B.2.2.22.
KIÊU MẠN BẤT THỈNH PHÁP GIỚI
(Giới
kiêu mạn không thỉnh pháp)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử sơ thỉ xuất gia...” cho đến câu
“...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử mới xuất gia chưa thông hiểu kinh luật, mà tự
ỷ mình là trí thức, thông minh, hoặc ỷ mình là cao quý,
lớn tuổi; hoặc ỷ mình là sang giàu, con nhà quyền quý, hoặc
ỷ mình học rộng, phước to, nhà lớn v.v... rồi sanh lòng
kiêu mạn mà không chịu học hỏi kinh luật với các vị Pháp
Sư học đạo trước mình. Vị Pháp Sư ấy dù thuộc giòng
dõi thấp kém, con nhà hạ tiện, tuổi trẻ, nghèo nàn, cùng
khổ, hay có tật nguyền, nhưng lại thật có đức hạnh, thông
hiểu nhiều kinh luật. Hàng tân học Bồ Tát không được
căn cứ vào gia thế, giòng dõi của vị Pháp Sư mà không chịu
đến học đạo lý Ðại Thừa với vị ấy. Phật tử nếu
như vậy thì phạm khinh cấu tội.
3.
Lời giảng:
Giới
trước giảng về việc đối với oán cừu nếu khởi niệm
trả thù, lẽ dĩ nhiên, không phải là một biện pháp tốt
để giải quyết vấn đề.
Hiện
tại, giới này nói về vấn đề đối với bậc có đức
mà không kính trọng, thì cũng không phải là sự hữu ích
cho chính mình.
Nhân
vì đối cảnh sanh tâm oán hận, chẳng những không có được
biện pháp giải quyết cho vấn đề, chỉ làm tăng gia hoặc
nghiệp cho chính mình. Như vậy thử hỏi việc làm ấy có
ý nghĩa gì?
Ðối
với bậc có đức, nếu không kính trọng thì chẳng những
bản thân không có chỗ tốt đẹp mà lại còn tạo thêm lỗi
khinh mạn chánh pháp. Nên biết một hành giả mới xuất gia,
nhất là một vị Bồ Tát mới xuất gia, không phân biệt trường
hợp tự hành hay hóa tha, đối với chánh pháp của Như Lai
đều phải tận tâm tận lực cầu học, không nên lựa chọn
người hoặc thời gian hay địa điểm. Cốt yếu là chỗ cầu
học phải thuộc về Phật pháp. Vì chỉ có sự hiểu rõ tất
cả chánh pháp của Như Lai một cách không điên đảo, mới
là điều tối trọng yếu của người học Phật.
Nếu
thể hiểu rõ chánh pháp của Như Lai thì thử hỏi bạn lấy
cái gì để tự hành? Vì thế làm một vị Bồ Tát xuất gia,
đối với chánh pháp đương thời của Ðức Phật cần phải
thấu suốt thông đạt.
Phải
biết rằng ngôn giáo của Ðức Phật giảng nói là cốt dạy
rõ cho người tu hành phải tu như thế nào để chứng đắc
quả vị tối cao và không bị điên đảo. Vì thế, một Bồ
Tát khi đã theo gót Phật Ðà, thì bất cứ khía cạnh nào
cũng đều phải tinh tấn tìm cầu chánh pháp của Như Lai,
không được lười biếng, mỏi nhác.
Ðầu
tiên, Bồ Tát cần phải biết rằng, muốn hóa độ chúng sanh
không phải dùng một phép thuật đặc biệt nào, mà chỉ hoàn
toàn nương theo chánh pháp của Như Lai. Vì thế, nếu tự mình
không có sự hiểu biết thông suốt chánh pháp một cách chắc
chắn, thì lấy gì để tuyên thuyết, giáo hóa, dẫn dắt chúng
sanh?
Cho
nên sự hiểu rõ toàn bộ Phật pháp là thành tựu tất cả
phương tiện cho việc lợi sanh của Bồ Tát. Ðức Di Lặc
Bồ Tát từng dạy rằng:
“Những
Bồ Tát có tâm muốn cầu việc lợi ích cho chúng sanh, do nơi
Ðạo Chủng Trí mà được thành tựu tất cả sự lợi ích
cho thế gian”.
(Ðạo
Chủng Trí là một trong ba trí. Ðại Trí Ðộ Luận nói: “Ðạo
Chủng Trí là trí của Bồ Tát, học tập tất cả đạo pháp
để tế độ chúng sanh”. Trí này trong Tam Ðế thuộc về
Trí Quán Giả Ðế hay Tục Ðế).
Do
đó, nếu không hiểu tường tận về Phật pháp thì không
thể hóa độ các loại chúng sanh. Nên kinh Hoa Nghiêm dạy về
tinh thần hy sinh vì đại pháp rằng: “Bồ Tát Ma Ha Tát vì
muốn cầu chánh pháp của Như Lai, nguyên do vì chánh pháp hết
sức khó được. Khi Bồ Tát cầu pháp sẽ có người nói như
vầy:
-
Nếu ông có thể gieo mình vào trong hầm lửa bảy nhẫn, ta
sẽ nói pháp cho ông nghe (nhà Châu ở Trung Hoa ngày xưa ấn
định một Nhẫn bằng ba mét Tàu).
Bồ
Tát vừa nghe lời nói ấy, hoan hỷ vô cùng, suy nghĩ như vầy:
“Ta hôm nay vì cầu chánh pháp của Như Lai. Nếu cần phải
sanh trong A Tỳ đại địa ngục, cùng các ác thú thọ vô lượng
thống khổ, cũng phải vào để cầu pháp, huống chi chỉ vào
trong hầm lửa nhỏ, sức nóng ở nhân gian chỉ chút ít mà
được nghe pháp (vì lửa ở A Tỳ địa ngục rất nóng. Rắn
như sắt đá, khi bỏ vào cũng phải tiêu ra tro bụi. Nên lửa
ở nhân gian so với lửa ở địa ngục chẳng bằng một phần
nhỏ). Lạ lùng thay! Quý hóa thay! Chánh pháp của Như Lai rất
là dễ được! So với sự thọ vô lượng thống khổ ở địa
ngục thì không bằng một phần. Chỉ vào trong hầm lửa ở
nhân gian chịu nóng chút ít mà được nghe chánh pháp, là việc
làm hoàn toàn không khó vậy. Cúi xin ngài nói pháp cho tôi
nghe, tôi sẽ vâng lời, gieo mình vào hầm lửa”.
Cũng
trong kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Nếu có người nào vì tôi
giảng một câu chánh pháp, khiến cho Bồ Tát hạnh của tôi
nhờ đó mà được thanh tịnh thì dù phải gieo mình vào biển
lửa lớn đầy cõi tam thiên đại thiên thế giới, tôi cũng
nguyện từ cõi Phạm thiên gieo mình vào biển lửa ấy, cũng
không cho là khó”.
Thế
nên, người mới phát tâm xuất gia, nhất định phải nương
theo một vị thiện tri thức tài đức kiêm toàn, để tu học
chánh pháp của Như Lai, hầu có được sự nhận thức chín
chắn về tất cả đạo lý làm thế nào để được thành
Phật, cũng như về tất cả các phương pháp độ sanh. Vì
tất cả những phương tiện có thể thành tựu được trên
con đường giải thoát và tất cả những lợi lạc hiện tại
cũng như nhiều kiếp lâu xa trong tương lai, chỉ có thể tìm
được trong giáo lý Phật Ðà, ngoài ra không tìm đâu có được.
