B.1.1.6.
THUYẾT TỨ CHÚNG QUÁ GIỚI
(Giới
cấm rao nói lỗi của tứ chúng)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhược Phật tử tự thuyết xuất gia, tại gia Bồ Tát...”
cho đến câu “thị Bồ Tát Ba La Di tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử miệng tự rao nói tội lỗi của Bồ Tát xuất gia,
Bồ Tát tại gia, tỳ kheo, tỳ kheo ni, hoặc bảo người rao
nói những tội lỗi ấy; nhân rao nói tội lỗi, duyên rao nói
tội lỗi, cách thứ rao nói tội lỗi, nghiệp rao nói tội
lỗi. Là Phật tử khi nghe những kẻ ác ngoại đạo, cùng
người Nhị Thừa nói những điều phi pháp, trái luật trong
Phật pháp, thời phải luôn có lòng từ bi giáo hóa những
kẻ ác ấy, khiến họ sanh tín tâm lành đối với Ðại Thừa.
Nếu trái lại, Phật tử lại tự mình rao nói tội lỗi trong
Phật pháp, Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội.
Lời
giảng:
Mười
giới trọng trong kinh Phạm Võng này, bốn giới trước giống
với giới căn bổn của Thanh Văn. Bốn giới sau giống với
giới trọng trong Du Già Bồ Tát Giới Bổn. Chặng giữa, thêm
hai giới bán rượu và “rao nói tội lỗi” hợp thành mười
giới.
Trong
hai giới giữa này, vì giới bán rượu mang tính chất thô
phù, rõ ràng hơn nên giảng trước, giới rao nói tội lỗi
có phần vi tế hơn nên giảng sau.
Giới
thuyết tứ chúng quá này quan trọng nơi chữ Thuyết, tức
là lời nói. Vì lời nói là công cụ diễn đạt tư tưởng
và tình ý. Nếu như không có công cụ này thì tình ý và tư
tưởng của chúng ta không cách gì biểu đạt ra được.
Nhưng
đồng là lời nói, có người khi nói ra được mọi người
cảm mến, thân thiết cao độ, có người nói ra khiến mọi
người cảm thấy khó chịu và ẩu tâm vô hạn (Ẩu là nôn
ói. Ám chỉ người đối diện khi nghe lời nói đó, trong tâm
khó chịu, không muốn nghe). Vì thế, đối với lời nói chúng
ta phải cực lực chú ý và thận trọng.
Tục
ngữ Trung Hoa có câu:
Ðao
tử cát thương dung dị thủ,
Ngôn
ngữ thương tâm hận nan tiêu.
Dịch:
Dao
cắt bị thương lành lại dễ,
Lời
nói thương tâm hận khó tiêu.
Lúc
nói chuyện với người không suy nghĩ, vọt miệng nói quàng,
nói xiên, bướng bỉnh, dù không phạm tội lỗi cũng làm thương
hại tâm tự tôn của người. Vì thế có rất nhiều người
hoạt động trong xã hội không được mọi người hoan nghênh
lắm.
Nguyên
nhân dù rất nhiều, nhưng đại khái là do cao đàm khoát luận,
không biết tự thẹn. Trong khi nói chuyện, nói quàng, nói xiên,
miệng phun nước miếng lung tung, nói hay, nói dở buông lung,
không chút nể sợ. Ðây có thể nói là một nguyên nhân trọng
yếu.
Vì
ngoài việc nói chuyện ra, không có gì ảnh hưởng lớn đến
hành vi của nhân loại hơn là lời nói. Như khi bạn mở miệng
nói ra những lời làm cho người như bị kim đâm vào tai, hay
những lời nhảm nhí không căn cứ, đương nhiên khó làm cho
người sanh hảo cảm tốt đẹp.
