B.2.2.6.
BẤT CUNG CẤP THỈNH PHÁP GIỚI
(Giới
không cúng dường và cung thỉnh pháp)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử kiến Ðại Thừa pháp sư..” cho đến
câu “nhược bất nhĩ giả, phạm khinh cấu tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử thấy vị Pháp Sư Ðại Thừa hay những bậc đồng
học, đồng kiến, đồng hạnh Ðại Thừa, từ trăm nghìn
dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành ấp, phải liền
đứng dậy rước vào, đưa đi, lễ bái, cúng dường. Mỗi
ngày ba thời cúng dường trăm thứ uống ăn, giường ghế,
thuốc men, tất cả đồ cần dùng đáng giá ba lượng vàng
đều phải cấp hộ cho Pháp Sư. Mỗi ngày: sáng, trưa, chiều
thường thỉnh Pháp Sư thuyết pháp và đảnh lễ, không hề
có lòng sân hận, buồn rầu, luôn thỉnh Pháp Sư không hề
nhàm chán, chỉ trọng pháp, chớ không kể đến thân mình.
Nếu Phật tử không thực hành như thế thời phạm khinh cấu
tội.
Lời
giảng:
Giới
“không kính thầy bạn” thứ nhất trong bốn mươi tám giới
khinh chỉ giảng qua sự kính trọng thầy bạn phải như thế
nào. Giới này giảng về bổn phận đối với thầy, bạn
thuộc hạnh Ðại Thừa. Chư vị từ nơi xa đến chỗ mình,
chẳng những phải hết lòng cung kính tôn trọng, lại còn
phải thỉnh cầu thầy, bạn giảng nói chánh pháp, đồng thời
phải cung cấp, cúng dường cho tròn bổn phận. Thế nên Như
Lai mới chế định giới này.
Trong
kinh thường dạy: “Thầy của chư Phật chính là Pháp Bảo
vậy”. Vì thế, chư Phật thường cúng dường Pháp Bảo,
tôn trọng Pháp Bảo, tán thán Pháp Bảo. Do đó, chẳng những
hàng Bồ Tát sơ cơ phải phát tâm tôn trọng Pháp Bảo mà
ngay đến chư Như Lai cũng đều tôn trọng Pháp Bảo. Tại
sao vậy?
Phải
biết rằng: một người có Pháp Bảo là một người đáng
tôn trọng và đáng được mọi người kính ngưỡng. Vì theo
tinh thần kính người trọng pháp, thì Bồ Tát đáng lý phải
cúng dường thầy - bạn, thỉnh thầy - bạn tuyên thuyết chánh
pháp để khai thị, dẫn dắt cho mình mới có thể thường
được cận kề chánh pháp, và được sự lợi ích thù thắng
của chánh pháp. Nếu không thỉnh thầy - bạn nói chánh pháp
thì mình bị mất hẳn cơ hội nghe chánh pháp. Do đó, sẽ
bị chướng ngại cho sự tăng trưởng trí huệ.
Cho
nên, trong bất cứ trường hợp nào, nếu không thỉnh thầy
- bạn thuyết pháp thì tự mình sẽ hoàn toàn bị bất lợi.
Vì thế, hành giả tu học Bồ Tát đạo, bất cứ nơi nào
và lúc nào, hễ thấy bậc Pháp Sư Ðại Thừa đến, phải
sắm sửa hương hoa và các đồ cúng dường để cúng dường
Pháp Sư như cúng dường chư Phật, thỉnh cầu Pháp Sư giảng
nói chánh pháp để tự mình được lợi ích và khiến đạo
pháp được lưu thông, huệ mạng không đoạn tuyệt. Nếu
không đúng pháp cúng dường để thỉnh pháp, thì bạn là
một vị Bồ Tát xan tham, ngã mạn, một hột giống bị hư,
hay một mầm cây khô, có sự tổn thấr rất lớn. Vì thế,
Ðức Phật đặc biệt chế định giới này.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu làm một Phật
tử, thọ giới Bồ Tát, khi thấy có bậc Pháp Sư Ðại Thừa
đi đến, hoặc thấy những vị thiện hữu, đồng học, đồng
kiến, đồng hạnh Ðại Thừa đi đến, phải đúng pháp tiếp
đãi và thỉnh cầu thuyết pháp”.
Thầy
- bạn có vài hạng loại khác nhau: thầy bạn căn bản, thầy
bạn nhân duyên, thầy bạn ở tất cả các nơi. Ở đây, là
nói thầy bạn nhân duyên vì có đến rồi đi.
Pháp
Sư Ðại Thừa không giống Pháp Sư Tiểu Thừa:
-
Pháp Sư Tiểu Thừa chỉ lo tu tập thiện pháp cho bản thân
mình, tu hành chỉ mong giải thoát cho cá nhân mình, nên đối
với việc giảng kinh, thuyết pháp, lợi ích chúng sanh không
ưa thích lắm.
-
Pháp Sư Ðại Thừa thực hành công hạnh tự lợi, lợi tha,
có tín giải rộng lớn, phát đạo tâm rộng lớn, thú hướng
đạo quả rộng lớn, bi trí song vận. Pháp Sư là bậc thông
đạt, thấu triệt kinh luận, pháp tánh, pháp tướng trong Ðại
Thừa Phật pháp, nên đem ra giáo hóa dẫn dắt mọi tầng lớp
chúng sanh, mong cho mọi chúng sanh đều hiểu rõ Ðại Thừa
Phật pháp, và cuối cùng làm cho tất cả chúng sanh đều thú
hướng về Phật Quả.