Ở
thế gian hiện tại này, duy chỉ có Ðại Thánh Phật Ðà mới
có thể khai thị tất cả những yếu nghĩa của thủ xả hoàn
toàn không sai lầm. Ngoài ra, không có bất cứ một vị giáo
chủ nào khác có thể làm được.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu có Phật tử
đã thọ Bồ Tát giới mà Phật tử ấy lại là Bồ Tát xuất
gia. Vì mới xuất gia nên chưa được sự huân đào sâu rộng
trong Phật pháp. Lẽ đương nhiên, đối với kinh luật chưa
thông hiểu một cách chính xác”.
Nói
một cách khác, người Phật tử mới xuất gia, chưa được
thân cận nhiều với thiện tri thức, nên đối với giáo lý
Ðại Thừa cũng như Tiểu Thừa, cố nhiên chưa học tập được
hoàn bị, ngay đến giáo pháp Bồ Tát của mình cần phải
học cũng không rành rẽ. Như thế, Phật tử này tiến tu trong
đại đạo Bồ Ðề không tránh khỏi những tình trạng nguy
hiểm. Vì giáo lý không thông sẽ dễ đi vào con đường sai
lầm, khi xúc sự mà giới hạnh không biết thì rất dễ lạc
vào đường tà.
Cho
nên nếu tự nhận mình là vị Ðại Thừa Bồ Tát thì cần
phải học tập những phương pháp giáo hóa, khai thị chúng
sanh của Ðại Thừa, không nên tự cao, tự đại, cho mình
là người hiểu biết cao thâm mà không có tâm cầu học Phật
pháp. Trong kinh văn dầu nêu rõ rằng Bồ Tát xuất gia, nhưng
Bồ Tát tại gia cũng bao gồm trong ấy. Vì Bồ Tát tại gia
phải hướng về đại đạo Bồ Ðề mà tiến lên. Nếu giáo
lý không thông, giới hạnh không hiểu, cũng sẽ sanh nhiều
nguy hiểm.
Do
đó, dù là Bồ Tát xuất gia hay tại gia, đều phải lấy việc
học chánh pháp Như Lai làm trọng. đối với việc cầu học
chánh pháp phải tinh tấn, không nên xem thường.
Cho
nên cổ đức dạy rằng: “Ðem thân của vị quốc vương
làm giường cho quỷ la sát, dùng thiên y làm pháp tòa cho thú
dã can, khinh thường địa vị tôn quý của thiên vương, kính
trọng quỷ thần là bậc cao quý v.v... những việc như trên
đều vì tôn trọng chánh pháp trước tiên”.
Là
một vị Bồ Tát nếu vì khinh người mà phải mất lợi ích
nghe pháp thì sự tổn hại rất nặng nề. Như đỉnh đầu
là nơi tôn quý của con người, nhưng khi vì muốn cầu pháp
Ðại Thừa của Như Lai, chỉ một bài kệ bốn câu mà phải
đem đầu đội chân của súc sanh là vật tối ty tiện, cũng
hoàn toàn không có niệm yêu tiếc. Ðó là do lòng tôn trọng
chánh pháp mà ra vậy.
Vì
vậy, hành giả Bồ Tát chân chánh, có tâm ân cần khẩn thiết,
ham mộ chánh pháp của Như Lai, tuyệt đối không được phân
biệt, lựa chọn hình mạo tốt xấu, cùng chủng tánh tôn
quý hay hạ tiện.
Ở
trên nói dùng thiên y làm pháp tòa cho dã can, việc ấy trong
kinh Vị Tằng Hữu mô tả như sau: Trên non Ðồ Ðà tại nước
Tỳ Ma, một ngày nọ có chú dã can bị sư tử rượt bắt
ăn thịt... Dã can sợ hãi chạy trốn, bất hạnh thay, bị
sa xuống giếng sâu suốt ba ngày đêm, không cách nào lên được.
Tự
biết mình không bao lâu sẽ chết, tâm dã can buồn khổ, bùi
ngùi than rằng: - Trên thế gian này đều là vô thường, chính
sanh mạng này cũng không lâu dài. Tại sao ta không cung cấp
cho sư tử một bữa ăn no, lại đem thân mạng mong manh, bại
hoại này vào trong giếng nước của người. Về phần sư
tử đã nhọc công rượt mà không kịp. Phần mình cũng chỉ
tổn hại mà thôi. Lúc sống đã nghèo cùng khốn khổ, không
công cán gì với nhân gian. Khi chết rã mục như cỏ cây, không
ích lợi gì cho nhân quần, lại còn làm ô nhiễm nước uống
ăn của dân chúng, thật là tội lỗi biết bao! Hiện giờ
đã biết sự lỗi lầm của mình, nhưng không phương cách
chi để cứu vãn, chỉ còn hướng về chư Phật mười phương
chí thành, khẩn thiết, cầu ai sám hối!
Dã
can tự ca thán mấy lời trên, rồi lại phát nguyện rằng:
“Nguyện chư Phật mười phương từ bi thương xót, phóng
quang đến chiếu soi tâm con, khiến bao nhiêu ác nghiệp con
đã gây tạo trong đời quá khứ, trong đời này, con nguyện
trả cho sạch hết cả, không còn sót một mảy may. Con nguyện
từ nay trở đi thường gặp bậc minh sư chỉ bảo, dẫn dắt
cho con tu học Phật pháp, để cuối cùng được chứng đắc
quả vô thượng Bồ Ðề”...
Lúc
ấy, Thiên Ðế Thích nghe những pháp ngữ trên, liền cùng
với tám vạn thiên chúng, đồng bay đến bên giếng nói với
dã can rằng:
-
Thiên chúng chúng tôi từ lâu ở chốn tối tăm, lâu lắm rồi
không được nghe thánh giáo của Như Lai. Vừa rồi được
nghe những pháp ngữ của ngài tuyên thuyết, khác nào như được
uống nước Cam Lồ, cầu xin ngài nói lại lần nữa cho chúng
tôi được nghe thì công đức ấy vô lượng vô biên.
Dã
can đáp lại rằng:
-
Quý vị muốn tôi giảng nói Phật pháp, điều ấy không thành
vấn đề. Nhưng Pháp Sư thuyết pháp ở dưới, còn người
nghe pháp ở trên cao thì với việc nghe pháp, quý vị trong
tâm không có một điểm cung kính, thì làm sao có thể nghe
được chánh pháp của Như Lai?
Trời
Ðế Thích vừa nghe xong liền đưa dã can lên khỏi giếng.
Ðoạn dùng thiên y của mình cùng tám vạn thiên chúng làm
pháp tòa, thỉnh dã can ngồi, rồi mới đối trước dã can
chí thành cầu xin sám hối nghe pháp. Chỉ có hết lòng ân
cần cung kính như vậy mới có thể chân chánh được nghe
Phật pháp.
Nếu
như không thực hành như vậy, mà tự ỷ mình là trí thức
thông minh, không chịu nhất tâm thỉnh cầu chánh pháp, là
điều tuyệt đối sai lầm. Là Phật tử đáng lý phải chuyên
cần học tập chánh pháp Ðại Thừa. Nếu hoàn toàn chưa được
thấy nghe giáo lý Ðại Thừa thì phải sanh tâm hổ thẹn,
đã không ý thức được như vậy, sao trở lại sanh tâm kiêu
mạn?
Nhưng
người đời thì ngược lại, vì chưa thâm nhập Phật pháp
sâu xa, vì chưa được chánh giải do được nghe pháp Ðại
Thừa, nên dễ sanh tâm kiêu mạn. Tự cho trên xã hội này
mình là một người hiểu cao không thể tưởng tượng, cho
rằng mình đã học qua tất cả các học thuyết trên đời.
Với những kiến thức học vấn thông thường, ta đây đều
có thể thông đạt, Phật pháp có gì khó mà phải học tập?
Lại cần phải thỉnh giáo nơi người để làm gì?
Trong
tâm đã sanh những động niệm cao ngạo như thế nên mới
cho mình là người trí thức, thông minh, mà khinh thường pháp
Ðại Thừa thâm diệu của Như Lai, không chịu tiếp thọ.
