B.2.2.29.
TÀ MẠNG TỰ HOẠT GIỚI
(Giới
ngăn cấm mưu sinh bằng những tà nghiệp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử dĩ ác tâm cố...” cho đến câu “...phạm
khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử dùng ác tâm vì lợi dưỡng mà buôn bán nam sắc,
nữ sắc, tự tay làm đồ ăn, tự xay, tự giã, xem tướng,
bàn mộng, đoán sẽ sanh trai hay gái, dùng bùa chú, pháp thuật,
làm nghề nuôi ó và chó săn, nghĩ ra phương pháp hòa hiệp
trăm thứ thuốc độc, nghìn thứ thuốc độc: độc rắn,
độc sanh kim ngân, độc sâu cổ, đều là không có lòng từ
bi, hiếu thuận. Nếu cố làm các điều ác như thế, Phật
tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng
Giới
trước là giới ngăn cấm những lỗi trái nghịch với phước
điền thù thắng, làm cho thiện căn công đức không được
tăng trưởng.
Giới
này ngăn cấm việc học tập những nghề nghiệp hạ liệt
thông thường, để tránh sự tăng trưởng ác tâm, tạo các
ác nghiệp.
Mọi
người muốn tồn tại trên thế gian này đều phải tìm cách
duy trì sự sống. Ðiều ấy không ai có thể phủ nhận. Nhưng
sự sinh hoạt có chính đáng hay không, đó là vấn đề cần
phải chú ý.
Ðối
với người Phật tử tại gia học Phật, chỉ nên đảm nhiệm
những chức vụ chính đáng trong quốc gia, hay mưu cầu sự
sống bằng những nghề nghiệp hợp pháp và chân chính như:
làm ruộng, buôn bán, làm thợ, dạy học v.v... mới là những
sinh hoạt kinh tế chính đáng thông thường. Trái lại, nếu
làm những điều phi pháp, tội ác như sát sanh, trộm cắp,
dâm dật, bán rượu, coi bói, chú thuật, cân non, cân già,
đấu lớn, đấu nhỏ v.v... đều không thể được, và chắn
chắn sẽ gặp hậu quả bi thảm.
Ðối
với hàng Phật tử xuất gia, bất luận là tỳ kheo hay Bồ
Tát, đều phải sống theo lối chánh mạng hay tịnh mạng,
tuyệt đối không được làm theo tà mạng để tự nuôi sống.
Tà
mạng là ngược với chánh mạng; là sự tự nuôi sống khôngười
có tâm vì người khác. Nếu dùng những phương pháp không
chính đáng để được các thứ nhu dụng cho đời sống thì
dù đời sống của bạn thật sung sướng, hạnh phúc, thậm
chí còn được những người thiển kiến trong xã hội hâm
mộ, nhưng đối với Phật pháp thuần túy chân chính, thì
bạn đã mất hẳn tư cách của một Thích tử. Vì những lối
sống ấy, ngay cả các tín sĩ thanh tịnh tại gia học Phật,
cũng đều không nên làm.
Người
Phật tử xuất gia, dù ở hoàn cảnh nào đều phải lấy việc
khất pháp, khất thực làm điều sinh sống.
-
Khất pháp nghĩa là khất cầu chánh pháp của Như Lai. Ðối
với chánh pháp phải quý trọng, giữ gìn để cầu chứng
được Pháp Thân.
-
Khất thực nghĩa là khất cầu những thực phẩm ăn uống
trong mỗi ngày của thí chủ, để tự dưỡng xác thân và
và để thanh tịnh cuộc sống.
Nếu
có được sự sinh hoạt như vậy, chẳng những có thể hoàn
thành đức nghiệp cho bản thân mình, mà còn làm lợi ích
cho nhân quần, khiến mọi người vun trồng phước đức. Ðây
là lối sinh sống theo chánh mạng do Ðức Phật chế định
cho hàng Phật tử xuất gia, không nên trái phạm.
Nhất
là hàng Bồ Tát xuất gia với tinh thần đại từ, đại bi,
đáng lý phải hy sinh, không luyến tiếc sinh mạng quý báu
của mình để cứu độ chúng sanh, những người đang cần
được cứu tế, không thể cho phép bạn vì những lợi ích
của cá nhân mình, mà dùng những ác pháp gây sự tổn hại
cho người, hoặc dùng tà nghiệp, để được lợi dưỡng
hầu duy trì sinh mạng của cá nhân mình. Ðiều này không phải
là biểu hiện tâm thanh tịnh, tâm từ bi cần phải có nơi
một vị Bồ Tát.
