B.2.2.17.
Ỷ THẾ KHẤT CẦU GIỚI
(giới
cậy thế lực đi cầu pháp)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử tự vị ẩm thực, tiền tài...” cho
đến câu: “phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử tự mình vì việc ăn uống, tiền của, lợi dưỡng,
danh dự mà thân cận quốc vương, hoàng tử, cùng các quan,
nương quyền cậy thế, bức người để lấy tiền của, lại
bảo người khác cũng cầu lợi như vậy. Tất cả sự cầu
lợi ấy gọi là ác cầu, đa cầu, đều không có lòng từ
bi, lòng hiếu thuận. Phật tử này phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Khi
có người đến bạn cầu xin chánh pháp một cách hợp lý,
nhưng bạn lại nói một cách điên đảo, không đúng pháp,
thành tội hủy báng. Đó là thuộc phạm vi giới vừa giảng
ở trước. Còn giới này là vì mong cầu lợi dưỡng cho mình,
nương theo người có quyền thế mà ác cầu, đa cầu không
đúng pháp.
Là
một Phật tử đã thọ Bồ Tát giới, đáng lý ra mình phải
đem tất cả những vật sở hữu của mình, thậm chí hy sinh
cả sinh mạng của mình để cứu giúp kẻ khác, không hề
lẫn tiếc mảy may. Nhờ vậy, kẻ đó không cảm thấy lo sợ,
thiếu thốn về sự sinh sống. Như vậy mới đúng theo tinh
thần cần phải có của một vị Bồ Tát.
Nếu
hiện tại, chẳng những không thực hành như thế, lại còn
nương vào những kẻ có địa vị, thế lực, dùng thủ đoạn,
bạo lực mà cưỡng đoạt tài vật của người, thì không
xứng đáng chút nào đối với tư cách vị Bồ Tát. Sự thật
mà nói, những người thế gian thông thường nếu có đôi
chút khí khái, cương thường, còn không bao giờ dùng những
tài vật phi nghĩa, huống chi Bồ Tát lấy việc lợi tha làm
cơ bổn.
Bồ
Tát lấy sự từ bi tế độ chúng sanh làm bản hoài, cho nên
Ðức Phật từ bi thấy rõ việc nương quyền cậy thế này
hoàn toàn không phù hợp với tinh thần của Bồ Tát, nên Ngài
đặc biệt chế lập giới điều này. Dù giới này không phải
là giới trộm cắp, nhưng có thể nói mức độ ngang với
tội trộm cắp. Vì thế, đối với giới này phải hết sức
thận trọng lưu tâm.
Bồ
Tát nhiếp hóa chúng sanh, dù đôi khi không tránh khỏi sự
bắt buộc phải dùng các phương pháp chiết phục, nhưng mục
đích là vì cảm hóa người, hoàn toàn không có ý định khủng
bố, dọa nạt người. Hiện thời nếu nương thế lực của
người có địa vị, dùng các thủ đoạn cực lực khủng
bố và hách dịch với mọi người. Dù rằng người phải
miễn cưỡng khuất phục dưới thế lực của bạn, nhưng
họ không bao giờ tiếp thọ sự giáo hóa của bạn.
Nho
thư Trung Quốc có câu: “Dĩ lực phục nhân dã, phi tâm phục
chi dã” (dùng thế lực bắt người phục tùng, nhưng tâm
họ sẽ không thực sự phục tùng) là ý này vậy.
Khi
đã như thế, vị Bồ Tát chẳng những không thể hóa độ
chúng sanh mà trái lại làm cho tất cả chúng sanh phải lánh
xa. Bao nhiêu chúng sanh đáng độ đều mất hết thì đâu còn
xứng đáng được gọi là Bồ Tát?
Lại
nữa, nương nhờ cường lực để cầu xin tài vật của người,
chẳng những làm não hại người rất lớn, mà chính mình
cũng bị nhọc công sức vô cùng. Tại sao vậy?
Vì
tiền của, vật dụng không phải chìa tay ra là được liền,
mà phải vận dụng những thủ đoạn khác nhau, tận dụng
nhiều phương chước mới mong thu được chút ít. Vì tiền
của mà phải trường kỳ làm như thế thì bảo sao không mệt
nhọc! Thế nên, đối với việc làm này, chẳng những không
lợi ích cho người mà còn tổn hại cho chính mình. Cho nên,
một vị Bồ Tát phải đặc biệt lưu tâm vấn đề này.