Do tâm kiêu căng, ngạo mạn nên không hết lòng kính trọng
người. Do ỷ mình là người trí thức thông minh, nên không
có ý nguyện cầu học chánh pháp của Như Lai cho được lợi
ích.
Hoặc
có người ỷ địa vị mình cao quý, nếu không phải là viên
chức cao cấp quan trọng của quốc gia thì cũng là một bậc
hào thế trong xã hội, hay thuộc về giai cấp lãnh đạo tối
cao trong nước. Khi đã có tâm tự ỷ như vậy, thì thấy mình
cao hơn người mấy bậc, mặc dầu mọi cái mình cũng đều
không hiểu biết cho lắm. Nhưng vì ở hoàn cảnh thù thắng,
được ở địa vị cao, muốn giữ thể diện cá nhân và nhất
là bị con ma “tôn vinh” sai sử, núi ngã mạn cao chọc trời
nên không thèm cầu học với người thông hiểu Phật pháp.
Cho rằng thỉnh cầu Phật pháp với một vị Hòa Thượng thông
thường hay với một vị cư sĩ tầm thường thì thật là
một sự mất sĩ diện vô cùng.
Trường
hợp này ở thế gian có thể nói là rất nhiều. Nhiều nơi
thường có những người có địa vị, rất muốn biết chút
ít về Phật pháp, nhưng lại không muốn thỉnh cầu các vị
xuất gia khai thị. Vì họ cho rằng nếu làm như vậy sẽ tổn
thương đến địa vị hiện tại của cá nhân mình, nên thà
chịu dốt Phật pháp còn hơn. Như thế là tạo chướng ngại
đối với Phật pháp cho chính mình.
Phật
pháp là pháp thậm thâm vi diệu, trăm kiếp ngàn đời thật
khó gặp. Nay đã gặp được mà lại bỏ qua, thật là ngu
xuẩn biết chừng nào! Ðáng thương biết bao! Nên biết rằng
Phật pháp là Phật pháp, địa vị là địa vị, không nên
vì địa vịa mà xa lìa Phật pháp.
Hơn
nữa, nếu bạn chân thành cầu học Phật pháp, chẳng những
địa vị cao quý của bạn không hề bị tổn thương; trái
lại, còn giúp cho sự tăng gia tính chất cao thượng ở địa
vị của bạn.
Hoặc
có người tự ỷ mình cao kỳ túc (bản Việt văn dịch là
“lớn tuổi”), đối với Phật tử tại gia tự cho mình
là bậc kỳ niên tôn túc, còn đối với Phật tử xuất gia
thì tự cho mình là Tăng lạp hơn người.
Nên
Trung Hoa xưa có câu: “Hữu trí bất tại niên cao, vô trí
không tưởng bách tuế” (có trí không cần lớn tuổi. Không
trí, dù có trăm tuổi, chỉ là người già suông mà thôi).
Tục
ngữ Việt Nam cũng có câu: “Khôn thì khôn thuở lên ba, dại
thì già đầu cũng dại”.
Trong
Phật pháp, có một vị thượng tọa gọi là trí huệ thượng
tọa, tức là vị có trí thức, có học vấn, hay có một kiến
giải tương đương, một sự nhận thức chu đáo đối với
Phật pháp. Ðiều ấy không luận lớn tuổi hay nhỏ tuổi.
Dù
niên kỷ của bạn già đến bực nào, nếu bạn không có sự
nhận thức chính xác đối với Phật pháp, thì phải ân cần
cầu thỉnh sự chỉ giáo của người thông hiểu Phật pháp.
Nếu bạn ỷ mình già hoặc đứng tuổi, nhưng vô dụng, thì
xin nói một cách thẳng thắn không nhân nhượng là: Nếu bạn
là người mà vấn đề gì cũng hoàn toàn không biết thì chỉ
là già suông mà thôi. Tuy nhiên, trong Phật pháp điều này
không có nghĩa là không kính trọng bậc cao niên, trưởng thượng.
Nên
trong giới luật, Ðức Phật đặc biệt dạy: “Tôn thượng
tọa”, là đối với bực thượng tọa phải hết lòng cung
kính. Ở đây, chỉ nói trường hợp những người lớn tuổi,
tự mình đã không hiểu Phật pháp, mà không chịu thỉnh cầu
Phật pháp. Tức là vì tuổi già mà sinh tâm kiêu mạn, đối
với những vị sơ tâm, nhưng thông đạt Phật pháp, thì coi
không ra gì. Ðây là điều sai lầm và không nên làm.
Hoặc
ỷ mình thuộc dòng dõi sang trọng, con nhà quyền quý, nghĩa
là ỷ mình chủng tánh cao thượng, gia tộc cao sang. Ðây chỉ
dòng dõi Sát Ðế Lợi và Bà La Môn ở Ấn Ðộ thời xưa.
Còn ở Trung Hoa và các quốc gia khác ở Á Ðông, thì chỉ
những nhà nhiều đời làm quan, gia đình cao sang, tài bảo
vô lượng, đương thời được suy tôn là vọng tộc. Muốn
cho những người ấy cầu học Phật pháp với những người
trong chủng tộc Tỳ Xá (buôn bán), hoặc Thủ Ðà La (làm ruộng)
thì thật là khó khăn muôn vàn.
Vì
chủng tộc Bà La Môn và Sát Ðế Lợi xem chủng tộc Thủ
Ðà La là một chủng tộc vô cùng hạ tiện, không thể đụng
đến. Nên khi họ đi đường, nếu chân họ đạp phải bóng
của người thuộc chủng tộc Thủ Ðà La thì họ cho là việc
không lành.
Vì
thế, muốn chủng tộc Bà La Môn và Sát Ðế Lợi mọp đầu
lễ bái với người thuộc chủng tộc Thủ Ðà La để cầu
học Phật pháp là một việc không thể được. Ðó là nói
về bốn giai cấp ở Ấn Ðộ ngày xưa. Còn ở Trung Hoa thì
hàng cao môn vọng tộc, không bao giờ có ý muốn qua lại với
những người trong cảnh nhà tranh, vách lá. Nên không bao giờ
họ cầu học Phật pháp với những người nghèo khổ ấy.
Hoặc
có người tự ỷ mình học rộng. Nghĩa là tự nhận mình
học vấn uyên thâm, bất cứ môn học nào trên thế gian đều
đã tham khảo một cách sâu sắc. Mọi lãnh vực khoa học,
triết học, y học, sinh lý học, tâm lý học, luận lý học,
động vật học, thực vật học, cơ giới học, pháp luật
học, chính trị học, tôn giáo học v.v... không một thứ nào
mà họ chẳng tinh thông.
Nếu
người ấy là một hành giả trong Phật pháp, nhất là Phật
pháp Tiểu Thừa thì cũng sẽ tự ỷ mình đã có sự hiểu
biết đầy đủ trong Phật pháp. Người tự ỷ học vấn thế
gian có thừa, thậm chí đối với những chỗ sai lầm của
ngoại điển có thể biện biệt rõ ràng, đối với Phật
pháp Tiểu Thừa và ngoại điển đều thông đạt như vậy,
muốn cho người ấy học tập Phật pháp Ðại Thừa, thật
là một chuyện không dễ dàng.
Vì
thế người có trình độ học thức cao, hiểu biết rộng,
đại đa số đều tự xem mình rất cao. Dù có những chỗ
chính mình không hiểu rõ, cũng không bao giờ chịu thỉnh giáo
với người khác.
Hoặc
có người tự ỷ mình có đủ phước to, nghĩa là tự nhận
phước đức của mình rộng lớn phi thường, hoặc ỷ mình
ở trên thế gian này đã từng làm phước hạnh rất lớn,
giúp đỡ rất nhiều người, biết bao người đã được sự
lợi ích do mình, nên khi đi đến nơi nào đều có vô số
người hoan nghinh tiếp rước.
