B.2.2.31.
BẤT HÀNH CỨU THỤC GIỚI
(giới
không chịu cứu chuộc)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử Phật diệt độ hậu...” cho đến
câu “...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Phật
dạy: Nếu Phật tử sau khi Phật nhập diệt, ở trong đời
ác thấy ngoại đạo, bọn giặc cướp, cùng tất cả những
người ác tâm đem bán hình tượng Phật, Bồ Tát, cha mẹ,
hoặc kinh luật, tỳ kheo, tỳ kheo ni, những người hành đạo
Bồ Tát, những kẻ phát tâm Bồ Ðề, để làm kẻ phục dịch
cho các quan hay tôi tớ cho mọi người. Phật tử thấy những
sự như thế, nên có lòng từ bi tìm mọi cách cứu giúp. Nếu
bản thân không đủ sức, Phật tử phải đi quyên tiền các
nơi để chuộc lại hình tượng Phật, Bồ Tát và tất cả
kinh luật, hoặc tỳ kheo, tỳ kheo ni, người tu hạnh Bồ Tát,
kẻ phát tâm Bồ Ðề. Nếu không làm như vậy, Phật tử này
phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Giới
trước là ngăn cấm hành giả trong Phật pháp cố ý phạm
trọng giới.
Giới
này nói về lỗi không thực hiện việc cứu tế những bậc
tôn quý bị ách nạn.
Theo
kinh văn thì việc đem bán ở đây là chỉ việc bán Tam Bảo,
cha mẹ. Có trường hợp tự bán, có trường hợp bị trộm
cướp đem bán, không nhất định. Còn việc cứu chuộc là
hoặc chính khả năng mình tự đi cứu chuộc, hoặc mình không
đủ sức phải nhờ người khác có khả năng hơn đi cứu
chuộc.
Các
Phật tử hành Bồ Tát đạo, thường nên đi chỗ này, chỗ
nọ, hoặc đi đến những nơi ngoại đạo, hoặc nơi ở của
bọn người ác, hay của kẻ giặc cướp.
Ði
như vậy để làm gì?
Ðể
gặp những chuyện phải làm như gặp những người bị bắt
đem bán, phải mua chuộc đem về cho kỳ được.
Bồ
Tát lấy việc hộ pháp, cứu khổ làm bản hoài, nên khi thấy
chúng sanh ở trong vòng khổ nạn, tai ách, phải tùy theo khả
năng của mình mà cố gắng hết sức. Thậm chí có khi phải
hy sinh tính mạng hay dùng hết sức lực của mình để cứu
tế, hoặc mua chuộc những người này đem về, cũng phải
làm.
Nếu
không cứu chuộc là trái với bi tâm của mình, đồng thời
cũng trái với lòng tôn kính Tam Bảo. Vì thế, khi thấy ngôi
Tam Bảo hay song thân của mình bị người ác đem đi bán để
làm việc khổ sai, thì không có lý do gì không tìm phương,
lập thế đi cứu chuộc. Nếu không làm như vậy thì Tam Bảo
sẽ bị đoạn tuyệt, huệ mạng phước điền của chúng sanh
trong nhân gian cũng sẽ không còn.
Ở
trường hợp nào không lưu tâm đi cứu chuộc mà không phạm
tội?
-
Trường hợp lúc mình đang ở trạng thái điên cuồng, mê
loạn.
-
Hoặc việc bán người đó mình hoàn toàn không hay biết, hoặc
biết mà không rõ tính cách nghiêm trọng của vấn đề nên
không đi cứu chuộc, thì không có lỗi.
-
Hoặc kẻ bán đòi giá quá cao, khả năng của mình không thể
đáp ứng được, nghĩa là vay mượn không chỗ nào cho vay
mượn, thậm chí dù đem bán thân mình cũng không đáp ứng
được yêu sách của người bán, trường hợp không đi cứu
chuộc này không phạm giới.
-
Hoặc người bị đem bán có đủ tinh thần, ý chí, không muốn
người cứu chuộc. Dù bạn cứu chuộc người ấy quyết cũng
nhất quyết không chịu trở về. Trường hợp này không cứu
chuộc thì không mang tội.
Giới
này thất chúng Phật tử đồng phải tuân giữ. Dù tại gia
hay xuất gia, đều phải tìm cách cứu chuộc, nhưng sự áp
dụng đối với Ðại Thừa và Tiểu Thừa không giống nhau.
Với
Tiểu Thừa, khi cha mẹ, sư trưởng bị đem bán, quyết định
phải tìm mọi cách mua chuộc đem về, nếu không sẽ mắc
tội. Riêng đối với những người khác mà bị bắt đem bán,
vấn đề cứu chuộc hay không chưa thấy kinh văn trong Luật
dạy, nên không rõ.