Trên
thế gian, vấn đề hành nghề không chân chính để nuôi sống
bản thân so ra thì rất dễ dàng, vì thế ở xã hội Ấn Ðộ
xưa kia, môn đồ của các tôn giáo khác hay dùng những phương
tiện không chính đáng để mưu sinh, bởi lẽ những công việc
ấy thật nhẹ nhàng, dễ làm, không cần phải nhọc sức nhiều.
Ðức Phật nhận thấy đây là điều nhất quyết không thể
chấp nhận, vì không phải là việc làm của người Phật
tử. Cho nên ngài chế lập giới điều này.
Nhưng
ở vào thời Mạt Pháp hiện nay, nhìn chung khắp hàng Phật
tử xuất gia của Phật giáo, thành phần không dùng tà nghiệp
mưu cầu sự sống, rốt ráo không biết được bao nhiêu người?
Thế nên, khi bước chân đến tự viện đều thấy những
việc làm trái với đường lối tịnh mạng. Nhưng vì việc
làm này đã trở thành thói quen, nên những người hành động
không còn nhận ra những việc làm ấy là không đúng. Nhưng
chính những việc làm này đã gây một ấn tượng xấu xa
cho các nhân sĩ trong xã hội, khiến họ nghĩ rằng Phật giáo
đồ đang dẫn dắt người đời đi vào con đường mê tín
một cách hết sức lầm lẫn. So lại với tinh thần của Phật
giáo chân chính thì quả là một khoảng cách rất xa!
Ðức
Phật bảo đại chúng rằng: “Nếu là một Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, nếu không dùng tâm tốt thực hành Bồ
Tát đạo mà lại dùng ác tâm, chỉ vì để mưu cầu tài lợi
phụng sự cho cá nhân mình mà làm những việc tà mạng nuôi
sống. Vì lợi dưỡng không phải là việc làm thể hiện tinh
thần cứu khổ cho chúng sanh. Dùng ác tâm là nói sự không
dùng thiện tâm cầu quả vô thượng Phật đạo. Nếu dùng
thiện tâm làm những việc tốt, cứu tế chúng sanh thoát khỏi
cảnh thống khổ, thì phát sanh vô lượng công đức”.
Tà
nghiệp tổng quát có tám loại như:
1.
Buôn bán nam sắc, nữ sắc: nghĩa là dùng tiền mua thanh niên
nam, nữ bán lại cho người khác để làm việc dâm dục. Ðiều
này đồng nghĩa với việc mở các dâm xá để mưu cầu tài
lợi, nên là một tội ác rất lớn. Chẳng những Phật tử
xuất gia không được làm mà ngay cả Phật tử tại gia cũng
không được phép. Vì đây là hành động chia lìa cốt nhục,
nhơ nhuốc gia phong của người, không nghĩ đến liêm sỉ,
không đoái hoài đến nỗi hổ nhục của người.
2.
Tự tay làm đồ ăn: Chính mình nấu nướng thức ăn để dùng.
Việc này chỉ cấm hàng xuất gia, còn với Phật tử tại
gia, sự tự nấu nướng để dùng thì hoàn toàn không cấm.
-
Ðức Phật dạy tỳ kheo phải dùng đồ ăn từ nơi tịnh nhân
trao cho mới được ăn. Sở dĩ Ðức Phật không cho phép sa
môn làm việc nấu nướng để sinh sống, vì lúc làm thức
ăn thì mất oai nghi của vị tỳ kheo, lại còn khiến cho tâm
tham của tỳ kheo phát sanh, cho nên không được làm. Nhưng
tình hình hiện nay, công nghiệp kỹ nghệ phát triển và phồn
thịnh, việc tự tay làm thức ăn thật là khó tránh.
2.
Tự xay, tự giã: Chính mình tự xay giã ngũ cố để dùng cũng
không được. Vì trong ngũ cốc có rất nhiều sinh mạng của
vi sinh trùng, nếu chính tay mình xay giã sẽ làm tổn hại sinh
mạng của chúng sanh, còn thêm bị thế nhân chê bai, dị nghị.
Ðiều này chỉ ngăn cấm hàng xuất gia, còn hàng tại gia thì
không cấm.
Tuy
nhiên, trường hợp Phật tử xuất gia, hành Bồ Tát hạnh,
phát tâm cúng dường chúng Tăng, đích thân dùng sức lực
của mình tự xay, tự giã và tự làm thức ăn uống cũng có
thể được cho phép.
4.
