B.2.2.42.
VỊ ÁC NHÂN THUYẾT GIỚI
(vì
người ác giảng giới)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử bất đắc vị lợi...” cho đến câu
“phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thì không được vì tài lợi mà đem đại giới
của chư Phật nói cho người chưa thọ giới Bồ Tát, hoặc
với hàng ngoại đạo, những người tà kiến... trừ quốc
vương. Ngoài ra, không được nói với tất cả hạng người
ấy. Những hạng người chẳng thọ giới của chư Phật, gọi
là súc sanh, đời đời sanh ra không được gặp Tam Bảo, như
cây đá không có tâm thức, gọi là ngoại đạo, bọn tà kiến
như vậy khác gì cây cối. Với những hạng người tà ác
ấy, nếu Phật tử giảng nói giới pháp của chư Phật thì
phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Bản
thân rõ ràng không thông hiểu kinh luật, nhưng vì có tâm mong
cầu lợi dưỡng mà giả bộ làm ra vẻ thông hiểu. Ðó là
hành vi dối gạt không thể chấp nhận được. Còn quả thật
thông hiểu kinh luật, nhưng vì có tâm mong cầu tài lợi mà
vọng truyền trao cho người, cũng là hành vi quyết định không
được.
Nên
biết rằng: Ðức Phật chỉ vì nội chúng mà chế định giới
luật, vì thế nội dung của giới luật có rất nhiều vấn
đề đi sâu vào sinh hoạt nội bộ. Do đó, đối với người
ngoài không nên giảng nói, nhất là đối với những người
không hiểu biết Phật pháp, thậm chí không tin ưa Phật pháp
thì lại càng không nên nói.
Vì
nếu nói cho những người ấy biết được hành vi của đệ
tử Phật là như thế này, thế khác, họ sẽ khởi tâm khinh
thị vô cùng, rồi đi đến đâu cũng đem việc không đúng
của Phật tử ra để bài báng, kích bác. Như thế sẽ gây
ảnh hưởng tai hại rất lớn cho Phật giáo. Vì thế, giảng
nói giới pháp là một vấn đề phải đặc biệt lưu tâm
thận trọng!
Nếu
tùy tiện vọng nói giới pháp cho người, chẳng những là
không biết cơ nghi, còn chứng tỏ đó là người không có
con mắt trí huệ. Nhất là có lỗi khinh thị giới pháp mình
đã bẩm thọ và hiểu rõ. Hơn nữa, nếu giảng nói giới
pháp cho những người muốn thọ giới nghe, trong khi họ chưa
được thọ giới, thì họ sẽ không khởi tâm tha thiết kính
trọng giới luật, lại còn sanh lòng khinh thị, cho rằng giới
luật chẳng qua chỉ là như thế này, như thế kia... Chỉ có
một tâm niệm khinh thị này cũng đủ hủy diệt tiền đồ
của người ấy. Ðiều đó tạo tội lỗi lớn biết chừng
nào?!
Vì
thế, một vị Bồ Tát chân chính biết tôn trọng giới pháp,
phải lưu tâm phân biệt kỹ lưỡng người muốn nghe pháp
có phải pháp khí hay không, hoặc người nào được nghe giới
pháp và người nào không được nghe giới pháp.
Trong
Du Già Bồ Tát Ðịa nói: “Chư Bồ Tát đối với việc thọ
Bồ Tát giới dù bản thân mình đã thọ trì luật nghi một
cách đầy đủ rốt ráo, nhưng tuyệt đối không được khinh
suất giảng nói Bồ Tát tạng cho những người không có tín
tâm nghe.
Tại
sao vậy?
Vì
những người ấy tuy nghe rồi, nhưng không thể tin hiểu, nên
bị đại vô trí làm chướng ngại che lấp rồi sanh tâm hủy
báng. Vì phỉ báng nên bị vô lượng đại tội, nghiệp chướng
theo đuổi”.
Theo
như trên dạy thì nên biết giới pháp không nên tùy tiện
giảng nói cho người. Nếu giảng nói không đúng đối tượng
sẽ làm tăng trưởng ác kiến, khiến cho họ ngày càng xa lìa
Phật pháp, do đó tương lai sẽ bị đọa lạc. Như thế thật
là bất lợi cho người.
Trong
kinh Thiên Giới cũng dạy: “Không nên đối với những người
bất tín mà giảng nói giới pháp. Cho đến không nên đối
với những người phỉ báng Ðại Thừa mà giảng nói”.
