B.2.2.18.
VÔ GIẢI TÁC SƯ GIỚI
(giới
không hiểu biết mà làm thầy)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử ưng học thập nhị...” cho đến câu:
“...phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
là Phật tử phải học mười hai bộ kinh, thường tụng giới
luật, mỗi ngày sáu thời nghiêm trì Bồ Tát giới, hiểu rõ
nghĩa của lý tánh, Phật tánh của giới luật. Nếu Phật
tử không hiểu một kệ, một câu, cùng nhân duyên của giới
luật mà bảo rằng đã thông hiểu, đó chính là tự dối
gạt mình và cũng là dối gạt người khác. Không hiểu một
pháp, không biết một luật, mà lại đi làm thầy truyền giới
cho người, Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Giới
trước ngăn cấm việc nương cậy các người có thế lực,
địa vị ra oai bức bách, đoạt của lấy người, giới trước
nhấn mạnh về thân nghiệp.
Giới
này ngăn cấm việc nói dối là mình hiểu biết để đi làm
thầy, truyền trao giới pháp cho người, giới này chú trọng
về khẩu nghiệp.
Lý
luận của Phật pháp cần phải tuyên dương. Giới hạnh trong
Phật pháp cần phải truyền thọ.
Một
vị Pháp Sư muốn tuyên dương Phật pháp, hoặc truyền trao
giới phẩm, phải có đầy đủ trí huệ chơn thật, phải
hiểu chính xác nghĩa lý Ðại Thừa, Tiểu Thừa, quyền giáo,
thật giáo của Phật pháp, phải triệt để giảng giải minh
bạch việc khai, giá, trì, phạm của giới luật thì mới đủ
tư cách để làm sư phạm cho người. Nếu chính mình vẫn
mờ mịt, lộn xộn thì nhất định không thể làm cho người
khác đối với kinh luật có chỗ hiểu biết rành rẽ. Nói
thí dụ cho dễ hiểu như trường hợp các vị dung y (thầy
thuốc bất tài), tầm thường không biết rõ căn bệnh của
bệnh nhân, không biết bắt mạch và các phương thuốc, lại
đi làm thầy trị bịnh cho người, thì làm thế nào trị cho
bệnh nhân được lành mạnh?
Lại
như những người đôi mắt đều mù mà lãnh trách nhiệm dẫn
đường cho những người mù khác thì không làm sao tránh khỏi
thảm họa sa hầm sụp hố.
Vì
thế, làm một vị Bồ Tát giáo hóa chúng sanh, trước tiên
tự mình phải thông đạt nội dung của kinh luật, rồi sau
mới đem chỗ hiểu biết ấy dạy bảo dẫn dắt chúng sanh,
giúp cho chúng sanh thực hành đúng theo pháp, theo Luật, để
được sự lợi ích chân thực.
Nếu
tự mình không có huệ giải, không thông đạt tánh tướng
của các pháp, không rành rẽ văn nghĩa kinh luật, lại đi
lừa dối làm sư phạm cho chúng sanh, cứ gắng gượng truyền
trao giới pháp cho người, khiến người đời không thể thấm
nhuần giới phẩm. Như thế, đã không có chánh nhân tâm địa,
thì sẽ mất hẳn cực quả thành Phật. Thử hỏi việc làm
ấy có tội hay không?
Làm
người, đặc biệt là một vị Bồ Tát, điều tối trọng
là phải thành thật, không được giả dối. Ðối với vấn
đề huệ giải, một học giả nơi thế gian còn phải thực
hành, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết.
Kiến thức trên thế gian này rất nhiều, nên không một ai
dám tự xưng không việc gì mình không biết, không việc gì
mình chẳng thông. Cho nên cứ thành thật thú nhận việc gì
mình biết và việc gì mình không biết. Một người thường
trên thế gian còn như vậy, huống chi là một vị đại sĩ
xuất thế và mang danh là cứu nhân độ thế?
Là
một vị Bồ Tát sơ phát tâm, còn ở trong giai đoạn học
hỏi, khi có những vấn đề gì không hiểu rõ, cứ đem ra
hỏi người khác, họ sẽ vui lòng giải đáp, chỉ giáo cho
bạn. Với vấn đề kia, bạn không hiểu, bạn cứ đi hỏi,
người sẽ vui lòng vì bạn phúc đáp, sẵn sàng chỉ giáo.
Ðiều ấy không phải là một việc xấu, mà thực là một
nhà đại thông thái, không có việc gì chẳng biết.
Ðiều
xấu nhất là không biết mà cứ cho là biết. Tỷ như có một
vấn đề mình không hiểu rành, nhưng vì muốn làm thầy người,
nên giấu chỗ không hiểu biết của mình, cố giả hiện ra
những cử chỉ ta đây cái gì cũng biết. Thế là chẳng những
dối gạt người mà cũng thật dối gạt cả chính mình. Tự
dối gạt mình và dối gạt người như vậy là không thật
lòng dẫn dắt người, không đem lại lợi ích cho người,
thì làm sao có đủ tư cách làm sư phạm cho người?
Vì
thế, Nho gia Trung Quốc nói: “Nhân chi đại hoạn, tại hiếu
vi nhân sư” (họa lớn của người chính ở chỗ thích làm
thầy người). Cho nên không thông hiểu mà muốn đi làm thầy
là mang tội lỗi rất lớn vậy!
Giới
này, dù đối với Ðại hay Tiểu Thừa đều cấm chế, Tăng
cũng như tục đều phải tuân giữ. Nói một cách nghiêm túc
hơn, khi làm một vị sư phạm Ðại Thừa , quyết định phải
là bậc Bồ Tát xuất gia. Còn năm chúng Phật tử kia đều
không đủ tư cách làm sư phạm, nên không ở trong phạm vi
cấm chế của giới này.
Tuy
nhiên, trong kinh Thiện Pháp có dạy: “Bồ Tát tại gia có
thể nuôi dưỡng đệ tử tại gia”. Vì vậy, điều đó cũng
vẫn nằm trong phạm vi của giới cấm này. Nhưng Bồ Tát tại
gia dù có thể nuôi dưỡng, làm sư phạm cho đồ chúng tại
gia, nhưng nhất quyết không được truyền trao giới pháp.
Vì đó là việc của Bồ Tát xuất gia.
Ðiều
này nếu không phân biệt rành rẽ, sẽ đưa đến việc Bồ
Tát tại gia cũng truyền trao giới cho người là điều sai
phạm rất lớn. Vì thế, Bồ Tát tại gia nếu thông đạt
Phật lý, dù có thể vì người giảng nói các kinh luật, và
được suy tôn làm thầy, nhưng nếu có Phật tử phát tâm
cầu thọ Tam Quy, Ngũ Giới phải thỉnh một bậc đại đức
xuất gia, truyền trao giới pháp mới được.
