.
[23]
Vào lúc bấy giờ, có nhiều vị tỳ khưu nhóm Vajjīputtaka
cư trú ở Vesālī đã thọ thực theo ý thích, ngủ theo ý thích,
tắm theo ý thích. Sau khi đã thọ thực theo ý thích, sau khi
đã ngủ theo ý thích, sau khi đã tắm theo ý thích, sau khi đã
tác ý không chơn chánh, các vị ấy đã thực hiện việc đôi
lứa khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu
nhược (dubbalyaṃ). Thời gian sau đó, các vị ấy bị tác
động bởi sự bất hạnh của quyến thuộc, bởi sự sự
bất hạnh về tài sản, bởi sự bất hạnh về bệnh hoạn
nên đi đến gặp đại đức Ānanda và nói như vầy:
- Thưa
ngài Ānanda, chúng tôi không phải là những người chê bai
đức Phật, không phải là những người chê bai đức Pháp,
không phải là những người chê bai đức Tăng. Thưa ngài Ānanda,
chúng tôi là những người chê bai chính mình, là những người
không chê bai kẻ khác. Chính chúng tôi không có may mắn, chúng
tôi có phước báu ít oi, chúng tôi đây sau khi xuất gia trong
Pháp và Luật được khéo thuyết giảng như vầy lại không
thể thực hành Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn
đến cuối cuộc đời. Thưa ngài Ānanda, giờ đây nếu chúng
tôi có thể đạt được sự xuất gia trong sự chứng minh
của đức Phật, có thể đạt được sự tu lên bậc trên,
thì giờ đây chúng tôi có thể là những người hành Minh
Sát, có thể sống gắn bó với sự tu tập về các thiện
pháp tức là các pháp có liên quan đến sự giác ngộ vào
đầu đêm và cuối đêm. Thưa ngài Ānanda, tốt thay xin ngài
hãy trình sự việc này lên đức Thế Tôn.
- Này
các đại đức, được rồi.
Nghe
theo các vị nhóm Vajjīputtaka cư trú ở Vesālī, đại đức
Ānanda đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã trình
sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
Ānanda, việc Như Lai có thể hủy bỏ điều học pārājika
đã được quy định cho các đệ tử vì lý do của các vị
Vajjī hoặc của những người con trai của các vị Vajjī là
điều không có cơ sở và không hợp lý.
[24]
Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã
thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:
- Này
các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào khi chưa lìa bỏ sự học tập
và chưa bày tỏ lòng yếu nhược mà thực hiện việc đôi
lứa thì vị ấy không được tu lên bậc trên trong tương
lai. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nào sau khi lìa bỏ sự
học tập và sau khi tuyên bố sự yếu nhược rồi thực hiện
việc đôi lứa thì vị ấy được tu lên bậc trên trong tương
lai. Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học
này như vầy: “Vị tỳ khưu nào thọ trì sự học tập và
lối sống của các tỳ khưu, khi chưa lìa bỏ sự học tập
và chưa bày tỏ lòng yếu nhược, mà thực hiện việc đôi
lứa ngay cả với loài thú cái là vị phạm tội pārājika,
không được cộng trú.”
[25]
Vị nào: là bất cứ vị nào có mối quan hệ như vầy, có
giai cấp như vầy, có tên như vầy, có họ như vầy, có giới
hạnh như vầy, có trú xứ như vầy, có hành xứ như vầy
(yathāgocaro), là vị trưởng lão (trên mười năm tỳ khưu),
mới tu (dưới năm năm), hoặc trung niên (trên năm năm); vị
ấy được gọi là “vị nào.”
[26]
Tỳ khưu: “Vị đi khất thực” là tỳ khưu. “Vị chấp
nhận việc đi khất thực” là tỳ khưu. “Vị mặc y đã
được cắt rời” là tỳ khưu. Là tỳ khưu do sự thừa nhận.
Là tỳ khưu do tự mình xác nhận. Là tỳ khưu khi được (đức
Phật) nói rằng: “Này tỳ khưu, hãy đi đến (ehi bhikkhu).”