Hoặc
có người tự nghĩ: Phước đức của ta đã lớn dường ấy
thì cần phải cầu học Phật pháp để làm chi? Ta ở trên
thế gian hiện thực này một đời hưởng thọ không hết,
cần chi phải cực khổ đi cầu học Phật pháp?
Trong
kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Phú quý học đạo nan”
chính là ý ấy. Vì thế, ở các nơi việc tu học Phật pháp,
nhất là việc nghe kinh pháp dùng không phải là không có những
vị Phật tử phước to, tiền của nhiều, nhưng có thể nói
là rất ít! Vì có thể nói tâm lý của đại đa số những
người bình thường đều giống nhau.
Trên
thế gian này có những người ỷ mình phước to mà sanh tâm
kiêu mạn là đa số. Họ không biết rằng phước đức là
điều không thể tựa nương. Vì khi đã hưởng hết phước
báo rồi, họ mới biết thế gian này toàn là đau khổ!
Nên
học được Phật pháp thì thành một hột giống đạo pháp,
vĩnh viễn nương nhờ nơi đó, tương lai sẽ được giải
thoát cho đến lúc thành Phật. Thế mà không chịu đi học
Phật pháp, thật là một việc đáng tiếc biết chừng nào!!!
Hoặc
có người tự ỷ mình giàu lớn, đồ thất bảo rất nhiều.
Con người sống trên thế gian, nếu nhìn theo góc độ thế
gian, thì sang giàu có nhiều thất bảo và các tài vật, đương
nhiên là một điều thật lý tưởng. Vì muốn gì được nấy.
Nhưng đứng về quan điểm của Phật pháp, thì giàu có lớn
không phải là lý tưởng, vì không thể nương vào tài bảo
là của năm nhà. Hôm nay nó là tài vật của bạn, ngày mai
có thể trở thành của người.
Nhìn
vào thế gian này, người giàu lớn thì tiền bạc, của cải
rất nhiều, nhưng chỉ trong một đêm có thể trở thành kẻ
rất nghèo cùng. Ðây là sự thật rất thường thấy, không
phải bịa đặt, cũng không phải là ít có.
Do
đó, thử hỏi rằng tài bảo có gì vững chắc để tựa nương?
Nếu bạn biết mình là người giàu có, của cải nhiều, nhờ
đó không bị khó khăn về cuộc sống, vậy hãy nương theo
duyên tốt ấy mà chuyên tâm tu học Phật pháp. Ðấy mới
là con đường chánh đáng cần phải đi của kiếp người.
Nhưng rất đáng tiếc cho thế nhân, không hiểu được điều
ấy, họ thường thấy mình giàu lớn, của tiền vô lượng
rồi sanh tâm kiêu mạn, để đến nỗi mất hẳn cơ hội tích
tụ Thất Thánh Tài trong Phật pháp. Thật là một sự việc
rất đáng tiếc!
Như
trên đã nói, về việc tự ỷ có bảy loại là:
1.
Trí thức thông minh.
2.
Cao quý.
3.
Lớn tuổi.
4.
Giàu sang, con nhà quyền quý.
5.
Học rộng.
6.
Phước to.
7.
Giàu lớn.
Bảy
loại này là điều quý trọng thông thường của người thế
gian. Trái lại, đối với Phật pháp, các thứ ấy hoàn toàn
không quan trọng, vì đi ngược đường với việc tu trì trong
Phật pháp. Do đó, muốn đi trên con đường Phật pháp thì
đối với những thứ ấy, không nên có tâm tự ỷ. Nếu có
chỗ tự ỷ thì không thể nào đúng theo pháp tiến bước
trên con đường rộng lớn và quang minh của Phật pháp.
Thông
thường, các hành giả sơ phát tâm tu học Phật pháp không
nhận rõ bảy loại trên là nhân duyên chướng đạo, mà trái
lại, đối với các điều thù thắng ấy lại sanh tâm kiêu
mạn hết sức.
Do
tâm kiêu mạn này xúi giục bên trong, nên không chịu học
hỏi kinh luật với các Pháp Sư học đạo trước mình. Như
thế, đối với Phật pháp mà mình phải phụng hành là một
sự tổn thất rất lớn. Nên biết các Pháp Sư học đạo
trước mình thông đạt được các kinh luật không phải là
một việc dễ dàng mà phải trải qua thời gian trường kỳ
mới tu tập được. Nếu chúng ta theo các ngài học tập, sẽ
được kết quả gấp bội, điều đó giúp chúng ta tiến rất
nhanh trong Phật pháp.
Nếu
tự ỷ những chỗ đắc thắng của mình để núi ngã mạn
cao chọc trời thành ra không chịu thỉnh cầu những điều
lợi ích trong Phật pháp nơi những bậc thông kinh luật. Ðó
là tự mình làm trở ngại bước tiến của mình. Vì một
tấc bước không dời thì vĩnh viễn không thể thâu hoạch
được lợi ích vĩ đại trong Phật pháp. Như thế không phải
là tự mình chuốc lấy tổn thất là gì?
Hai
chữ “kiêu mạn” thông thường đi chung với nhau, nhưng thật
ra nghĩa của chúng khác biệt nhau. Trong Duy Thức Học giải
thích:
-
Chữ Mạn là một thứ Căn Bổn Phiền Não.
-
Chữ Kiêu là một thứ trong Tiểu Tùy Phiền Não.
Người
kiêu căng vì đối với học vấn, đức hạnh, địa vị, tài
sản v.v... của mình sanh tâm nhiễm trước quá sâu. Do đó,
khi ở trước mặt người khác thường tỏ thái độ huênh
hoang, ngạo nghễ. Ðây là tự thể của Kiêu phiền não. Chính
niệm say sưa trong kiêu căng này không làm phát sanh tâm ý hướng
thượng, tiến thủ, mà làm nhiễm ô các thiện pháp. Ðây
là nghiệp dụng của kiêu phiền não. Một khi đã có tâm lý
như vậy thì gây bất lợi cho mình về mọi phương diện.
Người
ta sở dĩ sanh tâm kiêu mạn là do cảm thấy mình so với người
khác, điều gì cũng cao hơn một bậc. Vì thế sanh khởi tâm
khinh khi, ngạo mạn đối với mọi người, xem dưới mắt
không còn ai. Ðây là thể tánh của mạn phiền não.
Do
tâm lý ngạo mạn, những người này tự làm tổn hại đức
khiêm cung, hòa nhã của mình, do đó mà bị trầm luân trong
bể khổ sanh tử, không có kỳ hạn được thoát khỏi. Họ
luôn bị sự tập tích của các khổ não. Ðây là nghiệp dụng
của mạn phiền não.
Khi
núi ngã mạn cao ngất trong nội tâm thì làm sao có thể thâu
hoạch, được lợi ích trong Phật pháp?
Vì
thế Phật tử theo học đạo, vấn đề cầu pháp là điều
tối trọng yếu. Vì vậy, đối với những bậc thiện tri
thức có khả năng khai thị chánh pháp, cần phải có tâm cung
kính, tôn trọng tuyệt đối, không nên có chút tâm niệm kiêu
căng, ngạo mạn.
Nên
biết rằng Bồ Tát sơ phát tâm sở dĩ không bị đọa vào
ác thú hoàn toàn do sự hộ trì của thiện tri thức; được
thoát ly cảnh thế gian ác trược này nhờ sự dạy bảo, dẫn
dắt của bậc thiện tri thức; phiền não nghiệp chướng được
tiêu trừ, ra khỏi biển khổ sanh tử, đạt đến cảnh giới
Niết Bàn an lạc cũng là nhờ nương theo giác đạo của thiện
tri thức. Thiện tri thức quan hệ đến tiền đồ của hành
giả rất lớn lao, có thể thấy rõ ở nơi đây.