Ngược
lại, đối với hành giả Ðại Thừa, vì Bồ Tát lấy việc
cứu hộ chúng sanh làm nhiệm vụ duy nhất. Cho nên đối với
tất cả người bị đem bán, đều phải tìm cách cứu chuộc,
nếu không thì trái với giới điều này.
Nếu
đem so sánh với Tam Tụ Tịnh Giới thì sự tương ứng phối
hợp như sau:
-
Tam Bảo hay cha mẹ bị đem bán, mà có tâm từ bi cứu chuộc,
ấy là Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Hết lòng dùng mọi phương tiện lo cứu chuộc, thuộc về
Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Tìm đủ mọi cách giáo hóa người khác để cứu chuộc người
bị nạn, thuộc về Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Do
đó có thể thấy rằng giới này bao gồm cả Tam Tụ Tịnh
Giới, nếu giữ gìn giới này một cách nghiêm cẩn thì cũng
đồng như tuân giữ Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát vậy.
Còn
trái phạm giới này đồng với hủy phá Tam Tụ Tịnh Giới
của Bồ Tát. Và nếu đã như thế thì đâu còn tư cách gì
để gọi là Bồ Tát? Cho nên đối với giới này hành giả
Bồ Tát phải hết sức lưu tâm.
Giới
này bắt đầu bằng hai chữ “Phật dạy”. Vì đây là bắt
đầu qua phẩm khác, nên trước nhất dùng hai chữ này.
“Phật
tử các ông cần phải biết: sau khi Phật nhập diệt, ở trong
đời ác, nếu thấy hàng ngoại đạo, bọn giặc cướp, cùng
tất cả người ác...”
Tại
sao ở đây đặc biệt nói: sau khi Phật nhập diệt?
Vì
khi Phật còn tại thế, ai ai cũng biết làm lành, kính trọng
Phật pháp nên không đến nỗi làm việc bán Tam Bảo, cha mẹ.
Nhưng sau khi Phật nhập diệt, lúc thời gian cách Phật chưa
bao xa, thường tín tâm của chúng sanh vẫn còn thuần hậu
cũng không đến nỗi làm việc ác như vậy. Chỉ đến thời
kỳ Tượng Pháp hoặc thời kỳ ác Mạt Pháp này, nhân tâm
ngày một hiểm ác, tín tâm mỗi ngày một lui sụt, mới có
việc tán tâm điên cuồng đi bán Tam Bảo v.v...
Ở
trong đời ác, bổn phận Bồ Tát là phải gắng sức làm việc
lành. Ðây cũng là thời kỳ đại sĩ phải vận khởi tâm
Từ Bi, cho nên trong kinh đặc biệt nói rõ là đời ác.
“Ngoại
đạo” là tín đồ của những tôn giáo khác. Họ vẫn có
tín tâm, nhưng đáng tiếc tín tâm của họ thuộc về tà tín,
không thể thông đạt tự tâm. Suốt ngày cầu pháp ở ngoài
tâm, lại còn tưởng rằng họ hơn Phật giáo, cho nên gọi
họ là ngoại đạo.
“Người
ác” là những người không có tín tâm đối với tôn giáo,
luôn luôn sanh khởi ác niệm, lúc nào cũng muốn làm việc
hại chúng sanh nên gọi là người ác.
“Giặc
cướp” là người chuyên cướp đoạt tài vật của người
để nuôi sống bản thân. Ở đây chỉ bọn người cướp
đoạt hình tượng Tam Bảo, bắt cha mẹ kẻ khác, hại người
hành Bồ Tát đạo, hoặc kẻ phát tâm Bồ Ðề. Vì có hạng
người bất kính Tam Bảo, không hiếu thuận với cha mẹ, làm
những việc ngang ngược, lấn hại như thế xuất hiện trong
đời. Do đó mới gọi là đời “ác thế”.
“Bán
hình tượng Phật, Bồ Tát, cha mẹ”:
-
Tượng Phật chỉ cho Phật Bảo, Bồ Tát là Ðại Thừa Tăng
Bảo.
-
Cha mẹ là bậc ân điền, sanh thành dưỡng dục thân mạng
của mình.
-
Tượng Phật, tượng Bồ Tát là đối tượng để cho tín
đồ Phật giáo cúng dường. Nguyên vì tín đồ đối với
Phật, Bồ Tát có tâm kính tín tuyệt đỉnh, nên đặc biệt
dùng gỗ đàn hương quý trọng hoặc thất bảo quý giá để
tạo lập hình tượng Phật, Bồ Tát để cung kính lễ bái
cúng dường.
