B.2.2.21.
SÂN ÐẢ BÁO THÙ GIỚI
(giới
tức giận đánh lại để báo thù)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử bất đắc dĩ sân báo sân...” cho
đến câu “phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử thì không được đem giận trả giận, lấy đánh
trả đánh. Nếu cha mẹ hay anh em hoặc lục thân bị người
giết, cũng chẳng được báo thù. Giết sanh mạng để báo
thù sanh mạng, đó là việc không thuận với hiếu đạo. Cả
đến việc nuôi chứa tôi tớ hãy còn không được đánh đập,
mắng nhiếc họ, để mỗi ngày ba nghiệp tạo vô lượng tội,
nhất là khẩu nghiệp, huống chi cố làm tội thất nghịch.
Nếu vị Bồ Tát xuất gia mà không có lòng từ bi, cố ý báo
thù, nhẫn đến cố báo thù cho thân thuộc trong hàng lục
thân, Phật tử này phạm khinh cấu tội
Lời
giảng:
Giới
trước giảng về tội lỗi thấy chúng sanh bị khổ mà không
cứu. Giới này chỉ rõ lỗi đối với kẻ oán thù khởi niệm
trả thù.
Cả
hai việc này đứng về cương vị của một vị Bồ Tát đều
không được hành động. Là một vị Bồ Tát chân chính, xuất
phát từ tâm niệm từ bi, khi thấy khổ đương nhiên phải
cứu. Ðối với trường hợp những kẻ oan gia đối đầu
cũng không được khởi tâm niệm trả thù.
Một
kẻ sở dĩ đem oán thù trả oán thù, chỉ vì bên trong không
hàm chứa lòng từ bi, bên ngoài không có hành vi lân mẫn.
Vì thế, nếu không sân hận, mắng nhiếc, thì cũng đánh đập,
xua đuổi người. Làm như thế chẳng những không thể giải
quyết được gì mà trái lại làm cho vấn đề càng trở nên
phức tạp.
Do
nơi sân hận, mắng nhiếc, ẩu đả, xô đẩy nhau, nên sau
đó nhà ai nấy ở. Lúc gặp nhau bên ngoài biểu lộ đôi mắt
đỏ ngầu, bên trong ôm ấp tức giận không nguôi. Do đó,
sự oán giận giữa hai bên không bao giờ chấm dứt. Thậm
chí kết thành oan trái nhiều đời, nhiều kiếp. Với hành
động và tâm niệm này, không thể nào là tâm từ bi cứu
nhân độ thế của một vị đại sĩ.
Lại
nữa, một vị Bồ Tát phải dùng tâm từ bi đối đãi với
chúng sanh. Dù chúng sanh có vô lý gây chuyện với bạn, bạn
cũng phải dùng tâm lượng quảng đại mà nhẫn thọ, không
được trả thù để thỏa lòng sân hận của mình.
Nên
biết rằng sở dĩ chúng sanh có hành vi phi lý với bạn như
vậy là do phiền não xung động sai sử, chứ không phải họ
có ý muốn như vậy. Vì thế, bạn cần chi phải sân hận,
mắng nhiếc, đánh đập, cãi vả lại, để trở nên hạng
đồng với tri kiến tầm thường của chúng sanh?
Nếu
như Bồ Tát mà còn sân hận, đánh đập, báo thù giống với
người tầm thường thì hoàn toàn trái phạm Tam Tụ Tịnh
Giới của Bồ Tát cần tuân giữ. Ví như có người đả kích
bạn, bạn đả kích trở lại, thì sự oán hờn, sân hận
không chấm dứt ấy là trái phạm Nhiếp Luật Nghi Giới.
Trường
hợp nên nhẫn nhục mà không nhẫn nhục thì thiện hạnh không
tăng trưởng, như vậy trái phạm Nhiếp Thiện Pháp Giới.
Không dùng tâm bình đẳng quán sát, đối đãi với chúng sanh;
do đó, chúng sanh sẽ dần dần xa lìa bạn, đó là trái với
Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Tam
Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát đều trái phạm thì có thể nói
rằng Bồ Tát thừa bị mất hẳn. Trái lại, nếu bạn không
trả thù, sân đả với người thì chẳng những không trái
phạm Nhiếp Luật Nghi Giới, lại còn tránh khỏi sự thống
khổ oán tắng gặp nhau.
Nếu
bạn có thể nhẫn nhục đừng sân hận thì chẳng những không
trái phạm Nhiếp Thiện Pháp Giới, mà lại còn vĩnh viễn
diệt trừ oan khiên trong nhiều kiếp.
Nếu
bạn có thể dùng từ tâm, nhẫn nhục tâm, bình đẳng tâm,
mà quán sát tất cả chúng sanh là cha mẹ, anh em của mình
thì chẳng những không trái với Nhiếp Chúng Sanh Giới mà
lại còn khiến cho chúng sanh sanh ý muốn luôn luôn gần gũi
bên bạn.
Nho
gia Trung Quốc xưa nay chủ trương: “Dĩ trực báo oán, dĩ
đức báo đức” (dùng sự ngay thẳng đối với kẻ oán thù,
đem ân đức đối với người hiền đức).
Có
người hỏi rằng: Như thế thì lý thuyết trong Phật pháp
cùng lý thuyết các Nho gia sao lại có sự sai khác lớn lao
như vậy?
Ðáp:
Nguyên nhân ấy vì Nho gia thực hành lễ pháp nhập thế nên
cho phép báo oán, báo cừu. Như sách Lễ Ký nói: “Với kẻ
thù của quốc vương, phụ mẫu thì không đội trời chung
với người ấy. Với kẻ thù của anh em thì không đi chung
đường với người ấy. Với kẻ thù của bạn bè thì không
ở chung một nước”.
