B.2.2.44.
BẤT CÚNG DƯỜNG KINH LUẬT GIỚI
(giới
không cúng dường kinh luật)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử thường ưng nhất tâm thọ trì, độc
tụng Ðại Thừa kinh luật...” cho đến câu ‘...phạm khinh
cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử phải thường nhất tâm thọ trì, đọc tụng
kinh luật Ðại Thừa, dùng giấy, vải, hàng lụa, thẻ tre,
vỏ cây, cho đến lột da làm giấy, trích máu làm mực, lấy
tủy làm nước, chẻ xương làm viết để biên chép kinh luật,
dùng vàng bạc cùng hương, hoa vô giá và tất cả các châu
báu làm hộp, rương, đựng những quyển kinh luật. Nếu không
y theo pháp mà cúng dường kinh luật, Phật tử này phạm khinh
cấu tội.
Lời
giảng
Là
Phật tử mà hủy phạm giới cấm là điều Ðức Phật không
bao giờ chấp thuận, điều đó nhất định là như vậy. Ðối
với Pháp Bảo không cung kính cũng là việc nhất định không
được.
Giới
sở dĩ không nên hủy phạm vì giới là thắng nhân thành vô
thượng Phật quả., nên kinh Hoa Nghiêm dạy: “Giới là cội
gốc của vô thượng Bồ Ðề”, chính là ý ấy. Pháp Bảo
sở dĩ không được thiếu sự kính trọng vì Pháp Bảo là
mẹ của chư Phật. Nên kinh Kim Cang dạy: “Quả A Nậu Ða
La Tam Miệu Tam Bồ Ðề của tất cả chư Phật đều từ kinh
này xuất sanh”, cũng chính là ý này.
Pháp
cũng là thầy của chư Phật, nên chư Phật hết sức tôn trọng,
cung kính Pháp Bảo. Bồ Tát đối với Pháp Bảo phải cung
kính giống như kính Phật. Và muốn chứng đắc Phật quả
như chư Phật, không có lý do gì không sùng trọng Pháp Bảo.
Nếu không tôn trọng, đúng như pháp cúng dường Pháp Bảo
thì không biết nương vào diệu pháp chi để tiến tu theo Phật
đạo, và mọi hành vi của bạn cũng không thể hợp với Chánh
Ðạo. Vì thế cúng dường kinh điển, tôn trọng Pháp Bảo
quả thật không nên xem thường!
Là
Phật tử, đối với Tam Bảo có bổn phận phải bình đẳng
kính trọng và phước huệ nhị nghiêm đồng tu tập. Nếu
không cúng dường kinh điển thì trái với bổn nguyện “thượng
cầu Phật đạo”. Nếu không viết chép kinh điển thì trái
với hạnh “hạ hóa chúng sanh”.
Do
đó:
-
Ðối với kinh điển cần phải lưu thông.
-
Ðối với giới pháp cần phải cúng dường, để cho huệ
mạng của Phật pháp được liên tục, không bị đoạn tuyệt.
Nếu
không làm như thế thì trên là cô phụ thâm ân của Ðức
Phật, dưới là buông bỏ trách nhiệm của mình cần phải
lo tròn, tức là chính mình tự nguyện đọa lạc vậy.
Nên
biết rằng huệ mạng của Như Lai hoàn toàn nương nhờ tam
tạng thánh giáo, vì thế, nếu Phật tử không xem trọng Thánh
Giáo thì Phật pháp làm sao có thể cửu trụ trong thế gian?
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, vì muốn cho Phật pháp được cửu trụ
trong thế gian, thường phải nhất tâm thọ trì, đọc tụng
kinh luật Ðại Thừa”.
Trong
kinh dạy thường phải nhất tâm, chứng tỏ người Phật tử
tu các thiện pháp không được xen tạp, không được gián
đoạn và không được có chút giải đãi, biếng lười. Nếu
không thường thực hành như thế, mà lúc tu, lúc nghỉ, chắc
chắn không thể nào thành công.
Ở
đây, “tu tập những thiện pháp” không phải nói những
công hạnh như lục độ, vạn hạnh... mà chính là cần phải
thọ trì, đọc tụng kinh luật Ðại Thừa:
-
Thọ là lãnh nạp ý thú văn tự trong kinh luật.
-
Trì là nhớ nghĩ mãi mãi trong tâm không quên.
-
Ðọc là xem theo bổn kinh mà đọc lên.
-
Tụng là thuộc lòng mà đọc lên theo âm điệu.