Bạn
đồng học Ðại Thừa là những người cùng học một thầy,
cùng bẩm thọ Ðại Thừa Tâm Ðịa giới, cùng học tập giới
pháp Ðại Thừa và các hạnh môn trong Phật pháp.
Bạn
đồng kiến Ðại Thừa là chỉ người đồng bẩm thọ thật
tướng tâm địa giới pháp rốt ráo, chỗ kiến giải đồng
với giới pháp tu học, tư tưởng cũng giống nhau.
Bạn
đồng hạnh Ðại Thừa, chỉ những người tu theo phạm hạnh
thanh tịnh, đồng thọ Bồ Tát tâm địa đại giới. Có chỗ
nói đồng hạnh Ðại Thừa là đồng tu học theo pháp môn
Ðại Thừa, đồng hiểu rõ tư tưởng lý luận Ðại Thừa,
đồng thực hành hạnh từ tế Ðại Thừa, nên gọi là đồng
hạnh Ðại Thừa.
Trong
lúc tiến tu theo con đường lớn của Phật pháp, những bậc
thiện hữu như thế không thể thiếu được. Vì chẳng những
các thiện hữu đồng hạnh có thể khích lệ, sách tấn lẫn
nhau để không bị thoái chuyển trong sự tu hành, lại còn
có cơ hội đem chỗ học hỏi, chỗ kinh nghiệm tu hành, chỗ
kiến giải mà trao đổi nhau, để tự mình kiểm thảo xem
có chỗ sai lầm nào hay không?
Thầy
- bạn trong Ðại Thừa có lợi ích cho chúng ta như thế, nên
dù ở xa hay gần, khi các ngài đi đến “tăng phường”,
nơi chúng xuất gia cư ngụ, hoặc “nhà cửa” của Bồ Tát
tại gia, hay “thành ấp” là chỗ ngự của vua, quan v.v...
Bất cứ các ngài là những vị từ “trăm dặm” hay “nghìn
dặm” mà đến. Các ngài khi đến nơi nào, không phải là
không có nhân duyên hay nguyên nhân, mà là các ngài vì thực
hành Vô Duyên Từ mà đến, hoặc vì hoằng dương giáo pháp
Ðại Thừa nên không nệ đường xa nghìn dặm mà đến, để
truyền trao, dẫn dắt cho chúng ta.
Vì
thế, vị Bồ Tát làm chủ tại địa phương, phải đúng như
pháp, đứng dậy biểu lộ lễ độ, kính trọng, không được
có chút chần chừ, do dự, cho nên trong kinh dạy: “Liền đứng
dậy, rước vào, đưa đi”.
Rước
vào là tỏ ý vui mừng lúc thầy - bạn mới đến. Ðưa đi
là tỏ tâm hân hoan hỷ tiễn đưa lúc thầy - bạn ra về.
Không nên cho rằng: “Mấy ổng đến thì đến, mấy ổng
đi thì đi, không quan hệ gì đến mình”, nên không một chút
nào thể hiện sự lễ độ. Ðối với những người thông
thường, khi đối xử với nhau còn phải giữ lễ độ, huống
chi thầy - bạn trong đạo Bồ Ðề mà lại không gìn giữ
lễ độ hay sao?
Kinh
văn dùng chữ “trăm dặm, nghìn dặm” là tượng trưng cho
những lộ trình thật xa xôi mà thầy - bạn không ngại vất
vả để đến chỗ mình. Vì vậy, khi thấy thầy - bạn đến
phải đứng dậy tiếp rước, cúng dường, tiễn đưa.
Chư
đại đức ngày xưa thường nói:
“Thầy
- bạn từ xa xôi đến còn phải đúng pháp tiếp rước, cúng
dường, thỉnh pháp và tiễn đưa. Huống chi thầy - bạn ở
gần mà đến”. Vì lễ nghi quy định khi gặp nhau phải thực
hành như vậy, không nên giống với người thế tục, ỷ lại
sự quen biết nhiều nên không câu chấp lễ độ.
Vì
thầy - bạn ở gần chừng nào, chúng ta càng có nhiều nhân
duyên cơ hội để cầu pháp, nên không được thờ ơ, lơ
là. Cho nên đối với thầy - bạn ở gần thế nào chăng nữa,
cũng phải tiếp rước, đưa đi, cùng sắm các thứ ăn uống
để cúng dường thật đầy đủ.
Ngoài
sự tiếp rước, đưa tiễn, còn phải hết lòng cung kính,
lễ bái đối với thầy bạn để tỏ lòng tha thiết, tôn
trọng Pháp Bảo, không được không cung kính người thuyết
pháp.
Lúc
thầy - bạn trụ lại để hoằng truyền đạo pháp, bổn phận
vị Bồ Tát làm chủ, ngoài việc lễ bái, cần phải đúng
pháp cúng dường, để biểu lộ tâm thành kính hậu đãi đối
với sư hữu, không được làm phơn phớt bên ngoài, quấy
quá cho xong chuyện.
Mỗi
ngày ba thời cúng dường là nói sự phải theo giờ giấc mà
dâng cúng các thứ uống, ăn không được sai lệch.
Về
giờ giấc, có hai lối giải thích:
1.