Hoặc
nói: “Giết người sẽ bị tội tử hình, pháp luật ấy
đời đời noi theo, đoạn mạng quyết phải đền mạng”.
Còn
Phật pháp là pháp xuất thế, vận dụng tâm từ bi phổ độ,
cố gắng thực hiện cho đến mức oán thân đều bình đẳng,
không còn có sự phân biệt thân và sơ. Vì thế chủ trương
“dĩ trực báo oán” thế gian là có thể làm, nhưng trái
lại, Phật pháp hoàn toàn triệt để ngăn cấm.
Từ
đó, có thể thấy rõ sự bất đồng từ trong cơ bản giữa
Phật pháp và thế pháp; và chỗ siêu thắng của Phật pháp
hơn thế pháp cũng chính ở điểm này.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu một Phật tử
đã thọ giới Bồ Tát, đáng lý nhẫn hạnh bên trong phải
sung mãn, từ bi bên ngoài phải láng lai, không nơi nào không
biểu lộ tâm niệm ái hộ với tất cả chúng sanh. Cho nên
không được “đem giận trả giận, lấy đánh trả đánh”.
Giận
là một thứ phiền não rất nặng. Trên thế gian này, biết
bao việc rối ren đều do sân tâm, thiếu nhẫn nhục mà phát
sanh. Ða số người vì sân tâm, thiếu nhẫn nhục mà phá hoại
không biết bao nhiêu công đức thiện pháp. Một người danh
thơm lừng lẫy chỉ vì sân tâm không nhẫn mà bao nhiêu tiếng
tăm đều bị hủy diệt.
Vì
thế muốn bảo vệ thiện pháp tự lợi, phải đề phòng sự
thiêu đốt của lửa sân. Muốn giữ gìn công đức lợi tha,
lại càng phải đề phòng sự trộm cướp của giặc sân.
Do
vậy, làm người trên thế gian ai ai cũng đều không nên vọng
sanh tâm sân hận. Với kẻ thế tục thông thường, không biết
cách ngăn chận tâm sân, chưa biết công phu tu trì nên lắm
lúc không tránh khỏi sanh tâm sân hận. Trường hợp này có
thể dung thứ. Nhưng đối với hành giả đã có công phu tu
trì trong Phật pháp, đã không còn mong cầu điều gì trong
thế tục, mà lại thường khởi tâm sân hận thì không thể
nào thành tựu công đức.
Hơn
nữa, những hành giả thông thường trong Phật pháp khi sanh
tâm sân hận thì chỉ bị lửa sân thiêu đốt tâm can, nhưng
không đến nỗi gây ảnh hưởng đến người khác. Trường
hợp này còn có thể thông qua được. Nhưng một vị Bồ Tát
lấy việc độ sanh làm trách nhiệm của mình, trong quá trình
tu Bồ Tát hạnh cần phải dùng tâm từ bi làm cơ bản. Nhưng
trái lại sanh tâm sân hận đối với chúng sanh thì chẳng
những trái với bổn nguyện của Bồ Tát, lại còn tạo thêm
tội lỗi là làm cho chúng sanh phải xa rời.
Vì
chúng sanh thấy bạn thường sanh tâm sân hận như vậy nên
dù có ý muốn thân cận với bạn, cũng không dám đến gần.
Như vậy làm sao bạn cảm hóa được chúng sanh, nếu không
muốn nói là trở thành đối lập với chúng sanh.
Cho
nên ở bất cứ trường hợp nào, Bồ Tát đều phải có lòng
từ mẫn, bi nhẫn với tất cả chúng sanh, không được ôm
ấp tâm niệm bất nhân, đem sự nóng giận đánh đập trả
thù chúng sanh, đưa đến việc không tròn trách nhiệm hóa
độ chúng sanh của mình.
Sở
dĩ Ðức Phật dạy Bồ Tát không được “đem giận mà trả
giận, đem đánh trả đánh”, điểm cốt yếu là không được
trả thù. Thực hành được như thế đã là việc khó lắm
rồi. Ngài hoàn toàn không nhất định bắt bạn phải dùng
đức báo oán.
Có
người hỏi đức Khổng Tử rằng: “Dùng đức báo oán cần
phải như thế nào?” Ðức Khổng Tử đáp một cách khéo
léo rằng: “Như thế nào gọi là trả đức?”
Tôi
(Pháp Sư) xin nói với các bạn rằng: “Dĩ trực báo oán,
dĩ đức báo đức”. Nói như thế để thấy rõ lối lập
giáo của hai bên Phật và Nho đều rất gần với nhân tính,
hoàn toàn không mang tính chất “kiểu uổng quá chính” (uốn
cái cong mà thành ra quá thẳng). Ý nói sửa đổi điều sai
lầm, nhưng lại làm thái quá khiến cho mọi người khó tuân
hành.
Kinh
Ðại Bát Nhã, quyển hai mươi mốt thuyết minh: “Ngay trong
lúc cùng với chúng sanh đấu tranh, sân hận, mạ nhục, Bồ
Tát phải lập tức cải hối rằng: - Ta cần phải nhẫn thọ
sự dày xéo, chà đạp, mắng nhiếc của chúng sanh cũng như
chiếc cầu và như những người câm điếc. Tại sao ta lại
dùng lời ác để nói trả lại người? Ta không nên phá hoại
quả Bồ Ðề thậm thâm này!”
Cũng
trong kinh Ðại Bát Nhã, quyển năm trăm hai mươi thuyết minh:
“Bồ Tát nếu bị người chém chặt thân, tay và thân hình,
cũng không nên khởi tâm sân hận, thốt lời thô ác.