Chiêm tướng nam nữ:
Chữ
Chiêm còn đọc là Chiếm, có nghĩa là coi bói, dùng những
lời không thật bàn chuyện họa phước, sống lâu, chết yểu
của nam nữ.
Chữ
Tướng là những nét hiện ra bên ngoài.
Chiêm
Tướng có nghĩa là quán sát hình dạng, khí sắc rồi đưa
ra những lời nhận xét hư vọng, tiên đoán những việc cùng,
thông, đắc, thất của người. Họ không hiểu rằng bổn
mạng của mỗi người như thế nào, không cần gì phải coi
tướng, bói quẻ mà hoàn toàn căn cứ ở nơi tự mình có
thực hành đạo đức làm người hay không. Nếu thực hành
những điều tốt thì tương lai nhất định sẽ tốt, bằng
ngược lại, thì lẽ đương nhiên mọi việc sẽ không bao
giờ được như ý muốn. Hoặc coi những việc cưới gả,
tính đoán tuổi tác cho nam nữ, xem cung mạng đôi bên hợp
nhau hay không v.v... Những việc này đều không phải là việc
của những người xuất gia nên làm. Ðối với những người
tại gia, nếu không phải lấy những việc này làm phương
tiện nuôi sống, chỉ là tình cờ tạm làm thì không phạm
giới.
5.
Bàn mộng tốt xấu, sẽ sanh trai hay gái: Mộng mị là việc
mọi người đều có. Theo thông thường nói bậc chí nhân
không nằm mộng. Nhưng theo Phật pháp thì chỉ duy có Ðức
Phật mới không nằm mộng.
Mộng
vốn là hiện tượng huyễn hóa. Tự nó vốn không mang tính
thực tại, nhưng người đời mỗi khi nằm mộng, thường
đi cầu người khác bàn luận về mộng, để biết những
điềm hiện trong giấc mộng tốt hay xấu. Thậm chí, những
phụ nữ có mang cũng cầu hỏi xem sẽ sanh trai hay gái.
Vì
người đời có việc mong cầu như vậy, nên nhiều người
cho rằng phải giúp người bàn mộng, suy xét giùm họ những
điều trong mộng; thậm chí còn hư vọng phán đoán việc tốt
xấu, họa phước cho người. Hoặc hư vọng phán đoán người
phụ nữ có mang sẽ sanh trai hay gái.
Hàng
Phật tử xuất gia chuyên tu đạo pháp xuất thế và lo hóa
độ chúng sanh, làm sao có thì giờ rảnh rỗi để đi làm
những việc ấy? Còn hàng Phật tử tại gia nếu không phải
làm những việc ấy để lấy tiền nuôi sống, nếu gặp trường
hợp tạm thời phải làm thì không ở trong sự cấm ngăn.
6.
Chú thuật, công xảo:
Chú
thuật là những tà chú, bùa phép cùng các huyễn thuật của
ngoại đạo. Phù chú có thể sai khiến quỷ thần, nhiếp lấy
hồn phách của người đem đi, làm cho người cảm thấy có
những điều bất an. Huyễn thuật có thể biến hóa ra các
việc ảo huyền để mê hoặc, dối gạt người, làm cho người
sa vào trong vòng huyễn thuật của mình mà không hay biết.
Công
là tinh diệu, Xảo là khéo léo. Nghĩa là nương vào khả năng
khéo léo, chế tạo ra các đồ vật tốt đẹp, phô bày kỹ
thuật tinh xảo của mình, khiến cho mọi người lưu tâm đặc
biệt đến nghề nghiệp của mình. Ðiều này là việc làm
của người thế tục thông thường, không phải là việc của
người Phật tử xuất gia nên làm.
7.
Phương pháp huấn luyện ưng khuyển:
Ưng
là loại chim lớn, còn gọi là Ó. Khuyển là chó. Là những
con vật có thể giúp thợ săn bắt những thú rừng. Do đó,
những người thợ săn đặc biệt huấn luyện chúng cách thức
săn bắt thú rừng. Ðây là những việc làm hung ác, gây tổn
hại sinh mạng chúng sanh, trái với tâm từ bi trong Phật pháp.
Cho nên hàng Bồ Tát xuất gia cũng như tại gia, nếu vì mục
đích hộ vệ thân mạng, giữ gìn nhà cửa mà nuôi chó, không
phải vì làm phương tiện sinh sống, thì có thể cho phép.
Ngoài trường hợp đặc biệt nói trên, tuyệt đối không
được dùng các phương pháp huấn luyện chim, chó phục vụ
cho việc săn bắn.
8.
