B.2.2.7.
BẤT VÃNG THÍNH PHÁP GIỚI
(giới
không đi nghe pháp)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử nhứt thiết xứ hữu giảng pháp Tỳ
Ni kinh luật...” cho đến câu “nhược bất chí thính thọ
tư vấn giả phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử, hàng tân học Bồ Tát, phàm nơi nào, chốn nào có
giảng kinh luật, phải mang kinh luật đến chỗ Pháp Sư để
nghe giảng và thưa hỏi. Hoặc nơi núi rừng, trong vườn cây,
chùa, nhà... tất cả những chỗ có thuyết pháp đều phải
đến nghe học. Nếu Phật tử không đến nơi ấy để nghe
pháp, cùng thưa hỏi thì phạm khinh cấu tội.
Lời
giảng:
Giới
“không cúng dường, thỉnh pháp” ở trước là nói về tội
Pháp Sư đến địa phương của mình mà không thỉnh pháp.
“Giới không đi nghe pháp” này nói về tội ở nơi khác
có thầy nói pháp mà không chịu đi nghe.
Vấn
đề nghe pháp đối với người Phật tử mới học Phật pháp,
nhất là hàng Bồ Tát sơ phát tâm vô cùng quan trọng. Vì Bồ
Tát sơ phát tâm đối với Sự và Lý trong Phật pháp, những
việc trì, phạm... của giới hạnh, tất cả đều không hiểu
rõ, nên thường phải mang kinh, luật đến các nơi tham học
để thành tựu đạo hạnh cho chính mình.
Hiện
tại, nếu bạn biết nơi nào có thầy giảng dạy kinh luật
mà không chịu đến nghe. Ðối với Phật lý đã mờ mịt,
việc trì phạm cũng không thông, thế mà bạn vẫn mặc kệ,
không cần biết. Suốt ngày chỉ dạo chơi các nơi để thưởng
ngoạn, tìm thú vui, không lo tu học, lám tổn hại giới hạnh
thanh tịnh, đi sai con đường tu hành, luống thọ dụng của
thí chủ thì tội lỗi biết chừng nào! Ðức Phật thấy như
thế nên đặc biệt chế định giới điều này.
Hành
giả Bồ Tát lấy vô thượng Bồ Ðề làm chỗ mong cầu, mà
vô thượng Bồ Ðề là lấy Trí Huệ làm gốc. Có trí huệ
thậm thâm vi diệu mới có thể phát sanh các pháp Ba La Mật.
Vì thế phải làm thế nào để có được một Trí Huệ chính
xác, cao siêu là một vấn đề vô cùng trọng yếu.
Nếu
làm một người hướng dẫn mà trí huệ tối tăm sẽ sanh
khởi những việc sai lầm, bất chính. Do đó, mọi người
bị sai lầm tất cả. Thật vô cùng nguy hiểm và tai hại!
Vì
thế, Tiểu Thừa xem trọng chánh kiến, Ðại Thừa xem trọng
Bát Nhã, nguyên nhân chính là vậy. Nên trong kinh có bài tụng
như sau:
Huệ
ư chư thiện hạnh,
Như
thuyền tiếp sở trì,
Bách
thiên manh thất lộ,
Do
nhất nhãn đắc tồn.
Dịch:
Trí
huệ đối với các thiện hạnh,
Cũng
như mái chèo giữ chiếc thuyền.
Trăm
ngàn người mù bị lạc đường,
Nhờ
người sáng mắt mà được sống.
Như
thế, chúng ta thấy trí huệ thật vô cùng trọng yếu, nhưng
tại sao trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ rằng:
Thí
như bần cùng nhân
Nhựt
dạ sổ tha bảo,
Tự
vô bán tiền phần,
Ða
văn diệc như thị.
Dịch:
Ví
như có người rất nghèo cùng,
Ngày
đêm đếm của báu cho người.
Tự
mình không có phân nửa tiền,
Những
kẻ đa văn cũng như vậy.
Như
thế việc nghe kinh, luật hoàn toàn không lợi ích chi, tại
sao lại phải đi nghe?