Nhưng
thật bất hạnh thay, mọi người, nhất là nữ giới, khi có
cơ hội gặp nhau, họp lại thường nói những chuyện hay của
nhà bên Ðông, chuyện dở của nhà bê Tây không ngừng. Như
ai có tin gì xấu thì các bà, các cô như một phát ngôn viên
truyền bá tin tức ấy ra rất nhanh. Và đáng ghét nhất là
mấy bà cố ý thêm dầu, thêm tương vào những việc nhỏ
nhặt, nói cho thành việc nghiêm trọng phi thường khiến người
nghe không thể tin. Có người còn ưa đem những sự việc không
căn cứ, rao nói thành một sự thật có hình có tiếng, làm
lan ra khắp trong thiên hạ.
Vì
thế nếu bạn nói những lời nhảm nhí, không duyên cớ gán
cho người thật đáng sợ biết dường nào! Vì có người
khi nghe lời nói nhảm ấy, không đè nén nổi lòng tức giận,
khiến cho tình bạn hữu đột nhiên biến thành thù địch.
Giữa người với người đang đối xử nhau tốt đẹp, đột
nhiên biến thành kẻ oán thù. Hai bên oán hận nhau mãi không
thôi. Việc ấy chính do những lời nói nhảm, không căn cứ
tạo nên.
Thế
nên, kẻ rao nói tội lỗi của người là một nhân vật nguy
hiểm, đáng sợ cho mọi người biết chừng nào! Cho nên làm
người bất cứ thuộc giai cấp nào trong đời này, ngàn lần,
muôn lần, không nên dưỡng thành tập quán xấu rao nói tội
lỗi của người, để bị mọi người xem là kẻ nhiều miệng
lưỡi, vĩnh viễn sẽ bị mọi người oán giận và chán ghét.
Rao
nói tội lỗi của tứ chúng, theo trong kinh này, chỉ sự hư
vọng, luận bàn lỗi lầm của hai chúng tại gia và hai chúng
xuất gia.
Phàm
làm người trong thế gian, dù là một bậc có hàm dưỡng đến
đâu, đều không tránh khỏi có ít nhiều lỗi lầm (“hàm
dưỡng” là đem đạo đức, học vấn để chuyển đổi mình
từ người xấu trở nên tốt, hung ác trở nên hiền từ...)
Nho
thi có câu: “Nhân phi thánh hiền, thục năng vô quá”, nghĩa
là: người chưa phải thánh hiền, mấy ai khỏi lầm lỗi.
Vì
thế, chẳng những mình không biết rõ họ có lỗi hay không
thì không nên tùy tiện, mặc ý nói vọng ngữ. Thậm chí mình
biết rõ người có tội lỗi, cũng phải nhắm vào tâm từ
bi trong Phật pháp, dùng những phương tiện thật thiện xảo,
khuyên nhủ, giảng nói cho họ một cách khéo léo, nhã nhặn,
khiến cho họ tự biết lỗi mình mà chừa bỏ. Hoặc dùng
phương pháp sám hối để giúp họ trở lại thành một cá
nhân mới tốt đẹp, được Phật hóa, không nên trở lại
rao nói tội lỗi của người với những kẻ khác.
Rao
nói tội lỗi của tứ chúng, chẳng những làm cho người có
tội khó chịu, mà còn làm nhục cho danh dự pháp môn, khiến
cho thánh đạo của Như Lai không lưu hành mang lợi ích cho
thế gian. Tội này lớn biết dường nào!
Vì
muốn hộ trì sự thanh tịnh trong pháp môn, vì muốn ái hộ
danh dự của tứ chúng, nên Phật răn cấm nghiêm nhặt việc
vọng rao tội lỗi của tứ chúng. Hơn nữa, chẳng những tứ
chúng thông thường không khỏi có những lỗi lầm, mà hàng
Bồ Tát mới phát tâm, đa số cũng không tránh khỏi những
hành vi lỗi lầm vì vẫn còn là phàm phu Bồ Tát.