“Vị đã tu lên bậc trên bằng Tam Quy” là tỳ khưu. “Vị
hiền thiện” là tỳ khưu. “Vị có thực chất” là tỳ
khưu. “Vị thánh hữu học” là tỳ khưu. “Vị thánh vô
học” là tỳ khưu. “Vị đã được tu lên bậc trên với
hội chúng hợp nhất bằng hành sự có lời thông báo đến
lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì” là tỳ
khưu. Ở đây, vị tỳ khưu đã được tu lên bậc trên với
hội chúng hợp nhất, bằng hành sự có lời thông báo đến
lần thứ tư, không sai sót, đáng được duy trì, vị này là
“vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.
[27]
Sự học tập: Có ba sự học tập: sự học tập về tăng
thượng giới, sự học tập về tăng thượng tâm, sự học
tập về tăng thượng tuệ.[12] Ở đây, “sự học tập”
được đề cập trong ý nghĩa này là sự học tập về tăng
thượng giới.
[28]
Lối sống nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn
quy định, điều học ấy gọi là lối sống. Vì thế, vị
học tập theo lối sống ấy được gọi là “thọ trì lối
sống.”
[29]
Khi chưa lìa bỏ sự học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược:
Này các tỳ khưu, có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự
học tập chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, có sự bày
tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
[30]
Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược
mà sự học tập chưa được lìa bỏ?
Này
các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không
thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị
bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong
mỏi thân phận gia chủ, mong mỏi thân phận cư sĩ, mong mỏi
thân phận người phụ việc chùa, mong mỏi thân phận sa di,
mong mỏi thân phận ngoại đạo, mong mỏi thân phận đệ tử
ngoại đạo, mong mỏi thân phận không phải là sa-môn, mong
mỏi thân phận không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên
bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ đức Phật?” Này các
tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà
sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ đức
Pháp?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi
nên lìa bỏ đức Tăng?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay
là tôi nên lìa bỏ sự học tập?” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Hay là tôi nên lìa bỏ Luật?” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Hay là tôi nên lìa bỏ giới bổn Pātimokkha?” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ việc đọc tụng?”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ thầy
tế độ?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa
bỏ thầy dạy học?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là
tôi nên lìa bỏ đệ tử?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay
là tôi nên lìa bỏ học trò?” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung thầy tế độ?” ...
nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên lìa bỏ vị có chung
thầy dạy học?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi
nên lìa bỏ Phạm hạnh?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay
là tôi nên trở thành gia chủ?” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Hay là tôi nên trở thành nam cư sĩ?” ... nói ra, tuyên bố
rằng: “Hay là tôi nên trở thành người phụ việc chùa?”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành sa di?”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành ngoại
đạo?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay là tôi nên trở
thành đệ tử ngoại đạo?” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hay
là tôi nên trở thành không phải là sa-môn?” ... nói ra, tuyên
bố rằng: “Hay là tôi nên trở thành không phải là Thích
tử?” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng
yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Nếu như tôi có thể lìa bỏ
đức Phật?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Nếu
như tôi có thể không phải là Thích tử?” ...(như trên)...
nói ra, tuyên bố rằng: “Giờ tôi nên lìa bỏ đức Phật?”
...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Giờ tôi nên không
phải là Thích tử?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng:
“Vậy tôi hãy nên lìa bỏ đức Phật?” ...(như trên)...
nói ra, tuyên bố rằng: “Vậy tôi hãy nên không phải là
Thích tử?” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Ước
gì tôi có thể lìa bỏ đức Phật?” ...(như trên)... nói
ra, tuyên bố rằng: “Ước gì tôi có thể không phải là
Thích tử?” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ
lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ mẹ.” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Tôi nhớ cha.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Tôi nhớ anh (em) trai.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
nhớ chị (em) gái.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ
con trai.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ con gái.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ vợ.” ... nói ra, tuyên
bố rằng: “Tôi nhớ quyến thuộc.” ... nói ra, tuyên bố
rằng: “Tôi nhớ bạn bè.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
nhớ làng quê.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ phố
phường.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ ruộng.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi nhớ vườn.” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Tôi nhớ tiền vàng.” ... nói ra, tuyên
bố rằng: “Tôi nhớ vàng khối.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Tôi nhớ nghề nghiệp.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
hồi tưởng lại sự cười, nói, đùa giỡn trước đây.”
Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược
mà sự học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có mẹ. Người ấy có
thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có cha.
Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Tôi có anh (em) trai. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói
ra, tuyên bố rằng: “Tôi có chị (em) gái. Người ấy có
thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con trai.
Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Tôi có con gái. Người ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Tôi có vợ. Người ấy có thể nuôi tôi.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có quyến thuộc. Các người
ấy có thể nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
có bạn bè. Các người ấy có thể nuôi tôi.” Này các tỳ
khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự
học tập chưa được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có mẹ. Người ấy sẽ
nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có cha. Người
ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có anh
(em) trai. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Tôi có chị (em) gái. Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói
ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con trai. Người ấy sẽ nuôi
tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có con gái. Người
ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có vợ.
Người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
có quyến thuộc. Các người ấy sẽ nuôi tôi.” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Tôi có bạn bè. Các người ấy sẽ nuôi
tôi.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có làng quê. Tôi
sẽ sống nhờ nó.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có
phố phường. Tôi sẽ sống nhờ nó.” ... nói ra, tuyên bố
rằng: “Tôi có ruộng. Tôi sẽ sống nhờ nó.” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Tôi có vườn. Tôi sẽ sống nhờ nó.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có tiền vàng. Tôi sẽ sống
nhờ nó.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi có vàng khối.
Tôi sẽ sống nhờ nó.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
có nghề nghiệp. Tôi sẽ sống nhờ nó.” Này các tỳ khưu,
như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập
chưa được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Việc khó làm!” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Không phải việc dễ làm!” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Việc khó thực hành!” ... nói ra, tuyên
bố rằng: “Không phải việc dễ thực hành!” ... nói ra,
tuyên bố rằng: “Tôi không nỗ lực!” ... nói ra, tuyên bố
rằng: “Tôi không chịu đựng nỗi!” ... nói ra, tuyên bố
rằng: “Tôi không sung sướng!” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Tôi không thỏa thích!” Này các tỳ khưu, như thế là có
sự bày tỏ lòng yếu nhược mà sự học tập chưa được
lìa bỏ.
[31]
Này các tỳ khưu, thế nào là có sự bày tỏ lòng yếu nhược
và sự học tập được lìa bỏ?
Này
các tỳ khưu, trường hợp vị tỳ khưu bị bực bội, không
thỏa thích, có ý định từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị
bồn chồn, bị hổ thẹn, chán ghét thân phận tỳ khưu, mong
mỏi thân phận gia chủ, ...(như trên)... mong mỏi thân phận
không phải là Thích tử rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
lìa bỏ đức Phật.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự
bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)... mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đức Pháp.” ...(như
trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đức Tăng.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ sự học tập.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ Luật.” ... nói
ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ giới bổn Pātimokkha.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ việc đọc tụng.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ thầy tế độ.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ thầy dạy học.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ đệ tử.” ... nói
ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ học trò.” ... nói ra, tuyên
bố rằng: “Tôi lìa bỏ vị có chung thầy tế độ.” ...
nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ vị có chung thầy dạy
học.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi lìa bỏ Phạm hạnh.”
...(như trên)... ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận
tôi là gia chủ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận
tôi là cư sĩ.” ... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận
tôi là người phụ việc chùa.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Hãy ghi nhận tôi là sa di.” ... nói ra, tuyên bố rằng:
“Hãy ghi nhận tôi là ngoại đạo.” ... nói ra, tuyên bố
rằng: “Hãy ghi nhận tôi là đệ tử ngoại đạo.” ... nói
ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi không phải là sa-môn.”
... nói ra, tuyên bố rằng: “Hãy ghi nhận tôi không phải
là Thích tử.” Này các tỳ khưu, như thế là có sự bày
tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được lìa bỏ.
Hoặc
là (vị tỳ khưu) bị bực bội, không thỏa thích, có ý định
từ biệt hạnh sa-môn, trong khi bị bồn chồn, bị hổ thẹn,
chán ghét thân phận tỳ khưu, mong mỏi thân phận gia chủ,
...(như trên)..., mong mỏi thân phận không phải là Thích tử
rồi nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi đã chán đức Phật (alaṃ
me buddhenāti).” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi
đã chán Phạm hạnh (alaṃ me sabrahmacārīhi).” Này các tỳ
khưu, như thế là ...(như trên)...
Hoặc
là ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi còn liên
quan gì với đức Phật?” (Kinnu me buddhenāti) ...(như trên)...
nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi còn liên quan gì với Phạm hạnh?”
Này các tỳ khưu, như thế là ...(như trên)...
Hoặc
là ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi không còn
cần đến đức Phật.” ...(như trên)... nói ra, tuyên bố
rằng: “Tôi không còn cần đến Phạm hạnh.” Này các tỳ
khưu, như thế là ...(như trên)...