Tại
sao lại quy định một cách nghiêm khắc như vậy?
Phải
biết chính do nhân duyên bất tín và phỉ báng này làm cho
người sẽ bị đọa địa ngục. Cổ đức cũng có dạy: “Giới
luật là ngôn giáo bí mật của Phật, nên tuyệt đối không
được vọng truyền cho người, cũng không nên tùy tiện vì
người giảng nói trước”.
Tâm
lý của đại đa số người thế gian là chỉ khi nào họ đang
khát nước đến mức cháy khô cả cổ, nếu đem nước cho
họ uống, lúc ấy họ mới cảm thấy vị nước quý báu như
cam lồ. Trái lại, lúc họ không khát nước, nhất định họ
không bao giờ nhận thấy sự tối cần của nước. Giống
như một người đang trong cảnh tối tăm, đến chỗ nào cũng
tối như mực, sờ soạng, quờ quạng không biết lối ra, tình
cảnh vô cùng khốn khổ. Lúc ấy, nếu bạn đốt một ngọn
đèn đưa cho họ, họ sẽ thấy chiếc đèn trở nên quý báu
vô cùng. Bình thường khi không cần đèn, chiếc đèn ấy không
có giá trị gì đối với họ.
Tương
tự như vậy, với người khao khát mong cầu Bồ Tát đại
giới, nếu bạn vì người ấy truyền trao giới pháp, họ
sẽ tôn trọng, quý báu khác nào người nghèo đặng của báu.
Trái lại, khi họ chưa phát khởi Bồ Ðề tâm, nếu bạn giảng
nói giới pháp trước cho họ, tự nhiên họ sẽ không bao giờ
sanh tâm tôn trọng giới pháp.
Vì
thế, giảng nói giới pháp như vậy thật phí phạm, không
hợp thời cơ và là một điều vô cùng bất lợi. Thế nên,
đối với giới pháp phải có tâm tôn trọng, không được
xem thường mà tùy tiện giảng nói cho người.
Ðức
Phật lại dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử,
thọ Bồ Tát giới, việc giảng nói giới pháp đương nhiên
là bổn phận của mình. Nhưng cần phải xem kỹ và cân nhắc
đối với hạng người nào mới nên giảng nói”. Nếu đối
tượng là kẻ khát ngưỡng, khẩn thiết cầu giới pháp, và
động cơ thúc đẩy người thuyết pháp quang minh chính đại
thì mới nên vì người cầu khẩn pháp mà thuyết giới. Còn
đối với những người không thể thọ Ðại Thừa Bồ Tát
giới, nhưng vì tâm mong cầu tài lợi mà vì người đó giảng
nói giới pháp cho họ thì tuyệt đối không được. Cho nên
kinh văn dạy: “Không được vì ham cầu tài lợi, đối với
người chưa thọ Bồ Tát giới mà thuyết giới”.
Chữ
“thuyết giới” ở đây có chỗ giải thích là vì người
giảng giới, có chỗ nói là vì người truyền giới, có chỗ
nói là trong lúc làm lễ bố-tát cho người nghe giới. Bốn
lối giải thích này đều hợp lý. Hơn nữa, hành giả chẳng
những không nên ở trước những người chưa thọ Bồ Tát
giới mà giảng nói đại giới của ngàn Ðức Phật, mà còn
nếu ở trước hàng ngoại đạo, người ác, giảng nói Ðại
giới của ngàn Ðức Phật này, càng nhất quyết không được.
Lại
nữa, cũng không được giảng nói Ðại giới của ngàn Ðức
Phật này trước những người tà kiến. Phải biết Bồ Tát
đại giới này không phải một Ðức Phật hay bảy Ðức Phật
truyền lại, mà chính do ngàn Ðức Phật truyền lại. Như
thế, có thể thấy Bồ Tát đại giới thần thánh và đáng
quý trọng biết dường nào? Làm sao có thể tùy tiện vọng
truyền cho người?
“Người
chưa thọ Bồ Tát giới” là chỉ những hạng người nào?
Ðó
là những kẻ chưa từng phát Bồ Ðề tâm, vì họ không có
tín tâm đối với Bồ Tát đại giới. Những kẻ ấy không
phải là pháp khí, không được nghe đại giới. Cho nên bạn
không nên vì sự kính trọng và cúng dường dồi dào của
họ đối với bạn mà đem Ðại giới của chư Phật này truyền
trao cho họ một cách dễ dàng.