Nhưng
các vị đã phát tâm Bồ Ðề, học Bồ Tát đạo, thật rất
hiếm có và khó được. Ðáng lẽ chúng ta cần phải tán thán
công đức của quý vị, khích lệ việc làm vì pháp, vì người
của quý vị, khiến cho quý vị tiến bước mãi trên con đường
vô thượng Bồ Ðề. Như thế mới là hành vi cần có của
một Phật tử trong Phật pháp.
Hiện
tại, chẳng những không tán thán công đức của Bồ Tát,
lại còn dùng tâm bất chánh bới lông tìm vết, kiếm chỗ
sở đoản của người, rao nói tội lỗi của người. Như
thế, đối với đạo làm người còn không được, hà huống
là một Phật tử tu học Phật pháp!
Chúng
ta nên biết rao nói tội lỗi của người chưa chắc đã được,
mà tự mình vì đó tạo khẩu nghiệp nặng nề. Như vậy,
cần chi phải đi làm việc tổn người hại mình như vậy?
Tứ
chúng trong Phật giáo, dù tại gia hay xuất gia, đều cùng ở
trong Tam Bảo; cùng là thiện hữu, pháp lữ với nhau, cùng
ẩn nấp dưới bóng từ bi của Tam Bảo gia bị; cùng nhờ
sự phòng hộ thân tâm của giới pháp; cùng lo tu học không
gián đoạn để tăng tiến công đức cho mình và người, để
mong cầu thù thắng xuất thế, để hoàn thành mục đích của
người học Phật.
Xin
quý vị thử nghĩ: Nếu chúng ta không nương nhờ đức từ
bi oai lực của Tam Bảo gia hộ, không có sự phòng hộ thân
tâm của giới pháp, thì làm sao đạt đến mục đích học
Phật của chúng ta? Là người trong cửa Tam Bảo, chúng ta hãy
đem hết những năng lực của mình có thể làm được, hộ
trì ngôi Tam Bảo, để giữ gìn chánh pháp của Như Lai, khiến
chánh pháp của Phật Ðà được cửu trụ vĩnh viễn nơi thế
gian, mang lại lợi ích rộng lớn cho chúng sanh.
Muốn
được như vậy, trong hàng đệ tử Tam Bảo, chúng ta phải
tôn kính lẫn nhau, tán thán cho nhau, sách tấn nhau. Mình cùng
người phải tinh tấn, lo trau giồi giới hạnh để phát khởi
tín tâm cho chúng sanh. Như thế mới hợp với đạo lý.
Nếu
đã không thực hành như thế, trái lại, bạn còn nói lỗi
lầm của tôi, tôi đi rao tội ác của bạn. Hai bên cùng nói
những sở đoản của nhau, tự mình giở lưng chỉ sẹo cho
người. Như thế, trái với sơ tâm của người học Phật,
lại vi phản với ân đức từ bi của Tam Bảo. Tội này rất
nặng, không tội nào hơn. Vì thế, Phật ngài đặc biệt chế
lập giới điều này để cho hàng Phật tử xuất gia và tại
gia nghiêm cẩn giữ gìn.
Thật
ra, không phải chỉ riêng hàng Phật tử phải đặc biệt thận
trọng khi thốt lời, mà mọi người ở thế tục, thông thường
cũng không nên “tín khẩu khai hà, hồ ngôn loạn thuyết”
(mở miệng không thận trọng, nói quàng xiên bướng bỉnh)
mà quyết định cần phải có thái độ thận trọng như cổ
đức từng dạy:
Hàm
dưỡng nộ trung khí,
Ðề
phòng thuận khẩu ngôn,
Khiêm
cung nguyện ích kỷ,
Khinh
bạc dị chiêu khiên.
Dịch:
Trong
khi tức giận nên hàm dưỡng,
Lời
nói thỏa miệng phải đề phòng,
Khiêm
nhường cung kính ích lợi cho mình,
Khinh
khi, xem rẻ dời họa lại.
Tuyệt
đối đừng nói những lời làm người chán ghét, và làm tổn
thương lòng tự tôn, tự ái của người. Nếu lỗ miệng cứ
thường thốt ra những lời nói xấu người, hoặc đàm tiếu
những việc lỗi lầm của người thì chính là làm thương
tổn đến hậu đạo và sanh nhiều tội ác.