Ngoài
những việc nói trên còn cần phải chép, viết ra trên giấy
trắng như hiện nay có người phát tâm tả kinh Pháp Hoa, kinh
Kim Cương, kinh Hoa Nghiêm v.v...
Những
việc sao chép ở đây không phải chỉ như vậy mà phải lột
da làm giấy, trích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ
xương làm bút, để biên chép kinh luật. Thành thật mà nói,
việc này không phải người thông thường có thể làm được.
Như hiện nay, có người phát tâm chích huyết tả kinh. Mọi
người chúng ta đã cho việc ấy là quý trọng phi thường,
nên đua nhau xưng tán. Nhưng việc làm này so với việc trong
kinh hiện tại đây dạy, cách nhau rất xa.
Chư
Ðại Bồ Tát vì sao có thể thực hành đến mức độ ấy?
Chẳng
qua vì các ngài đã nhận định rất sâu sắc rằng sanh mạng
nhục thể này chỉ là vật không kiên cố, không chóng thì
chầy cũng sẽ bị hủ mục, không phải là vật sở hữu vĩnh
viễn, thường tồn của mình. Nay quyết đem nhục thể mong
manh bại hoại này, dùng viết chép kinh luật, lưu thông pháp
bảo để cho thân mạng trí huệ nhờ đó mà được vĩnh hằng
bất diệt. Như thế trên thế gian này có sự vui sướng nào
hơn mà không chịu làm?
Lại
nữa, các Ngài biết đích xác rằng: Tất cả chư Phật được
thành đạo vô thượng Bồ Ðề đều do học tập kinh luật
Ðại Thừa mà ra, nếu không thì quyết định không thể nào
thành Phật được.
Cũng
vậy, hiện nay chúng ta và tất cả chúng sanh nếu không học
tập kinh điển Ðại Thừa và lưu thông Pháp Bảo thì làm
sao đạt được mục đích thành Phật?
Trong
Ðại Trí Ðộ Luận, quyển 18 nói: “Thời quá khứ có một
Phạm Chí tên là Ái Pháp, đi khắp cõi Diêm Phù Ðề để
thỉnh cầu chánh pháp suốt mười hai năm, nhưng chưa tìm được.
Vì thời ấy chẳng những không có Phật trụ thế mà cả
chánh pháp của Như Lai cũng bị hoại diệt.
Tâm
của Ngài quá chí thành nên đã được cảm ứng. Một hôm,
có một người bà la môn nói với ngài Phạm Chí rằng: “Ông
có tâm chân thành cầu chánh pháp phải không? Rất tốt! Tôi
đây biết một bài kệ chánh pháp có thể tuyên đọc cho ông
nghe”.
Phạm
Chí đáp rằng: - Thưa ông! Tôi vì mong cầu được nghe chánh
pháp nên suốt 12 năm đi khắp Nam Diêm Phù Ðề để tìm cầu.
Người
Bà La Môn lại nói: - Nếu ông thật tâm cầu chánh pháp, tôi
có một điều kiện, nếu ông làm được, tôi sẽ tuyên đọc
bài kệ cho ông nghe tức khắc. Tôi cho ông biết điều kiện
ấy không thể dễ dàng. Ông phải dùng da làm giấy, xương
làm viết, huyết tươi làm mực để chép bài kệ.
Phạm
chí thưa rằng: - Thưa đại sư! Ðiều kiện ấy không phải
là vấn đề khó khăn, tôi chỉ mong được nghe chánh pháp.
Nói
xong, ngài liền làm theo lời người bà la môn và chép bài
kệ như sau:
Như
pháp ưng tu hành,
Phi
pháp bất ưng thọ,
Kim
thế diệc hậu thế
Hành
pháp giả an ổn.
Dịch:
Ðúng
như pháp tu hành,
Phi
pháp không nên thọ.
Ðời
này và đời sau,
Người
hành pháp yên ổn.
Câu
chuyện trên là một tấm gương chứng tỏ lòng vì pháp không
tiếc thân mạng. Những chuyện hy sinh thân mạng vì pháp như
vậy có rất nhiều trong kinh. Chuyện này chỉ là một.
Ngoài
việc chuyện hy sinh thân mạng viết chép kinh điển, còn phải
dùng các thứ mộc bì, cốc chỉ, quyên tố, trúc bạch... để
viết chép, thọ trì kinh điển (vỏ cây, giấy, vải, lụa,
tre).
