B.2. ÐÀM
KHINH GIỚI TƯỚNG
(tuyên thuyết
các tướng trạng của giới khinh)
B.2.1. TỔNG
TIÊU KHINH GIỚI
(Nêu tổng
quát các giới khinh)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Câu
“Phật cáo chư Bồ Tát ngôn: - Dĩ thuyết thập Ba La Ðề
Mộc Xoa, cánh tứ thập bát khinh kim đương thuyết”.
2.
Dịch nghĩa:
Ðức
Phật bảo các vị Bồ Tát rằng: “Trước đã giảng mười
giới trọng rồi, nay ta sẽ nói về bốn mươi tám giới khinh”.
Lời
giảng:
Kinh
Phạm Võng Bồ Tát Giới này do Ðức Phật chế lập và được
chia thành hai phần lớn: mười giới trọng và bốn mươi tám
giới khinh.
Giảng
đến đây, Ðức Phật lại bảo các vị Bồ Tát rằng: “Từ
trước đến nay, ta đã vì quý vị giảng nói mười pháp Ba
La Ðề Mộc Xoa rồi. Giờ đây, ta sẽ tiếp tục vì quý vị
giảng nói bốn mươi tám giới khinh”.
Có
người hỏi:
Sự
quan trọng của mười giới trọng là ngăn cấm một cách triệt
để nghiêm mật, đó là điều dĩ nhiên, không có gì phải
nói. Còn nói bốn mươi tám giới khinh thì không quan trọng
gì lắm, nhưng vì sao Ðức Phật lại phải chế lập?
Nên
biết bốn mươi tám giới khinh sắp giảng, vừa mới xem qua
thì dường như không quan hệ gì lắm. Nhưng Ðức Phật vì
muốn đề phòng sự chê bai bàn luận của thế gian, có thể
xảy ra, nên phải chế lập. Vì có những việc, về phía người
thế tục làm thì không ai chỉ trích, phê bình gì. Nhưng nếu
một vị Bồ Tát làm thì mọi người sẽ chê bai, phê bình
rằng: Bồ Tát sao lại làm như thế? Như thế là trái với
tinh thần của Bồ Tát v.v... Vì muốn ngăn chặn sự chê bai,
bình luận ấy nên Ðức Phật phải chế lập bốn mươi tám
giới khinh này.
Hơn
nữa, có những việc mới xem qua rất là nhỏ nhặt, nhưng
nếu thường làm, sẽ từ việc nhỏ mà thành việc to, từ
giới khinh mà thành giới trọng. Dần dần đi đến chỗ vi
phạm vi phạm mười giới trọng. Vì thế, để ngăn chặn
trước những nhân vi tế dần dà thành đại sự, vì muốn
tạo những phương tiện phòng xa để hỗ trợ sự tuân giữ
giới trọng được nghiêm cẩn, nên Ðức Phật phải chế
lập những điều giới khinh này.
Có
người cho rằng: Bồ Tát không câu chấp tiểu tiết và cái
gì cũng đều có thể dễ dãi chấp thuận, cho phép hành động.
Quan niệm ấy hoàn toàn sai lầm. Vì nói đúng theo đạo lý,
Bồ Tát nhập thế độ sanh, thân tâm cũng như mọi hành vi
đều phải theo đúng quy củ, hầu nêu gương mẫu cho chúng
sanh. Tuyệt đối không được tùy tiện tự ý hành động.
Cả đến niệm tưởng rất vi tế trong nội tâm cũng phải
diệt trừ cho sạch hết. Vì thế nên Ðức Phật đặc biệt
vì Bồ Tát chế lập bốn mươi tám giới khinh này.
Bồ
Tát nếu giữ gìn giới khinh này được hoàn toàn thanh tịnh,
chẳng những làm rạng rỡ cho đạo pháp xuất thế của Bồ
Tát, mà còn giúp sự tăng trưởng của Tam Tụ Tịnh Giới
của Bồ Tát, cho nên đối với bốn mươi tám giới này, Bồ
Tát tuyệt đối không được xem thường.
Sở
dĩ gọi là khinh giới, trọng giới, giải thích theo danh từ:
-
Khinh là nhẹ.
-
Trọng là nặng.
Trong
kinh Thiện Giới và Ðịa Trì đều gọi là giới khinh là Ðột
Kiết La.