Câu
hỏi trên thật sai lầm vô cùng! Trong kinh sở dĩ nói: “Người
đa văn như kẻ đếm của báu cho người” ấy là Phật quở
trách nnhững người cho Ða Văn là rốt ráo, chỉ một mặt
chuyên nghe mà không biết quy y theo chỗ đã được nghe để
tu trì. Do đó, mới bị quở trách và ví như người nghèo
đếm của báu đã được cho người.
Nếu
từ Ða Văn mà được Văn Huệ, từ Văn Huệ mà tư duy, từ
tư duy mà tu tập, từ tu tập mà vô lậu trí huệ được khai
phát. Như thế là được Ðức Phật vô cùng tán thán và hứa
khả. Như trong kinh có bài kệ sau:
Thiết
mãn thế giới hỏa,
Tức
quá yếu văn pháp.
Niệm
đương thành Phật đạo,
Quảng
tế sanh tử lưu.
Dịch:
Giả
sử thế gian đầy lửa đỏ,
Muốn
nghe pháp phải đi qua.
Tự
nghĩ nghe được pháp thành Phật.
Khắp
độ chúng sanh thoát sanh tử.
Lại
nữa, trong kinh nói rằng: “Trong vòng trăm do tuần đầy lửa
dữ đang cháy phừng phừng. Nếu nơi ấy có người giảng
nói chánh pháp, cũng phải đi qua chỗ lửa dữ ấy, đến nơi
người nói pháp mà nghe pháp”.
Chúng
ta thấy rõ tính trọng yếu của việc nghe pháp đến mức
độ nào!
Ðức
Phật dạy đại chúng rằng: “Nếu là Phật tử thọ giới
Bồ Tát, ở tất cả chỗ, nghĩa là bất luận nơi nào, nếu
có Pháp Sư hoặc Luật Sư tuyên giảng pháp Tỳ Ni kinh luật,
hàng tân học Bồ Tát đều phải tìm cách đi nghe cho kỳ được.
Lại còn có những nơi do quốc vương, đại thần và các vị
đàn việt hộ pháp có thỉnh Pháp Sư giảng pháp, trong chốn
đại trạch xá (giới bổn Việt văn dịch là “nhà”), là
cung điện của vua, dinh thự của quan, nhà của các Phật tử
tại gia... Hàng tân học Bồ Tát không được một chút do
dự, mà phải mang kinh luật đến chỗ Pháp Sư nghe giảng và
thưa hỏi”.
Ở
đây nói pháp Tỳ Ni, kinh, luật theo nghĩa:
-
Pháp là chỉ cho Kinh Tạng đã biên tập, thông thường hợp
lại gọi là Pháp Tỳ Nại Da. Pháp là để thực hành theo
chân lý cùng đạo đức.
-
Tỳ Nại Da là trừ diệt những pháp hư vọng và trái đạo
đức (chỉ cho phiền não, ác nghiệp...) Về nội dung vốn
đồng nhất, nhưng về phương diện “hiển chánh trừ tà”
chia làm hai: Pháp và Tỳ Ni, chẳng phải Pháp, chẳng phải
Tỳ Ni. Danh từ tương đối này ở trong kinh, luật rất phổ
biến, hoàn toàn không mang nghĩa thực sự bất đồng, nên
kinh này gọi là “pháp Tỳ Ni kinh luật”.
Tỳ
Ni là tiếng Ấn Ðộ, Trung Hoa có chỗ dịch là Luật, có công
năng xử đoán các tội khinh, trọng của việc phạm giới
và phân định rõ thế nào là khai, giá, trì, phạm để chúng
ta giữ gìn giới hạnh một cách đúng đắn, nghiêm túc và
linh động giống như pháp luật trong thế gian luôn phải công
bằng xử đoán mọi việc.