-
Hình tượng cha mẹ là do những người con có hiếu, cảm trọng
ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, nghĩ nhớ tình thương
thâm sâu của cha mẹ mà tạo hình tượng để chiêm ngưỡng,
tưởng nhớ. Hoặc giả, ở đây tuy nói là cha mẹ, nhưng chẳng
những chỉ cho cha mẹ sanh ra nhục thân của mình mà còn có
nghĩa chính là chư Phật, Bồ Tát cũng gọi là cha mẹ.
Tại
sao vậy?
Vì
chư Phật chính là đấng Ðại Từ Phụ. Chư Bồ Tát chính
là đấng Ðại Bi Mẫu. Vì chư vị có công ơn cứu khổ ban
vui cho chúng sanh. Thế nên danh từ “cha mẹ” ở đây cũng
có thể chỉ cho chư Phật, Bồ Tát, những hình tượng này
rất quý báu và giá trị. Cho nên hàng ngoại đạo, người
ác, bọn giặc cướp trộm lấy đem bán đi. Tội ác này dĩ
nhiên rất lớn.
“Bán
kinh luật” là chỉ cho pháp bảo kinh. Tức là những lời
giáo huấn của Như Lai chỉ cho chúng ta rõ con đường hướng
thượng, hướng thiện, hướng quang minh, con đường đưa đến
cứu cánh giải thoát. Ðồng thời chỉ dạy đạo pháp cho
chúng ta thể ngộ được Chân Lý.
Luật
là lời răn dạy của Phật, hướng dẫn hành vi của chúng
ta phải thế nào mới là đúng pháp, đúng luật, tức là dạy
chúng ta phải giữ gìn tam nghiệp lục căn thế nào cho được
thanh tịnh. Thế nên kinh luật là con mắt sáng của nhân thiên.
Nếu đem bán đi tức là làm cho con mắt của nhân thiên bị
mờ tối. Tội này to lớn vô cùng.
“Bán
tỳ kheo, tỳ kheo ni”: chỉ cho Tăng bảo. Tăng là phước điền
của chúng sanh trong thế gian, là sứ giả duy trì chánh pháp
của Như Lai, là người thay Phật tuyên dương chánh giáo, là
người lãnh đạo tất cả Phật tử trong thế gian, dẫn dắt
chúng sanh tiến về đường giải thoát và vô thượng Bồ
Ðề. Trên thế gian này, nếu không có Tăng Bảo thì Phật
Bảo và Pháp Bảo không thể tồn tại. Vì thế, bán thanh tịnh
phước điền Tăng sẽ mắc tội vô lượng vô biên.
Tóm
lại:
-
Bán hình tượng Phật là hoại diệt Phật Bảo.
-
Bán kinh luật là hoại diệt Pháp Bảo.
-
Bán tỳ kheo, tỳ kheo ni là hoại diệt Tăng Bảo.
Hoại
diệt Tam Bảo như vậy chính là làm cho dòng giống Tam Bảo
bị đoạn tuyệt. Cho nên tội này không phương cách gì cứu
vớt được, do dó, dù thế nào chăng nữa, tuyệt đối không
được làm.
“Bán
Bồ Tát đạo nhân và các vị phát tâm Bồ Ðề": đây là
chỉ chung cho xuất gia và tại gia Bồ Tát.
“Ðạo
nhân” trong Ðại Trí Ðộ Luận nói: “Chỉ những người
đắc đạo mới được gọi là đạo nhân. Nhưng những vị
xuất gia, dù chưa đắc đạo, nhưng vì tu theo đạo xuất thế,
nên cũng có thể gọi là Ðạo Nhân”.
Có
chỗ giải thích rằng: “Sơ phát đại tâm gọi là phát tâm
Bồ Tát. Ðã tu đại hạnh lâu dài mới gọi là đạo nhân”.
Lại
có chỗ nói: “Bất luận sơ phát đạo tâm hay là tu lâu,
chỉ cần phát Ðại Thừa tâm, tu Ðại Thừa hạnh, đều có
thể gọi là Ðạo Nhân, tức là người có đạo vậy”.
Tỳ
kheo, tỳ kheo ni, đạo nhân v.v... nói trên là những người
hiện đang sống, không phải là hình tượng Phật, Bồ Tát,
cha mẹ đã nói ở trước. Trường hợp các vị này hoặc
bị giặc cướp bắt đem đi đến chỗ các quan phủ để bán
làm nô dịch cho các quan hay làm tôi tớ cho người. Mọi người
ở đây chỉ hàng thứ dân sĩ, nông, công, thương, những người
bị bán này vào thời xưa, chẳng những bị bắt buộc phải
làm những việc nặng nề khổ sở muôn phần, mà còn lại
bị đánh đập, chửi mắng. Những thảm trạng ấy hiện tại
chúng ta không thể nào tưởng tượng được. Một khi đã
bị bán thì cuộc sống của những người ấy không còn được
tự do như những người thường.