Hoặc
là ...(như trên)... nói ra, tuyên bố rằng: “Tôi đã hoàn
toàn lìa khỏi đức Phật.” ...(như trên)... nói ra, tuyên
bố rằng: “Tôi đã hoàn toàn lìa khỏi Phạm hạnh.” Này
các tỳ khưu, như thế là có sự bày tỏ lòng yếu nhược
và sự học tập được lìa bỏ.
Hoặc
là, còn có những điều khác ám chỉ đến đức Phật (Buddhavevacanaṃ),
hoặc ám chỉ đến đức Pháp, hoặc ám chỉ đến đức Tăng,
hoặc ám chỉ đến sự học tập, hoặc ám chỉ đến Luật,
hoặc ám chỉ đến giới bổn Pātimokkha, hoặc ám chỉ đến
việc đọc tụng, hoặc ám chỉ đến thầy tế độ, hoặc
ám chỉ đến thầy dạy học, hoặc ám chỉ đến đệ tử,
hoặc ám chỉ đến học trò, hoặc ám chỉ đến vị có chung
thầy tế độ, hoặc ám chỉ đến vị có chung thầy dạy
học, hoặc ám chỉ đến Phạm hạnh, hoặc ám chỉ đến gia
chủ, hoặc ám chỉ đến nam cư sĩ, hoặc ám chỉ đến người
phụ việc chùa, hoặc ám chỉ đến sa di, hoặc ám chỉ đến
ngoại đạo, hoặc ám chỉ đến đệ tử ngoại đạo, hoặc
ám chỉ đến (trạng thái) không phải là sa-môn, hoặc ám
chỉ đến (trạng thái) không phải là Thích tử, và vị nói
ra, tuyên bố với những hình thức ấy, với những biểu hiện
ấy, với những dấu hiệu ấy. Này các tỳ khưu, như thế
là có sự bày tỏ lòng yếu nhược và sự học tập được
lìa bỏ.
[32]
Này các tỳ khưu, thế nào là sự học tập chưa được lìa
bỏ? Này các tỳ khưu, ở đây sự học tập được lìa bỏ
với những hình thức nào, với những biểu hiện nào, với
những dấu hiệu nào và vị bị điên (ummattako) lìa bỏ sự
học tập với những hình thức ấy, với những biểu hiện
ấy, với những dấu hiệu ấy thì sự học tập vẫn chưa
được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh
của vị bị điên thì sự học tập vẫn chưa được lìa
bỏ. Vị có tâm bị rối loạn (khittacitto) lìa bỏ sự học
tập thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ
điều học trong sự chứng minh của vị có tâm bị rối loạn
thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị bị thọ khổ
hành hạ (vedanaṭṭo) lìa bỏ sự học tập thì sự học tập
vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự
chứng minh của vị bị thọ khổ hành hạ thì sự học tập
vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự
chứng minh của thiên nhân thì sự học tập vẫn chưa được
lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học trong sự chứng minh của loài
thú thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ
điều học theo ngôn ngữ quý phái (ariyakena) trong sự chứng
minh của người bình dân (milakkhaka) và nếu người ấy không
hiểu được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị
lìa bỏ điều học theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng
minh của người quý phái và nếu người ấy không hiểu được
thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều
học theo ngôn ngữ quý phái trong sự chứng minh của người
quý phái nhưng nếu người ấy không hiểu được thì sự
học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học
theo ngôn ngữ bình dân trong sự chứng minh của người bình
dân nhưng nếu người ấy không hiểu được thì sự học
tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị lìa bỏ điều học theo
lối đùa cợt thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ.
Vị lìa bỏ điều học do bị lỡ lời thì sự học tập vẫn
chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói ra nhưng có ý định không
cho nghe được thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ.
Vị ấy có ý định cho nghe được nhưng nói ra không rõ ràng
thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Vị ấy nói với
người không hiểu biết (aviññussa) thì sự học tập vẫn
chưa được lìa bỏ. Vị ấy không nói ra rõ ràng với người
hiểu biết thì sự học tập vẫn chưa được lìa bỏ. Hoặc
vị ấy không nói ra rõ ràng đầy đủ (cả câu) thì sự học
tập vẫn chưa được lìa bỏ. Này các tỳ khưu, như thế
là sự học tập chưa được lìa bỏ.