Lại
có nơi dịch là Diệt, nói theo Ðại Thừa là có thể triệt
để diệt trừ tất cả phiền não. Nói theo Tiểu Thừa, hữu
lậu mộc xoa có thể diệt trừ bảy thứ tội ác của thân
khẩu nghiệp (thân có ba nghiệp, khẩu có bốn nghiệp). Nếu
căn cứ vào Ðịnh Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới (1) thì
có thể diệt trừ chín mươi tám sử (2). Lại có chỗ nói
tội ác của ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng ta như lửa
đương cháy rất mãnh liệt, chỉ có giới luật mới có thể
ngăn chặn, dập tắt, nên gọi là Diệt.
Lại
có chỗ dịch là Ðiều Phục, nghĩa là các học xứ (tức
là những chỗ nên học, cần học, tức là giới luật) có
công năng điều hòa ba nghiệp thân, khẩu, ý, hàng phục tất
cả nghiệp bất thiện, nên gọi là Ðiều Phục.
Có
người không biết pháp là kinh, Tỳ Ni là Luật, mà nói kinh,
luật đều gọi là Tỳ Ni thì thật là hoàn toàn không đúng
pháp. Trong kinh văn nói: “Tân học Bồ Tát" chỉ những Bồ
Tát sơ phát tâm, hàng đại sĩ mới thọ tâm địa giới pháp.
Vì các vị này thuộc về hàng tân học, học nghiệp chưa
thành tựu, không biết rõ sự khinh trọng của giới hạnh,
không biết rõ thế nào là Khai, Giá, Trì, Phạm, thế nào là
dụng công tu hành, thế nào là phương tiện độ sanh v.v...
Vì
thế, khi nghe có người giảng giải kinh, luật, phải mau chóng
đến nơi ấy học tập, để được hiểu rõ chính xác nội
dung trong kinh, luật, và để khỏi sa vào trường hợp kẻ
đui dắt người mù, không đến nỗi lầm lẫn cho phạm giới
là trì giới mà tạo ra nhiều việc phi pháp, phi luật.
Vì
muốn tránh khỏi sự sai lầm của tư tưởng và hành vi của
chính mình, hàng tân học Bồ Tát sơ phát tâm nếu biết nơi
nào có người giảng kinh luật, phải nhanh chóng mang kinh luật
đến nơi Pháp Sư, chuyên tâm nhất ý lắng nghe, lại phải
dùng tâm thức lãnh thọ giáo pháp. Nếu trong ấy có chỗ nào
không hiểu rõ thì nên cung kính thủ lễ đối với Pháp Sư
để thưa hỏi những điểm nghi ngờ trong tâm mình. Khi khối
nghi ngờ được băng tiêu, biết rõ sự tu học phải như vậy,
cần phải y theo đó tu trì để mong được ngộ nhập pháp
môn tâm địa Ðại Thừa.
Nếu
có chỗ giảng nói kinh - luật mà không chịu đi nghe thì thâm
tâm của bạn không được sự tươi nhuận của nước pháp,
hoặc đi nghe pháp mà không thưa hỏi những chỗ nghi ngờ trong
tâm, thì chủng tử Phật pháp trong thân tâm bạn sẽ không
được tăng trưởng.
Vì
muốn cho hàng tân học Bồ Tát biết trọng pháp, không thối
thất tâm đạo.
Vì
muốn sách lệ hàng tân học Bồ Tát tăng tiến trên đường
tu học.
Vì
muốn phòng ngừa hàng tân học Bồ Tát không tự sanh giải
đãi, kiêu mạn.
Nên
Phật dạy khi có chỗ nào thuyết pháp giảng luật, phải đi
nghe học, thưa hỏi. Nếu không, sẽ mất lợi ích không được
nghe đại pháp và sự tu hành sẽ không do nơi đâu mà thắng
tấn.
Chẳng
những trong chốn đại xá trạch như cung vua, dinh thự của
quan, nhà các đàn việt như trên đã nói, mỗi khi có Pháp
Sư giảng kinh - luật, hàng tân học Bồ Tát cần phải đi
nghe, mà ngay đến trong chốn núi rừng, dưới cội cây, trong
chùa tăng, những nơi tịch tịnh A Lan Nhã hoặc Tăng Già Lam,
chỗ của chúng tăng cư ngụ, nếu có Pháp Sư thuyết pháp,
đều phải đến nghe học. Nếu không đến những chỗ ấy
nghe học kinh - luật, thưa hỏi lý nghĩa, ban đầu chỉ có
lỗi biếng nhác, mạn pháp, nhưng về sau thì không tội ác
nào chẳng tạo nên. Cuối cùng kinh dạy: “Phật tử này phạm
khinh cấu tội”.