Nhưng
không phải bất cứ vị Bồ Tát xuất gia nào cũng đều có
thể đảm nhận vai trò một vị sư phạm Ðại Thừa. Vì theo
ngài La Thập Tam Tạng Pháp Sư, thì phải đầy đủ năm đức
mới đầy đủ tư cách làm sư phạm cho người. Năm đức
đó là:
1.
Phải giữ gìn giới hạnh hết sức thanh tịnh, không được
trái phạm một giới nào.
2.
Giới lạp ít nhất phải đủ mười năm, nếu chưa đủ thì
chưa xứng với tư cách làm thầy cho người.
3.
Phải có sự hiểu biết về Luật tạng thông suốt mới tránh
khỏi nạn dạy bảo, dẫn dắt hàng hậu học đi vào con đường
sai lầm.
4.
Phải thông đạt thiền tứ cho sâu sắc. Nếu không có chút
công phu thiền định nào thì không thể làm sư phạm cho người.
5.
Cần phải có trí huệ sáng suốt, nghĩa là phải nghiên cứu
đến chỗ cùng tột nghĩa lý u vi, huyền diệu của Phật pháp.
Ðối với tánh tướng của các pháp, phải phân biệt được
một cách tinh tế và chính xác.
Tóm
lại:
Năm
giới đức trên là chỉ cho sự thành tựu giới thanh tịnh,
thành tựu Ðịnh và thành tựu Quán Huệ. Ðây là một chánh
thuyết trong Phật giáo nước ta (chỉ nước Trung Hoa) xưa nay
lưu truyền lại. Những vị làm sư phạm cho người cần phải
xem trọng vấn đề này.
Theo
Luật Tứ Phần nói: “Muốn làm thầy truyền trao giới Cụ
Túc cho người, phải thành tựu năm pháp. Nếu năm pháp không
thành thì không thể truyền trao giới Cụ Túc cho người, cũng
không được làm y chỉ cho người, cũng không được nuôi
dưỡng thiếu niên sa di.
Năm
pháp ấy:
1.
Giới.
2.
Ðịnh
3.
Huệ.
4.
Giải thoát.
5.
Giải thoát tri kiến.
Năm
pháp trên đây là ngũ phần pháp thân của bậc chứng quả
A La Hán, không phải là người xuất gia thông thường có thể
thành tựu được. Ở thời mạt pháp này, thiết tưởng muốn
tìm được một bậc thành tựu năm pháp ấy có thể nói là
khó vô cùng. Vì thế vấn đề truyền trao giới pháp, thông
thường vì không thực hiện đúng theo pháp, nên không thể
làm cho người phát tâm thọ giới được đắc giới.
Vì
nguyên nhân trên nên cổ đức từng nói: “Mạt pháp thời
đại, nan dĩ cầu toàn trách bị” (thời mạt pháp này khó
mà cầu tìm được bậc giới đức, trách nhiệm trọn vẹn
đầy đủ).
Trong
Luật Tăng Kỳ cũng nói như sau: “Thành tựu được mười
pháp mới có thể độ người xuất gia thọ giới Cụ Túc.
Mười pháp:
1.
Trì giới.
2.
Đa văn A Tỳ Ðàm (thông Luận Tạng).
3.
Ða văn Tỳ Ni (thông Luật Tạng)
4.
Học giới.
5.
Học định.
6.
Học huệ.
7.
Có thể xuất tội cho người và dạy người xuất tội (đệ
tử khi có tội, vị thầy hiểu rõ giới luật chỉ dạy cho
đệ tử sám hối để được diệt trừ tội lỗi).
8.
Có khả năng khám bịnh hoặc nhờ người khám bịnh.
9.
Lúc đệ tử có nạn có thể giúp đưa đi nơi khác lánh nạn,
hoặc nhờ người đưa đi.
10.
Phải đủ mười hạ lạp.
Hạn
lệ ít nhất cũng phải đủ mười hạ lạp và thông hiểu
hai bộ luật tỳ kheo, tỳ kheo ni, thì mới được độ người
xuất gia, thọ giới Cụ Túc. Về việc y chỉ làm thầy cho
người cũng như thế. Do đó, làm sư phạm cho người không
phải là việc dễ dàng.
Trường
hợp đệ tử mắc nạn, bổn phận làm thầy phải giúp cho
đệ tử thoát nạn. Nếu không có thể giúp đệ tử thoát
ly khổ nạn, để đệ tử phải đắm chìm triền miên trong
khổ nạn thì thử hỏi bậc làm thầy làm thế nào yên tâm
cho được?
Còn
như đệ tử phạm lỗi, bạn phải y theo giới luật xuất
tội cho đệ tử, đúng như pháp, như Luật, bảo đệ tử
sám hối cho được thanh tịnh. Nên biết: việc này không phải
dễ dàng vì cần phải thấu triệt ý nghĩa Luật Tạng mới
thực hành được.
Trong
luật Tát Bà Ða và Nhiếp Luận cũng nói: “Cần phải đầy
đủ mười hạ mới được đứng vào địa vị làm thầy.
Lại phải thành tựu năm pháp sau đây:
1.
Biết có phạm.
2.
Biết không phạm.
3.
Biết tội khinh.
4.
Biết tội trọng.
5.
Ðối với kinh biệt giải thoát (giới kinh) phải thấu hiểu
rõ nghĩa lý.
Ðối
với các học xứ (giới) chế, kiết, tùy, khai (Ðức Phật
tuy kiết giới nhưng tùy phương tiện mà khai mở), nếu gặp
nạn duyên cần phải khéo hiểu lý thông, tắc (khai, giá),
phải thường tụng giới bổn, có thể giải quyết sự nghi
ngờ cho người, có đầy đủ giới đức, kiến giải, đa
văn, có thể làm lợi mình, lợi người, oai nghi hạnh pháp
không chỗ trái phạm.
Ðầy
đủ những đức như thế mới được gọi là vị Thân Giáo
Sư. Và vị thầy ấy có thể đích thân đem pháp xuất ly dạy
bảo, dẫn dắt cho đệ tử, nên mệnh danh là Thân Giáo Sư”.
Nếu
không thực hành được như vậy, thì dù cho bạn đã thọ
giới Cụ Túc, nhưng vì đối với các học xứ không hiểu
rõ khinh, trọng, khai, giá, trì, phạm, và dù đã đủ mười
hạ, bạn cũng không được làm sư phạm cho người.