“Hàng
ngoại đạo, người ác” là những người không tin Tam Bảo,
phỉ báng Ðại Thừa. Họ chấp chặt dị đạo của mình và
cho đó là chân lý trên thế gian, nên không bao giờ muốn tiếp
thọ những tư tưởng khác. Họ vào trong Phật pháp không phải
với tinh thần chân thật vì pháp, mà chỉ vì muốn được
nghe chút ít Phật pháp, đôi khi để tìm kiếm những khuyết
điểm trong Phật pháp.
Vì
thế, nếu bạn truyền trao giới pháp cho họ, thì chẳng những
họ không thừa nhận Phật pháp là Chánh Tri, Chánh Kiến, lại
còn từ trong đó phê bình chỉ trích cái này không đúng, cái
kia không đúng v.v... Những hạng người như thế làm sao thọ
dụng được sự lợi ích trong Phật pháp?
Bọn
người tà kiến cũng vậy, vốn đi theo gót của hàng ngoại
đạo và người ác. Mọi thứ trong, ngoài họ đều bài bác.
Thế nên, luận điệu của ngoại đạo và người ác thế
nào thì luận điệu của bọn tà kiến thế ấy. Dù ra vào
Phật pháp nhiều lần, tư tưởng của họ vẫn là một khối
sai lầm. Hạng người như vậy làm sao có thể vọng truyền
giới pháp cho họ?
Thế
nên vị Bồ Tát trước khi muốn giảng nói Bồ Tát tạng,
phải dùng huệ nhãn quán sát, suy nghĩ xem coi hạng người
nào có thể tiếp thọ, sau đó mới vì họ giảng nói pháp.
Tóm
lại:
Trừ
quốc vương, ngoài ra không được giảng nói giới pháp cho
tất cả những hạng người này. Quốc vương là đối với
thời xưa, bây giờ là vị nguyên thủ quốc gia, có quyền
lực rất lớn, muốn làm lợi ích hay tổn hại Phật pháp
đều được. Quý vị này muốn Tam Bảo hưng thạnh thì Tam
Bảo sẽ hưng thạnh, muốn hủy diệt Tam Bảo thì Tam Bảo
sẽ bị hủy diệt.
Vì
thế khi quốc vương muốn biết nội dung của giới luật thì
có thể giảng nói. Chủ ý là vì muốn quốc vương theo đúng
như pháp mà hộ trì chánh pháp, nên khi quốc vương muốn nghe
giới luật, làm thế nào không nói được?
Hơn
nữa, vì quốc vương biết nội dung của giới luật Phật
pháp, để ngài đề cao đạo đức và y theo giới luật của
Phật dạy, khích lệ, khuyến hóa nhân dân khiến toàn dân
trong nước trở thành những người đồng phụng hành giới
luật của Phật pháp.
Vì
thế, giảng nói giới pháp cho quốc vương là điều không
trái phạm. Ngoài quốc vương ra, còn có các vị đại thần
trợ giúp cho quốc vương, đều là những người có thế lực,
có thể dâng những kiến nghị với tinh thần xiển dương
hay phá hoại Phật pháp đều được cả. Cho nên, nếu quý
vị ấy muốn biết nội dung của giới luật, cũng phải vì
quý vị ấy giảng nói.
Trong
bộ Căn Bổn Mục Ðức Ca nói: “Những người ở địa vị
tôn quý dù họ không có tâm tín kính, nhưng cũng cần phải
vì họ giảng nói. Vì nếu không giảng nói thì có sự lưu
nạn cho Phật pháp. Còn những người bần cùng, lại thêm
không có tâm tín kính, dù họ có muốn nghe, nhưng cũng không
nên giảng nói”. Nên biết trong Căn Bổn Mục Ðức Ca nói
“tôn quý” là dùng ám chỉ vị nguyên thủ quốc gia vậy.
Trong
lời Tự của Thập Tụng Tỳ Ni cũng có nói: “Khi Phật còn
tại thế, vua Ba Tư Nặc đích thân đến cung thỉnh Phật cùng
chúng Tăng vào nội cung thọ trai. Nhằm lúc chúng tăng đang
bố tát, quý tỳ kheo vừa thấy quốc vương đến vội bảo
rằng: “Ðại vương nên đi ra ngoài vì chúng tôi đang làm
pháp sự!”
Vua
thưa: - Bạch chư đại đức! Trẫm muốn được nghe.