Trong
kinh Ðại Thừa Tứ Pháp nói: “Làm một vị tỳ kheo xuất
gia, suốt đời không nên xa lìa thiện tri thức. Dù gặp những
nhân duyên tán thân mất mạng cũng quyết không xa lìa thiện
tri thức mà đi”.
Vấn
đề chính là muốn cho quý vị thân cận thiện tri thức. Nhưng
nhìn vào hàng Phật tử xuất gia ngày nay, chẳng những họ
không thể thực hành được điều ấy, mà còn cho việc ấy
là thừa, thậm chí còn tự cho mình cao hơn thiện tri thức
rất nhiều. Ðã không xem trọng thiện tri thức thì làm sao
Phật pháp xương thạnh được?!
Nên
biết làm một vị thiện tri thức chân chánh, không phải là
một việc dễ dàng. Cổ đức dạy: “Nói đến thiện tri
thức là chỉ cho người thông suốt Tam Tạng thánh giáo, tỏ
ngộ tam tông, biết chân, rõ vọng, biết căn bệnh, biết phương
thuốc điều trị các thứ bệnh căn thuộc thân tâm của chúng
sanh”.
Gặp
được thiện tri thức khó khăn dường ấy, làm sao có thể
tự ỷ vào mình những điều đắc thắng của mình mà sanh
tâm kiêu mạn, không chịu thân cận cầu học Phật pháp? Với
những kiến thức học vấn thông thường của thế gian, còn
phải dùng nhiều phương pháp và tận tâm cầu học, huống
chi hành giả xuất tục, không xem việc cầu lấy huệ nghiệp
làm chánh vụ ư? Hơn nữa, hành giả Bồ Tát ở trong ba a tăng
kỳ kiếp cần cầu học Phật pháp, không chểnh mảng dù một
tấc bóng quang âm, mới được phước huệ trang nghiêm viên
mãn, làm sao có thể vừa mới phát tâm học Phật lại liền
khởi tâm kiêu căng, ngạo mạn, không chịu học hỏi kinh luật
với vị Pháp Sư học đạo trước mình? Nghĩa lý kinh luật
đã không biết thì lấy gì để tu Bồ Tát hạnh? Vì thế,
người Phật tử tu học Phật pháp mà có tâm tự ỷ là tuyệt
đối không được.
Tự
cho bản thân mình có những đặc thắng thì người bị xem
rẻ và coi không ra gì kia dĩ nhiên không bằng mình. Trong kinh
văn dùng cụm từ “vị pháp sư ấy” là chỉ cho người
bị xem thường ở đây. Tại sao lại xem thường vị pháp
sư ấy?
Có
bảy nguyên nhân xem thường Pháp Sư:
-
Vị Pháp Sư là người thuộc dòng dõi bần cùng, không sánh
được với mình là kẻ thuộc dòng dõi sang trọng. Chẳng
hạn ở Ấn Ðộ, giai cấp bần cùng thấp kém là Tỳ Xá và
Thủ Ðà La, còn ở Trung Hoa chỉ cho người thuộc giai cấp
hạ tiện, nghèo nàn. Những giai cấp này thường làm tôi tớ
cho người trong xã hội bất bình đẳng ngày xưa, nên họ
không được xem trọng.
-
Pháp Sư là người tuổi trẻ, không sánh bằng mình là người
đã có tuổi. Trong lãnh vực thế tục, đó là những người
tuổi tác thuộc vào hàng vị thành niên. Nếu thuộc vào lãnh
vực xuất gia thì lại là những người tăng lạp chưa đầy
đủ. Vì quan niệm này chỉ căn cứ vào tuổi tác chứ không
căn cứ vào đức hạnh và học thức, cho nên những người
tuổi trẻ khó được sự tín nhiệm của mọi người. Thế
gian thường nói những người này “miệng còn hôi sữa”.
Theo Phật giáo thì có số người cho rằng: “Hòa Thượng
thì phải già mới quý”, đều là ý xem thường người tuổi
trẻ.
-
Pháp Sư là người con nhà hạ tiện, không sánh bằng mình
là con nhà quyền quý. Dùng từ “hạ tiện” là chỉ những
người bề thế của gia đình không thuộc vào hàng vinh hiển.
Ở Trung Hoa ngày xưa, việc cưới gả phải chọn “môn đăng
hộ đối”. Nếu gia thế không tương xứng thì không thể
kết sui gia với nhau được. Những người xuất thân nơi cao
môn, dĩ nhiên xem những người xuất thân từ nơi hạ tiện
không ra gì.
-
Pháp Sư là người nghèo nàn, không bằng mình là người giàu
có. Nói nghèo nàn là nói đến đời sống chẳng những khó
khăn về mặt tiền bạc, mà ngay cả tài sản, của cải như
nhà cửa, đồ đạc cũng không có chi. Trên đời này, giàu
mà biết trọng lễ nghĩa thì rất hiếm, còn giàu mà kiêu
ngạo thì rất nhiều. Vì thế thông thường, người giàu rất
khinh rẻ kẻ nghèo.
-
Pháp Sư là người thuộc giai cấp hèn hạ, không bằng mình
là người thuộc giai cấp cao quý. Trong xã hội, những người
không có địa vị nào, tất nhiên sẽ bị người có địa
vị cao khinh rẻ và không màng ngó đến.
-
Pháp Sư là người tật nguyền, không bằng mình là người
lành lặn, trí thức thông minh. Người tật nguyền thông thường
là những kẻ tai, mắt, mũi, thân thể không được nguyên
vẹn đầy đủ. Nhưng ở đây còn có nghĩa là người phong
cách thô sơ, thân hình xấu xí nên mới bị người trí thức
thông minh khinh rẻ, không muốn gần gũi.
Pháp
Sư đối với sáu điều kẻ trên, dù có chỗ không bằng người,
nhưng thực sự có đức hạnh cao siêu. Tất cả những kinh
luật thảy đều thông hiểu. Nói một cách khác là vị Pháp
Sư này đức trí kiêm toàn, giải hạnh đầy đủ. Chúng ta
cần phải thân cận với các ngài để học tập Phật pháp,
không nên vì một khía cạnh nào không bằng mình mà đối
với Pháp Sư sanh tâm khinh mạn. Ví như cây đuốc dù là một
vật rất xấu, nhưng nó có công dụng phát ra ánh sáng, có
thể soi sáng những con đường của những ai cần đi. Hoặc
có thể dùng nó soi vào trong ngôi nhà tăm tối, bị đóng cửa
đã nhiều năm, khiến ngôi nhà được sáng sủa trở lại.
Như vậy thì đâu nên vì hình dáng xấu xí mà bỏ đi sự
quang minh của cây đuốc. Cũng thế, phong mạo của vị Pháp
Sư dù không đẹp đẽ, nhưng Ngài là người tinh thông Phật
pháp. Ngài chỉ cần thốt ra những lời mầu nhiệm liền có
thể mang lại lợi ích cho nhiều người. Thế thì không nên
vì phong mạo của Pháp Sư không đẹp hoặc giai cấp thấp
hèn v.v... mà xa lìa người, không chịu theo học hỏi Phật
pháp.
Bồ
Tát sơ phát tâm cần phải lấy chánh pháp làm điều trọng
yếu, chưa hiểu cần phải học cho hiểu, tuyệt đối không
nên vì nơi hình thức con người mà bỏ mất sự lợi ích
được nghe pháp Ðại Thừa.