Ðến
như có đủ tới sáu mươi hạ, bạn cũng vẫn phải y chỉ
với bậc minh sư và phải suốt đời theo bậc minh sư học
tập giới luật. Dù rằng bậc minh sư ấy tuổi tác nhỏ hơn
bạn nhiều, thì trừ việc không phải đảnh lễ bực minh
sư ấy, ngoài ra, tất cả những việc khác đều phải theo
bổn phận của người đệ tử, thay thế cho bậc minh sư mà
làm mọi việc, không được cho mình lớn tuổi hơn mà bỏ
qua không làm.
Giới
này không phải Ðức Phật ngăn cấm tăng chúng tuyệt đối
không được làm sư phạm cho người, mà là chủ ý quở trách
những người không có trí huệ, không xứng đáng với tư
cách làm thầy người.
Phật
giáo ngày nay chẳng những hết sức lộn xộn, không phân biệt
lớn nhỏ, lại thêm ai cũng muốn lên địa vị làm thầy,
ai cũng không có tâm hổ thẹn khi làm thầy người mà không
đủ giới đức. Thậm chí còn tự cho mình là bậc thầy siêu
thắng hơn người trăm nghìn vạn ức bội lần. Vì thế, họ
xúm nhau tranh giành truyền trao giới pháp.
Nói
ra thì nghe cũng kỳ, nghĩa là đối với việc làm thầy, dường
như họ ham thích vô cùng, và cho rằng nếu không từng trải
qua giai đoạn làm thầy truyền trao giới pháp, thì họ không
có địa vị gì trong Phật giáo. Vì tranh nhau truyền giới,
nên ai cũng nói năng có vẻ đường hoàng lắm.
Có
người nói: “Tôi đây vì muốn dựng cao cây tràng giới pháp”.
Có vị lại nói: “Tôi đây muốn truyền pháp đăng của Phật”.
Tựa hồ dường như không có quý vị truyền trao giới phẩm,
thì pháp đăng của Như Lai sớm bị tắt mất rồi, và cây
tràng giới pháp sợ rằng cũng sớm ngã đổ rồi. Công đức
vĩ đại ấy biết dường nào?!
Thật
ra, việc làm ấy có ý kiến lập môn đình cho lớn rộng,
dựng cây tràng ngã mạn cao chọc trời, cho nên nói rằng người
này, người kia... là đệ tử thọ giới của tôi, hoặc người
nọ, người kia... không phải theo tôi thọ giới. Từ đó,
những môn phái khác biệt đua nhau phát sanh và cùng nhau cạnh
tranh nhân ngã.
Nên
trong bộ Phạm Võng Kinh Hợp Chú quyển 5 của Liên Tông Cửu
Tổ Trí Húc đại sư nói: “Thật đau thương cho thời mạt
pháp, điên đảo nhiều bề! Có người nương nơi danh từ
hóa độ chúng sanh, làm sư phạm cho người một cách sai lầm.
Không hiểu biết gì hết mà dối xưng là hiểu biết, kiến
lập môn đình cho cao rộng, tướng ngã mạn càng lẫy lừng.
Hoặc có người đối với việc học tập giới luật thì
biếng nhác, thối lùi, không chịu làm thầy. Hoặc có người
tự cho mình là thông Tông Giáo (Tông là thiền, Giáo là giáo
lý), xem rẻ Luật học, dựng tràng ngã mạn rất cao. Thấy
người trì luật, học giới, sanh tâm chê bai hủy báng, ham
thâu đồ chúng cho đông.
Ðến
khi truyền giới, chỉ truyền trao tên giới, tâm địa thì
mê muội, mặt dạn mày dầy không còn ai hơn những người
này! Lại có người lầm cho rằng Ðại Thừa là dung thông,
không câu chấp tiểu tiết, nên không cần học luật Tiểu
Thừa. Họ đâu biết rằng: Tiểu Thừa không bao gồm Ðại
Thừa, nhưng Ðại Thừa lại bao gồm cả Tiểu Thừa. Ví như
các giòng sông không thể chứa đựng biển cả, nhưng biển
cả lại dung nạp tất cả trăm sông. Do đó, nếu không học
cả Ðại Thừa lẫn Tiểu Thừa thì làm thế nào được gọi
là Bồ Tát tỳ kheo?”
Những
lời của Tổ trích dẫn bên trên có thể nói là những lời
khái thán cực độ! Chẳng những ngày nay như vậy mà thời
quá khứ cũng có những vị ưa thích làm sư phạm cho người
như thế. Vì vậy, chúng ta không lạ gì khi tình trạng Phật
giáo ngày một đi xuống, và trong tương lai càng không còn
gì để nói được. Thật không gì làm cho người đau lòng,
buốt óc hơn nữa!
Lại
còn những hiện tượng vô cùng quái lạ là các vị giới
sư đích thân đi khuyến rủ đồ chúng đến để truyền trao
giới pháp, chứ không phải do tâm chí thành, khẩn thiết cầu
giới pháp của đồ chúng.
Thậm
chí đôi khi định mở giới đàn, nhưng không thấy một giới
tử nào đến ghi tên thọ giới. Vị truyền giới bèn mau mau
xách dù đến các tự viện, am cốc, đối với các Phật tử
bất luận nam, nữ, có ý nguyện xuất gia hay không, đều vận
dụng mọi thủ đoạn. Một mặt khuyến hóa, một mặt lừa
gạt, thậm chí cưỡng ép cạo tóc, để đến giờ lên giới
đàn bẩm thọ giới pháp, hầu đạt được thể diện cho
mình. Vị chủ sự giới đàn tự đắc rêu rao là khai giới
đàn kỳ này rất long trọng, hàng giới tử được bao nhiêu...
lên trai đường thọ trai được mấy quả đường... Nhưng
với việc giáo giới và oai nghi như thế nào, nghĩa lý Phật
pháp phải giảng giải ra sao, giới pháp của giới tử bẩm
thọ phải tuyên giải cách nào v.v... những việc ấy hoàn
toàn không quan tâm, cũng không nghĩ đến bổn phận làm sư
phạm cho người. Chỉ cần biết kỳ mở giới đàn này, ban
thường trụ thâu được bao nhiêu, phần cúng dường riêng
mình được bao nhiêu. Có như vậy, tâm lý mới được thỏa
mãn.
Ðiều
này quả thiệt không sai. Ðang lúc cử hành giới đàn, khung
cảnh thật là náo nhiệt. Nhưng sau đó, các giới tử đã
thọ giới liền phân chia tứ tán, mạnh ai nấy đi Ðông, đi
Tây. Người nào cũng nói đã thọ đại giới rồi, nhưng nói
đến điều gì trong giới luật thì hoàn toàn không hiểu biết.