Nghe
pháp, học luật là có lợi ích cho bản thân mình mà không
chịu nghe học thì làm sao tránh khỏi trở thành một người
tội ác? Vì thế nên không tránh khỏi tội khinh cấu!
Vì
sao nghe kinh, học luật là sự kiện trọng yếu của hàng tân
học Bồ Tát như thế?
Nên
biết bể Phật pháp mênh mông, càng vào càng sâu. Nếu bạn
cứ ngồi yên bất động thì làm sao có thể thâm nhập Kinh
Tạng? Nên trong luận Du Già quyển tám mươi, giải thích chữ
“nghe” như sau:
“Nghe
là như thế nào? Là chính trong lúc Pháp Sư giảng nói chánh
pháp, người nghe pháp phải an trụ nơi chỗ của Pháp Sư,
chí thành cung kính, chuyên chú nghe pháp, nội tâm không điên
đảo”.
Phải
biết người nào có tâm chân thật cung kính nghe pháp, hiện
tiền được sự lợi ích an lạc như xa lìa tam ác đạo, được
sanh vào cảnh giới lành nhân thiên, và là nhân tương lai đến
Niết Bàn. Ðược ba sự lợi ích trên đều do lòng cung kính
nghe đại pháp, nên Du Già Luận có bài tụng:
Ða
văn năng tri pháp,
Ða
văn năng viễn ác.
Ða
văn xả vô nghĩa.
Ða
văn năng đắc Niết Bàn.
Dịch:
Ða
văn biết các pháp,
Ða
văn lìa ác đạo.
Ða
văn lìa bất lợi.
Ða
văn được Niết Bàn.
Căn
cứ chính nơi ý này có thể nói một cách quả quyết rằng:
Tất cả các công đức trong Phật pháp, không một công đức
nào thành tựu mà không phải do từ nghe pháp mà thu hoạch
được.
Vì
thế, tất cả các giới Phật tử đối với việc nghe kinh
- luật chớ nên khinh thường. Nếu tất cả các pháp đều
không được nghe, thì chẳng những pháp thậm thâm không hiểu
rõ, mà ngay cả những pháp thông thường như Tam Quy, Ngũ Giới,
Thập Thiện, Tam Bảo v.v... cũng đều không hiểu rõ.
Như
trường hợp Thiện Tài đồng tử mà đa số Phật tử đều
biết, vì cầu thiện tri thức để nghe đại pháp mà triển
chuyển đi qua phương Nam, trải qua một trăm mười thành để
tham phỏng với các đại thiện tri thức. Cuối cùng mới được
chứng đắc tâm yếu trong Phật pháp.
Nếu
Thiện Tài đồng tử đương thời bấy giờ cứ ngồi yên
bất động, sợ nhọc và làm biếng, thì thử hỏi làm sao
lọt vào được lâu các của đức Di Lặc Bồ Tát và việc
tham học làm sao được hoàn thành?
Thiện
Tài đồng tử ở tại Phước Thành, trong đó có một vị
trưởng giả có năm trăm đồng tử mà Thiện Tài là một
trong số đó.
Vì
sao đồng tử được đặt tên là Thiện Tài? Vì lúc đồng
tử mới sinh ra, có rất nhiều tài bảo quý lạ tự nhiên
ở dưới đất hiện ra. Ðó là do Thiện Tài đồng tử có
phước báo rất lớn.
Tại
sao Thiện Tài đồng tử có được phước báo rất lớn như
thế? Vì đồng tử đã chứa nhóm công đức lành nhiều đời,
cho nên cha mẹ ngài đặt hiệu là Thiện Tài.