[33]
Việc đôi lứa nghĩa là việc nào là việc kết hợp của
hai người, theo từng cặp, ở nơi kín đáo, là việc làm không
tốt đẹp, là việc làm của các dân làng, là việc làm của
những người thấp kém, là xấu xa, kết cuộc phải dùng nước
tẩy rửa; việc ấy gọi là việc đôi lứa.
[34]
Thực hiện nghĩa là vị nào đưa vật biểu tượng (nimittaṃ)
vào vật biểu tượng (nimittena), đưa dương vật (aṅgajātaṃ)
vào âm vật (aṅgajātena) cho dầu chỉ (đưa vào) khoảng cách
bằng hạt mè, vị ấy được gọi là thực hiện.
[35]
Ngay cả với loài thú cái: Sau khi thực hiện việc đôi lứa
với giống cái của loài thú thì không còn là sa-môn, không
phải là Thích tử nữa chứ không phải chỉ với người nữ;
vì thế được gọi là “ngay cả với loài thú cái.”
[36]
Là vị phạm tội pārājika: cũng giống như người đàn ông
bị chặt đứt đầu không thể sống bám víu vào thân thể
ấy; tương tợ như thế, vị tỳ khưu sau khi thực hiện việc
đôi lứa thì không còn là sa-môn, không phải là Thích tử;
vì thế được gọi “là vị phạm tội pārājika.”
[37]
Không được cộng trú: cộng trú nghĩa là có chung hành sự,
có chung việc đọc tụng (giới bổn Pātimokkha), có sự học
tập giống nhau, điều ấy gọi là cộng trú. Vị ấy không
có được điều ấy, vì thế được gọi là “không được
cộng trú.”
[38]
Nữ tánh (itthī) có ba loại: người nữ, phi nhân nữ, thú
cái.
Lưỡng
căn (ubhatobyañjanaka)[13] có ba loại: người lưỡng căn, phi
nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn.
Vô
căn (paṇḍaka)[14] có ba loại: người vô căn, phi nhân vô
căn, thú vô căn.
Nam
tánh (purisa) có ba loại: người nam, phi nhân nam, thú đực.
Vị
thực hiện việc đôi lứa với người nữ theo ba đường
(magge): ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở
miệng thì phạm tội pārājika. Vị thực hiện việc đôi lứa
với phi nhân nữ ...(như trên)... với thú cái theo ba đường:
ở đường đại tiện, ở đường tiểu tiện, ở miệng thì
phạm tội pārājika.
Vị
thực hiện việc đôi lứa với người lưỡng căn ...(như
trên)... với phi nhân lưỡng căn ...(như trên)... với thú lưỡng
căn theo ba đường: ở đường đại tiện, ở đường tiểu
tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
Vị
thực hiện việc đôi lứa với người vô căn theo hai đường:
ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội pārājika.
Vị thực hiện việc đôi lứa với phi nhân vô căn ...(như
trên)... với thú vô căn ...(như trên)... với người nam ...(như
trên)... với phi nhân nam ...(như trên)... với thú đực theo
hai đường: ở đường đại tiện, ở miệng thì phạm tội
pārājika.
[39]
Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật
vào đường đại tiện của người nữ thì phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật
vào đường tiểu tiện của người nữ thì phạm tội pārājika.
Vị tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật
vào miệng của người nữ thì phạm tội pārājika. Vị tỳ
khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào đường
đại tiện, vào đường tiểu tiện, vào miệng của phi nhân
nữ ...(như trên)... của thú cái ...(như trên)... của người
lưỡng căn ...(như trên)... của phi nhân lưỡng căn ...(như
trên)... của thú lưỡng căn thì phạm tội pārājika.
Vị
tỳ khưu nghĩ đến việc giao hợp rồi đưa dương vật vào
đường đại tiện ...(như trên)... vào miệng của người
vô căn thì phạm tội pārājika. Vị tỳ khưu nghĩ đến việc
giao hợp rồi đưa dương vật vào đường đại tiện, vào
miệng của phi nhân vô căn ...(như trên)... của thú vô căn,
của người nam, của phi nhân nam, của thú đực ...(như trên)...
thì phạm tội pārājika.
