B.2.2.30.
KINH LÝ BẠCH Y GIỚI
(giới
quản lý cho bạch y)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ ác tâm cố...” cho đến câu “phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử vì ác tâm, tự mình hủy báng Tam Bảo, giả làm
ra vẻ kính mến, miệng nói không mà hành vi lại có, làm quản
lý cho hàng bạch y, hoặc làm mai mối cho nam nữ giao hội dâm
sắc, gây thành các nghiệp kiết phược. Những ngày lục trai
trong mỗi tháng, ba tháng trường trai trong mỗi năm, làm việc
sát sanh, trộm cướp, phá trai, phạm giới, Phật tử này phạm
khinh cấu tội.
Mười
giới như thế cần phải học, hết lòng kính trọng phụng
trì. Trong phẩm Chế Giới có giảng rõ.
Lời
giảng
Làm
những điều tội ác tổn hại chúng sanh, trái với tâm từ
bi của Bồ Tát là những điều mà giới trước ngăn cấm.
Nếu
công nhiên hủy phá giới cấm của Như Lai, thương tổn đức
hạnh của Bồ Tát là điều ngăn cấm của giới này.
Có
người cho rằng hành giả Thanh Văn kính trọng, giữ gìn giới
luật, trong khi Bồ Tát ở trong thế gian lo thực hành việc
lợi sanh nên không cần phải nghiêm trì giới luật, gặp những
trường hợp thuận lợi có thể phương tiện thì không ngần
ngại cứ nắm lấy phương tiện. Nếu nghĩ như vậy và thốt
ra những lời như thế thì thật là hết sức sai lầm.
Nên
biết rằng tịnh giới Như Lai, bất cứ là hành giả ở trong
giới nào của Phật pháp đều phải nghiêm cẩn giữ gìn,
không được có chút sai sót. Ðặc biệt nhất là hành giả
Bồ Tát, vì du hành giáo hóa khắp nhân gian, đi đến nơi nào
cũng phải tiếp xúc với chúng sanh. Nếu đức hạnh của chính
mình không kiện toàn thì làm sao có thể làm sư phạm cho nhân
thiên? Làm sao có thể thuyết phục mọi người tu học Phật
pháp?
Vì
thế vị Bồ Tát chân chính, phát tâm Bồ Ðề, cần phải
tự mình giữ gìn giới hạnh thanh tịnh hơn gấp bội lần
hành giả Thanh Văn. Luôn luôn một lòng nhớ nghĩ, hộ trì
cấm giới vững chắc dường như kim cương. Bồ Tát thà hy
sinh tánh mạng của mình, quyết không hủy phạm giới cấm
của Như Lai. Vì thế, không nên trở lại sanh khởi ác tâm,
làm những điều tội ác: dâm, sát, đạo, phỉ báng v.v...
Nếu làm những việc ấy là không hợp pháp và dĩ nhiên là
không xứng danh của người Phật tử.
Cho
nên hành giả Bồ Tát không nên tự cho mình là Bồ Tát mà
có thể tùy tiện hủy phá cấm giới của Như Lai. Khổ quả
ấy bạn phải lãnh thọ, không thể nào viện cớ vì bạn
là vị Bồ Tát nên không có trách nhiệm về sự trái phạm
giới luật. Ðây là điều mà người Phật tử hành Bồ Tát
đạo cần phải đặc biệt nghĩ kỹ!
Giới
này có chỗ gọi là giới “không kính hảo thời”, nhưng
ở đây gọi là “giới quản lý cho bạch y”.
“Hảo
thời” là những ngày lục trai hằng tháng và ba tháng trường
trai hằng năm. Theo tương truyền, ngày lục trai và ba tháng
trường trai là thời gian quỷ thần đắc lực hỗ trợ.
Nếu
trong khoảng thời gian hảo thời ấy, hàng Phật tử tại gia
chuyên lo tu tập pháp lành, làm việc phước thiện thì được
công đức nhiều hơn lúc bình thường.
Ðối
với những người thế gian có tâm kính trọng lúc hảo thời
này, chuyên lo tu thiện nghiệp thì hàng chư thiên vô cùng hoan
hỷ, chư vị sẽ ban cho những điềm lành, ủng hộ quốc gia,
nhân dân được an cư lạc nghiệp.
Trái
lại, nếu những lúc hảo thời không lưu tâm kính sợ, buông
lung tạo tội ác, chư thiên trông thấy không hoan hỷ. Do đó,
chiêu cảm những tai họa dị kỳ khiến đời sống của nhân
dân chịu nhiều thống khổ không sao nói hết.
Giới
quản lý bạch y này là giảng nói về những tội lỗi của
người xuất gia là phải có nhiệm vụ dẫn dắt hàng Phật
tử tại gia tu hành đúng như lời Phật dạy: ăn chay, giữ
giới, sám hối, tụng kinh, niệm Phật để cùng tiến tu trên
đường giải thoát.