Những người hơi hiểu biết đôi chút, chỉ bình luận rằng
vị Pháp Sư truyền giới kỳ này như thế này, thế kia...
vậy thôi!
Riêng
các cô cậu xuất gia thọ giới kia, vì không phải do tự nội
tâm xuất phát, nên trải qua nếp sống xuất gia một thời
gian ngắn thì cảm thấy xuất gia không phải là việc như
vậy, rồi lăng xăng ai nấy đều ra đi mất hết. Chính khi
các vị chưa xuất gia thọ giới, còn qua lại lui tới chốn
đạo tràng Phật giáo, nhưng sau khi xuất gia thọ giới rồi
thì mất tung mất tích luôn. Vì các cô cậu tự thấy việc
xuất gia thọ giới không có ý nghĩa gì tốt cả.
Trong
giới Phật giáo hiện nay, hiện tượng này được thấy thật
rõ ràng. Thật tình tôi (Pháp Sư) không hiểu việc thích làm
sư phạm cho người rốt ráo là công đức hay tội lỗi? Là
hộ trì Phật pháp hay hủy diệt Phật pháp? Nam Mô A Di Ðà
Phật! Ðiều ấy không dám nói nhiều, chỉ có Tam Bảo chứng
minh cho!
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật
tử đã thọ giới Bồ Tát, vì nhiệm vụ thượng hoằng hạ
hóa (trên hoằng truyền chánh pháp, dưới hóa độ chúng sanh),
trước tiên phải học mười hai phần kinh” (bổn chữ Hán
là mười hai bộ kinh (1))
Nhưng
ở đây vì sợ quý đại sĩ tại gia kém giáo lý, nghe nói
tới mười hai bộ kinh thì lầm tưởng rằng chỉ có mười
hai bộ như:
1.
Kinh Di Ðà.
2.
Kinh Pháp Hoa v.v...
Hiểu
như vậy là hoàn toàn sai, nên Hòa Thượng dịch là “mười
hai phần kinh” tức là mười hai phần giáo; nghĩa là Tam Tạng
thánh giáo của Phật gồm tạng Kinh, tạng Luật, tạng Luận,
không biết bao nhiêu bộ, nhưng không ra ngoài mười hai phần
giáo, nghĩa là tất cả kinh chi làm mười hai loại.
Căn
cứ theo Ðại Trí Ðộ Luận, quyển thứ ba mươi ba của tổ
Long Thọ thuyết minh như sau:
“Tam
thừa đều học tập và cả Ðại Thừa, Tiểu Thừa đều
phải thọ trì. Vì thế, Luật dạy tỳ kheo phải thông hiểu
Tam Tạng thánh điển, giới lạp phải đủ mười hạ, mới
làm thầy người”.
Do
đó, có thể thấy việc làm sư phạm cho người không phải
là sự đơn giản. Nếu ai thật sự muốn truyền pháp độ
sanh, phải học tập 12 bộ kinh để làm cơ bản hóa độ chúng
sanh. Nếu không được như vậy thì không nên nói lan man: “Tôi
muốn làm thầy người".
Nếu
không thể thông Kinh tạng và Luận tạng thì ít nhất cũng
phải hiểu biết Luật tạng. “Phải thường tụng giới mỗi
ngày sáu thời, nghiêm trì Bồ Tát giới, hiểu rõ ý nghĩa
của lý tánh, Phật tánh của giới”. Có trí huệ thông đạt
kinh luật, cố nhiên đó là cơ bổn của việc truyền pháp
lợi sanh. Nhưng giới hạnh làm cho thân tâm thanh tịnh lại
càng là cơ bổn của đại sĩ nhập thế độ sanh.
Vì
thế, kinh dạy mỗi ngày phải sáu thời nghiêm trì Bồ Tát
giới. Sáu thời là ban ngày ba thời, ban đêm ba thời đều
phải trì tụng giới tạng.
Ðối
với giới luật không thể có một phút giây sanh tâm biếng
nhác. Thông thường, người tụng trì giới luật, lúc chưa
được thông lợi, rất dễ sanh tâm biếng nhác, thậm chí
còn quên mất tâm Bồ Ðề. Nếu muốn cho đọc tụng thuần
thục, thông lợi, phát sanh kiến giải, phải ngày đêm sáu
thời tinh tấn cần chuyên.
Nếu
thường trì tụng giới luật suốt thời gian lâu dài thì với
việc khai, giá, trì phạm mỗi mỗi đều có thể thông hiểu
rõ ràng, như Khuy Cơ đại sư là bậc thông suốt Tam Tạng.
Ðại sư đã khắc định mỗi ngày phải tụng một biến giới
kinh.
Nếu
thông hiểu những pháp khai, giá, trì, phạ của giới luật,
đương nhiên sẽ được phần trợ giúp rất nhiều cho giới
hạnh thanh tịnh của chính mình. Nhưng nếu không hiểu rõ
chỗ chỉ quy của giới hạnh, thì cũng không thể rốt ráo
đến quả vô thượng Bồ Ðề. Chỗ chỉ quy là điểm duy
nhất của sự trì giới, đưa đến những thắng lợi gì?
Tức giải thoát thành Phật vậy.
Cho
nên, tiến thêm một bậc nữa, kinh dạy cần phải hiểu rõ
ý nghĩa lý tánh, Phật tánh của giới. Về ý này, kinh Niết
Bàn đề cập theo lối liên hoàn như sau:
Phật
tánh: Ðệ Nhất Nghĩa Không,
Ðệ
Nhất Nghĩa Không gọi là Trung Ðạo.
Trung
Ðạo gọi là Phật tánh,
Phật
tánh gọi là Ðại Niết Bàn.
Thông
thường mà nói, Phật tánh chính là Giác tánh, là bổn giác
tự tánh sẵn có đầy đủ của tất cả chúng sanh. Có chỗ
gọi là bổn nguyên tự tánh thanh tịnh, tức là thể tánh
làm sở y cho vô tác giới thể (2), đồng thời là nương nơi
vô tác giới thể này, để làm chủng tử thành Phật. Cho
nên gọi là tánh của Phật tánh, đồng nghĩa với bổn nguyên
tự tánh, chủng tử của chư Phật.
Nếu
có thể hiểu thấu đáo nghĩa vị của đạo lý ấy thì thông
đạt được chỗ uẩn áo (sâu xa, mầu nhiệm) của Phật tánh.