Thời
bấy giờ, đức Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ngự bên
phía Ðông của Phước Thành, tại Trang Nghiêm Tràng An La Lâm
giảng nói chánh pháp. Ðồng tử đến chỗ Bồ Tát nghe pháp,
phát đại Bồ Ðề tâm. Sau khi phát đại tâm, đồng tử vâng
lời chỉ giáo của Bồ Tát Văn Thù, tiếp tục đi qua phương
Nam tham bái 53 vị thiện tri thức. Do đây, mà trong Phật giáo
thường nói là: “Thiện Tài đồng tử ngũ thập tam tham”.
Lần tham phỏng thứ 28 là tham học với đức Quán Thế Âm
Bồ Tát. Vì lần tham học đầu tiên là học với VănThù Sư
Lợi Bồ Tát. Và lần cuối cùng là học với đức Phổ Hiền
Bồ Tát, nên khi nói đại Bồ Tát độ Thiện Tài đồng tử,
trong kinh đều thường đề cập đến hai vị đại Bồ Tát
Văn Thù Sư Lợi và Ðại Hạnh Phổ Hiền vậy.
Lại
nữa, ở Trung Hoa vào triều nhà Ðường, có vị thiền sư
hiệu Ðại Tùy Pháp Chân, là bực danh đức đương thời.
Một
hôm, có vị tăng nhân đến thiền sư hỏi pháp rằng: - Ðến
khi kiếp hỏa rỗng cháy, thế giới hoại diệt thì cái ấy
cũng hoại hay là không?
Thiền
sư đơn giản đáp rằng: Hoại.
Tăng
nhân lại hỏi tiếp; - Theo lời ngài nói như vậy thì cái
ấy cũng tùy theo cái khác mà đi hay sao?
Thiền
sư lại đáp: - Tùy cái khác mà đi.
Tăng
nhân nghe như vậy, tâm có chỗ hoài nghi, bèn đi tầm thầy
tham phỏng. Trải qua các danh sơn và đại xuyên, Ngài cứ đi
mãi, đi mãi đến muôn dặm chỉ vì khối nghi tình ấy. Chư
cổ đức diễn tả sự tham phỏng của tăng nhân ấy bằng
hai câu thơ như sau:
Nhất
cú tùy tha ngữ,
Thiên
sơn tẩu nạp Tăng.
Dịch:
Một
câu tùy tha ngữ,
Nạp
Tăng đi nghìn non.
Chính
là diễn tả tinh thần cầu pháp nói trên.
Lại
như Triệu Châu thiền sư đến tám mươi tuổi mà vẫn còn
đi hành cước, chỉ vì nội tâm chưa tỏ ngộ. Như thế đủ
thấy tinh thần cầu pháp đến mức độ nào.
Hiện
nay những người tu hành học Phật pháp, các vị tám mươi
tuổi không thể hành cước là điều không nói, nhưng cả
các vị mới mười tám tuổi mà muốn các vị đi hành cước
thì các vị cũng không chịu đi. Thế nên, người đời nay
sánh với chư cổ đức ngày xưa khác nhau rất nhiều! Xem gương
các bậc cổ đức thời xưa, rồi nhìn lại những người
học Phật ngày nay, khiến cho tôi (Pháp Sư) không thể giữ
được nỗi buồn vô hạn!
Người
học Phật, mục đích chánh là vì cầu chánh pháp, mà chánh
pháp không cầu thì học Phật để làm gì? Xuất gia để làm
gì? Xin trả lời cho tôi nghe!
Thế
nên Tỉnh Am đại sư trong Khuyến Phát Bồ Ðề Tâm Văn, có
những lời than thở sau đây: “Có giáo pháp mà không có người
tu học, tà chánh không phân, phải quấy không biện biệt,
lại xúm nhau tranh nhân, ngã. Ai ai cũng đều theo đuổi lợi
danh. Ðưa mắt nhìn xem trong thiên hạ nhan nhản toàn là như
thế. Người tu học Phật mà không biết Phật là chi, pháp
là gì, tăng tên chi?! Suy tàn đến mức ấy thật là nguy ngập
không thể nói, nên mỗi khi nghĩ đến, bất giác lệ rơi!”