Tại
sao vậy? Vì mục đích duy nhất của Bồ Tát vốn cầu quả
vô thượng Bồ Ðề, để cứu bạt sự thống khổ sanh tử
cho tất cả hữu tình, giúp chúng sanh được an lạc, thì làm
sao cho phép Bồ Tát quay lại làm việc ác đối với chúng
sanh?”
Mấy
lời khai thị của Ðức Phật ở trong kinh vừa dẫn trên,
có thể nói thật là lâm ly, thấm thía suốt tận tủy não.
Vì vậy, mọi hành giả Bồ Tát đều phải xem trọng!
Nên
biết chúng sanh đến não loạn bạn bằng bất cứ cách nào,
nếu bạn không sanh tâm sân hận, thì chẳng những họ không
thể nhiễu loạn bạn được, mà chính chúng sanh ấy lại
bị sự não loạn làm hại trở lại. Ví như bộ mặt xấu
xí vô cùng, nếu soi vào gương sáng thì vẻ xấu xí ở nơi
bộ mặt chứ không hề ở nơi chiếc gương sáng kia.
Nếu
bạn bị chúng sanh nhiễu loạn mà bạn lại sân hận, quở
trách một cách quyết liệt, thì kết quả, lẽ ra tội ác
kẻ ấy phải mang, nhưng lại thành ra tội ác của chính bạn.
Thật là một điều hoàn toàn phi lý! Nên trong Chứng Ðạo
Ca của Vĩnh Gia đại sư có lời khai thị rất hay rằng:
Quán
ác ngôn thị công đức,
Thử
tắc thành ngộ thiện tri thức.
Bất
nhân sân báng khởi oán thân,
Hà
biểu vô sanh từ nhẫn lực?
Dịch:
Quán
những lời thô ác, hủy báng mình đều là công đức. Vì
thế người hủy báng, mạ nhục mình đều là những thiện
tri thức. Không nên vì sự chê bai, hủy báng mà sanh niệm
oán, thân. Nếu phân biệt kẻ oán với người thân thì làm
sao biểu lộ vô sanh từ nhẫn lực đối với chúng sanh được?
Vì
thế sự giận đánh trả thù là tuyệt đối không được.
Chẳng những chính mình bị kẻ khác sân hận, đánh đập,
nhưng không được trả thù, mà cha mẹ, anh em, hay lục thân
của mình bị người giết hại cũng không được báo thù.
Hoặc trường hợp vị quốc chủ vì nhiệm vụ giữ gìn đất
nước, bảo hộ nhân dân được an toàn mà bị sát hại, bạn
là người hành Bồ Tát đạo, cũng không được báo thù.
Cha
mẹ là người chúng ta phải tận hiếu, quốc vương là đối
tượng chúng ta phải tận trung. Nếu ai sát hại những người
ấy, nói theo thế tục thì kẻ ấy có mối thù không đội
trời chung với chúng ta, nên phải báo thù mới hợp lý. Tục
ngữ có câu: “Có cừu mà không trả chẳng phải là người
quân tử”. Nhưng Phật pháp thì ngược lại, Ðức Phật tuyệt
đối ngăn cấm việc báo thù.
Ý
nghĩa ấy như thế nào?
Vì
thế tục chỉ biết hiện đời. Trong đời này, oán là oán,
thân là thân. Phạm vi rất rõ ràng, không thể không phân biệt
oán và thân. Cho nên đối với kẻ thù của cha mẹ thì không
thể đội trời chung, của anh em không thể chung sống trong
một nước, của bạn bè thì không được qua lại với người
thù. Ngược lại, Phật giáo thì dung thông cả ba đời.
“Oán
thân đồng nhất thể” do ở tự tánh rốt ráo bình đẳng,
không tịch. Vốn đã không phân biệt oán thân thì làm sao
có thể chấp nhận việc bạn vì quyến thuộc này mà giết
quyến thuộc kia? Hơn nữa, nói theo thường tình thì kẻ thân
thuộc của bạn bị sát hại đã chết rồi, không thể nào
sống lại được. Nay bạn giết hại trở lại thân quyến
của kẻ thù để rửa thù thì thử hỏi bạn đạt được
kết quả tốt đẹp gì? Hay chỉ làm gia tăng mối hận thù
giữa đôi bên, và ngay chính bản thân bạn cũng không được
lợi ích mảy may nào. Thế nên Ðức Phật dạy không được
đem giận trả giận, đem đánh trả đánh.
Nơi
đây để chứng minh việc đừng dùng oán thù trả lại oán
thù, chúng tôi xin dẫn một chuyện do chính kim khẩu của Phật
thuật lại như sau:
Vào
thời quá khứ, có hai vị quốc vương là vua Phạm Thí ở
nước Ðà Xa và vua Trường Sanh nước Câu Tát La. Vua Phạm
Thí thì binh hùng tướng mạnh, tài bảo vô lượng. Còn vua
Trường Sanh thì không bằng lấy một phần của vua Phạm Thí.
Tổ
phụ của hai vua có mối oán thù thâm trọng, không thể nào
cởi mở, vì thế, vua Phạm Thí cử vạn hùng binh chinh phạt
để chiếm đoạt nước Câu Tát La.
Vua
Trường Sanh bị mất nước, mất ngôi, nên cùng Hoàng Hậu
sang nước Ba La Nại tỵ nạn. Cả hai giả dạng làm người
Bà La Môn Loa Kế (búi tóc xoáy như trôn ốc), xin ở trọ trong
nhà một người thợ làm đồ gốm để nuôi dưỡng đứa
con tên Trường Sanh vương tử.