[40]
Các tỳ khưu đối nghịch (bhikkhupaccatthikā)[15] đem người
nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của
vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị
ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào,
ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại
gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy)
với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy không
ưng thuận việc đưa vào, (nhưng) ưng thuận khi được đẩy
vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại
gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy)
với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị ấy không
ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được đẩy
vào, (nhưng) ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút
ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch đem người
nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của
vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ); nếu vị
ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận khi được
đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, (nhưng) ưng thuận
việc rút ra thì phạm tội pārājika. Các tỳ khưu đối nghịch
đem người nữ lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương
vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của người nữ);
nếu vị ấy không ưng thuận việc đưa vào, không ưng thuận
khi được đẩy vào, không ưng thuận khi dừng lại, không
ưng thuận việc rút ra thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ khưu
rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường tiểu
tiện (của người nữ) ...(như trên)... với miệng (của người
nữ); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi
được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc
rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận
thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang
tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn,
đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều
phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)...
đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu
rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại
tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của người nữ);
nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được
đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... không
ưng thuận thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem phi nhân nữ ...(như trên)... thú
cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn
lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị
ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với
miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa
vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại,
ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)...
không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem
thú lưỡng căn đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị
điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết
chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội
pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều
phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của
vị ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện,
với miệng (của đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc
đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng
lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn ...(như trên)... phi
nhân vô căn, thú vô căn lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp
dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của đối
tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng); nếu
vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy
vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các
tỳ khưu đối nghịch đem thú vô căn đang tỉnh táo, đang
ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa
bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như
trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết
đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết
hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của
đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng);
nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được
đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra
thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... không
ưng thuận thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem người nam ...(như trên)... phi nhân
nam, ...(như trên)... thú đực lại gần vị tỳ khưu rồi kết
hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện (của
đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của đối tượng);
nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được
đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra
thì phạm pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô
tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú nam đang tỉnh táo,
đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết
chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần
...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã
chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu
rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại
tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của
đối tượng); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng
thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận
việc rút ra thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như
trên)... không ưng thuận thì vô tội.
[41]
Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ lại gần vị tỳ
khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường
đại tiện, với đường tiểu tiện, với miệng (của người
nữ) – của người nữ được che phủ và của vị ấy không
được che phủ – của người nữ không được che phủ và
của vị ấy được che phủ – của người nữ được che
phủ và của vị ấy được che phủ – của người nữ không
được che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu
vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy
vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem người nữ đang tỉnh táo, đang
ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa
bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như
trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết
đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết
hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại tiện, với
đường tiểu tiện, với miệng (của người nữ) – của
người nữ được che phủ và của vị ấy không được che
phủ – của người nữ không được che phủ và của vị
ấy được che phủ – của người nữ được che phủ và
của vị ấy được che phủ – của người nữ không được
che phủ và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy
ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào,
ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... không ưng thuận
thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem phi nhân nữ ...(như trên)... thú
cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng căn, thú lưỡng căn
lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị
ấy) với đường đại tiện, với đường tiểu tiện, với
miệng (của đối tượng) – của đối tượng được che
phủ và của vị ấy không được che phủ – của đối tượng
không được che phủ và của vị ấy được che phủ – của
đối tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ
– của đối tượng không được che phủ và của vị ấy
không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào,
ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng
thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như trên)...
không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem
thú lưỡng căn đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị
điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết
chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội
pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều
phần lại gần vị tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của
vị ấy) với đường đại tiện (của đối tượng), ...(như
trên)... với miệng (của đối tượng) – của đối tượng
được che phủ và của vị ấy không được che phủ – của
đối tượng không được che phủ và của vị ấy được
che phủ – của đối tượng được che phủ và của vị ấy
được che phủ – của đối tượng không được che phủ
và của vị ấy không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận
việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận
khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội). ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem người vô căn, phi nhân vô căn,
thú vô căn, người nam, phi nhân nam, thú đực lại gần vị
tỳ khưu rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường
đại tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng
(của đối tượng) – của đối tượng được che phủ và
của vị ấy không được che phủ – của đối tượng không
được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối
tượng được che phủ và của vị ấy được che phủ –
của đối tượng không được che phủ và của vị ấy không
được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng
thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận
việc rút ra thì phạm pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận
thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem thú đực đang
tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn,
đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều
phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika. ...(như trên)...
đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần lại gần vị tỳ khưu
rồi kết hợp dương vật (của vị ấy) với đường đại
tiện (của đối tượng), ...(như trên)... với miệng (của
đối tượng) – của đối tượng được che phủ và của
vị ấy không được che phủ – của đối tượng không được
che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối tượng
được che phủ và của vị ấy được che phủ – của đối
tượng không được che phủ và của vị ấy không được
che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận
khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc
rút ra thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)...
không ưng thuận thì vô tội.
[42]
Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người
nữ rồi kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện,
miệng (của người nữ) với dương vật (của vị ấy); nếu
vị ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy
vào, ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người
nữ đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang
đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị
(thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika.
...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi
kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng (của
người nữ) với dương vật (của vị ấy); nếu vị ấy ưng
thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng
thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội
thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... không ưng thuận thì
vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ
...(như trên)... thú cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng
căn, thú lưỡng căn ...(như trên)... người vô căn, phi nhân
vô căn, thú vô căn, người nam, phi nhân nam, thú đực rồi
kết hợp đường đại tiện, miệng (của đối tượng) với
dương vật (của vị ấy); nếu vị ấy ưng thuận việc đưa
vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng lại,
ưng thuận việc rút ra thì phạm pārājika. ...(như trên)...
không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch đem
vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo, đang ngủ,
đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị
(thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)...
thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị
(thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện, miệng
(của đối tượng) với dương vật (của vị ấy); nếu vị
ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào,
ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... không ưng thuận
thì vô tội.
[43]
Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người
nữ rồi kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện,
miệng (của người nữ) với dương vật (của vị ấy) –
của vị ấy được che phủ và của người nữ không được
che phủ – của vị ấy không được che phủ và của người
nữ được che phủ – của vị ấy được che phủ và của
người nữ được che phủ – của vị ấy không được che
phủ và của người nữ không được che phủ; nếu vị ấy
ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào,
ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội pārājika. ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần người
nữ đang tỉnh táo, đang ngủ, đang say sưa, bị điên, đang
đờ đẫn, đã chết chưa bị (thú) ăn, đã chết chưa bị
(thú) ăn nhiều phần ...(như trên)... thì phạm tội pārājika.
...(như trên)... đã chết đã bị (thú) ăn nhiều phần rồi
kết hợp đường đại tiện, đường tiểu tiện, miệng (của
người nữ) với dương vật (của vị ấy) – của vị ấy
được che phủ và của người nữ không được che phủ –
của vị ấy không được che phủ và của người nữ được
che phủ – của vị ấy được che phủ và của người nữ
được che phủ – của vị ấy không được che phủ và của
người nữ không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc
đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng
lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội thullaccaya (trọng
tội). ...(như trên)... không ưng thuận thì vô tội.
Các
tỳ khưu đối nghịch đem vị tỳ khưu lại gần phi nhân nữ
...(như trên)... thú cái, người lưỡng căn, phi nhân lưỡng
căn, thú lưỡng căn, ...(như trên)... người vô căn, phi nhân
vô căn, thú vô căn, người nam, phi nhân nam, thú đực rồi
kết hợp đường đại tiện, miệng (của đối tượng) với
dương vật (của vị ấy) – của vị ấy được che phủ
và của đối tượng không được che phủ – của vị ấy
không được che phủ và của đối tượng được che phủ
– của vị ấy được che phủ và của đối tượng được
che phủ – của vị ấy không được che phủ và của đối
tượng không được che phủ; nếu vị ấy ưng thuận việc
đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào, ưng thuận khi dừng
lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm tội pārājika. ...(như
trên)... không ưng thuận thì vô tội. Các tỳ khưu đối nghịch
đem vị tỳ khưu lại gần thú đực đang tỉnh táo, đang ngủ,
đang say sưa, bị điên, đang đờ đẫn, đã chết chưa bị
(thú) ăn, đã chết chưa bị (thú) ăn nhiều phần ...(như trên)...
thì phạm tội pārājika. ...(như trên)... đã chết đã bị
(thú) ăn nhiều phần rồi kết hợp đường đại tiện, miệng
(của đối tượng) với dương vật (của vị ấy) – của
vị ấy được che phủ và của đối tượng không được
che phủ – của vị ấy không được che phủ và của đối
tượng được che phủ – của vị ấy được che phủ và
của đối tượng được che phủ – của vị ấy không được
che phủ và của đối tượng không được che phủ; nếu vị
ấy ưng thuận việc đưa vào, ưng thuận khi được đẩy vào,
ưng thuận khi dừng lại, ưng thuận việc rút ra thì phạm
tội thullaccaya (trọng tội). ...(như trên)... không ưng thuận
thì vô tội.