Chư
tỳ kheo bèn bạch lên Phật, Phật dạy: “Từ nay về sau ta
cho phép các thầy được thuyết giới trước quốc vương”.
Nên
biết: Vị lãnh đạo tối cao của một quốc gia tức là trời
ở trong loài người, có tâm mong muốn nhân dân mình bỏ dữ
làm lành và không bao giờ tùy tiện nói những chuyện hay dở
của mọi người. Thế nên chư tăng thực hành tất cả Phật
sự, đối với quốc vương không cần phải giấu diếm. Ðiều
này chứng tỏ Phật pháp kính thuận quốc vương. Trừ quốc
vương và đại thần ra, tất cả những người bất tín khác
và những người chưa thọ Ðại giới đều không được ở
trước những người ấy giảng nói giới pháp.
Nên
trong kinh Niết Bàn nói: “Thời quá khứ vào ngày Rằm, trong
lúc chư tăng đang làm lễ Bồ Tát, có một đồng tử trốn
trong chỗ vắn, trộm nghe thuyết giới, bị Kim Cang Lực Sĩ
dùng bảo xử đánh đồng tử ấy nát như vi trần”. Như
thế làm một vị Pháp Sư tuyên thuyết giới pháp, với vấn
đề này có thể nào không đặc biệt lưu ý hay sao?
Nên
biết là những bọn người ác, ngoại đạo, tà kiến này
dù sẵn có Phật tánh, nhưng vì chưa phát đại Bồ Ðề tâm,
không thọ giới của Phật, thiện ác không hiểu, phải quấy
không phân, tà chánh không rõ, cho nên gọi là “súc sanh”.
Tất
cả súc sanh dù có đủ Phật tánh, nhưng vì đang mắc quả
báo này nên ù ù, cạc cạc, mê muội, tối tăm, không biết
gì hết. Làm người nếu cũng như thế thì có khác gì loài
súc sanh đâu?
Không
bẩm thọ đại giới của chư Phật, mất hẳn hạt giống
Bồ Ðề, đời đời sanh vào chỗ không được gặp Tam Bảo,
Tam Bảo còn không được thấy thì làm sao có thể quy hướng
Tam Bảo? Và làm sao có thể được giải thoát?
Ðã
không biết quy hướng đại đạo xuất thế, thì có khác gì
như cây đá không có tâm thức. Vì bọn người ác... có tai
mà không nghe tên giới, có mắt mà không nhìn thấy quang minh
của giới; có mũi ngửi mà không ngửi được mùi thơm của
giới, có lưỡi mà không nếm vị của giới; có thân mà không
tiếp xúc được giới; có tâm mà không biết giới tướng.
Từ mê đi sâu vào mê, sáu căn tăm tối nên gọi là ngoại
đạo, bọn người ác tà kiến, nào khác cây đá!
Vì
cây đá cũng mang nhiên không hiểu biết như vậy. Hơn nữa,
nếu giảng nói giới pháp cho cây đá, chúng chỉ không hiểu
biết mà thôi, chứ không đến nỗi sanh tâm hủy báng. Còn
đối với bọn người ác... nếu thuyết giới, chúng chẳng
những không biết không tin lại còn quay lại cực lực phỉ
báng. Vì thế, không nên vì chúng vọng thuyết giới.
Nếu
Bồ Tát vì mong cầu lợi dưỡng, trước bọn người ác giảng
nói giới pháp của bảy đức Phật, thì phạm khinh cấu tội.
Quang Minh Kim Cương Bảo Giới này dù tất cả chư Phật trong
ba đời đồng tuyên thuyết, nhưng nếu nói thời gian gần
đây một chút, là do bảy đức Phật truyền trao bẩm thọ
mới có. Cho nên ở đây nói là giới pháp của bảy Ðức
Phật.
Ðã
là giới pháp của bảy Ðức Phật truyền trao, bẩm thọ mới,
cho nên đối với chúng ta, lẽ đương nhiên phải hết sức
quý trọng. Vì vậy khi giảng nói giới pháp này phải lưu
tâm lựa chọn và thận trọng cho lắm mới được. Tuyệt
đối không nên khinh thường mà giảng nói cho hàng ngoại đạo,
bọn người ác và những người chưa thọ giới. Nếu không
như thế tức làm hại mình, hại người, tội lỗi ấy sẽ
vô cùng to lớn.