Hiện
tượng Phật giáo ngày nay đem so sánh với thời của Tỉnh
Am đại sư lại là giang hà nhật hạ. Những người có tâm
với Phật giáo trông thấy cảnh tượng thực tế này, khiến
nội tâm quá đau đớn, nên chẳng những đã ngậm ngùi rơi
lệ mà còn không nén được lòng phải bật tiếng khóc than!!!
(“Giang
hà nhật hạ” nghĩa đen là nước sông mỗi ngày một vơi
cạn, dùng hình ảnh này để dụ cho những việc suy bại ngày
càng trầm trọng, Thí dụ trên ám chỉ cho Phật giáo thời
của Tỉnh Am tổ sư - Liên tông thập tổ - dù đã suy bại,
nhưng so với Phật giáo hiện tại thì tình trạng suy bại
càng hơn nhiều. Tiến thêm một bước nữa, Phật giáo cách
đây chừng 20 năm, tức là lúc Diễn Bồi Pháp Sư giảng bộ
Bồ Tát Giới Bổn này, so với năm nay, 1983, thì hiện tượng
suy bại của Phật pháp không sao kể xiết. Theo đà tuột dốc
này thì những năm tiếp theo sau, sự suy bại không biết đến
mức độ nào!)
Có
chỗ giảng kinh thì phải đi nghe, đó là điều dĩ nhiên. Nhưng
nếu đường sá quá xa xôi thì có sự giới hạn hay không?
Trong
kinh Ðịa Trì không quy định việc đường sá xa gần mà chỉ
dạy là khi có chỗ nói kinh - luật phải thành tâm đi nghe.
Còn kinh Ưu Bà Tắc giới thì dạy: “Trong vòng một do tuần,
phải đi nghe; nếu xa hơn một do tuần, không đi nghe thì không
phạm tội”.
Vì
Phật tử tại gia việc thế tục quá đa đoan, không thể bỏ
gia đình mà đi nghe pháp ở chỗ quá xa. Trường hợp này không
phải có tâm mạn pháp khinh người, mà vì bị nhiều việc
ràng buộc nơi thân, nên không có thời giờ rảnh rỗi để
đi nghe pháp.
Còn
người xuất gia hoàn toàn không bận rộn việc thế tục nào,
nên phải lấy sự học tập chánh pháp làm chánh vụ. Nếu
vì sợ đường sá xa xôi, đi về cực nhọc, mà không chịu
đi nghe kinh - luật, đó chính là biếng nhác và có tâm mạn
pháp. Trường hợp này thì phạm tội không thể dung tha.
Hiện
nay, chẳng những chúng tăng không chịu đi nghe kinh. Dù được
ngồi trên xe để đi nghe pháp cũng không thấy hứng thú. Thậm
chí dùng máy ghi âm thu những lời Pháp Sư giảng thật tử
tế, đưa cho quý vị nghe, cũng không muốn nghe. Người xuất
gia học Phật mà đối với chánh pháp của Như Lai không kính
trọng như thế, thì tiền đồ của Phật pháp còn có hy vọng
gì?!
Vì
thế thật không lạ gì khi có người nói rằng: “Phật giáo
ngày nay không cần do bên ngoài làm hoại diệt, mà chính bên
trong nội bộ của Phật giáo sẽ trở về với luật đào
thải tự nhiên”.
Nhìn
Phật giáo hiện nay không sao tránh khỏi sự buồn đau rơi
lệ. Những thanh niên Phật tử thông thường không biết sự
trọng yếu của chánh pháp. Ðó là do sự không hiểu biết
của chính họ, thì còn có thể tha thứ. Còn đối với những
vị lãnh đạo trong Phật giáo mà xem thường sự hoằng truyền
của chánh pháp, thậm chí thấy người khác hoằng truyền
đạo pháp lại cố ý làm trở ngại, khiến cho những người
có tâm cầu chánh pháp không có cơ hội được nghe Phật pháp.