Nương
cậy thế lực của người để khất cầu tài vật cho nhiều,
nhưng khi tiền của đã tích tụ nhiều rồi, thì thử hỏi
được lợi ích gì? Và có chắc rằng thọ dụng được nó
hay không?
Trong
kinh Ngũ Bách Vấn có kể một câu chuyện như sau:
Vào
thời quá khứ có một vị tỳ kheo thường đến nhà các Phật
tử khất cầu tiền của, và tích lũy được một số tiền
lớn. Vì vị tỳ kheo ấy không tu hành, lại cũng không chịu
vun bồi phước nghiệp. Nghĩa là không dùng tiền của ấy
để bố thí cho người. Sau khi mạng chung, do nghiệp lực chiêu
cảm, phải thọ ác báo làm một trái núi lạc đà bằng thịt.
Núi
ấy dài rộng đến vài mươi dặm. Gặp năm mất mùa đói
khát, nhân dân trong nước không có thức ăn, nên ngày ngày
họ xúm nhau đến núi Lạc Ðà cắt thịt mang về ăn. Nếu
thịt bị cắt hết, liền sanh ra thịt khác như cũ. Vì thế
dân trong nước ấy cắt ăn mãi không hết. Về sau người
ở nước khác thấy như vậy cũng đến núi ấy cắt thịt
ăn, thì bỗng nhiên quả núi bằng thịt cất tiếng la phản
đối.
Dân
chúng sợ hãi hỏi: - Vì sao lâu nay chúng tôi thấy dân chúng
ở nước này đến cắt thịt ăn không hề chi. Còn chúng tôi
làm như thế sao lại kêu la phản đối?
Núi
thịt đáp rằng: - Thời quá khứ, tôi vốn là người xuất
gia tu hành, vì tham lam tiền của, khất cầu của người quá
nhiều mà không chịu đem ra bố thí. Vì tôi thiếu nợ của
nhân dân trong quốc gia này, nay vì trả nợ mà cảm thọ quả
báo làm núi thịt này. Ðối với quý vị, tôi hoàn toàn không
thiếu nợ, nên không được đến đây cắt thịt của tôi.
Do
nhân duyên nói trên, Ðức Phật dạy quý tỳ kheo rằng: “Tham
lam là một họa hại rất lớn, người Phật tử tu học Phật
pháp cần phải xa lìa”.
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu một vị Phật tử đã
thọ Bồ Tát giới, trước khi làm bất cứ sự việc gì đều
phải suy xét kỹ là vì mình, vì đại chúng, hay vì Phật pháp?”
Nếu như vì việc ăn uống, tiền của, lợi dưỡng, danh dự
chính bản thân mình mà thân cận quốc vương, hoàng tử cùng
các quan thì không thể được.
Kinh
văn nói “vì mình” dù có rất nhiều thứ, nhưng thật ra
không ngoài danh dự và lợi dưỡng. Cầu danh, cầu lợi cho
chính mình, đó gọi là “vì mình”.
Trong
kinh văn nói “quốc vương, hoàng tử v.v...” là chỉ những
nhân vật có địa vị và thế lực. Ðức Phật dạy tỳ kheo
xuất gia không được thân cận với quốc vương, hoàng tử
v.v... là chỉ những vị nói trên. Tuy nhiên không phải hoàn
toàn cấm tuyệt, chẳng hạn những trường hợp hoàn toàn
không vì tâm vụ lợi mà chỉ vì chúng sanh, hay đạo pháp
mà quên mình.
Như
Nam Dương Trung là vị quốc sư, trải qua ba triều vua nhà Ðường
là Túc Tông, Ðại Tông và Ðức Tông đều được cả ba vị
vua này sùng phụng hết mức. Việc đó có gì là không được?
Lại
như trường hợp của quốc sư Trừng Quán Thanh Lương, là
người ở Hội Kê, sanh vào niên hiệu Khai Nguyên dưới triều
vua Huyền Tông nhà Ðường. Trải qua chín triều đại, Ngài
làm thầy cho bảy vị quốc vương và viên tịch vào niên hiệu
Khai Thành triều vua Văn Tông nhà Ðường.