Vì
thế trong bộ Bồ Tát Giới Sơ Tân, quyển 8 nói: “Nước
mưa chỉ thấm nhuần những mầm cỏ có gốc rễ. Cũng thế,
giới pháp của Như Lai chỉ lợi ích cho những người có tín
tâm. Vì e rằng những người bất tín tăng trưởng nghi ngờ,
quay lại phỉ báng giới pháp, sẽ có hại mà không có lợi
cho họ, nên pháp dù bình đẳng, nhưng khi thuyết pháp thì
phải hợp với căn cơ. Nếu người thí pháp không tôn trọng,
người lãnh thọ pháp không cung kính thì phạm tội khinh cấu”.
Giới
này thuộc về Giá Giới. Bảy chúng Phật tử đều có thể
phạm, nhưng sự phân định đối với Ðại Thừa và Tiểu
Thừa không đồng nhau.
Ðối
với Tiểu Thừa trong tất cả thời khóa, đều không được
nói tên tội của Ngũ Thiên cho Sa Di nghe. Vì nếu Sa Di biết
rõ tên tội của Ngũ Thiên thì thành ra bị trọng nạn trộm
pháp, về sau không được thọ Ðại Giới.
Còn
đối với Ðại Thừa chỉ lúc làm lễ Bố Tát tụng giới
ở mỗi nửa tháng mới phải bảo người chưa thọ giới đi
nơi khác. Ngoài ra, những lúc khác không ở vào điều ngăn
cấm.
Nếu
đem Tam Tụ Tịnh Giới phối hợp với giới này thì có sự
tương ứng như sau:
-
Không vì người ác thuyết giới thuộc về Nhiếp Luật Nghi
Giới.
-
Ở trước quốc vương thuyết giới là Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Không vì lợi dưỡng mà thuyết giới là Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Lời
phụ:
Trong
bộ Tỳ Ni Hậu Tập Vấn Biện hỏi:
Trong
kinh Phạm Võng dạy: “Ở trước người chưa thọ Bồ Tát
đại giới, giảng nói giới pháp của bảy Ðức Phật thì
phạm tội khinh cấu". Nhưng có chỗ cho rằng chỉ ngăn cấm
lúc tụng giới, chứ không ngăn cấm khi giảng giới. Vì lúc
tụng giới chỉ tuyên đọc văn cú, còn khi giảng giới thì
giảng giải nghĩa lý đầy đủ, như thế có phải là trọng
nơm mà khinh cá hay không? Hay còn có ý nghĩa nào khác trong
đó không?
Ðáp:
Giới tỳ kheo quan hệ nơi tăng luân. Vì phòng ngừa nạn tặc
trụ nên tất cả đều ngăn cấm (tặc trụ là không đăng
đàn trước tam sư, thất chứng để thọ giới Cụ Túc, tự
cạo râu tóc, mặc pháp phục, ở chung với chư tăng, cùng
với chư tăng làm pháp sự).
Còn
giới Bồ Tát thâu nhiếp khắp tất cả chúng sanh trong lục
đạo, nên khi giảng giải nghĩa lý Bồ Tát giới, nếu có
người chưa thọ giới nghe, nhờ được nghe mà người ấy
phát tâm Bồ Ðề. Vì thế nên không cấm chế việc này. Nhưng
lúc làm lễ bố-tát tụng giới, vì có những việc phát lồ
sám hối, đối với những người thọ giới không nên cho
họ biết điều ấy. Nên trong kinh dạy không nên cho người
chưa thọ giới Bồ Tát nghe giới trong khi đang làm lễ Bồ
Tát tụng giới.
Trong
bộ kinh Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Ký này, ở
đoạn hai, ở phần đầu cũng có nói. Nơi đây xin thuật lại
để giải đáp sự nghi ngờ cho quý đại sĩ nào đối với
giới này còn có tâm thắc mắc.
Giới
tỳ kheo có văn điều Ngũ Thiên Thất Tụ. Ðối với sa di
và Phật tử tại gia chưa thọ giới, tuyệt đối không cho
phép xem, đọc và nghe. Nên trong Luật dạy nếu lén nghe thuyết
giới sẽ bị hộ pháp, thiện thần đánh đuổi. Nhưng đối
với Bồ Tát giới, những người chưa thọ giới không được
tham dự bố tát, thuyết giới, nhưng trường hợp giảng ý
nghĩa của giới thì cho nghe và cũng cho phép xem đọc giới
bổn, cũng như nghiên cứu ý nghĩa giới bổn đều không bị
cấm chế.