Ðây mới là kẻ tội ác rất lớn trong Phật pháp, không thể
trốn chạy được.
Trong
Du Già Bồ Tát Giới Bổn có nói: “Bồ Tát an trụ nơi giới
pháp cần phải tinh cần huân tập đa văn, để mong được
hiểu rõ những nghĩa lý thậm thâm của Ðại Thừa. Cho nên
nếu nghe nơi nào có Pháp Sư giảng nói chánh pháp, hoặc biện
luận nghĩa lý thậm thâm, hoặc biện biệt những đạo lý
phải, trái, chánh, tà, Bồ Tát đều phải đúng như pháp,
đến nghe học để huân tập và tăng trưởng văn huệ cho
mình. Như thế mới là vị Bồ Tát an trụ nơi giới pháp”.
Nếu
bị phiền não, kiêu mạn chiết phục, tự cho mình là người
rất thông đạt, hoặc đối với pháp sư có tâm giận ghét
mà không chịu đúng như pháp đi nghe pháp để học hỏi thì
đối với giới này có chỗ nhiễm ô trái phạm.
Nếu
không phải bị tâm kiêu mạn, chiết phục, hoặc tâm giận
ghét pháp sư, mà chỉ do tánh biếng nhác, giải đãi kéo níu,
không chịu đi nghe pháp, học kinh - luật, chỉ phạm tội nhẹ,
không phạm tội nhiễm ô trái phạm, vì không có phiền não
xen lẫn bên trong.
Tội
lỗi không đi nghe pháp là như vậy. Nhưng có trường hợp
nào đặc biệt cho phép không đi nghe pháp hay không?
Có!
trường hợp bạn vì tuổi già sức yếu, lại nhiều tật
bệnh, hoặc chân yếu đuối, hoặc phần giáo pháp được
giảng bạn đã từng nghe rồi, hoặc bạn là bậc đại trí
huệ biện tài, hoặc trong lúc bạn chuyên lo tu tập, hoặc
vì Pháp Sư nói giảng pháp ngoại đạo... Trong những trường
hợp như thế, nếu không đi nghe, học, thưa hỏi thì bạn
không trái phạm giới Bồ Tát.
Ðặc
biệt trong trường hợp người thuyết pháp giảng những giáo
lý ngoại đạo thì không được đi nghe. Nếu đi nghe thì khi
gặp những lúc kẻ thuyết pháp có những lời quan hệ với
ngoại đạo, phải lập tức bỏ đi, không nên ngồi tiếp
tục nghe giảng.
Kinh
Phật Tạng có dạy như sau: “Nếu tỳ kheo thuyết pháp có
xen lẫn nghĩa lý ngoại đạo trong thời giảng pháp. Là một
bậc tỳ kheo hiền thiện, thành tâm cầu đạo pháp, phải
lập tức rời khỏi chỗ ngồi bỏ đi nơi khác. Nếu không
bỏ đi thì không phải là tỳ kheo hiền thiện, cũng không
thể gọi là người tùy thuận lời Phật dạy”.
Kết
thành tội nghiệp của Bất Vãng Thính Pháp Giới này phải
hội đủ bốn duyên sau:
1.
Giảng kinh - luật: thật sự có Pháp Sư ở đấy giảng kinh,
Luật Sư giảng giới luật.
2.
Tưởng là giảng kinh - luật: trường hợp mình biết rõ ràng
nơi ấy có người giảng kinh, giảng luật. Nếu hành giả
Bồ Tát không hay biết, cũng không nghe ai nói, nên không đi
nghe giảng thì không phạm tội.
3.
Có tâm không muốn đi: Ðây là nguyên nhân chủ yếu để kết
thành tội không đi nghe pháp. Nếu do tâm sân hận, kiêu mạn,
mà không đi nghe kinh - luật thì bị liệt vào tội nhiễm ô
phạm.
(Lưu
ý: Nhiễm ô phạm hay nhiễm ô khởi là do phiền não sai khiến.
Trường hợp không phải do phiền não sai khiến là không phải
tội nhiễm ô phạm, đó chỉ vì tính biếng nhác mà thôi.