Tự mình đối với các pháp ấy không một chút nghi hoặc,
như vậy mới có thể làm sư phạm cho hàng nhân thiên.
Nhưng
Bồ Tát lấy việc truyền pháp độ sanh làm trách nhiệm của
mình. Nếu không thể học rộng thánh giáo của Tam Tạng, hiểu
rõ mười hai bộ kinh, thông đạt giới luật của Bồ Tát,
thậm chí “không hiểu một kệ, một câu, cũng như nhân duyên
của giới luật”.
Những
hàng Bồ Tát sơ tâm, dĩ nhiên trí huệ rất nông cạn, không
được sâu sắc, cố nhiên, không thể hiểu biết tất cả
Phật pháp. Vì thế cứ thành thật, biết nói là biết, không
biết cứ nói không biết. Nếu có điều gì nghi ngờ không
hiểu, hãy tạm thời giữ đó, rồi tìm thầy cầu học cho
hiểu. Ðó không phải là một việc đáng xấu hổ và mất
thể diện.
Kinh
văn nói: “Một kệ, một câu” là ý nói chỗ hiểu biết
rất ít về Phật pháp. “Nhân duyên giới luật” là chỉ
rõ lý do Ðức Phật chế giới, những nguyên nhân trì giới,
phạm giới cũng thuộc về nhân duyên giới luật. Vấn đề
thọ giới như thế nào cũng có nhân, có duyên, và nhân duyên
cũng tùy theo mỗi giới mà có. Thông hiểu được các pháp
ấy mới có thể làm thầy cho người.
Kinh
này nói rõ: “Ðức Lô Xá Na truyền giới cho ngàn đức Phật
Thích Ca. Ngàn Ðức Phật Thích Ca truyền giới cho ngàn trăm
đức Phật Thích Ca. Ðầu tiên, ngài ngồi dưới cội cây
Bồ Ðề và Diệu Quang đường nói những pháp gì... Rồi tuần
tự đến cung của thiên vương nói pháp gì... Cho đến việc
từ nơi miệng Ðức Phật phóng quang, vì các quốc vương,
hoàng tử v.v... truyền trao giới pháp” đều là những nhân
duyên giới luật trong đây thuyết minh.
Nếu
không hiểu một kệ, một câu nào trong mười hai bộ kinh,
không hiểu được nhân duyên phát khởi trong tâm địa giới
của Bồ Tát. Như vậy, đối với phần tự lợi cũng không
đạt được, làm sao có thể làm sư phạm cho người? Hổ
thẹn còn không kịp huống chi nói dối là hiểu biết?
Một
kệ, một câu vừa mới nghe qua cảm thấy tựa hồ quá ít,
nhưng thật sự nó bao hàm tất cả pháp. Cho nên kinh Hoa Nghiêm
nói: “Biển pháp môn rộng lớn vô lượng vô biên, chỉ dùng
một lời có thể diễn nói được ý nghĩa cùng tận không
còn sót”.
Lại
như bài kệ:
Chư
hành vô thường,
Thị
sanh diệt pháp.
Sanh
diệt dĩ diệt,
Tịch
diệt vi lạc.
Trong
kinh thường nói những lời trong bài kệ mới xem qua rất đơn
giản, không có gì khó hiểu. Nhưng nếu thâm nhập, hiểu rõ
ý nghĩa chân thật của một câu trong bài kệ ấy thì có thể
thông đạt được tất cả các pháp.
Xưa
kia có một vị Hòa Thượng hiệu là Giải Thoát, công phu tu
trì của Ngài đã được tương ứng đến trình độ khá cao,
cảm được thần lực của chư Phật và chư Phật đã hiện
trong hư không nói bài kệ như sau:
Chư
Phật tịch diệt thậm thâm pháp,
Khoáng
kiếp tu hành kim nãi đắc,
Nhược
năng khai hiệu thử pháp nhãn,
Nhất
thiết chư Phật giai hoan hỷ.
Dịch:
Pháp
thậm thâm tịch diệt của chư Phật.
Tu
hành nhiều kiếp nay mới chứng đắc.
Nếu
ai hiểu rõ được pháp nhãn này,
Tất
cả chư Phật đều hoan hỷ.
Hòa
Thượng vừa nghe bài kệ xong, liền ngước mặt lên không
trung hỏi rằng: - Pháp tịch diệt thậm thâm vốn không thể
tuyên thuyết, nếu có thể tuyên thuyết thì có thể đem pháp
ấy dạy cho người được không?
Chư
Phật nghe Hòa Thượng hỏi như vậy, liền ẩn thân dùng âm
thanh đáp lại rằng:
Phương
tiện trí vi đăng,
Chiếu
kiến tâm cảnh giới,
Dục
cứu chân thật pháp
Nhứt
thiết vô sở kiến.
Dịch:
Trí
phương tiện là đèn,
Soi
thấy cảnh giới tâm.
Muốn
biết pháp chân thật.
Tất
cả đều không thấy.
Nếu
giải ngộ được bài kệ trên thì có thể liễu đạt ba tạng,
mười hai bộ kinh (Giải là hiểu rõ ý nghĩa văn tự, Ngộ
là thuộc về tỏ ngộ chơn lý).
Do
đó, có thể thấy một bài kệ, dù là một giọt nước pháp
trong bể cả chánh pháp của Như Lai, nhưng có thể bao hàm
nghĩa lý của vô lượng pháp môn. Vấn đề là ở chỗ chúng
ta có chân thật giải ngộ được hay không. Nếu chân thật
giải ngộ thì dù nếm một giọt, cũng biết được toàn vị
của bể cả chánh pháp.
Như
tôn giả Xá Lợi Phất nghe bài kệ pháp thân duyên khởi do
thầy tỳ kheo Mã Thắng tuyên thuyết:
Chư
pháp nhân duyên sanh,
Chư
pháp nhân duyên diệt,
Ngã
Phật đại sa môn,
Thường
tác như thị thuyết.
Dịch:
Các
pháp đều do nhân duyên sanh,
Các
pháp đều do nhân duyên diệt.
Ðức
Phật của ta đại sa môn.
Thường
nói những lời như thế ấy.
Nghe
xong, tôn giả tức khắc tỏ ngộ chơn lý và chứng Sơ Quả.
Ðây là sự thật, tất cả chư Phật đều biết rõ.
Lại
như tôn giả Châu Lợi Bàn Ðà Già, là một người dốt nát
phi thường, người anh lớn của tôn giả đã xuất gia học
đạo trước. Về sau, tôn giả mới xuất gia.