[44]
Các tỳ khưu đối nghịch (bhikkhupaccatthikā) được phân tích
như thế nào thì những vị vua đối nghịch (rājapaccatthikā),[16]
những kẻ trộm cướp đối nghịch (corapaccatthikā), những
kẻ vô lại đối nghịch (dhuttapaccatthikā), những kẻ thảo
khấu đối nghịch (uppalagandhapaccatthikā) nên được phân tích
như thế.
[45]
Vị đưa (dương vật) vào khiếu (maggaṃ) theo đường khiếu
(maggena) thì phạm tội pārājika. Vị đưa (dương vật) vào
nơi không phải là khiếu (amaggaṃ) theo đường khiếu (maggena)
thì phạm tội pārājika. Vị đưa (dương vật) vào khiếu (maggaṃ)
không theo đường khiếu (amaggena) thì phạm tội pārājika.
Vị đưa (dương vật) vào nơi không phải là khiếu (amaggaṃ)
không theo đường khiếu (amaggena) thì phạm tội thullaccaya
(trọng tội).[17]
[46]
Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị tỳ khưu đang ngủ, vị
kia thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục xuất.
Vị kia thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên bị trục
xuất. Vị tỳ khưu vi phạm giới với vị sa di đang ngủ,
vị sa di thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên bị trục
xuất. Vị sa di thức giấc không ưng thuận, kẻ làm bậy nên
bị trục xuất. Vị sa di vi phạm giới với vị tỳ khưu đang
ngủ, vị tỳ khưu thức giấc lại ưng thuận; cả hai nên
bị trục xuất. Vị tỳ khưu thức giấc không ưng thuận,
kẻ làm bậy nên bị trục xuất. Vị sa di vi phạm giới với
vị sa di đang ngủ, vị kia thức giấc lại ưng thuận; cả
hai nên bị trục xuất. Vị kia thức giấc không ưng thuận,
kẻ làm bậy nên bị trục xuất.
[47]
Vị không biết, vị không ưng thuận,[18] vị bị điên, vị
có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm
đầu tiên thì vô tội.
Dứt
tụng phẩm “Được che đậy.”
[48]
Câu
chuyện con khỉ cái,
và
các vị Vajjī,
(trong
hình tướng) gia chủ,
lõa
thể, và ngoại đạo,
chuyện
về đứa bé gái,
Uppalavaṇṇā,
hai
trường hợp chuyển tánh,
người
mẹ, rồi con gái,
chị
(em)
gái, người vợ,
lưng
dẻo, dương vật dài,
vết
loét hai trường hợp,
tranh
vẽ, và tượng gỗ,
với
chuyện Sundara
thành
ra năm (trường hợp),
năm
chuyện bãi tha ma,
chuyện
xương (được thâu nhặt),
rồng
cái, dạ-xoa nữ,
ma
nữ, người vô căn,
liệt
cảm giác, khi đụng,
chuyện
vị A-la-hán
ngủ
ở Bhaddiya,
bốn
chuyện Sāvatthi,
Vesāli
ba chuyện,
vòng
hoa, vị ngủ mơ,
ở
Bhārukaccha,
Supabbā,
Saddhā,
chuyện
vị tỳ khưu ni,
vị
ni tu tập sự,
và
vị sa di ni,
gái
điếm, người vô căn,
nữ
gia chủ, lẫn nhau,
vị
lớn tuổi xuất gia,
chuyện
nai tơ (cuối cùng).
[49]
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện điều
đôi lứa với con khỉ cái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc:[19]
“Điều học đã được đức Thế Tôn quy định; phải chăng
ta đã phạm tội pārājika?” rồi đã trình sự việc ấy
lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, ngươi đã phạm tội pārājika.
[50]
Vào lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu Vajjīputtaka cư trú ở
Vesālī đã thực hiện việc đôi lứa khi chưa lìa bỏ sự
học tập và chưa bày tỏ lòng yếu nhược. Các vị ấy đã
có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn
quy định; phải chăng chúng ta đã phạm tội pārājika?” rồi
đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.
- Này
tỳ khưu, các ngư