Tuy nhiên, phải biết rằng tính biếng nhác cũng là một thứ
tùy phiền não tâm sở, một trong hai mươi thứ tâm sở. Ở
đây nói “chẳng phải nhiễm ô” là vì tâm sở tùy phiền
não này thuộc về tội nhẹ, chứ không phải như căn bổn
phiền não như sân hận. Vì thế, so sánh với căn bổn phiền
não mà nói thì là chẳng phải nhiễm ô, nhưng thật sự phiền
não giải đãi cũng là một thứ nhiễm ô)
4.
Không đi nghe: do có tâm không chịu đi nghe nên nhất quyết
không đi. Một ngày không đi nghe pháp thì bị kết tội một
ngày. Tùy theo số ngày không đi nghe pháp mà kết tội, không
thể dung thứ. Vì sự nghe pháp này quan hệ mật thiết đến
tiền đồ tu học Phật pháp của bạn rất lớn lao vậy.
Chú
thích:
1.
Ðịnh Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới:
Ðịnh
Cộng Giới là một trong ba thứ giới, còn gọi là Tịnh Lự
Sanh Luật Nghi; nghĩa là lúc nhập các pháp Thiền Ðịnh ở
Sơ Thiền và Nhị Thiền v.v... thì giới thể cùng Thiền Ðịnh
đồng sanh, nên tự nhiên có công năng ngăn dứt mọi lỗi
lầm và tội ác, nên hai nghiệp thân, khẩu hoàn toàn khế
hợp với Luật Nghi nên gọi là Tịnh Lự Luật Nghi. Vì Tịnh
Lự tức là Ðịnh.
Ðạo
Cộng Giới là do các bậc thánh nhân trong Tam Thừa khi nhập
Vô Lậu Ðịnh ở Sắc giới mà phát sanh. Tức là giới thể
cùng với vô lậu trí huệ ở trong thân tự nhiên phát sanh
công năng ngăn dứt lỗi lầm và tội ác. Ðạo Cộng Giới
còn gọi là Vô Lậu Luật Nghi vì thuộc về Luật Nghi Vô Lậu,
cùng với Vô Lậu đồng sanh và đồng diệt.
2.
Chín mươi tám sử: còn gọi là chín mươi tám tùy miên. Hai
danh từ này là biệt danh của phiền não.
Tại
sao gọi là Sử? Tại sao gọi là Tùy Miên?
Sử
nghĩa là sai khiến, nghĩa là phiền não sai khiến chúng sanh
tạo ác nghiệp để phải chịu khổ quả. Có chỗ gọi là
Kiết Sử vì Kiết là trói cột, tức là chúng sanh bị phiền
não sai khiến tạo tội ác, rồi lại bị khổ quả như tội
nhân do tạo tội mà bị hành phạt.
Tùy
Miên: chữ Tùy nghĩa là theo. Miên là ngủ. Nghĩa là phiền
não luôn luôn theo bên mình, không rời một bước nên gọi
là Tùy. Những phiền não ấy rất u vi, khó nhận biết, thường
ẩn núp trong nội tâm, cũng như người nằm ngủ không hay
biết gì cả nên gọi là Miên. Chín mươi tám sử này lấy
Thập Sử làm căn bản. Thập Sử: tham, sân, si, mạn, nghi,
thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ.
Trong
10 sử lại chia ra làm hai loại:
-
Năm thứ trước gọi là ngũ độn sử.
-
Năm thứ sau gọi là ngũ lợi sử.
Nơi
mười sử này phối hợp với tam giới thì cõi Dục Giới
có có ba mươi sáu thứ, Sắc Giới có ba mươi mốt thứ, và
Vô Sắc Giới có ba mươi mốt thứ. Tổng cộng ba cõi có chín
mươi tám sử. Ở đây chỉ nói sơ lược, muốn biết rõ phải
xem các bộ luận A Tỳ Ðạt Ma Phát Trí quyển năm, Ðại Tỳ
Bà Sa quyển bốn mươi sáu, Câu Xá Luận quyển mười chín...