Có nơi cho rằng có hai thời: Thời trước lúc mặt trời mọc,
cúng dường bữa điểm tâm và thời sau lúc đứng bóng cuối
giờ Tỵ, đầu giờ Ngọ, cúng dường bữa cơm Ngọ.
2.
Có nơi cho rằng có ba thời: thời đầu cúng dường bữa điểm
tâm, thời giữa bữa cơm Ngọ, thời sau dâng các thứ thuốc,
cũng gọi là Dược Thực.
Cúng
dường ba thời như vậy không phải chỉ thực hành lúc mới
đến mà suốt thời gian thầy - bạn trụ lại hoằng truyền
đạo pháp: ba tháng, năm tháng, hoặc nửa năm, hoặc một năm.
Mỗi ngày đều phải cúng dường ba thời như thế, không được
thiếu sót. Tuyệt đối không nên thực hành chỉ năm ba ngày
đầu, rồi sau đó thì lơ lơ là là như trong kinh nói: “Lễ
độ đối với thầy bạn ngày thứ nhất như vàng, ngày thứ
hai như bạc, ngày thứ ba như đồng, ngày thứ tư thiết v.v..
gọi là thỉ cần chung đãi”.
Mỗi
ngày ba thời cúng dường, không phải chỉ dùng thức ăn uống
thông thường để dâng cúng, mà phải dùng ba lượng vàng
để mua sắm thức uống ăn ngon quý nhất trên đời để cúng
dường thầy - bạn.
Nên
kinh dạy tiếp theo: “Mỗi ngày trăm thức uống ăn giá đáng
ba lượng vàng”. Ở đây nói mỗi ngày ba lượng vàng là
dùng số tiền trị giá ba lượng vàng mua những thức ăn ngon
quý và đầy đủ để thầy - bạn dùng mỗi ngày. Không phải
thầy - bạn khi đến là cốt ý muốn ăn uống nhiều thứ
ngon quý như vậy, mà là vị Bồ Tát chủ nhân chứng tỏ lòng
tôn kính cúng dường cho thầy - bạn, không có tâm bỏn xẻn.
Vị
Pháp Sư hoằng truyền chánh pháp là tuyên nói lại những lời
răn dạy của Ðức Phật để giáo hóa, dẫn dắt chúng sanh,
cho nên dù thực phẩm cúng dường quý báu và phong phú như
thế, Pháp Sư vẫn có thể thọ nhận được. Ðại Sư Vĩnh
Gia nói:
Ðược
sức giải thoát không nghĩ bàn,
Hằng
sa diệu dụng không cùng tột,
Tứ
sự cúng dường nào sợ nhọc,
Hoàng
kim vạn lượng cũng vẫn tiêu.
Nghiền
nát thân này như tro bụi,
Không
thể đáp đền một trong muôn,
Hiểu
rõ một câu mà tu tập,
Vượt
qua sanh tử trăm ức kiếp.
Theo
bài kệ trên thì bậc thánh nhân đã được giải thoát như
thế, còn các hành giả thông thường sự tri chứng chưa được
như th, mà thọ hưởng sự cúng dường của đàn na phải hết
sức sanh lòng hổ thẹn mới có thể nhận thọ của tín thí.
Nếu trái lại thì hậu quả không thể lường được.
Nên
trong Tông Cảnh Lục nói: “Người tu học Ðại Thừa Phật
pháp thọ thức ăn của thí chủ như non Tu Di, thọ y của thí
chủ có thể trải khắp đại địa. Nếu những người không
tu học pháp Ðại Thừa và chưa liệt vào số chúng Tăng thì
quả đại địa trong mười phương dù rộng lớn, nhưng không
có chỗ nhổ nước miếng”.
Vì
thế, hàng Phật tử xuất gia thọ dụng sự cúng dường của
tín thí, không thể không lưu tâm cẩn thận. Ðiều tối yếu
là phải phát tâm rộng lớn, tu Bồ Tát hạnh, hoằng dương
Phật pháp, hóa độ chúng sanh, mới không đến nỗi luống
thọ dụng của tín thí. Cúng dường vị Pháp Sư hoằng truyền,
ngay đối với Ðức Phật, Ngài cũng cho điều vô cùng trọng
yếu. Vì vị Pháp Sư là người thay thế Phật tuyên dương
chánh pháp, nên kinh Báng Phật nói: “Người nào cúng dường
cho Pháp Sư, tức là cúng dường Phật vậy!”
Chẳng
những chúng ta phải cung kính cúng dường các vị Pháp Sư
giới hạnh thanh tịnh, mà chính những Pháp Sư giới hạnh
không thanh tịnh, miễn là các Ngài có thể thuyết pháp lợi
sanh, chúng ta cũng phải đúng pháp cúng dường.
Trong
Nhiếp Luận nói: “Nếu người đối với giới hạnh dù có
khuyết điểm, nhưng có thể thuyết pháp lợi ích cho nhiều
người, cũng cần phải cúng dường như cúng dường chư Phật.
Vì chúng sanh lãnh thọ lời nói của người ấy giống như
lời của Ðức Phật nói ra”, là ý trên vậy.
Ngoài
việc cúng dường các thứ uống ăn, lại cần phải sắp đặt
giường tòa để cung cấp cho thầy - bạn, để các vị có
chỗ nghỉ ngơi. Giường thì có giường dây, giường cây...