Nếu
Bồ Tát không thực hành như vậy, trái lại, miệng nói không
mà việc làm lại mang tính chất chấp có, cai quản, chỉ dẫn
việc thế tục, hướng dẫn hàng bạch y đi theo con đường
sinh tử. Như vậy đâu phải là việc làm của người xuất
gia? Vì thế không thể nói là giới kính hảo thời mà phải
gọi là giới quản lý bạch y.
Trong
thời Mạt Pháp hiện nay, có rất nhiều chuyện trái ngược
phát sanh. Chẳng hạn người tại gia đi làm việc của người
xuất gia, như đem kinh mõ đi tụng kinh sám cho người. Kẻ
xuất gia lại làm những việc của người tại gia như làm
tùng sự trong những lãnh vực doanh thương cho người tại
gia. Vì những hiện tượng đảo điên như vậy, nên giữa
Tăng và tục thường xảy ra rất nhiều sự tranh chấp. Hiện
tượng quái lạ này không phải chỉ xảy ra ở một nơi nào
mà đâu đâu cũng đều như vậy. Thế nên còn đợi đến
bao giờ mới nhận thấy sự suy tàn của Phật pháp?
Nếu
chúng ta muốn Phật pháp hưng thạnh trở lại, cần phải khẩn
cấp vạch rõ phương thức hành động cho cả tăng lẫn tục:
Như
Phật tử tại gia phải lấy việc hộ pháp làm nhiệm vụ
chính. Phải đứng ở lãnh vực hộ pháp mà hộ trì Phật
pháp, không được làm công việc của người xuất gia.
Còn
hàng Phật tử xuất gia phải lấy việc hoằng pháp làm sự
nghiệp. Phải đứng trên lập trường hoằng pháp mà hoằng
dương Phật pháp không được làm những công việc của người
tại gia.
Ðức
Phật lại dạy đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử
đã thọ giới Bồ Tát, nếu không dùng tâm tốt thực hành
Bồ Tát đạo, mà lại vì ác tâm, tức là không có tâm kính
thành đối với Tam Bảo, tự thân hủy báng Tam Bảo, giả
vờ kính mến, miệng thì nói không mà hành vi lại thực sự
có”.
-
Tự thân hủy báng Tam Bảo là thân nghiệp không thanh tịnh.
-
Giả vờ kính mến là ý nghiệp không thanh tịnh.
-
Miệng nói không mà hành vi lại có là khẩu nghiệp không thanh
tịnh.
Lại
có chỗ giải thích rằng: Tự thân hủy báng Tam Bảo là không
phải chỉ riêng miệng hủy báng. Người hủy báng Tam Bảo
phải do nơi tâm niệm xuất phát. Khi tâm niệm đã bất chính
thì thân tự nhiên cũng bất chính, làm bất cứ việc gì cũng
đều không chân thật.
Chẳng
hạn có người nương náu trong ngôi Tam Bảo, nhưng sau đó
trở lại hủy báng. Ðiều ấy chứng tỏ người đó không
có lòng tin chân thành đối với Tam Bảo. Họ chỉ giả dối
thân cận để tựa nương, hy vọng mọi người cung kính cúng
dường cho mình. Khi mục đích không đạt được, bấy giờ
bắt đầu hủy báng ngôi Tam Bảo, bảo rằng Tam Bảo không
chân thật thế này, thế kia... Do nương tựa trong ngôi Tam
Bảo, mà mang ý niệm như vậy, dù đôi lúc hành vi dường
như mang vẻ lợi ích, như tuyên nói những đạo lý giải thoát,
không, vô ngã v.v... cho người, nhưng những hành động này
luôn luôn biểu hiện tinh thần lẩn quẩn trong vòng “chấp
có”.
Nên
thông thường trong kinh nói:
Phát
ngôn tắc khẩu khẩu thuyết không,
Tố
lý tắc thời thời hành hữu.
Dịch:
Thốt
ra lời nói thì lời lời đều nói là không,
Trên
thực tế, mọi việc làm lúc nào cũng là có.
Hiện
tượng này ở trong Phật giáo nơi nào cũng có. Trường hợp
cụ thể như có những người ngoài miệng nói Ngã là không
mà tự mình lại chấp ngã hơn ai hết. Hoặc nói tiền bạc
là của cải chung, của năm nhà, tất cả đều không phải
là của riêng mình; vì đến ngày cuối cùng, con người chỉ
ra đi với hai bàn tay không v.v... Nói thì nói vậy, nhưng riêng
mình thì mong được tiền của càng nhiều càng tốt. Lại
còn không dám bỏ ra một đồng để cứu giúp người. Ðây
là chứng minh điều trong kinh dạy: “Miệng thì nói không,
mà hành vi là có”.