Ðột
Kiết La là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Ác Tác Ý, việc
làm không hợp với đạo lý gọi là Ác Tác. Theo luật Tứ
Phần thì Ðột Kiết La chỉ về hai nghiệp thân và khẩu.
Việc làm của thân nghiệp không hợp với đạo lý thì gọi
là Ác Tác. Việc làm của khẩu nghiệp không hợp đạo lý
thì gọi là Ác Thuyết.
Trong
kinh Thiện Sanh lại gọi Ðột Kiết La là tội Thất Ý, tức
là tội ác do trái với bổn tâm, quên mất chánh niệm mà
làm ra thành tội.
Tội
khinh cấu có thể phân làm 3 loại:
1.
Tùng sanh khinh cấu: tội này từ nơi giới trọng mà phát sanh
nên gọi là “tùng sanh”, nghĩa là khi thực hành mười giới
trọng chưa thành tựu viên mãn, lại phát sanh tội phương
tiện trước khi làm, nên gọi là “tùng sanh” hay khinh cấu.
2.
Ðộc đầu khinh cấu: tội này không phải từ các giới trọng
phát sanh, chỉ do đơn độc một mình nó sanh khởi, nên gọi
là “độc đầu khinh cấu”.
3.
Căn bổn khinh cấu: tức bốn mươi tám giới khinh trong kinh
này nói và chia làm ba loại khác nhau:
-
Tùng sanh khinh cấu: tức là trước khi phạn căn bổn khinh
cấu, đã sanh khởi tất cả các phương tiện nên gọi là
“tùng sanh khinh cấu”.
-
Cố ý phạm: do phiền não nội tâm phát động mà phạm tội,
gọi là “nhiễm ô phạm”, thuộc về căn bổn khinh cấu.
Phạm tội trong trường hợp này phải sám hối theo tội Ðột
Kiết La.
-
Lầm phạm: Nếu do tâm giải đãi, biếng lười hay vô ký mà
sanh khởi thì gọi là “lầm phạm”, không phải “nhiễm
ô”. Cần phải sám hối theo cách thức: Ðột-kiết-la trách
tâm (Sám hối tội Ðột Kiết La nghĩa là hình thức đối
trước một vị Bồ Tát đã xuất gia để xin sám hối những
tội lỗi của mình đã gây tạo. Còn sám hối tội Ðột Kiết
La trách tâm là tự mình sám hối bằng cách tự trách tâm
của mình, khỏi phải đối trước người khác xin sám hối).
Giới
khinh:
-
Kinh Phạm Võng có bốn mươi tám giới.
-
Kinh Du Già, kinh Trì Ðịa chỉ có bốn mươi ba giới. Kinh Bồ
Tát Thiện Giới dù có phần tăng giảm nhưng đại thể vẫn
đồng với Du Già.
-
Riêng kinh Ưu Bà Tắc chỉ có hai mươi tám giới v.v...
Các
bộ Bồ Tát Giới Bổn, số lượng các giới khinh nhiều, ít
không nhất định. 48 giới khinh trong kinh Phạm Võng này, có
giới thì các bổn đều đủ; có giới thì các bổn khác lại
không có. Có những giới văn tự bất đồng, nhưng thể loại
thì giống nhau. Có giới ở bổn này mang tính chất khai triển,
nhưng trong bổn khác lại hợp nhất. Có giới trong bổn này
nói sơ lược, nhưng trong bổn khác lại rất chi tiết v.v...
Sự bất đồng này do ứng cơ mà có sự khác biệt như vậy,
không nên căn cứ theo một bên mà bình luận.
Thật
sự mà nói, giới khinh nhiều đến vô lượng vô biên, không
thể tính kể được. Các kinh đề cập đến nhiều hay ít,
chẳng qua là chỉ khái lược một khía cạnh nào đó mà thôi.
Kinh
Anh Lạc Bổn Nghiệp nói: “Ðúng sự thật mà nói thì tám
muôn bốn ngàn oai nghi đều gọi là giới khinh, chứ không
nêu riêng từng điều hoặc từng giới tướng”.
Ðiều
cần phải biết là bốn mươi tám giới khinh trong kinh này,
kinh Pháp Tạng Giới Bổn Sớ, quyển bốn, thuyết minh như
sau: “Có giới cố nhiên thuộc về giới khinh, có giới nội
dung bao gồm cả hai tính chất khinh lẫn trọng. Tính ra có
hơn sáu điều”. Việc này phần sau sẽ giảng giải rõ ràng.