Thời
gian ngắn sau, vua Phạm Thí biết tin và bắt được quốc vương
cùng hoàng hậu, còn Trường Sanh vương tử rất may, trốn
thoát được. Sau khi bắt được vua Trường Sanh và hoàng hậu,
vua Phạm Thí trói hai người lại, cho gióng chiêng, đánh trống,
tuyên bố xử tử. Toàn dân nước Già Xa đua nhau đi xem. Trong
biển người ấy có Trường Sanh vương tử giả dạng người
hàn vi rách rưới, theo sau cha mẹ mình.
Vương
tử thấy cảnh này, lòng đau như cắt, nhưng không dám khóc
than, bày tỏ với ai, chỉ ôm lòng thù hận, ngậm hờn nuốt
lệ. Lúc ấy, vua Trường Sanh ngó ngoái lại, thấy con mình,
liền cao giọng nói rằng:
Oán
thù bất luận trọng hay khinh,
Quyết
định không nên trả thù lại.
Nếu
đem oán thù trả oán thù,
Oán
thù không sao chấm dứt được.
Ðiều
duy nhất là đừng oán thù,
Thì
oán thù kia tự nhiên tiêu diệt.
Vua
nói mấy lời kệ trên đến hai, ba lần. Mọi người cho rằng
vua vì mất ngôi, mất nước, lại sắp bị tử hình nên loạn
tâm và điên cuồng la nói như vậy.
Sau
đó, vua Phạm Thí hạ lệnh đem Trường Sanh quốc vương cùng
hoàng hậu ra pháp trường xử trảm, lại phanh thây ra làm
bảy phần, đem treo trên đầu cây nêu nhọn.
Trường
Sanh vương tử thấy cảnh tượng này vô cùng đau đớn, nuốt
lệ ngậm hờn, tự nghĩ rằng: “Ðây thật là cảnh đại
địa ngục trần gian mà tội nhân chính là cha mẹ của ta”.
Sau đó, vương tử phải yên lặng ôm hận trở về. Thời
gian sau, Ngài giả dạng làm một người Ma Nạp (thiếu niên
tịnh hạnh nhân) tại thành Ba La Nại, chuyên cần học kỹ
thuật và tất cả các sách vở thế gian như xem tinh tú, coi
tướng số, âm nhạc, hội họa v.v... không môn nào chẳng
tinh thông.
Lúc
ấy, vua Phạm Thí có một vị điều tượng sư rất tài giỏi,
Trường Sanh vương tử đến nơi ấy xin học phương pháp điều
tượng. Ban ngày vương tử lo học tập và hầu thầy, đem
đến, gẩy đàn cầm ca hát, âm thanh rất thanh tao, êm ái.
Tiếng đàn ca vang đến trong cung. Vua Phạm Thí nghe được
liền hỏi quan tả hữu rằng: - Tiếng đàn ca của ai ấy vậy?
Các
quan tâu rằng: - Ðấy là tiếng đàn ca của gã Ma Nạp ở
nhà của điều tượng sư.
Quốc
vương cho mời gã Ma Nạp đến. Trường Sanh Ma Nạp vâng lệnh
vua gẩy đàn, ca hát. Âm thanh vi diệu, thanh tao, vua nghe vô
cùng hoan hỷ, liền lưu Ma Nạp ở lại trong cung. Ðặc biệt
là ở cung Hoàng Hậu. Ở đấy chỉ có ba người: vua Phạm
Thí, Hoàng Hậu cùng với Trường Ma Nạp, ngoài ra không còn
một ai dám vào nơi ấy.
Thời
gian sau, Hoàng Hậu mất viên ngọc Ma Ni bảo châu, vua gọi
Ma Nạp đến hỏi: - Hoàng hậu của Trẫm mất Ma Ni bảo châu,
khanh có lấy không?
Ma
Nạp tự nghĩ: - Cung điện này không ai ra vào, chỉ có hoàng
thượng, hoàng hậu và ta. Nếu nói không lấy e bị vua tra
khảo không dễ gì chịu nổi.
Liền
tâu rằng: - Chính hạ thần lấy.
Vua
hỏi: - Khanh có cùng ai làm việc đó không?
Ma
Nạp tâu: - Hạ thần cùng với Thái Tử.
Vua
hỏi: - Cùng với ai nữa?
Ma
Nạp đáp: - Cùng với vị đại thần trí huệ bực nhứt.
Vua
hỏi: - Cùng ai nữa?
Ma
Nạp đáp: - Cùng với đệ nhất đại trưởng giả trong nước
của chúa thượng.
Vua
hỏi: - Cùng với ai nữa?
Ma
Nạp đáp: - Cùng với đệ nhất mỹ nữ.
Vua
hạ lệnh bắt cả năm người giam vào ngục tức khắc. Trong
ngục, Thái Tử hỏi Ma Nạp rằng: “Anh thật biết ta không
lấy Ma Ni bảo châu, nhưng sao lại dối khai rằng ta lấy ngọc?”
Ma
Nạp đáp: - Ðông Cung thật không lấy, tôi cũng thật không
lấy. Ðông Cung là thái tử đệ nhất, là người thương mến,
quý trọng nhất của đại vương. Tôi chắc đại vương không
vì mất viên ngọc mà nhẫn tâm giết hại Ðông Cung, nên tôi
khai thế thôi.
Vị
đại thần hỏi rằng: “Anh thật biết ta không lấy ngọc
Ma Ni, tại sao khai gian là ta lấy?”
Ma
Nạp đáp: - Thượng quan thật không lấy, tôi cũng không lấy.