Trường
hợp của ngài cũng không có gì là không được hợp đạo.
Vấn đề là ở chỗ bạn vì mong cầu danh lợi cho cá nhân
mình hay vì hộ trì Phật pháp mà thân cận người có thế
lực, địa vị. Nếu vì hộ trì Phật pháp, muốn cho Phật
pháp được lưu truyền, phổ biến đến mọi người trong
xã hội, mà bạn thân cận với quốc vương, hoàng tử, bá
quan thì sự kiện đó không thành vấn đề. Vì chẳng những
không gây ảnh hưởng tai hại nào mà còn đem sự lợi ích
cho Phật pháp và nhân sanh rất lớn.
Tại
sao vậy? Vì dân chúng phần lớn đều bắt chước người
bề trên, chủ yếu là quý vị quốc vương, thái tử , đại
thần v.v... Nếu các vị là người phụng hành Phật pháp thì
quần chúng ở dưới cũng tự nguyện cùng nhau tín phụng Phật
pháp. Nhưng muốn cho quốc vương, đại thần tín phụng Phật
pháp, cần phải có những bậc đại đức cao tăng thường
tiếp xúc, thân cận với quý vị ấy để giảng nói chân
lý Phật pháp và đem chính bản thân mình cảm hóa các vị
ấy. Thân cận với quốc vương, đại thần như thế thì có
lỗi gì đâu?
Giả
sử không thực hành như vậy, mà chỉ mong cầu danh lợi cho
riêng mình, thì chẳng những không lợi ích gì cho Phật pháp,
mà càng không ích lợi gì cho quần chúng. Trường hợp này
Ðức Phật hoàn toàn không chấp nhận.
Bản
thân mình vì mong cầu danh lợi mà thân cận quốc vương, đại
thần v.v... cốt để nương cậy quyền thế, sách nhiễu, đánh
đập, bức bách, kéo lôi, lấy ngang tiền của người khác.
Nương cậy những người có địa vị thế lực để ra oai
với những người không địa vị thế lực, khiến cho họ
phải miễn cưỡng đem tiền của nộp theo yêu sách của mình,
để tránh khỏi những sự rối ren không cần thiết.
Trong
xã hội hiện nay trường hợp này xảy ra rất nhiều. Những
kẻ muốn cướp ngang tiền của người khác, thường nương
thế lực của quan chức địa phương, để có thể tước
đoạt tiền của người khác một cách dễ dàng. Thông thường,
tâm lý người đời sở dĩ lo lót tiền bạc cho những người
có địa vị, chức tước, tựu trung nhằm vào hai nguyên nhân
chính:
1.
E ngại rằng nếu hiện tại không đút lót ít nhiều vàng
bạc cho các người có thế lực, có thể sau này sẽ bị họ
đàn áp, bức bách, hay bị những phiền phức khác. Chi bằng
hiện tại đem chút ít tiền của biếu tặng, để được
yên thân.
2.
Dự phòng khi có chuyện gì xảy ra, cần phải có sự giúp
đỡ của những người có thế lực, nên không ngần ngại
xuất trước một số tiền mang đến biếu tặng. Những kẻ
trục lợi nắm bắt tâm lý này của thế nhân nên bất cứ
lúc nào có việc cần quyên trợ, họ đều có sẵn danh sách
nêu rõ danh tánh những nhân vật có địa vị và thế lực.
Người
đời khi phải làm như vậy còn cho là việc bất đắc dĩ,
còn vị Bồ Tát lấy việc lợi sanh làm bổn hoài, mà cũng
hành động như vậy thì dứt khoát đây là việc làm hoàn
toàn không phù hợp với Phật pháp. Bạn thân cận với người
có địa vị, thế lực để mưu tính thu được tiền của
theo ý muốn thì không có gì đáng nói, nhưng nếu người ta
không bằng lòng đút lót cho bạn, bạn liền sanh ra các thủ
đoạn: hoặc dùng gậy, cây đánh đập làm cho người phải
bị đau đớn cùng tột; hoặc uy hiếp người khiến người
sợ sệt, hoặc dùng dây trói cột, lôi kéo, thị uy, bức bách,
khiến người phải mang tiền của ra dâng cho bạn. Hành động
đoạt tài vật của người không hợp tình lý như vậy, kinh
văn gọi là “lấy ngang tiền của người”, tức là lấy
của người một cách phi nghĩa.