Những
hành giả mới xuất gia ly tục, vì kiến giải chưa rộng,
học thức chưa được uyên thâm, cần phải đặc biệt chú
ý điều này. Nếu tự ỷ mình là người trí thức thông minh,
không biết rằng Thế Trí Biện Thông là thứ tri kiến năng
sở thuộc về Tục Ðế. Ðó là một thứ đại chướng ngại
cho chánh tri, chánh kiến của pháp xuất thế. Vì lý do đó,
hàng Phật tử muốn học hỏi chánh pháp của Như Lai, phải
có tâm cung kính chánh pháp, không nên lưu tâm vào tuổi tác
của Pháp Sư già hay trẻ, cũng không nên xem giai cấp của
người thuộc về hạng cao sang hay hạ tiện. Ðiều cần yếu
là vị Pháp Sư ấy có khả năng truyền trao Phật pháp cho
chúng ta hay không. Như vậy thì già hay trẻ đều tốt, sang
hèn không thành vấn đề. Chúng ta đều phải hết lòng cung
kính vị Pháp Sư ấy như thiên chúng phụng thờ vị Ðế Thích.
Nên
biết rằng: Chúng ta quý trọng vị Pháp Sư chính là ở nơi
chỗ thông đạt chánh pháp Phật pháp chứ chẳng phải ở
nơi hình thể hay những điều kiện xã hội bên ngoài. Cho
nên mặc dù vị Pháp Sư thuộc về hàng hạ tiện thế nào,
hoặc bị khiếm khuyết một điểm nào trong bảy thứ kể
trên, chúng ta cũng phải tha thiết thỉnh cầu Pháp Sư vì đại
chúng thuyết pháp.
Hàng
tân học Bồ Tát vì cần chánh pháp Ðại Thừa để trợ giúp
cho hạnh “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”,
thì không được nhìn vào thân thể của vị Pháp Sư mà chê
bai và không chịu đến học hỏi Ðệ Nhất Nghĩa Ðế (dịch
là “đạo lý Ðại Thừa”). Phật tử nếu như vậy thì
phạm khinh cấu tội.
Kinh
văn nói: “Hàng tân học Bồ Tát", dĩ nhiên muốn nhấn mạnh
là người chưa hiểu Phật pháp. Hàng tân học Phật tử đối
với Phật pháp nếu đã không hiểu một điều gì hết, đương
nhiên cần phải học tập.
Trong
quá trình cầu học Phật pháp, nếu muốn lãnh hội Phật pháp
một cách chân chính, điều tối cần là phải bỏ hẳn tâm
kiêu mạn. Vì Phật pháp là quy củ tốt đẹp để tiến đạo,
cũng là quy mô sáng sủa chứng nhập tánh vị. Nên bất luận
là giai cấp của Pháp Sư ty tiện, hạ liệt đến mức nào,
hình dung của Pháp Sư không đẹp đẽ thế nào, nếu quý ngài
có thể vì chúng ta tuyên thuyết nghĩa lý thâm diệu của Phật
pháp và giải quyết mọi mối nghi hoặc trong nội tâm của
chúng ta, khiến chúng ta được sự lợi ích thiết thực trong
Phật pháp, thì chúng ta cần phải cung kính tôn trọng các
ngài như cung kính tôn trọng Ðức Phật. Ngay đến việc bản
thân Pháp Sư xấu hay đẹp, sự việc ấy không quan hệ gì
với chúng ta, như vậy chúng ta để ý và câu chấp vấn đề
ấy để làm gì?
Kinh
văn nói “Ðệ Nhất Nghĩa Ðế” có vài lối giải thích
khác nhau:
-
Tức chỉ cho pháp thù thắng vô thượng Bồ Ðề.
-
Danh từ dùng để đối lập với Thế Tục Ðế.
-
Tiếng xưng tụng, mỹ tán, vì không có một pháp nào hơn Ðệ
Nhất Ðế này.
Như
vậy chúng ta cần phải học hỏi nơi Pháp Sư. Nếu như không
học hỏi nơi Pháp Sư thì sự tổn thất ấy chính ở nơi
mình, còn đối với vị Pháp Sư, ngài không có điều gì bị
tổn thất cả!
Nên
biết Phật tử học giáo pháp Ðại Thừa cần phải lấy việc
cầu pháp làm điều trọng yếu. Tất cả các thời tu phải
nên cầu thỉnh chánh pháp, không được ôm ấp bất cứ tâm
kiêu mạn nào về việc so sánh cao quý hay hạ tiện. Tâm kiêu
mạn, bất cứ nhằm phương diện nào mà nói, đều là một
thứ tâm lý không tốt. Ðặc biệt đối với phương diện
cầu học chánh pháp thì trong tâm càng không được tự ỷ,
rồi sanh tâm kiêu mạn.
Nếu
như bạn có tâm kiêu mạn, không đi cầu học chánh pháp, thì
sẽ bị mất hẳn hạt giống chánh pháp trong hiện đời. Do
đó, tương lai đời đời, kiếp kiếp sẽ bị quả báo ngu
si, đần độn, hạ liệt, xấu xa. Nếu như bạn kính trọng
pháp, và cầu pháp không hề sanh tâm kiêu mạn, thì trí huệ
của bạn mỗi ngày được khai tỏ, tâm Bồ Ðề của bạn
mỗi ngày được tăng trưởng. Cuối cùng bạn vẫn chứng
đắc quả vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Vì
thế, Phật tử đối với chánh pháp, nếu chưa nghe thì phải
cầu để được nghe, chưa hiểu phải học cho để hiểu.
Ðây là tinh thần cần phải có của hàng tân học Bồ Tát
mới xuất gia.
Trong
kinh Ðịa Trì dạy: “Bồ Tát mới phát tâm, lúc ở trước
mặt thiện tri thức nghe học kinh pháp, đối với vị Pháp
Sư có năm phương diện không nên nhớ nghĩ đến, mà cần
phải giữ tâm thanh tịnh chuyên nhất, cung kính nghe pháp. Năm
phương diện ấy như sau:
-
Không nghĩ tưởng phá giới. Nghĩa là trong tâm không được
nghĩ và ngoài miệng không được nói như vầy: vị Pháp Sư
này là một người hủy phạm luật nghi. Bản thân của người
không được kiện toàn, ta không nên theo vị pháp sư này để
nghe và học kinh pháp.
-
Không nghĩ tưởng hạ tánh. Nghĩa là trong tâm không được
nghĩ và ngoài miệng không được nói như vầy: Pháp Sư kia
là một người thuộc chủng tánh hạ liệt, còn ta từ trong
chủng tánh cao quý xuất thân. Như vậy thỉ không thể theo
vị Pháp Sư này học kinh pháp.
-
Không nghĩ tưởng xấu xa. Nghĩa là trong tâm không được nghĩ
và ngoài miệng không được nói như vầy: Pháp Sư kia là một
người diện mạo xấu xí, ta đây là người tướng mạo đường
đường thì đâu thể nào theo một người có diện mạo như
thế để nghe học kinh pháp.
-
Không nghĩ tưởng hoại vị (vị là ý vị của lời nói, hoại
là làm hư hỏng, ý muốn nói sự nói năng không đúng âm vận).
Nghĩa là trong tâm không được nghĩ, ngoài miệng không được
nói như vầy: Pháp Sư kia là một người nói năng lời lẽ
không đúng với âm vận. Ta không thể nào nghe học kinh pháp
nơi người ấy. Nên biết rằng: nghe học kinh pháp của Phật
chỉ cần y nơi nghĩa lý, không cần căn cứ vào ý vị lời
nói.
-
Không nghĩ tưởng hoại mỹ ngữ (mỹ ngữ là lời nói văn
vẻ, hoa mỹ. Hoại mỹ ngữ là lời nói thô tháo, không văn
vẻ). Nghĩa là trong tâm đừng nghĩ và ngoài miệng không được
nói như vầy: Pháp Sư này là người nói năng thô lỗ, lời
nói làm cho người khi nghe phải bị chát chúa nơi tai, ta đâu
có thể học và nghe kinh pháp với người ấy.