Anh
Ngài dạy Ngài bài kệ bốn câu, nhưng trải qua bốn tháng,
Ngài vẫn không đọc thuộc. Anh Ngài thấy thế, biết không
cách gì dạy được, bèn cho người đưa Ngài trở về nhà.
Vì chí nguyện xuất gia quá tha thiết, Ngài nhất định không
chịu về nhà, mà đứng ngoài cửa tịnh xá của Thế Tôn
rơi lệ buồn khóc.
Phật
dùng Phật nhãn quan sát nhân duyên của tôn giả trong vô lượng
kiếp trước, biết rõ tôn giả không phải là người mà hàng
Thanh Văn có thể độ được. Vì thế, Phật đích thân ra
ngoài cửa am an ủi và vận dụng thần lực chuyển biến nghiệp
chướng ám độn si mê của tôn giả. Kế đó, Phật nói bài
kệ như sau:
Nhất
tịch giả hoan hỷ,
Kiến
phi đắc an lạc,
Thế
vô sân tối lạc,
Bất
hại ư chúng sanh.
Thế
gian vô dục lạc,
Xuất
ly ư ái dục,
Nhược
điều phục ngã mạn,
Thị
vi đệ nhứt lạc.
Dịch:
Vào
cảnh tịch diệt rất vui mừng,
Thấy
được lỗi lầm mới an vui.
Trên
đời không sân là vui nhất.
Ðừng
làm tổn hại các chúng sanh.
Những
gì trong đời đừng ham muốn.
Thoát
ly ái dục là vui nhất.
Nếu
điều phục được tâm ngã mạn,
Là
vui thứ nhứt trên thế gian.
Nói
kệ trên rồi, Phật bảo tôn giả Ðà Già đọc tụng lại.
Chỉ trải qua thời gian thật ngắn, chẳng những ngài đọc
tụng thông lợi, lại được chứng quả A La Hán. Sau khi tôn
giả đã thành bậc Vô Học, một hôm chúng Tăng sai tôn giả
đi giáo giới bên ni chúng. Tôn giả vì ni chúng lược thuyết
pháp yếu, ni chúng nghe pháp đều chứng đắc thánh quả.
Lại
như Lục Tổ đại sư ở Trung Hoa, năm hai mươi bốn tuổi,
một ngày nọ, ngài gánh củi đến chợ bán. Lúc ấy có một
gia đình trong nhà có người qua đời, bèn kêu ngài đem củi
vào mua.
Khi
ấy, ngài nghe có người tụng kinh Kim Cang đến câu: “Ưng
vô sở trụ như sanh kỳ tâm”, ngài bỗng nhiên khế nhập,
ngay tức khắc thể ngộ Tâm tông. Sau ngài trở thành tổ sư,
một trong ba mươi ba vị tổ của Thiền Tông.
Do
đó, chúng ta thấy một bài kệ, một câu trong ấy nghĩa lý
không thể nghĩ bàn, đâu phải hàng sơ học mà có thể thấu
rõ được. Vì thế, một câu trong một bài kệ tuy rất đơn
giản, nhưng tuyệt đối không được xem thường. Chẳng những
một câu, một kệ trong kinh điển Ðại Thừa không được
xem thường mà ngay đến một câu, một kệ trong kinh điển
Tiểu Thừa cũng thế.
Như
kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Trong một câu có thể lưu xuất
ba mươi bảy phẩm trợ đạo và các pháp môn”.
Lại
như tổ Ca Diếp hỏi tổ A Nan rằng: - Thế nào là một bài
kệ?
Tổ
A Nan đáp:
Chư
ác mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành,
Tự
tịnh kỳ ý,
Thị
chư Phật giáo.
Dịch:
Ðừng
làm các điều ác,
Vâng
làm các điều lành,
Giữ
tâm cho thanh tịnh,
Chư
Phật dạy như thế.
Ðấy
gọi là một bài kệ, và bài kệ này đã nêu rõ toàn bộ
những gì cần dứt và những gì cần nên làm của Phật giáo
đồ. Nếu có thể nhận được chân nghĩa của bài kệ này,
tức đã thông đạt toàn bộ Phật pháp.
Trong
kinh Anh Lạc càng nói rõ ràng hơn nữa: “Dùng nghĩa của một
câu diễn nói ra vô lượng pháp tạng của chư Phật từ kiếp
này đến kiếp khác, cho đến trăm kiếp cũng không thể nào
rốt ráo cùng tận. Cho nên phải biết rằng pháp bí yếu của
Như Lai không thể nghĩ bàn, không phải hạng người tiểu
căn mà có thể xét lường cho cùng tột”.
Trong
Luật Sao, Ðức Phật dạy rằng: “Nếu có người nào chỉ
khéo hiểu được một chữ ấy, tức là vị Luật Sư. Một
chữ gì? Là chữ Luật vậy”.
Như
thế thì biết một chữ Luật này chính là tông chỉ của
Tỳ Ni. Nếu thể ngộ được tông chỉ, thì không pháp gì
chẳng thông đạt. Cho nên Luật là chỗ căn nguyên lưu xuất
muôn pháp. Thế nên đối với chữ Luật chớ nên xem thường.
Nghĩa
lý của kinh không thông, ý nghĩa của giới luật không rõ,
lý tánh không thông suốt. Trong Phật pháp, vấn đề tự lợi
hãy còn không làm được, lẽ ra phải sanh tâm hổ thẹn còn
không kịp, huống chi đã không biết mà còn nói dối rằng
thông hiểu. Ðó chính là dối gạt mình và cũng là dối gạt
người.
Chính
mình không hiểu biết chi, lại dùng nhiều cách khéo léo để
che đậy chỗ không hiểu của mình. Bên ngoài giả dối làm
ra người không việc gì không biết để lừa gạt người,
khiến họ không biết được chỗ dốt nát của mình. Tự
khoác lấy danh dự tốt đẹp là người tinh thông Tam Tạng,
làm mê muội tâm nguyên, mất hẳn lợi ích chân thật của
mình. Ðây không phải là tự dối gạt mình là gì?
Dùng
chỗ vô tri của mình dẫn dắt người đến chỗ lầm lạc,
khiến cho người cũng không được sự lợi ích thực sự
trong Phật pháp. Ðây không phải là dối gạt người là gì?
Trong
thì dối tự tâm, ngoài thì dối mọi người. Như thế cả
mình và người đều không lợi ích. Hạnh lưỡng lợi đều
bị mất thì thử hỏi làm sao tâm bạn thường được an nhẫn?
Vì thế bị tội ác rất nặng.
Tại
sao vậy?