Nhưng ngài là đại thần có trí huệ bậc nhất của hoàng
thượng, ngài có thể tìm được ngọc dễ dàng nên tôi khai
như vậy thôi.
Ðại
phú trưởng giả hỏi: - Anh thật biết tôi không lấy ngọc,
tại sao lại nói tôi lấy?
Ma
Nạp đáp rằng: - Ngài thực không lấy, tôi cũng không lấy.
Nhưng ngài là vị đại phú trưởng giả ở trong nước, tài
bảo vô lượng. Nếu hoàng thượng cần dùng ma ni bảo châu,
ngài có thể tìm dâng một cách dễ dàng, nên tôi khai vậy
thôi!
Ðệ
nhất mỹ nữ hỏi: - Anh biết tôi thực không lấy ngọc, nhưng
sao lại khai dối là tôi lấy?
Ma
Nạp đáp rằng: - Cô thực không lấy, tôi thực không lấy.
Vì cô là đệ nhất mỹ nhân trong nước, biết bao nhiêu người
để ý đến cô, nhưng chưa người nào hỏi cưới được
cô. Tôi chắc các vương tôn công tử vì yêu thương cô nên
sẽ tìm được ngọc dễ dàng, vì vậy mà tôi khai như vậy.
Bấy
giờ, có bọn giặc ở nước Ba La Nại, nghe được tin ấy
lập tức đến chốn lao ngục hỏi Ma Nạp rằng: - Nghe nói
hoàng hậu bị mất bảo châu, có thực hay không?
Ma
Nạp đáp: Quả thực có!
Bọn
giặc hỏi: Theo anh thì có ai vào trong cung không?
Ma
Nạp đáp: - Không có ai vào hết, trong ấy chỉ có ba người:
vua, hoàng hậu và tôi.
Bọn
giặc hỏi tiếp: - Có ai thường qua lại trong ấy không?
Ma
Nạp đáp: - Có con di hầu thường qua lại trong ấy.
Bọn
giặc nói: - Ma Nạp! Anh hãy yên tâm, viên ngọc đó chúng tôi
có thể tìm được.
Bọn
giặc liền vào cung tâu với vua, yêu cầu vua truyền lệnh
cho tất cả thể nữ trong cung đem tất cả trang sức phẩm
như chuỗi anh lạc, vòng vàng... trang điểm vào các di hầu
trong chánh cung (cung của vua), đoạn dẫn chúng vào trong tư
cung của hoàng hậu. Con di hầu ở tư cung thấy các di hầu
trong chánh cung đều đeo tất cả đồ trang sức, cô ta liền
lấy ma ni bảo châu đã đánh cắp đeo vào người để trang
điểm. Bọn giặc bao vây tứ phía, bắt di hầu và lấy viên
ngọc đem dâng cho vua.
Vua
được ngọc liền hạ lệnh triệu Ma Nạp vào yết kiến và
hỏi rằng: “Vì sao khanh không lấy ngọc mà tự nhận là
có lấy? Lại do cớ gì mà khai cho Thái Tử và những người
khác?”
Ma
Nạp tâu cho vua nghe các lý do trên. Nghe xong, vua khen ngợi rằng:
“Thật hiếm có! Ma Nạp có đại trí huệ, trên thế gian
này khó có hai người”. Liền trọng dụng Ma Nạp phong cho
làm vị quan cao quý nhất trong quần thần.
Về
sau, một hôm vua cùng Ma Nạp đi săn bắn và du ngoạn trong
rừng. Khi vào rừng, ngự lâm quân của vua vì ham săn đuổi
thú rừng nên tản mát khắp nơi. Lúc ấy, nhằm tiết trời
nóng bức, Ma Nạp liền đẩy xe vua đến chỗ vắng nghỉ ngơi.
Vua xuống xe, vào trong bóng mát, gối đầu lên gối Ma Nạp
mà ngủ.
Lúc
ấy, Ma Nạp tự nghĩ: “Vị quốc vương này là kẻ cừu thù
của tổ phụ ta, phá hết giang sơn, đất nước ta, cướp
đoạt quân binh cùng tài bảo, kho tàng của tổ phụ ta. Lại
còn giết cha mẹ ta một cách tàn nhẫn, đoạn tuyệt vương
chủng nước Câu Tát La. Oán thù như vậy, giờ phút này cần
phải giết để trả thù”.
Nghĩ
suy như vậy, Ma Nạp rút kiếm ra, định cắt đầu vua Phạm
Thí, nhưng bỗng nhớ lại lời di chúc của phụ hoàng rằng:
Oán
thù bất luận trọng hay khinh,
Quyết
định không nên trả thù lại.
Nếu
đem oán thù trả oán thù.
Oán
thù không sao chấm dứt được.
Ðiều
duy nhất là đừng oán thù,
Thì
oán thù kia tự nhiên tiêu diệt.
Nhớ
như vậy, Ma Nạp liền trao kiếm vào vỏ, khi ấy, vua Phạm
Thí thức dậy, khẽ bảo Ma Nạp rằng: “Khanh! Trẫm vừa
nằm mộng thấy Trường Sanh vương tử sắp cắt đầu trẫm”
Ma
Nạp đáp: “Chỗ thanh vắng này chỉ có mình chúa thượng
và hạ thần, Trường Sanh vương tử nào lọt vào đây? Bệ
hạ cứ yên tâm ngơi nghỉ, vì chỗ này thanh vắng có nhiều
thần linh, vả lại bệ hạ mệt mỏi nên sanh mộng mị thế
thôi!”