Ðức
Phật đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật
tử đã thọ Bồ Tát giới mà đi rao lỗi của tức chúng,
nghĩa là: tự mình đi rao lỗi của Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát
tại gia, tỳ kheo, tỳ kheo ni”.
Trong
tứ chúng:
*
Bồ Tát xuất gia chỉ ngũ chúng Phật tử xuất gia đã phát
Bồ Ðề, thọ tâm địa đại giới:
-
Tỳ kheo.
-
Tỳ kheo ni.
-
Thức Xoa Ma Na.
-
Sa Di
-
Sa Di Ni.
*
Bồ Tát tại gia là chỉ hai chúng đã phát Bồ Ðề tâm, thọ
Bồ Tát giới:
-
Ưu bà tắc.
-
Ưu bà di.
*
Hai chúng xuất gia thọ Cụ Túc Giới, nhưng chưa phát tâm Bồ
Ðề, thọ Bồ Tát giới:
-
Tỳ kheo.
-
Tỳ kheo ni.
Tội
là chỉ những việc trong giới khinh đã phạm.
Quá
là chỉ pháp thập ác, ngũ nghịch đã làm.
Bất
luận là tội khinh hay ác nặng, đều không được đi rao nói.
Mặc dù những tội ác ấy, mọi người cũng như trong hàng
tứ chúng không tránh khỏi vi phạm, nhưng chúng ta tuyệt đối
không được tùy tiện đi rao nói tội lỗi của người mà
kết thành trọng tội cho chính mình.
Về
hàng Bồ Tát thì gồm có Bồ Tát cao cấp và Bồ Tát hạ cấp.
Bồ Tát cao cấp như chư Bồ Tát đã chứng đắc bậc Nhị
Ðịa trở lên. Ðối với những giới hết sức vi tế đều
hoàn toàn không hủy phạm, thì với tội trọng ngũ nghịch,
thập ác, không bao giờ có. Nhưng vì muốn lợi ích chúng sanh
nên lắm lúc các Ngài cố ý thị hiện những nghịch hạnh
để bức bách chúng sanh đi trên con đường lớn quang minh
của Phật pháp.
Phàm
phu không biết đây là việc đại nguyện thị hiện của Bồ
Tát, cho là Bồ Tát thật sự điên đảo tạo những nghịch
hạnh như vậy. Bấy giờ, khởi tâm xem rẻ Bồ Tát và đi
đến đâu cũng nói Bồ Tát là không đúng. Rao nói tội lỗi
của Bồ Tát để vừa lòng, khoái ý cho cá nhân mình, không
ngờ rằng chính mình đã tạo ra ác nghiệp cực trọng, thật
vô cùng bất lợi cho chính mình.
Vì
vậy, dù chúng ta biết hay không biết người ấy là đại
Bồ Tát, cốt yếu là người ấy làm những việc lợi ích
cho chúng sanh, chúng ta phải mỹ tán các Ngài, không nên rao
nói tội lỗi của các ngài.
Bồ
Tát ở địa vị Tam Hiền cùng với thánh nhân trong Tứ Quả,
tuyệt đối không bao giờ vi phạm các tội trọng; nhưng với
những lỗi lầm vi tế vẫn không tránh khỏi. Ðặc biệt là
Bồ Tát sơ phát tâm vì các ngài còn là phàm phu, vẫn có những
điểm không đúng pháp. Chỉ cần các Ngài noi theo con đường
chính của Bồ Tát, thì không chóng thì chầy, các ngài sẽ
bước lên Chánh Ðạo trong Phật pháp. Chúng ta không thể vì
hiện tại các ngài còn có những lỗi lầm, rồi đi đến
đâu cũng rao nói các ngài không đúng, mà tự mình tạo ra
khẩu nghiệp vô biên.