Vì
lý do ấy, là Phật tử vì tâm Từ Bi thúc đẩy, khi trông
thấy những việc không như ý này, đối với hình tượng
và những người bị bán kia, nên có lòng từ bi, dùng mọi
phương tiện thiện xảo mau chóng cứu giúp. Nếu sức mình
không kham nổi thì phải đi các nơi khuyến hóa đàn việt
khiến cho họ phát tâm bố thí tịnh tài, dùng những tịnh
tài ấy mua lại những hình tượng Phật, Bồ Tát và tỳ kheo,
tỳ kheo ni, tất cả kinh luật. Mua lại tất cả kinh luật
để làm cho pháp luân của Như Lai thường chuyển, để mở
con đường mê tối cho chúng sanh. Chuộc các tăng ni là giúp
cho quý vị khỏi cảnh khổ nạn, được trở về nơi thanh
tịnh, an ổn tu hành.
Mua
lại hình tượng Phật, Bồ Tát để cho Phật tử có chỗ
quy y, tăng phước, diệt tội. Người Phật tử hành Bồ Tát
đạo ở trong đời ác trược mạt kiếp này, cần phải lấy
việc hộ trì Phật pháp, thiệu long (làm cho mỗi ngày một
phát triển lớn, tốt đẹp hơn) Tam Bảo, rộng thực hành
các việc lành, giáo hóa tất cả chúng sanh làm trách nhiệm
của mình. Nếu gặp trường hợp Tam Bảo bị hủy nhục như
thế, dĩ nhiên không thể nào ngồi yên mà nhìn được, nhất
định phải tìm cách cứu chuộc. Nếu không cứu chuộc, Phật
tử này phạm khinh cấu tội.
Giới
này chỉ có ngăn cấm mà không có trường hợp khai miễn.
Riêng về trường hợp vì muốn lưu thông kinh điển hợp pháp
(bán kinh điển) để giúp cho Phật pháp được phổ biến,
lưu truyền rộng rãi khắp mọi nơi, từ thành thị đến thôn
quê hầu đem lại lợi ích cho dân chúng, khiến họ hướng
về Phật pháp, thì không phạm giới này.
Ðó
là về mặt kinh pháp, còn về hình tượng Phật, Bồ Tát,
nếu điêu khắc, đắp vẽ hình tượng Phật, Bồ Tát để
cho người cung thỉnh đem về cúng dường, chiêm ngưỡng, lễ
bái thì vẫn được.
Hiện
nay những hình ảnh Ðức Phật lớn nhỏ lưu thông khắp nơi.
Ðiều này hợp với Phật pháp hay không, chúng ta cần phải
nghiên cứu kỹ lưỡng!
Theo
Liên Tông Thập Tam Tổ Ấn Quang đại sư cho rằng: việc ấy
quyết định không được, cần phải cực lực phản đối.
Theo Ấn tổ thì những hình tượng Bồ Tát đeo trên thân người,
lẽ đương nhiên cũng theo người vào những nơi không thanh
tịnh như đại tiện, tiểu tiện, tắm rửa v.v... Thế là
một sự đại bất kính. Hơn nữa, gặp những khi chúng Tăng
thì hành lễ bái hoặc lúc Phật tử hai bên gặp nhau, cúi
đầu chào bái lẫn nhau thì chẳng lẽ Phật, Bồ Tát cũng
phải lễ bái người kia hay sao? Phật và Bồ Tát tiếp thọ
sự lễ bái của chúng ta, đây là sự thiên kinh địa nghĩa
không được bàn luận gì cả. Nhưng ngược lại, Phật và
Bồ Tát hướng về phàm phu nghiệp chướng sâu nặng mà lễ
bái thì dù thế nào cũng không thể nói cho thuận lý được.
Hơn nữa, hàng phàm phu chúng ta làm sao dám lãnh thọ việc
ấy?
Theo
tôi (Pháp Sư) cho rằng những lời chỉ dạy trên của Ấn
Tổ, tất cả Phật chúng ta đều phải đặc biệt tôn trọng.
Lại có trường hợp không thể nào hiểu được là có những
Phật tử đưa ảnh tượng Phật cho người, và trịnh trọng
nói rằng: “Tượng này rất linh vì đã được gia trì chú
pháp ở trong ấy!’ Thật là một điều hết sức buồn cười!
Vì
oai đức của chư Phật, Bồ Tát không ai sánh bằng, cho nên
trong kinh thường nói: “Thiên thượng, thiên hạ vô như Phật".
Quý ngài tùy thời cứu độ chúng ta, đâu cần chúng ta, những
kẻ phàm phu đầy dẫy phiền não, tội ác trên thân mà đi
gia trì thì tượng mới phát sinh được sự linh nghiệm hay
sao?