Vua
Phạm Thí nghe lời Ma Nạp tiếp tục nằm ngủ. Ma Nạp lại
rút kiếm sắp cắt đầu vua, nhưng lại nhớ đến di chúc
của phụ hoàng, bèn lại tra kiếm vào vỏ. Như thế, đến
hai ba lần, vua Phạm Thí cũng nằm mộng hai ba lần, nên kinh
hãi, tỉnh dậy, hỏi lý do với Trường Ma Nạp.
Bấy
giờ Ma Nạp tự nghĩ: “Nếu giết vua trả thù thì trái với
di chúc của phụ hoàng, mà nếu không giết thì trong tâm ôm
ấp mãi mối oán hận. Chi bằng cứ sự thật nói ra, nếu
vua Phạm Thí để sống cũng tốt, mà giết đi thì cũng tốt.
Sống như vậy thì sống làm chi cho khổ tâm”. Suy nghĩ như
vậy, Ma Nạp tâu hết sự thật cho vua nghe, cuối cùng kết
luận: “Vì giữ lời di chúc của phụ hoàng nên tôi không
dám giết ngài thế thôi!”
Vua
Phạm Thí nghe xong, trong tâm cảm động không sao tả xiết,
hai dòng lệ tuôn trào, ôm mặt khóc nói không ra lời. Hồi
lâu vua mới từ từ bảo: “Trường Sanh đại vương là một
thánh quân, một nhân vật phi phàm. Trẫm dù mang lớp người,
nhưng thật bạo ác hơn loài thú dữ...”
Nói
xong vua lên xe cùng Trường Sanh vương tử trở về hoàng cung.
Sau đó vua liền trả lại hết chho Trường Sanh Vương Tử
giang sơn nước Câu Tát La, bốn bộ binh chủng, nhân dân cùng
tất cả tài bảo kho tàng. Lại sắm một cỗ xe cực kỳ trang
nghiêm, bảo công chúa phục sức theo lễ triều của hoàng
hậu, rồi đưa cả vương tử và công chúa về nước Câu
Tát La.
Thuật
chuyện trên xong, Ðức Phật bảo quý tỳ kheo rằng: “Này
quý tỳ kheo! Các ông nên biết Trường Ma Nạp rút kiếm ra
nhưng không trả thù mà lại cùng nhau hòa hợp trở lại như
cha với con. Các ông là người xuất gia hành đạo, đồng
học một thầy như nước với sữa, ở trong Phật pháp các
ông phải cùng nhau hòa thuận, chuyên lo tu học để được
nhiều lợi ích và làm cho chánh pháp của Như Lai được cửu
trụ trên thế gian.
Thôi
đi! Thôi đi! Này quý tỳ kheo, các ông đừng tranh chấp, gây
gổ với nhau nữa, đừng mắng nhiếc nhau, hủy báng, tìm tòi
chỗ hay dở của nhau nữa. Các ông cần phải hòa hợp đừng
tranh chấp nhau. Các ông đồng học một thầy, như nước với
sữa hòa hợp. Cần phải cùng nhau ở trong Phật pháp an vui,
chuyên lo tu học để được nhiều lợi ích và làm cho Phật
pháp được cửu trụ trên thế gian”. Ðức Thế Tôn nói
như vậy hai ba lần.
(Câu
chuyện này ở trong Luật Tứ Phần, quyển bốn mươi ba. Nhân
khi đức Phật ngự tại nước Câu Diệm Di, khi ấy chư tỳ
kheo tại đó xung đột nhau về việc phạm giới. Giữa hai
bên tỳ kheo, một bên phanh phui tội lỗi và bên bị phanh phui
tội lỗi đang gây gổ, mắng nhiếc, phỉ báng, tìm kiếm lỗi
lầm, nói xấu lẫn nhau. Các tỳ kheo khác nghe được việc
trên, kính bạch lên Phật. Ngài bèn nhóm chư tỳ kheo lại
để khuyên giải, thuật lại mẫu chuyện trên. Cuối cùng
Phật đã dạy khuyên, nhắn nhủ những lời trên).
Do
đó, chủ trương của Phật giáo là tuyệt đối không được
đem oán thù trả lại oán thù. Nếu như mắc nợ mạng mà
dùng mạng để trả lại thì vô cùng ngược với chỉ thú
từ bi của Phật giáo.
Ở
đây có người hỏi rằng:
Quân
vương, phụ mẫu là đại luân thường của con người trên
thế gian. Phạm Võng Bồ Tát giới là Kim Cương Quang Minh Bửu
Giới, hàng quốc vương, thái tử, đại thần v.v... đều bẩm
thọ. Trường hợp những thù oán nhỏ mọn bảo đừng nên
trả thì có thể chấp nhận, nhưng cừu thù của quốc vương,
phụ mẫu cũng không báo oán thì thử hỏi tâm chúng ta làm
sao an nhẫn được? Nếu như thực hành theo như thế thì để
Phật giáo lưu hành trên thế gian này không khác gì tuyên bố
bãi bỏ nhân đạo? Và thực hành đúng theo giới luật của
Phật chẳng khác gì diệt trừ hiếu trung? Như thế, nhân gian
này sẽ trở thành một thế giới cầm thú. Trật tự xã hội
sẽ bị phá vỡ thì thử hỏi giới luật của Phật pháp lợi
ích ở chỗ nào? Nếu đã như vậy thì cần gì phải phụng
hành?
Ý
nghĩ ấy thật sai lầm, tuyệt đối sai lầm! Bạn nên biết
rằng chư Bồ Tát hóa độ chúng sanh trên thế gian, mục đích
duy nhất là muốn cho mỗi chúng sanh đều thoát khỏi vòng
sanh tử luân hồi.