Với
năm phương diện vừa kể trên, người Phật tử nghe học
kinh pháp nếu như có thể đừng lưu tâm nghĩ nhớ đến, nhất
là đối với vị Pháp Sư không sanh tâm giận ghét, thì mới
đúng là một Phật tử chân chính, siêng năng cầu học Phật
pháp. Trái lại, nếu như hàng hạ căn Bồ Tát không biết
tự phản tỉnh những điều lỗi lầm của mình, chỉ chuyên
dòm ngó điều sai lầm của người khác; do vậy sẽ sanh tâm
thối chuyển, không ưa nghe chánh pháp của Như Lai. Vì vậy,
chẳng những trí huệ bị sút giảm mà với hạnh tự độ
cũng không thành, huống gì là hạnh lợi tha. Ðấy là hàng
hạ căn Bồ Tát.
Kinh
Trang Nghiêm Bảo Vương có trích dẫn một câu chuyện cầu
pháp mà không cần lưu ý đến khuyết điểm của người như
sau:
“Bấy
giờ, ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật rằng:
-
Kính bạch Thế Tôn! Con hôm nay có tâm rất muốn được học
pháp Lục Tự Ðại Minh Ðà Ra Ni, không biết ở nơi nào có
Pháp Sư chỉ dạy, xin Thế Tôn từ mẫn chỉ cho con.
Ðức
Phật dạy:
-
Này Trừ Cái Chướng Bồ Tát! Ở tại thành lớn nước Ba
La Nại có vị Pháp Sư thường chuyên tâm thọ trì, đọc tụng
Lục Tự Ðại Minh Ðà La Ni. Vị Pháp Sư ấy là người rất
khó gặp. Ta nói trước, khi ông trông thấy vị Pháp Sư ấy,
cần phải có ý nghĩ cũng như được thấy Như Lai. Thậm chí
ông không được có niệm khinh mạn, nghi ngờ. Nếu có tâm
niệm ấy thì địa vị Bồ Tát của ông sẽ bị thối thất.
Và do đó, sẽ bị trầm luân trong sanh tử. Bởi vì vị Pháp
Sư ấy giới hạnh không vẹn toàn, lại có vợ con, trên thân
thường tiểu tiện làm cho cà sa bị dơ bẩn, không có oai
nghi”.
Qua
câu chuyện trên, chúng ta thấy người Phật tử có tâm chân
thật cầu chánh pháp, bất luận người truyền pháp như thế
nào, chỉ cần người ấy thông hiểu Phật pháp, có thể đem
lại sự lợi ích về việc nghe pháp cho mình, đều không nên
có tâm tự ỷ thấy được lỗi người mà sanh tâm kiêu mạn,
giải đãi. Giới này ở Ðại Thừa và Tiểu Thừa không hoàn
toàn giống nhau.
Học
giả Tiểu Thừa đối với trường hợp trên nên thỉnh Pháp
Sư thuyết pháp mà sanh tâm kiêui mạn, không thỉnh cầu Pháp
Sư thuyết pháp, việc ấy đương nhiên là trái phạm. Ðến
như đối với các phương diện khác chủ yếu là không được
có tâm kiêu mạn, nhưng hoàn toàn không nhất định bắt buộc
tất cả đều phải thỉnh Pháp Sư thuyết pháp. Ðây là điều
khác biệt quan trọng giữa Tiểu Thừa và Ðại Thừa.
Riêng
với các hành giả Ðại Thừa, ngoại trừ tất cả thời phải
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp ra, cũng không được sanh tâm kiêu
mạn.
Nên
kinh dạy: “Mạn như cao sơn, pháp thủy bất trụ” (tâm ngã
mạn như núi cao nên nước pháp của Như Lai không thể nào
trụ lại được). Nếu như sanh tâm kiêu mạn, đã mất sự
lợi ích của việc tuyên dương chánh pháp giáo hóa quần sanh,
lại còn trái với tư cách của người Phật tử ham học Phật
pháp. Nơi đây có thể thấy sự tổn hại của tâm kiêu mạn
vô cùng to lớn đối với chúng ta, nên phải luôn khống chế
nó một cách nghiêm nhặt.
Chú
thích:
(1)
Căn bổn phiền não: Theo trong luận Ðại Thừa Bách Pháp Minh
Môn của Duy Thức học, thì phiền não chia làm hai loại:
*
Căn bổn phiền não: còn gọi là “bổn hoặc”, cũng gọi
là “bổn phiền não”. Căn bổn phiền não thuộc về ngôi
thứ tư trong sáu ngôi tâm sở của Duy Thức học, gọi là
“phiền não tâm sở”. Theo Duy Thức Tam Tự Kinh có dùng một
bài kệ thuyết minh như sau:
Căn
bổn hoặc,
Lục
khả biện.
Tham,
sân, si,
Mạn,
nghi, kiến.
Bài
kệ trên nêu tên sáu thứ phiền não thuộc về Căn Bổn phiền
não. Sau đây xin lược giải thích từng loại:
Tại
vì sao sáu thứ căn bổn này mệnh danh là phiền não?
Vì
sáu thứ phiền não tâm sở này có khả năng làm cho người
phiền táo, nhiễu não (nóng nảy, bứt rứt), lại còn gọi
là Hoặc. Bởi vì sáu thứ này làm cho chúng sanh mê hoặc,
tạo ra ác nghiệp.
Nhưng
tại sao sáu thứ này lại gọi là “căn bổn”?
Vì
nó là cội gốc sanh ra các phiền não khác. Lược giải sáu
thứ phiền não như sau:
-
Tham: đối với tài, pháp sanh tâm tham đắm, không chịu xả
thí. Nên gọi là tham tâm sở.
-
Sân: gặp hoàn cảnh bức ngặt, trái nghịch thì khởi tâm
sân hận, nên gọi là sân tâm sở.
-
Si: đối với sự cũng như lý không thể hiểu minh bạch nên
gọi là si tâm sở.
-
Mạn: tự ỷ mình học vấn, tài năng, đức hạnh hơn người
mà sanh tâm xem rẻ, khinh khi người khác, nên gọi là Mạn
tâm sở.
-
Nghi: đối với những sự lý không thể quyết định dứt
khoát, luôn luôn có tâm do dự, nên gọi là nghi tâm sở.
-
Kiến: gọi đủ là Ác Kiến. Là đối với chân lý xác thực,
đúng đắn mà cứ đi so đo tìm xét một cách điên đảo,
rất chướng ngại cho tri kiến thuộc về thiện pháp, nên
gọi là ác kiến tâm sở.
*
Tùy phiền não: Còn gọi là Tùy Hoặc. Trong Câu Xá Luận thuyết
giảng là có hai nghĩa:
-
Nhất thiết phiền não: Bởi vì tất cả phiền não đều phát
xuất từ nơi tâm, tạo ra những tâm trạng phiền táo, não
loạn, tức là làm cho thân tâm nóng nảy, bực bội, loạn
động không yên.
-
Ðối lại sáu thứ căn bổn phiền não: những phiền não khác
gọi là tùy phiền não. Ðối lập với căn bổn phiền não
là chi mạt phiền não. Tùy phiền não gồm hai mươi loại,
hai mươi loại này phân ra làm ba loại nhỏ: tiểu, trung và
đại. Như trong Duy Thức Tam Tự Kinh dùng ba bài kệ thuyết
minh như sau:
Tùy
phiền não,
Hữu
nhị thập:
Tiểu,
trung, đại,
Kham
phân biệt.
Dịch:
Tùy
phiền não,
Hai
mươi thứ,
Tiểu,
trung, đại.
Chia
như vậy.