“Làm
quản lý cho bạch y”, câu kinh văn này có những giới bổn
không có. Nhưng ở đây nói thêm câu này để ám chỉ công
việc của hàng bạch y, cư sĩ không phải là việc của người
xuất gia lo liệu, nên gọi là “làm quản lý cho người bạch
y”. Việc quản lý ấy như thế nào?
Trong
kinh dạy: “Vì hàng bạch y thông tri giúp cho nam nữ giao hội
dâm sắc, gây thành các nghiệp kiết phược”.
Chữ
“thông” ở đây có nghĩa là truyền đạt cho biết.
Chữ
“tri” là biết.
Nghĩa
là truyền đạt ý của bên nam cho bên nữ, hay của bên nữ
cho bên nam, để tạo điều kiện cho hai bên hành động buông
lung. Do đó, người nam gây phiền trược cho người nữ, người
nữ nhiễm ái yêu thương người nam. Hai bên triền phược,
ái nhiễm lẫn nhau, trói cột nhau, rồi cùng trôi lăn vào vòng
sinh tử luân hồi không biết ngày nào được giải thoát.
Việc làm như thế là trói cột cho mình và người, cho nên
đó không thể nào là việc của người xuất gia nên làm.
Bồ
Tát xuất gia cần phải vì mọi người mà cởi mở sự trói
cột, nói rõ tội ác của ái dục là cội gốc sinh tử luân
hồi. Tùy theo căn cơ của mỗi người mà dần dần dẫn dắt
họ đồng đi lên con đường giải thoát quang đãng, không
còn bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi, bị các phiền não
triền phược trói cột như vậy mới đúng.
Ngày
lục trai mỗi tháng và ba tháng trường trai mỗi năm là khoảng
thời gian gọi là “hảo thời”.
*
Những ngày lục trai là mùng 8, 14, 15, 23, 29 và 3. Những ngày
thiếu không có 30 thì đôn lên tức là 28, 29. Ngày lục trai
cũng gọi là Lục Thiên Nhật, là ngày các thiên vương, thiện
thần tuần hành trong nhân gian, khảo sát các điều thiện
ác.
-
Ngày mùng 8 và 23 là ngày của những vị sứ giả của Tứ
Thiên Vương giáng hạ để tuần hành trong nhân gian, thị sát
để xem thế nhân hành thiện hành ác.
-
Ngày 14 và 29 là ngày của Thái Tử Tứ Thiên Vương giáng hạ
tuần hành thị sát nhân gian.
-
Ngày rằm và 30 là ngày của bốn vị Thiên Vương đích thân
giáng hạ thị sát nhân gian.
Nếu
các ngài nhận thấy nhân gian nhiều người y theo Phật pháp
tu tập thiện nghiệp, các Ngài vô cùng hoan hỷ, sẽ bảo hộ
quốc giới và ban phước cho khắp nhân gian.
Trái
lại, nếu thấy nhiều người tạo ác, các ngài rất lo buồn
và sẽ giáng những điềm bất an cho quốc giới để cảnh
cáo thế nhân, nhắc nhở họ phải bỏ dữ làm lành.
Vì
sự quan hệ này, Ðức Phật mới dạy Phật tử nam nữ tại
gia, đã quy y Tam Bảo, thọ Ngũ Giới, hoặc thọ Bồ Tát giới,
mỗi tháng những ngày lục trai nên thọ Bát Quan Trai Giới
trong một ngày một đêm, thì được phước đức hơn những
ngày khác.
*
Ba tháng trường trai trong mỗi năm là tháng Giêng, tháng Năm
và tháng Chín. Ba tháng này gọi là Tam Thiện Nguyệt; là những
tháng Ðế Thích Thiên Vương đích thân giáng hạ nhân gian
để tuần hành, thị sát. Trong cung điện của Ðế Thích Thiên
Vương có chiếc Ðại Bảo Cảnh (chiếc gương báu lớn).
-
Tháng Giêng chiếu xuống Nam Thiệm Bộ Châu.
-
Tháng Hai chiếu Tây Ngưu Hóa Châu.
-
Tháng Ba chiếu Bắc Câu Lưu Châu.
-
Tháng Tư chiếu Ðông Thắng Thần Châu.
-
Tháng Năm trở lại chiếu Nam Thiệm Bộ Châu v.v...
Như
thế, tất cả có bốn châu, và mỗi năm một châu được
chiếu ba lần. Kính này chiếu soi tất cả các thiện ác trong
nhân gian. Phàm nhất cử, nhất động cử tâm động niệm
của người đời đều hiện rõ trong Ðại Bảo Cảnh. Nhật
trai (ngày ăn chay), nguyệt trai (tháng ăn chay) kể trên là những
lúc quỷ thần làm việc đắc lực, cũng là hảo thời mà
bốn vị Thiên Vương và Ðế Thích thiên vương thay nhau đi
tuần hành, thị sát.