Lại
nữa, Bồ Tát xem mỗi một chúng sanh trong lục đạo đều
là cha mẹ của chính mình thì làm sao chấp nhập sự kiện
giết hại một sanh mạng để đền một sanh mạng khiến cho
tất cả chúng sanh đời đời, kiếp kiếp giết hại lẫn
nhau không dứt. Do đó, vĩnh viễn sanh chúng phải bị trầm
luân trong biển khổ sanh tử.
Hơn
nữa, đối tượng mà bạn muốn giết kia, nếu nhìn vào thực
tế ở kiếp hiện tại thì là kẻ thù, nhưng nếu xét qua
thời quá khứ thì kẻ ấy biết đâu là cha mẹ đời trước
của bạn. Nếu hiện tại giết sanh mạng để báo thù sanh
mạng, chẳng khác nào giết hại cha mẹ nhiều đời, nhiều
kiếp của bạn để báo thù cho cha mẹ trong hiện đời này.
Như thế thì đâu còn hợp với lý hiếu đạo.
Cho
nên kinh văn dạy tiếp: “Ðó là việc không thuận với hiếu
đạo”. Trước đã giảng qua: “Hiếu thuận là pháp chí
đạo”.
Hiếu
gọi là Giới, cũng gọi là cấm ngăn mọi vi phạm; nghĩa là
lấy giới làm hiếu mới có thể gọi là pháp chí đạo. Ðã
thế thì làm sao có thể cho phép bạn đi sát hại sanh mạng?
Do đó, hiếu đạo trong Phật pháp và hiếu đạo thông thường
của thế tục, chỉ thú của hai bên thực sự khác xa nhau.
Theo
quan niệm lễ giáo thế tục, cừu thù của quốc vương, cha
mẹ mà không trả là bất hiếu. Nhưng nói theo Phật pháp thì
báo thù cho quốc vương, phụ mẫu không phải là hiếu đạo.
Tại
sao vậy?
Vì
lễ giáo của thế gian chỉ chú trọng kiếp hiện tại, không
nói đến nhân quả, nghiệp báo của đời tương lai. Còn Phật
pháp nhận thực rằng nếu bạn báo thù chỉ gây tai hại,
vì làm cho quốc vương, phụ mẫu vĩnh viễn bị trầm luân,
không được thoát ly khỏi vòng sanh tử trong tam giới. Như
vậy không thể gọi là hiếu đạo được.
Như
trên nói, chẳng những không được đem giận, đánh trả thù
giận đánh, lại cũng không được nuôi chứa tôi tớ rồi
đánh đập, mắng nhiếc chúng.
Có
người cho rằng Ðức Phật cho phép chứa nuôi tôi tớ để
giúp việc và sai khiến. Ðiều đó hoàn toàn không đúng. Tại
sao vậy?
Phải
biết rằng hàng Phật tử xuất gia, dù là Thanh Văn hay Bồ
Tát, tất cả việc sinh sống và nhu dụng của chính mình,
đều phải nhờ sự cung cấp của tín thí, thì thử hỏi những
phí tổn để chứa nuôi tôi tớ đâu phải của chính mình
xuất ra. Thế mà hiện nay có rất nhiều chúng tăng xuất gia
vừa đề cập đến việc gì liền đem việc giàu sang ra khoe
khoang! Thực là người không ra gì! Bồ Tát xuất gia không
được nuôi chứa tôi tớ.
Riêng
hàng Bồ Tát tại gia, Ðức Phật không hoàn toàn ngăn cấm,
nhưng không được đánh đập, nhục mạ một cách phi lý người
mình nuôi dưỡng, để đến nỗi “mỗi ngày tam nghiệp tạo
vô lượng tội, nhất là khẩu nghiệp”. Huống gì lại cố
đi làm tội thất nghịch! Ðiều này dĩ nhiên nằm trong phạm
vi nghiêm cấm một cách triệt để.
Trong
kinh văn nói:
-
Ðánh đập thuộc về nghiệp.
-
Nói mạ nhục thuộc về khẩu nghiệp.
-
Nổi sân nộ thuộc về ý nghiệp.
Thuở
xưa, chủ nhân đối với tôi tớ hết sức bạo ngược. Họ
xem tôi tớ không phải là con người. Khi nào muốn đánh cứ
đánh, muốn mắng cứ mắng, muốn sân cứ sân. Không có một
chút tình thương. Cho nên cuộc sống của tôi tớ ngày xưa
là cuộc sống không bằng thân trâu ngựa.
Ðức
Phật biết rõ tội ác này dù không ngăn cấm Bồ Tát tại
gia chứa nuôi tôi tớ, nhưng tuyệt đối ngăn cấm sự đánh
đạp, mạ nhục, sân nộ, để tránh khỏi mỗi ngày tam nghiệp
tạo vô lượng tội ác.
Theo
trong kinh Phật dạy thì trước đã nói cả ba nghiệp, tại
sao lại nói khẩu nghiệp tạo vô lượng tội?
Có
nơi giải thích rằng: người đời đối với tôi trai, tớ
gái trước tiên nội tâm sanh sân hận, đưa đến sự đánh
đập. Nhưng trước khi đánh đập thì lại mạ nhục. Trong
lúc mạ nhục, mỗi lời, mỗi câu đều thuộc về ác khẩu.Thế
nên tội lỗi không thể kể xiết.
Cho
nên Ðức Phật nhấn mạnh: “Nhất là khẩu nghiệp” (ý
nói tội lỗi do khẩu nghiệp tạo vô lượng, vô biên).