Vì
sự thật, đối với mười hai bộ kinh, bạn mỗi mỗi đều
không thông hiểu, bổn Việt văn dịch là: “Không thông hiểu
một pháp”. Với các pháp khai, giá, trì, phạm trong giới
luật, bạn cũng hoàn toàn không biết (bổn Việt văn dịch
là: “Không biết một luật”). Ðã không hiểu, không biết
như thế, lẽ ra phải theo thầy học tập, sao trở lại dám
làm thầy truyền giới cho người?
Cho
nên kinh văn kết luận: “Lại đi làm thầy truyền giới cho
người, Phật tử này phạm khinh cấu tội”.
Tội
này xét bên ngoài thì thuộc về tội vọng ngữ, vì không
hiểu biết mà giả dối làm ra vẻ hiểu biết, đi làm thầy
truyền giới cho người, nên phạm tội khinh cấu.
Luận
sâu một bước nữa, vấn đề chẳng những cả hai thầy và
trò đều tự dối mình, dối người mà còn làm cho chánh pháp
của Như Lai bị đoạn tuyệt, không được lưu thông. Ðây
là tội diệt pháp rất nặng. Giới này đơn thuần là giá
tội, không thuộc về tánh tội. Chính mình thọ giới rồi
mà không chịu học là một tội. Hư vọng giả dối muốn
làm thầy người lại là thêm một tội nữa.
Theo
kinh luật là một vị sư chân chánh, truyền trao giới pháp
cho người không phải là việc dễ dàng. Như kinh Bảo Vân,
phải đầy đủ mười pháp như sau mới gọi là Luật Sư:
1.
Khéo hiểu chỗ duyên khởi của Tỳ Ni.
2.
Khéo thông hiểu chỗ thậm thâm của Tỳ Ni.
3.
Khéo thông hiểu sự vi tế của Tỳ Ni.
4.
Khéo thông hiểu Tỳ Ni đối với việc này thì được, nhưng
việc kia không được.
5.
Khéo thông hiểu giới trọng tánh tội của Tỳ Ni.
6.
Khéo thông hiểu giới trọng giá tội của Tỳ Ni.
7.
Khéo thông hiểu nhân duyên sanh khởi chế giới của Tỳ Ni
8.
Khéo thông hiểu Tỳ Ni của Thanh Văn.
9.
Khéo thông hiểu Tỳ Ni của Bích Chi Phật.
10.
Khéo thông hiểu Tỳ Ni của Bồ Tát.
Có
thể khéo thông hiểu Tỳ Ni như vậy thì làm Pháp Sư truyền
trao giới pháp cho người mới cảm thấy nội tâm không hổ
thẹn. Nhưng cứ xem các Pháp Sư đi truyền giới pháp các nơi
thì thấy rằng thời nay được bao nhiêu vị khéo thông hiểu
Tỳ Ni được đúng pháp?
Chẳng
những chúng ta không tìm được một vị Luật Sư như trong
kinh Bảo Vân dạy, mà ngay cả vị Luật Sư chỉ theo bổn truyền
giới sẵn có mà tuyên đọc khoa văn, cũng khó có được.
Như thế thì bảo sao Phật pháp khỏi bị suy đồi?!
Gần
đây, Hoằng Nhất Luật Sư thốt ra những lời rất đau lòng
về việc truyền trao giới pháp như sau: “Chúng ta sanh nhằm
thời mạt pháp này, giới tỳ kheo và sa di đều không thể
đắc giới. Nguyên nhân ấy rất nhiều, rất nhiều. Hôm nay
chỉ xin nêu lên một nguyên nhân là không một người nào
có thể truyền trao giới sa di và tỳ kheo. Vì khi thọ giới,
giới sa di phải có hai vị tỳ kheo truyền trao. Giới tỳ kheo
ít nhất phải do năm vị tỳ kheo truyền trao. Giả sử như
không tìm được tỳ kheo thì chẳng những giới tỳ kheo mà
cả giới sa di cũng không thành và không đắc giới.
Tôi
muốn nói một câu hết sức đau lòng cho quý vị rõ là: Từ
triều Nam Tống đến nay, cả sáu bảy trăm năm rồi, có thể
nói là Tăng chúng đã đoạn tuyệt. Những người thông thường
có thể thấy rằng tăng chúng tại Trung Hoa này rất đông,
nhiều đến mấy trăm vạn người. Nhưng sự thật mà nói
thì trong mấy trăm vạn người ấy, muốn tìm một vị tỳ
kheo chân chánh thật là việc không dễ dàng. Như thế làm
sao có thể truyền giới sa di và tỳ kheo? Ðã không có người
có khả năng truyền giới thì người thọ giới làm sao được
đắc giới?”
Ngài
Hoằng Nhất đại sư nói câu thương tâm trên, thật là ngài
mong muốn chánh pháp của Như Lai mãi được lưu truyền không
bị đoạn tuyệt, những vị nào muốn làm Pháp Sư truyền
trao giới pháp, cần phải đề cao cảnh giác; đối với những
lời nói trên cần phải có ý niệm đồng cảm, không nên
tùy tiện truyền trao giới pháp.
Lúc
trước, khi tôi còn ở Trung Hoa Lục Ðịa, có quen các bậc
cao tăng, đại đức, đã từng kêu gọi việc truyền trao giới
pháp ở Ðài Loan không được hỗn lạm. Vì ở Ðài Loan hoàn
cảnh đơn thuần, cần nên thận trọng, khi mở giới đàn
phải đúng pháp, đúng luật. Nhưng sự thật ở Ðài Loan,
các nơi mở đàn truyền giới đã biểu diễn rất nhiều tiết
mục, trái với giới luật còn hơn ở lục địa.
Do
bởi những người phát tâm mở giới đàn truyền giới thường
vốn không có tâm hộ trì chánh pháp của Như Lai, mà mục
đích duy nhất là muốn kiếm tiền lời. Các nhân sĩ không
biết được chân nghĩa của kinh luật, khi thấy mỗi năm đều
có mở giới đàn truyền giới náo nhiệt thì cho là hiện
tượng Phật giáo được hưng thạnh và cực lực tán dương.
Nhưng nếu nhìn sâu vào trong, chúng tôi thấy rằng sự truyền
giới hiện nay chẳng những không ích gì cho việc diên tục
huệ mạng của Phật pháp, lại còn có tác dụng không tốt
đối với ảnh hưởng của Phật giáo.
Thử
nhìn xem các giới tử trong một giới đàn, sau khi thọ giới,
ra khỏi giới đàn, mấy người xem trọng việc giữ gìn giới
luật? Chẳng qua chỉ là mở ra mấy đại công ty kinh sám,
phần nhiều đào tạo ra những nhân viên buôn bán để tùng
sự nghiệp vụ kinh sám và duy trì môn đình cho công ty kinh
sám.