Bài
kệ 2:
Phẫn,
hận, phú,
Não,
tật, xan;
Cuống,
siểm, hại.
Dữ
kiêu tinh.
Dịch:
Phẫn,
hận, phú,
Não,
tật, xan;
Cuống,
siểm, hại,
Cùng
với kiêu.
Bài
kệ 3:
Thứ
tự loại,
Các
biệt khởi,
Tiểu
tùy nhập,
Thô
mãnh nhĩ.
Dịch:
Tự
loại này,
Phát
sanh riêng,
Mười
tiểu tùy
Rất
thô mãnh.
Bài
kệ thứ nhất thuyết minh rằng: tùy phiền não có hai mươi
thứ, trong ấy, chia làm ba loại. Hai bài sau nói rõ tên của
mười thứ tiểu tùy phiền não. Sau đây là phần lược giải
tên mười thứ tiểu tùy phiền não tâm sở.
-
Phẫn: đối với hoàn cảnh hiện tại có những điều trái
nghịch, không lợi ích cho mình thì nội tâm sanh buồn bực,
hiện ra tướng giận dữ, bạo ác, nên gọi là Phẫn tâm sở.
-
Hận: trải qua những nghịch cảnh, phát sinh tâm giận dữ.
Về sau tâm ôm ấp mãi niệm tức giận không nguôi ngoai, nên
gọi là Hận tâm sở.
-
Phú: tự mình có lỗi lầm, không phô bày, thể hiện cho ai
biết, che giấu mãi trong lòng, nên gọi là Phú tâm sở.
-
Não: do gặp nhiều nghịch cảnh trước đây và đã sanh tâm
hờn giận. Sau này khi vừa gặp gỡ liền sanh tâm nóng nảy,
bực tức, nên gọi là Não tâm sở.
-
Tật: thấy người khác vinh hạnh về tài đức, địa vị
hay giàu có về của cải thì sanh tâm đố kỵ, ganh ghét, nên
gọi là Tật tâm sở.
-
Xan: đối với tài, pháp, một mực say sưa, đắm trước, không
chịu xả thí, nên gọi là Xan tâm sở.
-
Cuống: vì mong cầu lợi dưỡng, danh dự mà giả dối làm
ra vẻ là người có đức hạnh, nên gọi là Cuống tâm sở.
-
Siểm: Cố tìm cách thể hiện ra những tướng khác lạ một
cách giả dối hoặc nịnh bợ theo người, gạt gẫm để lấy
tài vật của họ, nên gọi là Siểm tâm sở.
-
Hại: đối với hữu tình, không tận tâm lân mẫn, chỉ sanh
ác niệm, tìm cách làm hại người, nên gọi là Hại tâm sở.
-
Kiêu: đối với bất cứ những gì mình được ưu thế như
học vấn cao, tiền của nhiều, đều sanh tâm nhiễm trước,
sanh tâm kiêu ngạo đối với người khác, nên gọi là Kiêu
tâm sở.
Trên
đây là phần lược giải mười loại tùy phiền não tâm sở
của bài kệ thứ hai. Bài kệ kế thứ ba tiếp theo giải thích
tại sao gọi mười thứ tùy phiền não này là Tiểu Tùy. Bởi
vì mười thứ ấy có đặc tính rất thô phù, không cùng khởi
sanh chung với các loại khác, mà chỉ sanh khởi mỗi thứ tự
lợi riêng rẻ trong những phạm vi hạn hẹp, nên gọi là Tiểu
Tùy.
Tiếp
theo phần nêu tên và lược giải mười thứ tiểu tùy, sau
đây xin đề cập đến Trung Tùy phiền não, căn cứ theo bài
kệ sau đây:
Vô
tàm quý,
Trung
tùy khoan,
Tự
tha biện,
Biến
bất thiện.
Dịch:
Không
tàm quý,
Trung
tùy rộng,
Tự
bào chữa,
Khắp
bất thiện.
Bài
kệ trên là nêu lên hai thứ tùy phiền não và nói rõ tại
sao đặt trên là Trung Tùy phiền não. Sau đây, xin lược giải
tên của hai loại ấy:
-
Vô tàm: tự nình có lỗi mà không sanh tâm hổ thẹn với chính
mình, cũng không sanh lòng hổ thẹn đối với những người
khác, nên gọi là Vô Tàm Tâm Sở (tàm: hổ thẹn).
-
Vô quý: không thẹn. Khi bản thân có lỗi mà không có niệm
thẹn với mọi người, nên gọi là Vô Quý.
Nên
biết, hai thứ tâm sở này đều là nói việc có tội lỗi
mà vẫn ngoan cố, không hề có một niệm nghĩ đến sự tự
hổ và tự thẹn.
Tại
sao tâm trạng này phải phân làm hai?
-
Ðối với mình không tự hổ là vô tàm.
-
Ðối với người không sanh tâm thẹn là vô quý.
Tại
sao hai thứ này gọi là trung tùy phiền não?
Vì
nó có thể phổ biến rộng rãi, tương ứng và đồng sanh
khởi trong các tâm sở bất thiện. Nếu so sánh với phạm
vi của Tiểu Tùy phiền não bên trên thì hai thứ này rộng
hơn, nên đặc biệt gọi là Trung Tùy phiền não.
Như
trên đã nêu và lược giải hai thứ Trung Tùy phiền não, tiếp
theo xin nói về Ðại Tùy phiền não, căn cứ theo hai bài kệ
sau đây:
Bài
kệ 1:
Thỉ
điệu cử
Hôn,
bất tín,
Ðãi,
phóng dật,
Thất
niệm xâm.
Dịch:
Trước
điệu cử
Hôn,
bất tín,
Ðãi,
phóng dật,
Thất
niệm xâm.
Bài
kệ hai:
Cập
tán loạn,
Bất
chánh tri,
Nhiễm
tâm biến,
Bát
đại tùy
Dịch:
Kế
tán loạn,
Không
hiểu đúng,
Tâm
nhiễm khắp.
Tám
đại tùy.
Về
ý nghĩa, phân nửa nội dung của hai bài kệ trên nêu tên tám
thứ Ðại Tùy phiền não, hai câu cuối giải thích ý nghĩa
vì sao tám thứ phiền não trên mệnh danh là Ðại Tùy. Sau
đây là phần lược giải tên tám thứ đại tùy phiền não.
-
Ðiệu cử: Tâm duyên theo cảnh dấy động lên, không còn được
tịch tịnh nên gọi là điệu cử.
-
Hôn trầm: tâm đối với cảnh sinh ra hôn ám, chìm sâu, không
còn minh mẫn, nên gọi là hôn trầm.
-
Bất tín: tương phản với tín tâm sở ở trong ngôi Thiện
Tâm Sở.
-
Giải đãi: tương phản với Cần Tâm Sở ở trong ngôi Thiện
Tâm Sở (giải đãi: lười mỏi, biếng nhác).
-
Phóng dật: tương phản với tâm sở Bất Phóng Dật ở trong
ngôi Thiện Tâm Sở.
-
Thất niệm: tương phản với Niệm ở trong ngôi Biệt Cảnh.
-
Tán loạn: tâm bị xao lãng, không chuyên chú vào một chỗ,
rất chướng ngại cho chánh định.
-
Bất chánh tri: đối với cảnh, quán sát, hiểu biết sai lầm,
rất chướng ngại cho Chánh Tri (sự hiểu biết đúng).
Kể
từ loại thứ mười ba (tâm sở điệu cử) cho đến loại
thứ hai mươi (bất chánh tri) tám thứ này có thể tương ứng
và đồng sanh khởi trong các nhiễm tâm và vô ký. Tức là
so sánh với Trung Tùy phiền não thì phạm vi của nó rộng
lớn hơn, nên đặc biệt gọi là Ðại Tùy Phiền Não.