Mộc
bì là dùng vỏ cây làm giấy.
Cốc
chỉ là dùng vỏ cây làm giấy (cốc ở đây không có nghĩa
là lúa).
Quyên
tố là dùng tơ trắng dệt thành vải.
Trúc
bạch là dùng thẻ tre và lụa để viết chữ lên. Vì thời
xưa chưa chế tạo được giấy nên dùng những thứ trên để
viết chép kinh điển. Tùy thời gian và địa phương mà dùng
các loại khác nhau như:
Xứ
Thiên Trúc thì dùng vỏ cây, hoa và lá của cây Bối Ða La,
lụa bạch điệp v.v... Ở xứ này, chế tạo loại giấy đầu
tiên là tên là Hách Ðề từ đời Tiền Hán.
Ðến
thời Hậu Hán, đời vua Hòa Ðế, có ông Thái kinh Trọng,
dùng vỏ cây và vải, lưới cá rách để chế tạo giấy.
Hiện nay, đa số dùng da cây chỉ và tre để chế tạo.
Dùng
những phương tiện này để viết chép kinh luật lưu bố rộng
rãi, phổ biến khắp nơi là việc làm tài thí và pháp thí
phước đức vô cùng, vô tận.
Viết
chép kinh luật để lưu thông là việc làm rất hiếm có và
khó làm, lại cần phải bảo tồn cho hoàn hảo những kinh
điển đã viết và phải dùng “vàng bạc, hương hoa vô giá
và tất cả châu báu làm hộp, rương đựng những quyển kinh
luật” để không bị thất lạc và hư hoại.
Hiện
nay kỹ thuật ấn loát đã tiến bộ. Phật tử xuất gia lẫn
tại gia nếu phát tâm ấn tống kinh luật cho người đọc
tụng càng nhiều càng tốt. Công đức này ngang với việc
làm trên. Hy sinh vàng bạc để phổ biến kinh luật Pháp Bảo
của Như Lai là sự cúng dường tối thượng và thù thắng
của hàng Phật tử, cũng là phương tiện tối yếu để hoằng
truyền chánh pháp của Như Lai, làm cho ngôi Tam Bảo được
hưng thạnh. Nếu không y theo pháp mà cúng dường kinh luật,
Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Giới
này thuộc về Giá Tội, chỉ ngăn cấm chứ không khai miễn,
và sở dĩ Phật tử phạm giới này vì không có tâm tôn kính
Tam Bảo.
Thất
chúng Phật tử đều phải tuân giữ giới này, Ðại, Tiểu
Thừa dùng đồng phải học, nhưng quy luật áp dụng cho hai
bên không hoàn toàn giống nhau:
-
Tiểu Thừa: Nếu không trì tụng Tỳ Ni thì phạm tội, ngoài
ra không bị cấm chế.
-
Ðại Thừa: đối với năm việc thọ trì, đọc, tụng, viết
chép, dùng hương hoa quý báu, vàng bạc v.v... cúng dường,
phải đúng theo pháp mà thực hành, nếu không thì phạm khinh
cấu tội.
Kinh
Giới Bổn dạy: “Khi Phật còn tại thế, hay sau khi diệt
độ, tỳ kheo tăng, thập phương thế giới đại Bồ Tát chúng,
Phật tử ở trong tự viện, tháp miếu, mỗi một ngày đêm
đối với quyển kinh Bồ Tát Tu Ða La Tạng (Kinh Tạng), hoặc
Ma Ðắc Lặc Già Tạng (Luật Tạng), hoặc đối với tăng
tỳ kheo, thập phương thế giới đại Bồ Tát chúng... nếu
không cúng dường ít nhiều, cho đến một lần lễ bái, hay
dùng một bài kệ tán thán công đức Tam Bảo, cho đến không
giữ gìn tâm thanh tịnh trong một niệm, không có tâm cung kính,
lại giải đãi, biếng lười... thì phạm tội ô nhiễm”.
Ðối với tính hay lẫn lộn, quên lãng thì không mắc tội
ô nhiễm.
Ðối
với Ðại Thừa, quý Bồ Tát đã chứng nhập Tâm Ðịa thanh
tịnh, nếu không làm như thế thì cũng không phạm.
Ðối
với Tiểu Thừa, quý tỳ kheo đã được thanh tịnh bất hoại,
không thực hành cũng không phạm, thế nên là Phật tử lấy
phải lấy việc cúng dường tất cả Tam Bảo làm pháp thường
hành vậy.