Tòa thì có tòa cao, tòa thấp, mỗi loại đều có nhiều thứ
sai khác. Vì muốn chứng tỏ tinh thần kính pháp trọng thầy,
dĩ nhiên người Phật tử phải dùng những thứ giường, tòa
rất đẹp để cúng dường cho thầy - bạn an nghỉ, cốt để
cho chư vị được an tâm hoằng truyền đạo pháp.
Chư
vị Pháp Sư hoằng dươngười Phật pháp hiện nay có lắm
lúc rất cực nhọc. Tất nhiên đôi lúc khó lòng tránh khỏi
bệnh hoạn. Lúc đó, bổn phận của vị Bồ Tát ở nơi đây
phải sắm nhiều “thứ thuốc men” để điều trị cho thầy
- bạn, đừng để cho chư vị bệnh tật triền miên, làm ảnh
hưởng đến việc hoằng pháp.
Như
hiện nay, chúng ta thấy có những vị Pháp Sư đủ tài tuyên
dương diệu pháp, nhưng vì thân bệnh hoạn lại thiếu thuốc
men trị liệu, nên thân thể ốm gầy, suy nhược, không thể
hoằng pháp lợi sanh. Thật bất hạnh cho vị Pháp Sư mà cũng
tổn thất rất lớn cho Phật pháp! Cho nên dùng các thứ thuốc
men điều trị tật bệnh cho Pháp Sư hoằng pháp là việc rất
cần thiết không thể thiếu.
Ngoài
việc cung cấp các thứ cho Pháp Sư nói trên, khi thầy - bạn
cần dùng những vật chi, phải tùy theo “tất cả sự nhu
dụng” của thầy - bạn, mà hết lòng cung cấp theo đúng
lễ nghi cúng dường, không được có ý nuối tiếc, làm trái
với ý niệm thầy - bạn.
Trong
kinh gọi rằng: “Kính pháp thì phải trọng người”. Nếu
cần hy sinh thân mạng cũng phải làm, huống gì những tài
vật ở ngoài thân? Vì một vị Pháp Sư đã lấy việc hoằng
pháp lợi sanh làm trách nhiệm, điều cần yếu là làm sao
cho các ngài chuyên tâm nhất ý hoằng truyền đạo pháp, không
phải bận tâm lo lắng về việc nhu dụng, sinh sống hằng
ngày.
Nếu
vừa lo hoằng dương Phật pháp, vừa bận tâm về việc sinh
sống thì rất khó lòng thực hiện công tác hoằng pháp cho
hoàn bị. Vì thế, người Phật tử nhiệt tâm hộ trì Phật
pháp, đối với vị Pháp Sư hoằng pháp phải đặc biệt lưu
tâm hộ trì. Bổn phận người Phật tử hộ trì Phật pháp
là phải thành kính cúng dường như thế.
Riêng
người hoằng dương Phật pháp, đối với sự cúng dường
cho mình, khi thọ dụng cần phải biết tri túc mới không có
tội lỗi.
Pháp
Sư hoằng truyền đạo pháp đi đến chỗ bạn là một cơ
hội nghìn năm khó gặp, muôn thuở một lần cho việc cầu
pháp của bạn. Thế nên cần phải khéo nắm lấy cơ hội
này “mỗi ngày ba thời thường thỉnh Pháp Sư thuyết pháp”,
không nên bỏ qua cơ hội rất tốt và hiếm hoi ấy.
Chúng
ta nên biết, đúng như pháp cúng dường thầy - bạn là vì
cầu phước, thuộc về Ðàn Ba La Mật, và thường thỉnh Pháp
Sư thuyết pháp là tu Huệ, thuộc về Bát Nhã Ba La Mật. Phước
huệ song tu như thế mới là một Phật tử đủ căn khí Ðại
Thừa.
Hai
chữ “thường thỉnh” trong kinh văn có ý nói không phải
chỉ thỉnh một ngày một bữa, mà là mỗi ngày đều thường
thỉnh như thế.
Ba
thời là sáng, trưa và chiều, nghĩa là mỗi khi đến giờ
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp, thì phải đi cung thỉnh Pháp Sư
thuyết pháp, khai thị.
Cung
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp là việc làm chẳng những giúp
ích cho huệ mạng của chính mình, mà cũng chính là làm cho
huệ mạng của chúng sanh được liên tục sanh trưởng không
dứt.
Vì
Bồ Tát sơ phát tâm chưa chứng được chân lý của các pháp,
chưa chứng được Pháp Thân của Phật, nên đối với sự
lý của các pháp, không thể không có chỗ nghi hoặc.
Vì
thế, khi có pháp sư đi đến bất cứ lúc nào, đều nên cầu
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp để trừ mối nghi hoặc trong nội
tâm. Lúc thỉnh Pháp Sư không phải chỉ dùng lời nói để
cầu thỉnh là xong. Lại “cần phải mỗi ngày ba thời lễ
bái”. Mỗi lần thỉnh thuyết pháp phải kiền thành lễ bái
một lần, không nên như người thế tục, quá quen biết, không
cần câu chấp lễ nghi. Mỗi ngày đều thấy nhau, cần gì
phải thủ lễ như vậy? Như thế thật là hết sức sai lầm!