Tóm
lại:
Dùng
những thủ đoạn không chính đáng, mưu tính đoạt lấy tiền
của người khác là điều mà Phật tử không nên làm, huống
chi là vị Bồ Tát lấy việc lợi tha làm chủ yếu?
Tất
cả sự cầu lợi bất hợp tùnh lý như vậy đều gọi là
ác cầu, đa cầu.
Thế
nào ác cầu? Là sống theo lối tà mạng.
Thế
nào là đa cầu? Là trong tâm không biết nhàm đủ.
Trong
Du Già Bồ Tát Giới Bổn nói: “Nếu chư Bồ Tát an trụ tịnh
giới luật nghi của Bồ Tát, mà có tâm ham muốn mãnh liệt,
đối với danh dự, tài lợi hoặc sự cung kính đều tham cầu,
không biết nhàm chán và biết đủ, sanh tâm nhiễm trước
không thể xả ly. Vì không biết tri túc, quá nhiều ham muốn,
ưa thích các thứ tài vật, gọi là tội ô nhiễm trái phạm”.
Nói
theo quan điểm Phật pháp: người nhiều mong cầu, nhiều ham
muốn thì có rất nhiều khổ não, không có gì đáng vui. Cho
nên trong kinh Di Giáo dạy: “Người nhiều ham muốn, mong được
nhiều tài lợi thì khổ não cũng nhiều”.
Trái
lại: “Nếu có người biết tri túc thiểu dục, tâm vẫn
thản nhiên, không lo gì”.
Chẳng
những nương người có thế lực để khất cầu tài vật
cho mình dứt khoát không được, mà luôn cả việc vì chúng
sanh khất cầu tài vật một cách phi pháp cũng nhất quyết
không được. Nhưng phải biết ở đây không phải nói là
không vì chúng sanh khất cầu tài vật trong mọi trường hợp,
mà ý muốn nói là phải khất cầu cho đúng pháp, và phải
xem người mình đến khất cầu tiền tài có đủ khả năng
cho hay không? Nếu người ấy có đủ khả năng, thì bạn nên
theo đúng pháp cầu xin, rồi đem bố thí cho những chúng sanh
không đầy đủ phương tiện cần dùng... Như thế thì không
có gì trái luật.
Hoặc
khi thấy chúng sanh bị đói khát, khổ sở, lòng từ bi của
bạn bị xúc động, bạn muốn đi cầu xin tài vật của người
để cứu giúp những chúng sanh bị đói khát, giúp họ thoát
khỏi sự đau khổ này. Ðấy là một đại thiện sự.
Nhưng
khi đến khất cầu, bạn phải dùng nhiều phương tiện thuyết
pháp để thuyết phục thí chủ, khiến họ bố thí với tâm
hoan hỷ rộng rãi. Như thế mới đúng là lòng chân thật vì
chúng sanh đói khát mà đi khất cầu.
Nếu
không thực hành đúng như vậy, trái lại dùng thủ đoạn,
oai quyền hách dịch, bắt buộc người phải đem tiền của
ra cứu giúp, điều đó nhất định không thể được.
Chẳng
những chính mình không được làm như vậy, mà ngay đến bảo
người khác khất cầu tài lợi như vậy cũng không được.
Theo kinh văn, có hai trường hợp về sự bảo người khác
cầu tài lợi:
1.
Bảo người khác thay thế mình nương cậy những người có
địa vị, thế lực đi khất cầu tài lợi. Chẳng hạn nói
với người đó rằng: “Bạn hãy vì tôi đến người ấy
khất cầu tài vật. Nếu người ấy ưng thuận thì thôi, bằng
ngược lại, bạn cứ nói là quốc vương, đại thần... sai
bạn đến khất cầu tài vật, nếu họ không sẵn lòng cấp
cho thì chắc chắn quốc vương, đại thần... sẽ có chỗ
bất mãn. Như thế sẽ gây nhiều bất lợi cho họ”
2.
Bảo người nương cậy những người có địa vị, thế lực
đi khất cầu tài vật cho họ. Như nói với người ấy rằng:
“Bạn đang cần tài vật chi, cứ đến người ấy mà khất
cầu. Tôi chắc người ấy sẽ sẵn lòng cấp cho bạn, vì
người ấy rất sợ những kẻ có địa vị, thế lực. Bạn
chỉ cần nêu danh kẻ thế lực ấy ra, tức thời người ấy
sẽ đưa ngay cho bạn”.