Có
mấy ai nghĩ đến sanh tử sự đại của bản thân mình, và
mấy ai từng nghĩ đến việc duy trì Phật pháp như thế nào?!
Như thế không phải là một sự may mắn trong pháp môn, mà
chính là một điều bất hạnh lớn lao của pháp môn vậy!
Vì
thế, những vị muốn làm Pháp Sư chân chánh để truyền trao
giới pháp cho người, điều trọng yếu là phải thông hiểu
nghĩa lý của kinh điển và nhân duyên giới luật. Lại nữa,
chính bản thân mình giới hạnh phải trang nghiêm. Ðó cũng
là một vấn đề trọng yếu ở trong các điều trọng yếu
vậy.
Chú
thích:
(1)
Mười hai bộ kinh: Trong Ðại Trí Ðộ Luận, quyển ba mươi
ba của tổ Long Thọ giải thích như sau:
1.
Tu Ða La: Trung Hoa dịch là Khế Kinh, tức là loại văn trường
hàng trong các kinh, giảng nói ý nghĩa của các pháp. Khế Kinh
là kinh điển hợp chân lý của các pháp và khế hiệp căn
cơ của chúng sanh.
2.
Kỳ Dạ: Trung Hoa dịch là Ưng Tụng, cũng dịch là Trùng Tụng.
Ðúng ra phải gọi là Ứng Tụng. Nghĩa là ứng theo văn trường
hàng ở trước mà tuyên thuyết lại nghĩa lý và viết theo
thể văn tụng, tức là lối văn có số chữ và số câu đặt
theo quy định (tương tự văn vần).
3.
Dà Ðà: Trung Hoa dịch là Phúng Tụng, còn gọi là Cô Khởi
Tụng, tức là thuộc về văn kệ tụng, không theo lối văn
trường hàng, chỉ gồm những câu kệ tụng mà thôi, giống
như kinh Pháp Cú.
4.
Ni Ðà Na: Trung Hoa dịch là Nhân Duyên. Tức là nói những nhân
duyên được thấy Phật, được nghe pháp và những nhân duyên
Phật thuyết pháp giáo hóa, như trường hợp các phẩm Tựa
trong các kinh.
5.
Y Ðế Mục Ða: Trung Hoa dịch là Bổn Sự, nghĩa là kinh văn
trong đó Ðức Phật nói những nhân của các đệ tử trong
thời quá khứ, như phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự trong
kinh Pháp Hoa.
6.
La Ðà Dà: dịch là Bổn Sanh, chỉ những kinh văn Ðức Phật
nói về những nhân duyên trong thời quá khứ của ngài.
7.
A Phù Ðạt Ma: dịch theo lối mới là A Tỳ Ðạt Ma, Trung Hoa
dịch là Vị Tằng Hữu, tức là những kinh tuyên thuyết việc
Phật thị hiện các thứ thần thông và những sự việc không
thể nghĩ bàn.
7.
A Ba Ðà Na: Trung Hoa dịch là Thí Dụ, nghĩa là vì những chúng
sanh căn tánh ám độn, không thể hiểu rõ được những ý
nghĩa thậm thâm vi diệu nên Ðức Phật khéo léo vận dụng
những thí dụ để giúp chúng sanh hiểu rõ những ý nghĩa
đó. Như thế, trong các kinh chỗ nào nói thí dụ đều thuộc
về phần giáo trong loại này.
9.
Ưu Ba Ðà Xá: Trung Hoa dịch là Luận Nghị, là những kinh viết
theo lối vấn đáp để luận nghĩa.
10.
Ưu Ðà Na: Trung Hoa dịch là Vô Vấn Tự Thuyết. Gồm những
kinh không đợi người thỉnh cầu mà do Ðức Phật tự động
giảng nói, như trường hợp kinh A Di Ðà.
11.
Tỳ Phật Lược: Trung Hoa dịch là Phương Quảng, ý chỉ kinh
điển Ðại Thừa phương đẳng, nghĩa lý rộng lớn dường
như hư không.
12.
Hòa Ðà La: Trung Hoa dịch là Thọ Ký. Nghĩa là trường hợp
Ðức Phật thọ ký các vị Bồ Tát trong tương lai sẽ được
thành Phật.
Trong
mười hai bộ kinh trên:
Tu
Ða La, Kỳ Dạ, Dà Ðà thuộc về các thể tài trong kinh văn
(hình thức trình bày theo thể văn trong kinh). Còn chín loại
kia gồm những sự sai biệt từ trong kinh văn chép ra. Căn cứ
theo đó mà lập nên tên của 12 bộ kinh. Như thế, chúng ta
thấy rõ 12 bộ kinh tức là 12 thể loại, không phải mang ý
nghĩa số lượng là 12 bộ theo nghĩa thông thường.
(2)
Vô Tác Giới Thể: còn gọi là Vô Giáo, dịch theo lối mới
là Vô Biểu. Giới thể gồm hai loại:
1.
Tác giới: lúc ở tại giới đàn làm lễ thọ giới, ba nghiệp
Thân, Khẩu, Ý đúng theo Pháp và Luật mà tạo nên. Nghiệp
ấy có thể nghe thấy. trường hợp này khi những động tác
của thân, khẩu diệt rồi thì nó cũng diệt theo.
2
Vô tác giới: Nương theo duyên tác giới trong lúc này mà tạo
nghiệp và loại nghiệp này không thể nhận thấy ở trong
thân. Loại duyên nghiệp này khi mới phát sanh, dù do tác động
của ba nghiệp (tức tác giới), nhưng một khi đã phát sanh
rồi, thì không cần sự tạo tác của thân, khẩu, ý nữa
và chúng luôn luôn tương tục nên gọi là Vô Tác. Trường
hợp này trong một đời thường tương tục mà phát sanh công
năng ngăn ngừa lỗi lầm, dứt trừ tội ác. Giới thể này
dùng đối cảnh để ngăn chặn mọi việc sai quấy. Căn cứ
vào thể năng phòng mà lập nên Vô Tác giới, căn cứ vào
cảnh sở phòng mà phân biệt thành ra có tướng của 250 giới
v.v...
-
Thể năng phòng: chỉ giới thể có công dụng ngăn chặn tất
cả mọi tội ác.
-
Cảnh sở phòng: chỉ cho các giới tướng như Ðại Giới,
tỳ kheo, bốn pháp Ba La Di: Dâm, đạo, sát, vọng v.v... vì
phát sanh Vô Tác Giới cho nên phải thực hành tác giới.