Phải
biết trong tất cả các kinh, chỗ nào Phật cũng dạy việc
kính pháp, trọng người. Hiện tại, khi thỉnh thầy thuyết
pháp, đối với pháp cũng như đối với người, đều phải
hết lòng cung kính tôn trọng. Vì thế, bất cứ lúc nào, khi
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp, đều phải cung kính lễ bái, không
nên sanh tâm biếng nhác, khinh mạn.
Ngoài
việc đúng pháp cúng dường và lễ bái thỉnh cầu thuyết
pháp, khai thị, đối với vị Pháp Sư thuyết pháp không được
sanh tâm sân hận, cũng không được có niệm buồn rầu.
Vị
Pháp Sư có khi nói rất nhiều, có khi nói rất ít, không nhất
định, Vì phải tùy theo căn cơ của thính chúng mà thuyết
pháp. Người nghe pháp phải tùy thuận ý của Pháp Sư, không
nên vì ngài nói nhiều, nói ít mà sanh tâm sân hận. Hoặc
có Pháp Sư thuyết pháp rất quy củ và đứng đắn, lời dạy
rất nghiêm khắc. Ðối với những thính chúng có chút gì
không đúng pháp thì ngài chỉ trích, quở rầy không vị nể.
Người nghe pháp không nên vì đó mà sanh tâm sân hận, cho
là Pháp Sư nói quá lời.
Lại
nữa, vị Pháp Sư thuyết pháp cũng vẫn chỉ là một vị Bồ
Tát phàm phu, nên hành vi hoạt động của thân tâm dĩ nhiên
đôi khi khó tránh khỏi có chút sơ suất, lỗi lầm. Chúng
ta, người nghe pháp, không nên vì đó mà sanh tâm sân hận.
Pháp
Sư thuyết pháp là y theo lời Phật dạy mà tuyên thuyết trở
lại. Giáo pháp của Phật cũng như các phương thuốc trị
liệu, tùy theo tâm bệnh của chúng sanh mà cho thuốc. Vì thế,
nếu Pháp Sư chỉ đúng ngay tâm bệnh của chúng ta, dù không
hợp với tâm ý của mình, cũng phải ân cần nhận chân những
lời ấy là đúng, không nên vì thế mà sanh phiền não, tỏ
ý bất mãn Pháp Sư, vì đã chỉ vạch tội lỗi của mình.
Khi
Pháp Sư ở lại thuyết pháp dù rất lâu, nhưng bạn không
nên vì gánh nặng cúng dường mà chán ghét, lo buồn, sanh khởi
ý niệm rằng Pháp Sư ở mãi nơi đây tham cầu việc cúng
dường, sao không rời khỏi nơi đây đi nơi khác mà hoằng
pháp? Nếu bạn có ý nghĩ như vậy, thì tội lỗi rất lớn.
Nên
biết khi cúng dường vị Pháp Sư thuyết pháp, không nên có
chút một chút tâm lẫn tiếc, buồn phiền, chán nản vì sự
cực nhọc và tốn kém. Trái lại, phải có tâm thành kính,
hân hoan, khích lệ Pháp Sư thuyết pháp để cho mình được
cung kính cúng dường mãi đến cùng tột đời vị lai, không
hề nhàm mỏi.
Mỗi
ngày ba thời thường thỉnh Pháp Sư thuyết pháp là sự kiền
thành của khẩu nghiệp, biểu lộ tâm cầu pháp ân cần. Mỗi
ngày ba thời lễ bái là sự kiền thành của thân nghiệp,
chứng tỏ tâm vì pháp không giải đãi. Không sanh tâm sân
hận, buồn rầu là sự kiền thành của ý nghiệp, chứng tỏ
bạn kính pháp không có tâm khinh mạn.
Dùng
ba nghiệp kiền thành trên cầu Phật pháp mới thật sự là
một Phật tử tận thiện tận mỹ, vì pháp đúng mức.
Tại
sao phải vì pháp như thế?
Vì
một Phật tử tu học Phật pháp, có pháp thì thân tâm mới
được tươi nhuận. Không pháp thì thân tâm bị héo khô. Có
pháp thì thành một vị đại phú trưởng giả trong Phật pháp,
mất pháp thì thành một người bần tiện trong Phật pháp.
Do
đó, hành giả Bồ Tát phải luôn luôn vì pháp và tôn trọng
pháp. Lại nữa, nếu chúng ta nghe pháp, có thể giác ngộ được
pháp tánh thì chỉ trong một sát na, có thể trở thành bậc
thánh nhân. Bằng không được như thế, mê muội pháp tánh
thì phải vĩnh viễn muôn kiếp bị trầm luân trong biển khổ
sanh tử. Do đó, vì pháp tinh cần cúng dường thầy bạn, hoàn
toàn không giống với người thế gian vì danh vì lợi mà cúng
dường. Hơn nữa, dù bạn cúng dường tài vật quý báu đến
đâu, chẳng qua được phước đức hữu lậu, không thể thoát
ly sanh tử trong tam giới. Nếu bạn đem vô thượng diệu pháp
bố thí cho chúng sanh thì có thể làm cho chúng sanh ra khỏi
bể khổ sanh tử và được giải thoát. Vì thế, người Phật
tử vì quả vô thượng Bồ Ðề mà chân thực cầu pháp thì
cần phải luôn “thỉnh Pháp không hề nhàm mỏi, chỉ trọng
pháp chớ không kể thân”.
Nói
một cách khác, vì cầu đại pháp của Như Lai, đối với
thân mạng còn có thể quên, có thể xả, huống chi những
tài vật ở ngoài thân mà không cúng dường cho thầy - bạn?