Nếu
người bị xúi biểu làm như vậy thật, thì đương nhiên
bạn không thể tránh khỏi tội lỗi. Nếu không có lòng từ
bi, lòng hiếu thuận mà nương cậy với những người có địa
vị, thế lực, bức bách khất cầu tài vật của người.
Ðó là những hành vi không bao giờ được có nơi vị Ðại
Sĩ, cho nên kinh văn kết thúc: “Phật tử này phạm khinh cấu
tội”.
Ðáng
lẽ Bồ Tát phải nhất tâm quán sát rằng tất cả chúng sanh
đồng như anh, chị, em, lục thân, quyến thuộc của mình,
cần phải tìm mọi phương cách giúp cho chúng sanh được đầy
đủ cơm ăn, áo mặc, sự sinh sống được yên vui, không lo
sợ cảnh thiếu thốn. Nhưng ngược lại, nếu Bồ Tát nương
cậy những người có thế lực, thị oai bức bách cướp đoạt
tài vật của chúng sanh về cho mình. Như thế thử hỏi tâm
từ bi của người Phật tử ở chỗ nào?
Thật
sự Bồ Tát nên nhứt tâm quán sát tất cả chúng sanh như
cha mẹ của mình, như sư trưởng của mình. Ðối với các
ngài, phải đem hết khả năng của mình để cung kính, cúng
dường và thành tâm hầu hạ, phụng thờ. Nhưng trái lại,
nếu nương cậy người có địa vị, thế lực để tước
đoạt lấy tài vật của các ngài, mang về để riêng mình
thọ dụng, khiến quý vị bần cùng khốn khổ, thậm chí,
khởi tâm oán hận cùng tột. Như vậy, thử hỏi tâm hiếu
thuận của người Phật tử ở chỗ nào? Nhất là vị Bồ
Tát xuất gia, sự sinh sống hằng ngày phải tùy duyên thọ
dụng, phải tuân thủ đúng theo pháp, theo luật, thực hiện
lối sống theo chánh mạng, đạm bạc và tri túc, chuyên lo
tu hành, không nên nương cậy vào quyền thế của các quốc
vương, đại thần khuyến hóa, quyên trợ.
Hoặc
dù không nương cậy oai lực của người khác, nhưng lại bức
bách người để lấy tài vật, hoặc dù không có tâm bức
bách người lấy tài vật, nhưng nương cậy oai lực của người
mà được tài vật, hoặc dù mình không được tài vật, nhưng
vì đã có tâm mong cầu tài vật như thế, nên không hợp pháp
và đều là những hành vi mà Bồ Tát không nên có.
Giới
này Ðại Thừa, Tiểu Thừa đều cấm, thất chúng Phật tử
đồng tuân giữ, không dành một biệt lệ khai mở cho bất
cứ trường hợp nào. Nhưng theo Du Già Bồ Tát Giới Bổn thì
giữa Ðại Thừa và Tiểu Thừa có điểm khác nhau:
Hành
giả Thanh Văn vì chí hướng chỉ lấy sự tự lợi, hạnh
cầu giải thoát làm mục đích, nên dù không phải hoàn toàn
không lợi tha, nhưng đó chỉ là tùy duyên, tùy phần đối
với việc lợi tha mà thôi, chứ không phát tâm lợi tha cứu
độ tất cả chúng sanh. Vì vậy, quý ngài đối với việc
lợi tha không hoạt động tích cực, chỉ an trụ hạnh vô
sự thanh tịnh và không hy vọng một điều gì.
Bồ
Tát trái lại, lấy hạnh lợi tha làm chủ đích, không được
an trụ nơi hạnh vô sự thanh tịnh, phải tích cực với việc
độ sanh, thấy chúng sanh thiếu thốn bất cứ thứ gì, nếu
mình sẵn có phải liền đem ra trợ giúp cho chúng sanh. Nếu
không sẵn có thì phải khuyến hóa những người tài nguyên
dồi dào, đem ra bố thí trợ giúp cho chúng sanh. Làm được
như thế mới thành tựu công đức vĩ đại và cũng làm tròn
bổn phận của một vị Bồ Tát.