Ðến
chư vị Hòa Thượng mà mình nương theo Ngài xuất gia, hoặc
chư đại đức cao tăng trụ trì chánh pháp của Như Lai, hoặc
các pháp hữu đồng tu tịnh hạnh, đều không nên đi rao nói
tội lỗi của các ngài.
Chúng
ta nên biết, trong các ngài, có vị vẫn có các tội lỗi,
có vị hoàn toàn không có lỗi chi. Nhưng dù có hay không, chúng
ta đều không được tự đi vọng rao nói tội lỗi của các
bực sư trưởng, thượng nhân, cùng chư đại đức cao tăng.
Ðó là điều quyết định không được làm.
Tỳ
kheo, tỳ kheo ni dù là hành giả tu học theo Tiểu Thừa, nhưng
quý vị là Tăng Bảo trụ trì Phật pháp, quan hệ với pháp
môn không phải nhỏ. Vì ở đời này, người thông đạt được
giáo lý mà vào Phật pháp thật là rất hiếm.
Thông
thường, đại đa số người nhận thức Phật pháp, đi vào
Phật pháp do hành vi của Phật tử xuất gia. Nếu thấy tăng
nhân giới hạnh thanh tịnh, oai nghi nghiêm chỉnh, cử chỉ
trang nghiêm, đối với Phật pháp, họ liền sanh khởi tín
tâm cao độ.
Giả
như bản thân của chúng tăng có quá nhiều khuyết điểm thì
không hấp dẫn được sự tôn kính của thế nhân. Do đó,
sự tồn tại của Phật pháp cũng thành đại vấn đề rất
khó.
Vì
muốn trụ trì Phật pháp, vì muốn cho Phật pháp được phát
triển, vì muốn cho việc hoằng dương Phật pháp được phổ
biến v.v... cho nên, dù ở khía cạnh nào, cũng đều không
được đi rao nói tội lỗi của hai chúng xuất gia tỳ kheo,
tỳ kheo ni. Vì chẳng những ảnh hưởng cho cá nhân của các
vị, lại còn ảnh hưởng rất lớn cho Phật pháp!
Nhưng
tình hình Phật pháp hiện tại thật bất hạnh và đáng buồn
thay! Ðến đâu cũng nghe những lời chỉ trích tỳ kheo, tỳ
kheo ni. Dường như toàn thể chúng xuất gia đều nhiều khuyết
điểm và tội lỗi. Quan trọng nhất là bên này, bên kia xúm
lại nói tội lẫn nhau. Chẳng những tỳ kheo rao nói tội lỗi
của tỳ kheo, tỳ kheo ni; tỳ kheo ni rao nói tội lỗi tỳ kheo
ni; tỳ kheo ni rao nói tội tỳ kheo... khiến kẻ sơ phát tâm
vừa bước chân vào cửa các tự viện, am cốc, chỉ nghe vị
Hòa Thượng này không đúng, vị Ni kia rất xấu!
Ðến
chùa này cũng là phải quấy, đi tự viện kia cũng là phải
quấy. Bấy giờ, những đạo tràng của Phật pháp dường
như không còn chút gì thanh tịnh. Nên tôi (Pháp Sư) thường
nói: Người xuất gia này nói xấu kẻ xuất gia kia, người
xuất gia kia nói việc xấu của cá nhân này, khiến mọi người
nghe được, tự nhiên cảm thấy người xuất gia vốn như
thế. Không vị nào đúng pháp, đúng luật. Như thế chúng
ta cần chi đến các tự viện?
Chúng
ta vào các tự viện vốn mong được thanh tịnh, hy vọng được
thấm nhuần chút ít Phật pháp cho tâm điền khô khan của
mình bấy lâu. Ngờ đâu bước vào tự viện chỉ nghe việc
thị phi như thế!
Những
người tín tâm chưa vững chắc, do đây bị thối tín tâm.
Còn những vị tín tâm kiên cố cũng thấy đi chùa là một
việc đáng buồn! Trong Phật giáo ngày nay, hiện tượng này
ở khắp nơi, có thể nói là vô cùng phổ biến!