Hòa hiệp trăm thứ thuốc độc, độc rắn, độc sanh kim ngân,
độc sâu cổ: Nghĩa là dùng những loại thuốc độc trong
thế gian, hòa hợp thành những loại cao, đơn, hoàn, tán để
giết hại chúng sanh. Việc làm này thật không hợp với đạo
từ bi của Phật pháp, cho nên bất luật xuất gia hay tại
gia đều không được bào chế độc dược. Thuốc độc có
đến trăm ngàn loại không thể kể hết, trong kinh chỉ lược
nêu ra mấy loại sau:
-
Hòa hợp nọc rắn: để giết hại sanh mạng của người và
của tất cả chúng sanh. Lấy nọc rắn ở đuôi rắn hay đầu
rắn, đặc biệt lấy nọc rắn vào ngày mùng 5 tháng 5. Hoặc
lấy tủy não hay tinh dịch của nó bào chế thành thuốc độc.
Dùng những thuốc này để giết hại người hoặc dùng nó
để tránh khỏi độc rắn.
-
Bào chế các loại thuốc độc sanh kim ngân: vì chất này rất
độc, dùng hai thứ ấy hòa hợp với thuốc độc thì có thể
giết người hại vật dễ dàng. Nếu uống hay ăn phải thứ
độc sanh kim ngân này thì sang mạng liền bị giết chết.
-
Bào chế độc sâu cổ: Nghĩa là tập hợp tất cả các loại
trùng độc lại một nơi, để cho chúng tự tàn sát lẫn nhau.
Con nào còn lại cuối cùng, bắt đem phơi khô, tán thành bột,
rồi lén bỏ vào đồ ăn của người mình muốn giết, hoặc
là bỏ vào y phục của họ, khiến kẻ ấy bị đầu độc
mà chết.
Nếu
làm những việc trên để thâu tài lợi, nuôi sống bản thân,
đều không phải là lối mưu sinh chính đáng, nên trong Phật
pháp gọi là “tà mạng”. Việc không nên làm mà làm là
trái với tinh thần của Phật tử, nên trong kinh quở rằng:
“Không có tâm từ bi, không có tâm hiếu thuận”.
Tại
sao vậy?
Nên
biết: Chúng ta vốn là một vị Bồ Tát chân chính. Nội tâm
từng giờ, từng phút phải có lòng đoái thương tất cả
chúng sanh như con đỏ của mình. Mỗi niệm đều phải suy
nghĩ làm thế nào cho chúng sanh được lợi ích. Hiện tại,
nếu chẳng những không làm được như vậy, mà trái lại,
còn vì sự sống của cá nhân mình mà làm việc tổn hại
chúng sanh, thì chẳng khác nào như ăn thịt con đỏ của mình.
Vậy thì còn đâu là tâm Từ Bi của người Phật tử?
Nói
cách khác, Bồ Tát xem tất cả chúng sanh đều như cha mẹ
của mình, luôn luôn nghĩ tưởng rằng phải phụng dưỡng
cha mẹ như thế nào cho phải đạo. Hiện tại, chẳng những
không thực hành như vậy, mà trái lại còn vì sự sinh sống
cá nhân làm những việc tổn hại cho song thân, như thế thật
là hết sức ngỗ nghịch, đâu còn tội nào nặng hơn. Ðã
không có tâm hiếu thuận như vậy, thì đâu còn gì là tư
cách của một vị Bồ Tát?
Tất
cả những việc mưu sinh tà mạng đều không nên làm. Nếu
như không phải do sự lầm lỡ vô tình, mà chính là do sự
cố ý hành động, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Vì
tài lợi mà buôn bán, làm các việc ác để mưu sự sống
cho cá nhân, trong thì trái với tâm từ bi, ngoài thì thương
phong bại tục, nên bị ghép vào tội khinh cấu. Nếu chúng
sanh vì việc làm này mà bị tán thất thân mạng thì việc
làm này bị kết thành căn bản trọng tội.
Vấn
đề bào chế các thứ thuốc độc kết thành tội khinh cấu,
là nói lúc hòa hợp thuốc, nhưng đến khi giết chết chúng
sanh thì kết thành căn bổn trọng tội. Bào chế thuốc độc
đã như thế, thì sự huấn luyện chim ó, chó săn cũng giống
như vậy. Ðiều này chúng ta đương nhiên phải biết.
Giới
này phối hợp với Tam Tụ Tịnh Giới tương ứng như sau:
-
Không tà mạng nuôi sống thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Có tâm từ bi, hiếu thuận thuộc về Nhiếp Thiện Pháp Giới.