Vì
duyên cớ báo thù cho cha mẹ mà giết hại người khác, đó
không phải là giết hại người không quan hệ với mình mà
chính là giết hại cha mẹ mình vậy. Vì người bị giết
hại kia, trong đời quá khứ cũng từng là cha mẹ mình. Nay
bạn vì báo thù cho cha mẹ hiện đời mà giết người ấy
thì có phải đã tạo thành tội thất nghịch, không thuận
với hiếu đạo hay không?
Vì
thế, làm một vị Bồ Tát phải luôn nhắm vào tâm từ bi,
ý nghiệp không được có tư tưởng đem giận trả giận.
Khẩu nghiệp không được mắng nhiếc trả mắng nhiếc. Thân
nghiệp không được đánh đập trả đánh đập.
Tại
sao ở đây không nói rằng: không được đem giết trả giết?
Vì
khi nhục thân của bạn đã bị người giết rồi thì đâu
còn cái gì trong đời này để có thể đi báo thù nên không
nói: “Không được đem giết trả giết”. Nhưng không phải
là nói kiếp lai sanh không có sự trả thù, giết hại thân
mạng vì đó là sự oan oan tương báo. Nhưng đó là việc thuộc
kiếp lai sinh, không phải chuyện hiện tại.
Cừu
thù không được trả, chủ yếu là nói về giới Bồ Tát
xuất gia. Còn Bồ Tát tại gia trong trường hợp dụng pháp
quốc gia cũng có thể “dĩ trực báo oán”. Nếu Bồ Tát
xuất gia không có lòng từ bi, cho rằng mình nên giận, đánh,
trả thù cho đến vì hàng lục thân mà cố làm việc giận
đánh, trả thù, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Tại
sao phải nghiêm cấm hàng Bồ Tát xuất gia thật nghiêm khắc
như thế?
Vì
đi xuất gia là đã buông bỏ tất cả, cần phải thực hành
sự oán thân bình đẳng, nhân ngã đều vọng. Không nên ôm
ấp kiến chấp ngã nhân như người thế tục và đi tìm kiếm
kẻ oán thù mà giết hại lẫn nhau.
Cho
nên Bồ Tát xuất gia phải từng giờ, từng khắc hành pháp
quán tưởng “oán thân bình đẳng”. Nên bất luận cừu
thù, oán hận lớn hay nhỏ, cũng không luận quan hệ thân hay
sơ, tất cả đều không được báo thù. Nếu thực hiện được
sự không báo thù thì tự nhiên cởi mở được dây oan kết,
vĩnh viễn không còn chuyện cừu thù đối đầu với nhau nữa!
Trái
lại, nếu cứ oán thù giết hại lẫn nhau thì vĩnh viễn không
bao giờ cấm dứt oán thù.
Giới
“giận đánh trả lại làm chướng ngại nhẫn nhục độ”
trong Du Già Giới Bổn thuyết minh và giới “giận đánh trả
thù” trong kinh này có chỗ tương đồng.
Nếu
Bồ Tát an trụ tịnh giới luật nghi của Bồ Tát, khi có hữu
tình đến dùng lời thô ác, mạ nhục thay vì cần nhẫn nhục
lại không nhẫn nhục, đi làm việc báo thù. Bảo rằng: “Mày
mạ nhục tao như thế ấy, tao cũng sân hận với mày như vậy”,
đây cũng tuyệt đối là việc không đúng.
Hoặc
có người dùng tay chân đấm đá Bồ Tát, đáng lý phải nhẫn
thọ mà không nhẫn thọ, lại báo thù, nói rằng: “Mày đánh
tao một cú, tao cũng đạp mầy một đạp” cũng là việc
không thể được.
Lại
nữa, nếu có người cố tình đến chọc ghẹo, Bồ Tát cần
nhẫn thọ mà không nhẫn thọ, lại trả đũa nói rằng: “Mày
chọc ghẹo tao thế ấy, tao cũng chọc ghẹo mày thế này”
thì cũng không đúng. Nên phán xét những hành động như vậy
là có chỗ trái phạm giới Bồ Tát, và thuộc ề tội nhiễm
ô trái phạm.
Trong
kinh Hải Ý, Ðức Phật dạy Hải Ý rằng: “Nếu có người
dùng ác tâm đến sân hận, mạ nhục ông, ông phải lập tức
nghĩ rằng: ‘Kẻ này thực là quá biếng nhác, xa lìa pháp
bạch tịnh. Ta hôm nay phát tâm tinh tấn, tu tập vun trồng
các thiện căn để cầu quả vô thượng Bồ Ðề, đừng sanh
tâm nhàm chán cho là đã đầy đủ”.
Lại
phát nguyện: “Nguyện cho người này thành Phật trước mình,
ngồi đạo tràng chuyển pháp luân, độ chúng sanh. Ta sẽ thành
vô thượng chánh giác rốt sau”.
Lại
cần phải y theo pháp này mà quan sát như thế nào là sân?
Thế nào là không phải sân?
Tìm
hiểu, tư duy hai thứ ấy đều không có thực. Lại nữa sân
cùng chẳng phải sân, hoặc mình, hoặc người, pháp sân cùng
người sân, đều không thực có. Cái không thực này cũng
phải xa lìa. đừng cố chấp. Ấy gọi là Nhẫn.
Một
hành giả Bồ Tát nếu có thể tư duy, quán sát như vậy thì
còn có cừu thù, oán hận nào có thể hiện hữu được? Ðó
là pháp quán oán thân bình đẳng. Oán hận, cừu thù đã không
thực có thì còn chi mà phải trả thù?
Giới
này Ðại Thừa, Tiểu Thừa đồng cấm: thất chúng Phật tử
đều phải tuân hành, nên mỗi Phật tử đều phải chú ý.