Vả
lại, tài vật nuôi dưỡng thân này có ngày cũng phải cùng
tận, còn pháp tài mà mình mong cầu thuộc về pháp bảo vô
cùng vô tận, cho nên, dù phải hy sinh tánh mạng, đối với
tự mình, quả thật hoàn toàn không có chỗ tổn thất mà
là dùng thân mong manh, hư hoại, đổi lấy thân kim cương bất
hoại; đem “thế mạng” vô thường không vĩnh cửu, đổi
lấy “pháp thân huệ mạng” thường trụ bất diệt. Thật
là một việc làm hết sức có giá trị mà trên thế gian này
không việc làm nào có thể sánh bằng!
Giờ
đây, xin kể vài tấm gương sáng của đức Bổn Sư Thích
Ca vì pháp quên mình như sau:
Vào
thời quá khứ, lúc đức Bổn Sư Thích Ca hành Bồ Tát đạo,
đến lúc a tăng kỳ kiếp thứ hai đã mãn, được gặp Ðức
Phật Nhiên Ðăng xuất thế, bấy giờ, đức Bổn Sư Thích
Ca là Nhu Ðồng Bồ Tát.
Một
hôm, Ðức Phật muốn đến một nơi khác để thuyết pháp
độ sanh. Nhu Ðồng Bồ Tát đem bảy nhành thanh liên hoa cúng
dường lên Phật Nhiên Ðăng.
Bồ
Tát biết được con đường Ðức Phật sắp đi qua có đoạn
bùn nhơ bất tịnh. Bồ Tát không đành để Phật đi qua như
vậy, liền cởi chiếc áo da nai đang mặc, trải lên chỗ bùn
nhơ ấy, nhưng không trải được khắp. Bồ Tát bèn nằm mọp
trên chỗ đất bùn sình, mở đầu tóc của mình ra trải lên
trên chỗ bùn nhơ ấy chờ Phật đi qua.
Phật
Nhiên Ðăng trông thấy Bồ Tát cung kính, kiền thành như vậy,
biết là Bồ Tát đã nhiều kiếp lâu xa thực hành Bồ Tát
đạo, chứ không phải là vị Bồ Tát sơ phát tâm. Ðức Phật
bèn vì Nhu Ðồng Bồ Tát thọ ký rằng: “Ông ở đời tương
lai sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Lại
nữa, vào thời quá khứ, lúc đức Thích Ca Mâu Ni hành Bồ
Tát đạo, tu hành ở núi Tuyết, tinh tấn phi thường, nhất
tâm tọa thiền, hằng ngày chỉ ăn rau trái. Bấy giờ, trời
Ðế Thích muốn thử xem Bồ Tát có phải chân thật cầu diệu
pháp hay không, nên biến hóa thành một quỷ la sát, đến trước
Bồ Tát, vì Bồ Tát nói nửa bài kệ như sau:
Chư
hành vô thường,
Thị
sanh diệt pháp.
Dịch:
Các
hành vô thường,
Là
pháp sanh diệt.
Bồ
Tát được nghe hai câu đại pháp ấy rồi vui mừng khôn xiết,
liền khẩn thiết thỉnh La Sát nói nốt nửa bài kệ sau. La
Sát đáp rằng: “Vì ông nói nửa bài kệ sau thật chẳng
khó khăn gì, nhưng hiện nay bụng tôi đang đói không thể
chịu được, nên không đủ tinh thần nói nửa bài kệ sau”.
Bồ
Tát nghe xong liền thưa rằng: “Ngài cần dùng thức ăn chi,
tôi xin thành tâm sẵn sàng cúng dường”. La Sát đáp rằng:
“Tôi không ăn thứ gì khác, chỉ thích ăn huyết nhục người
còn sống”. Bồ Tát vừa nghe xong, không chút do dự, đáp
rằng: “Xin ngài vì tôi tiếp tục nói nửa bài kệ sau, tôi
nguyện xẻ thân này cúng dường ngài”.
La
Sát liền vì Bồ Tát nói tiếp nửa bài kệ sau rằng:
Sanh
diệt diệt dĩ,
Tịch
diệt vi lạc.
Dịch:
Sanh
diệt diệt rồi,
Tịch
diệt là vui.
(Lưu
ý: Bài kệ bốn câu trên đây là tổng quát vô lượng diệu
nghĩa của Tam Tạng Thánh Giáo trong Phật pháp. Ðừng thấy
văn từ đơn giản, dễ dàng mà cho là tầm thường. Ở đây,
xin giải thích sơ lược:
Hai
câu đầu thuộc về pháp môn lưu chuyển.
Hai
câu sau thuộc về pháp môn hoàn diệt).
Bồ
Tát được nghe trọn bài kệ bốn câu, liền đem viết trên
khắp các đại thọ và những tảng đá lớn trong núi để
chúng sanh có tâm cầu chánh pháp được hưởng lợi ích của
đại pháp này. Sau khi viết kệ xong, Bồ Tát liền leo lên
đại thọ, gieo mình xuống gộp núi để đem thân huyết nhục
của mình cúng dường quỷ La Sát.