-
Không có ác tâm làm hại chúng sanh, thuộc về Nhiếp Thiện
Pháp Giới.
Thế
nên giới tà mạng nuôi sống này, mới xem qua là rất đơn
giản, nhưng nếu thực hành trọn vẹn thì bao gồm cả Tam
Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát ở trong đó.
Tà
mạng sinh sống nhiều kinh luật giải thích khác nhau. Như trong
Ðại Trí Ðộ Luận của Tổ Long Thọ thuyết minh: “Tịnh
Mục nữ thỉnh vấn tôn giả Xá Lợi Phất rằng: - Kính bạch
tôn giả! Vấn đề nuôi sống không thanh tịnh như thế nào,
xin tôn giả chỉ dạy cho con được rõ?
Tôn
giả dạy rằng: - Có những người xuất gia, bào chế các
thứ thuốc, gieo giống làm ruộng, trồng các thứ cây ăn trái
v.v... thuộc về lối sống không thanh tịnh. Ðấy gọi là
Hạ Khẩu Thực.
-
Những người xuất gia ngước xem tinh tú, nhật nguyệt, gió
mưa, sấm sét, điện chớp để làm nghề nuôi sống, thuộc
về lối sống không thanh tịnh. Ðấy gọi là Ngưỡng Khẩu
Thực.
-
Những người xuất gia dua nịnh với các nhà quyền quý, đi
làm thông sứ bốn phương, dùng lời khéo léo mưu cầu tài
lợi thật nhiều, thuộc về lối sống không thanh tịnh. Ðấy
gọi là Phương Khẩu Thực.
-
Những người xuất gia học các thứ chú thuật, coi bói các
việc kiết hung v.v... Những việc làm như thế thuộc về lối
sống không thanh tịnh. Ðấy gọi là Tư Duy Khẩu Thực.
Này
Ðại Tỷ! Tôi đây không bị ở vào bốn thứ sống không
thanh tịnh ấy. Tôi chỉ dùng lối sống thanh tịnh đi khất
thực mà thôi”.
Căn
cứ vào những lời của tôn giả Xá Lợi Phất thì có thể
biết bốn thứ khẩu thực như thế thuộc về tà mạng. Thế
nên người Phật tử xuất gia phải vâng theo giới luật thanh
tịnh nuôi sống, chớ nên theo lối tà mạng. Nhưng nhìn lại
hàng ngũ chúng Tăng hiện nay, những người không ở vào bốn
thứ bất tịnh thực như trên có thể nói là rất hiếm.
Lại
có nơi giải thích năm thứ tà mạng như sau:
1.
Giả hiện tướng khác lạ: Nghĩa là đối với những người
thế tục, cố giả hiện ra những tướng kỳ lạ để mong
cầu lợi dưỡng.
2.
Tự nói công đức: tự đi rao nói công đức của mình làm
cho người nghe phát tâm cúng dường để được lợi dưỡng
nuôi sống.
3.
Xem tướng tốt xấu: khoa coi bói để đoán những việc kiết
hung của người hầu thu được lợi dưỡng nuôi sống.
4.
Cao thinh hiện oai: Lúc nói chuyện, cố ý sửa âm thanh, tiếng
nói lớn, chậm rãi, ra vẻ có uy thế, khiến cho người sanh
tâm kính sợ hết mức đối với mình. Do đó, họ sẽ phát
tâm lo cúng dường các thứ nhu dụng.
5.
Nói những lợi dưỡng đã thu được để khích động tâm
người: Hoặc thường đến nhà người khác rao nói hôm nay
người này cúng dường cho tôi phẩm vật này, ngày mai người
kia cúng dường cho tôi phẩm vật nọ. Người khác nghe bạn
nói như thế bèn mang đồ đến cúng dường, vì họ bị bạn
kích động nên phát tâm cúng dường. Những việc như vậy
đều là mưu cầu lợi dưỡng một cách phi pháp, nên gọi
là tà mạng, cũng gọi là lối sống không thanh tịnh.
Về
lối sống thanh tịnh chân chính, trong kinh cũng có nói bốn
thứ như sau:
1.
Ở chốn thâm sơn, chỉ dùng hoa quả, rau trái.
2.
Hằng ngày mang bát đi khất thực.
3.
Ðàn việt tự phát tâm mang thức ăn đến cúng dường.
4.
Thọ dụng thức ăn thanh tịnh trong chúng Tăng.
Vì
lối sống này tâm địa không bị ô nhiễm, cho nên gọi là
“tịnh thực”, còn gọi là lối sống thanh tịnh.