Do
đó, Phật tử nên khuyên nhủ mọi người thực hành các pháp
lành như trai giới, lễ Phật, niệm kinh, phóng sanh, bố thí
v.v... xa lìa các tội ác, tu tập các phước đức, trợ giúp
cho mọi người tu tập thiện nghiệp, như thế mới hợp với
tinh thần đạo pháp.
Nếu
trong những ngày tháng rất tốt ấy, thế nhân không biết
khéo léo tu tập các phước đức, mà trái lại làm những
điều trái phạm giới luật, lẽ tất nhiên tội ác sẽ rất
lớn.
Ðặc
biệt là cần phải chú ý ở đây dạy những ngày tháng hảo
thời trên, Phật tử phải lưu tâm xa lìa ác pháp, tu tập
thiện nghiệp, không có nghĩa là ngoài những tháng ngày ấy
ra, thì có thể tùy ý buông lung tạo các tội ác. Giống như
trường hợp các vị thủ trưởng cơ quan địa phương, bình
nhật thì chểnh mảng, lơ là công việc. Ðến khi cấp trên
đến thanh tra kiểm điểm, thì vội vàng lo đôn đốc nhân
viên làm việc nghiêm chỉnh.
Nếu
cho rằng ngày lục trai và ba tháng trường trai cần phải tu
thân tiến đức, còn những ngày tháng khác có thể lơ lơ
là là, mặc tình tạo tội là lầm to! Những ngày lục trai
và ba tháng trường trai nói trên, nếu không dụng công tu tập
thiện nghiệp trái lại còn giúp người làm việc sát sanh,
trộm cắp, phá giới, phạm trai là hoàn toàn trái hẳn với
tư cách của người Phật tử. Nên trong kinh kết luận: “Phật
tử này phạm khinh cấu tội”.
Nếu
đích thân dạy người tạo nghiệp sát sanh, trộm cắp thì
không phải là tội khinh cấu, mà là căn bản trọng tội.
Sở dĩ ở đây phán định là tội khinh cấu vì bạn làm mai
mối cho nam nữ v.v... hoặc cho hàng bạch y nghĩa làm trung gian,
viễn nhân, để cho người tạo nghiệp ác sát, đạo, dâm...
Lúc
hảo thời cần phải thọ trì Bát Quan Trai Giới mà bạn không
đúng theo pháp phụng hành, đó là phá trai, phạm giới. Nên
trong kinh Anh Lạc dạy: “Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát tu tập pháp
Lục Ðộ thanh tịnh, kiêm tu giới pháp Bát Quan Trai của chư
Phật, thì thiện nam tử, thiện nữ nhơn này đối với pháp
Lục Ðộ đã đầy đủ hạnh thanh tịnh. Nếu không tu trì
thì gọi là phạm giới”.
Trong
Bồ Tát Giới Bổn Sơ Tân cũng giải thích rằng:
-
Không tu tịnh hạnh, chạy theo trần duyên, làm mất tâm Bồ
Ðề, đoạn chủng tánh Phật, ấy gọi là sát sanh.
-
Miệng thì nói không mà hành vi chấp có, trái nghịch thánh
đạo, thọ dụng vật cúng thí của người. Cứ một miếng
thì kết một tội. Ấy gọi là tội trộm cướp.
Giới
này ngăn cấm năm chúng xuất gia bất cứ thời kỳ nào cũng
đều không được quản lý cho bạch y, tuyệt đối không được
gần gũi với bạch y, để tạo những điều phi pháp. Riêng
hai chúng tại gia đã thọ Bồ Tát giới, nếu lúc hảo thời
không có tâm tôn trọng, cung kính cũng phạm khinh cấu tội.
Nên
kinh Thiện Sanh nói: “Nếu Ưu Bà Tắc trong mỗi tháng không
thọ trì Bát Quan Trai Giới, không cúng dường Tam Bảo thì
mắc tội thất ý”.
Giới
này hoàn toàn mang tính chất nghiêm cấm, không có trường
hợp khai miễn. Cả Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều chế
định như vậy.
Kinh
văn
“Mười
giới như thế cần phải học, phải hết lòng kính trọng
phụng trì, trong phẩm Chế Giới có giảng rộng.
Lời
giảng
Hai
câu kinh văn trên là tổng lược kết khuyến mười giới ở
trên. Nghĩa là đối với những giới này, Phật tử cần phải
đúng pháp tu học, từng giờ, từng phút hết lòng kính trọng,
phụng trì.
Trên
đây chỉ giảng sơ lược thôi, trong phẩm Chế Giới sẽ giảng
rộng hơn.