La
Sát liền dùng tay tiếp đỡ thân của Bồ Tát và hiện nguyên
hình là trời Ðế Thích, đảnh lễ dưới chân Bồ Tát và
tán thán rằng: “Tôi vì tôn trọng đại pháp của Như Lai,
muốn xem ngài chân thành muốn cầu pháp hay không, nên đến
đây xúc não ngài. Ngài thật vì pháp dám xả thân mạng hoàn
toàn không luyến tiếc. Tôi xin đầu thành đảnh lễ sám hối,
cúi xin ngài tha thứ và tiếp thọ sự thành tâm sám hối của
tôi”.
Trong
kinh Niết Bàn, Phật dạy: “Do nhân duyên vì nửa bài kệ
dám xả thân, mà ta thành vô thượng đạo trước Di Lặc Bồ
Tát mười hai kiếp” là nói ý trên vậy.
Vào
thời quá khứ, đức Bổn Sư Thích Ca hành Bồ Tát đạo, làm
một vị đại quốc vương, vì muốn được nghe đại pháp
của Như Lai nên phải khoét trên thân cả nghìn chỗ để đổ
dầu đốt đèn cúng dường cho người bà la môn tên là Lao
Ðộ Sai để được nghe bài kệ sau đây:
Thường
giả giai tận,
Cao
giả tất đọa,
Hiệp
hội hữu ly,
Sanh
giả hữu tử.
Dịch:
Những
gì thường đều phải tận diệt.
Những
gì cao tất phải sụp đổ.
Có
xum họp tất có chia lìa,
Ðã
có sanh hẳn nhiên có tử.
Ðại
vương nghe được bài kệ trên rồi, trong lòng vui mừng không
sao tả xiết, liền lập đại thệ rằng: “Tôi hôm nay cầu
chánh pháp, mục đích là cầu thành tựu Phật quả. Sau khi
thành Phật, nguyện đem ánh sáng trí huệ chiếu soi cho tất
cả chúng sanh được tỏ ngộ!” Ðại vương phát thệ ấy
rồi, cả trời đất đều chấn động.
Lại
nữa, vào thời quá khứ, trong vô số kiếp về trước, đức
Bổn Sư hành Bồ Tát đạo, làm một vị quốc vương nơi cõi
Diêm Phù Ðề, tên là Tu Lâu Bà. Vì muốn cầu đại pháp của
Như Lai để hóa độ chúng sanh, ngài không hề luyến tiếc,
hy sinh vợ đẹp, con yêu, đem cho quỷ Dạ Xoa ăn để nghe được
chánh pháp. Sau khi dạ xoa ăn vợ con của đại vương xong mới
nói bài kệ rằng:
Nhứt
thiết hành vô thường,
Sanh
giả giai hữu khổ,
Ngũ
ấm không vô tướng
Vô
hữu ngã, ngã sở.
Dịch:
Tất
cả các hành đều vô thường,
Ðã
có sanh ra đều có khổ.
Thân
ngũ ấm nầy không, vô tướng.
Hoàn
toàn không có ngã, ngã sở.
Ðại
vương nghe bài kệ trên lòng hoan hỷ vô cùng, tỏ ngộ được
đại pháp vô giá, không pháp gì trên thế gian có thể sánh
bằng.
Chư
Bồ Tát đều vì pháp mà không luyến tiếc thân mạng, nên
đức Phổ Hiền dạy Thiện Tài đồng tử rằng: “Trong bể
giáo pháp của Ta đây, không một chữ, một câu nào không
phải là chữ hoặc câu mà không phải xả thí thân mạng mới
cầu được”.
Vì
đạo pháp mà quên mình, xả thân cúng dường cho Pháp Sư là
hạnh nguyện vì pháp của Bồ Tát. Nếu không thực hành như
vậy mà chỉ luyến tiếc thân mạng, bỏn xẻn của tiền,
thì trái với hạnh nguyện “vì pháp quên mình” của đại
sĩ, cùng trái với bổn tâm cung kính hiếu thuận của Bồ
Tát. Cho nên, cuối cùng trong kinh phán: “Phật tử này phạm
khinh cấu tội”.
Trong
kinh Viên Giác dạy: “Chúng sanh thời mạt pháp muốn tu hành
phát nguyện trọn đời cúng dường thiện hữu, kính thờ
thiện tri thức, gần gũi bậc thiện tri thức, phải đoạn
trừ tâm kiêu mạn, khi xa lìa thiện tri thức phải đoạn trừ
tâm sân hận. Những cảnh thuận nghịch hiện tiền xem như
hư không, rõ biết tự tâm rốt ráo bình đẳng, cùng với
chúng sanh đồng một thể không sai khác. Tu hành như thế mới
được chứng nhập Viên Giác”.
Lời
sớ thích đoạn kinh văn trên nói rằng: “Luận về các bận
thiện hữu hóa độ chúng sanh phải dùng nhiều phương tiện.
Khi nào nhận thấy tâm ý thầy trò khế hợp mới đem chỉ
thú của chánh pháp truyền trao. Tùy theo căn cơ chúng sanh,
có khi cần phải thân cận để hóa độ. Thế mà chúng sanh
ngu si không hiểu biết, thấy thiện tri thức đến gần gũi
với mình thì sanh tâm kiêu mạn.
Tâm
kiêu mạn đã sanh thì không thể nào vào được Ðạo. Nên
kinh dạy phải đoạn trừ tâm kiêu mạn. Hoặc có khi gặp
nhân duyên khác mà thầy trò phải cách xa nhau, do đó sanh tâm
sân hận mà nói rằng: “Thầy xa lìa ta để đi gần gũi với
người khác”.
Lại
còn nói thầy có tâm thương ghét. Một khi đã có một niệm
sân sanh khởi thì ngàn muôn sự chướng ngại lập tức phát
sanh. Không kể đến sự mất lợi ích trong đạo pháp, chính
bản thân kẻ đó bị đọa lạc trong tam đồ. Cho nên kinh
dạy phải đoạn trừ tâm sân hận”.
Trong
kinh Thí Dụ kể lại một câu chuyện như sau:
Trong
thời quá khứ, tôn giả A Nan là một đồng tử bán hương.Trên
đường đi bán hằng ngày, đồng tử gặp một tiểu sa di
vừa đi khất thực vừa đọc tụng kinh kệ.
Thấy
thế, đồng tử hỏi sa di vì sao phải làm như vậy, sa di đáp
rằng: “Thầy tôi hiện tu hành trong núi, bảo tôi mỗi ngày
đến nhà thí chủ khất hóa một thăng gạo mang về, đồng
thời phải đọc tụng một bài kệ trong kinh Phật cho thuộc,
nên tôi phải làm như thế”.
Ðồng
tử lại hỏi: - Nếu chú không đi lấy gạo mỗi ngày, chú
tụng được mấy bài kệ?
Sa
di đáp rằng: Nếu không đi lấy gạo mỗi ngày, tôi đọc
tụng thuộc mười bài kệ.
Ðồng
tử nghe xong vì muốn cho chú Sa Di thành tựu việc đọc tụng
kệ kinh, bèn nói rằng: - Tốt lắm, từ nay tôi xin thay thế
cho chú mang gạo đến tận nơi, chú khỏi cần phải đi khất
hóa.
Sa
di nghe nói vui mừng khôn xiết, ở nơi am chuyên tâm nhất ý
đọc tụng kệ kinh. Khi đồng tử mang gạo đến am được
chín hộc, đồng tử thử hỏi sa di để biết sự đọc tụng
kinh kệ có được nhiều hay không. Quả nhiên, suy tính theo
mỗi ngày một thăng gạo, thì chú Sa Di mỗi ngày mười bài
kệ đủ số không sai.
Tôn
giả A Nan do công đức thay cho chú Sa Di mang gạo này mà hiện
tại được gặp Phật, và được suy tôn là bậc Ða Văn đệ
nhất trong hàng đệ tử Thanh Văn.
Chúng
ta thử nghĩ: Chỉ vì một chú Sa Di trì kinh mà thay thế mang
gạo, còn được quả báo thù thắng như thế, huống chi cúng
dường cho bậc thầy - bạn Ðại Thừa, là những người có
khả năng tuyên thuyết chánh pháp, thì quả báo thù thắng
được thọ hưởng không thể hạn lượng.
Kết
thành tội nghiệp của “bất cung cấp thỉnh pháp giới”
này phải hội đủ bốn duyên như sau:
1.
Pháp Sư: Thật sự có vị Pháp Sư Ðại Thừa đi đến.
2.
Tưởng Pháp Sư: trong tâm đích xác biết vị ấy là vị Pháp
Sư đi đến chỗ mình. Nếu như không biết người ấy là
vị Pháp Sư thì không phạm.
3
Không có tâm thỉnh: không có lòng muốn thỉnh Pháp Sư thuyết
pháp. Hoặc đối với Pháp Sư có tâm niệm sân hận, buồn
rầu, nên không chịu thỉnh. Vì nội tâm có phiền não nên
phạm tội nhiễm ô khởi. Hoặc do tính hay quên, hoặc do lười
biếng mà không thỉnh Pháp Sư thuyết pháp. Trong trường hợp
này, vì không có phiền não xen lẫn trong tâm, nên chỉ phạm
tội, nhưng không phải là phạm tội nhiễm ô khởi.
4.
Làm lơ bỏ qua: trường hợp rõ ràng có Pháp Sư ở trước
mặt và bạn có thể được lợi ích nghe pháp, nhưng bạn
làm lơ bỏ qua nhân duyên rất tốt như thế.
Cho
nên tùy theo việc mà kết thành tội khinh cấu.
Những
nhân duyên đặc biệt nào không thỉnh Pháp Sư mà không phạm
tội?
-
Trường hợp bị bệnh nặng, tự mình không thể ngồi dậy
được.
-
Chính bản thân mình không đủ sức cúng dường nên không
đủ phương tiện thỉnh thầy thuyết pháp.
-
Hoặc biết người thuyết pháp không phải tuyên thuyết chánh
pháp của Như Lai, mà chỉ nói một cách điên đảo không thành
vấn đề gì, không mang lại lợi ích cho thân tâm người nghe
pháp, nên không thỉnh người ấy thuyết pháp.
-
Hoặc chính mình đã có sức đa văn, đối với Phật pháp
đã có sự nhận thức tương đương, có thể không cần thỉnh
Pháp Sư thuyết pháp.
-
Hoặc mình đã có học hỏi đại pháp của Như Lai nên không
thỉnh Pháp Sư thuyết pháp.
-
Hoặc chính mình đang chuyên tu, tọa thiền, tụng kinh, niệm
Phật... nên không thỉnh Pháp Sư thuyết pháp.
Những
trường hợp trên, không thỉnh Pháp Sư thuyết pháp thì không
trái phạm giới này.