Người
xuất gia đối đáp, nói lỗi của nhau đã là một việc rất
sai lầm; thêm vào đó, Phật tử tại gia góp phần làm cho
làn sóng càng dâng lên cao. Vì muốn tán thán công đức của
sư phụ mình, mà đi rao nói tội lỗi của những vị xuất
gia khác. Bạn như vậy, tôi cũng như vậy, mọi người đều
như thế. Bấy giờ đến chỗ nào cũng nghe dư luận cho rằng
tất cả người xuất gia đều không tốt...
Thật
ra, sự việc không phải hoàn toàn như vậy, cũng có nhiều
vị xuất gia có tu, có chứng, ở đâu cũng đều có những
vị đứng đắn. Nhưng chẳng qua, những vị thật có tu chứng
trong Phật pháp không muốn tùy tiện phô bày mà thôi.
Nói
một cách nghiêm túc, bậc xuất gia có đức hạnh, có học
vấn, có tu hành, có chứng đắc, là phước điền cho nhân
thiên, là người trụ trì Phật pháp. Chúng ta không nên tùy
tiện đi rao nói tội lỗi của các ngài, mà sự thật thì
các ngài cũng không có bất cứ lỗi lầm gì để chúng ta
đi rao nói. Dù cho có vị tỳ kheo, tỳ kheo ni phá giới đi
nữa, chúng ta cũng không nên tùy tiện đi rao nói tội lỗi
của quý vị. Vì dù sao thì các vị đã xuất gia, so sánh với
những người thế tục thông thường thì các vị vẫn hơn
rất
nhiều. Nên trong kinh từng dạy:
Ðởm
bặc hoa tuy nuy,
Do
thắng chư dư hoa,
Phá
giới chư tỳ kheo,
Do
thắng chư ngoại đạo.
Dịch:
Hoa
đởm bặc dù héo,
Vẫn
hơn các thứ hoa.
Chư
tỳ kheo phá giới,
Vẫn
hơn các ngoại đạo.
Trong
kinh lại nói:
Hữu
phạm danh Bồ Tát,
Vô
phạm danh ngoại đạo.
Dịch:
Dù
có phạm tội vẫn gọi là Bồ Tát,
Không
phạm tội vẫn gọi là ngoại đạo.
Ý
nghĩa hai câu kinh văn trên là nói bậc Bồ Tát xuất gia, dù
hủy phạm giới cấm, nhưng vẫn làm lợi ích cho chúng sanh.
Dù bản thân mình giới pháp không trọn vẹn, nhưng vẫn đem
chánh pháp lợi lạc quần sanh, làm một đối tượng trong
Phật pháp để cho người nương theo.
Bằng
chứng hiển nhiên là những tăng nhân có vợ con, chính cá
nhân quý vị ấy vẫn tự biết hổ thẹn; nhưng các Phật
tử tại gia khi hữu sự, như khi cúng kiếng, cầu an, cầu
siêu... đa số đều nhờ quý vị ấy. Trái lại, hàng ngoại
đạo dù khổ hạnh, thanh tịnh, không phạm lỗi chi, nhưng
chính bản thân các vị đã đi vào con đường tà lại dẫn
dắt người vào con đường tội ác của mình.
Vì
thế, không riêng tỳ kheo, tỳ kheo ni không phạm giới, chúng
ta không được khinh thị và rao nói lỗi lầm của quý vị,
mà ngay chính những tỳ kheo phạm giới, chúng ta cũng không
nên khinh thị và đi rao nói những lỗi lầm của quý ngài.
Chúng
ta nên biết, một vị xuất gia thật sự rất khó có. Chẳng
hạn như con bò dù đã chết, nhưng vị ngưu hoàng của nó
vẫn hữu ích cho mọi người (ngưu hoàng là một vị thuốc
lấy từ chất vàng trong thân con bò mà chế tạo ra). Vị tỳ
kheo phá giới cũng thế, xem thấy rất là tầm thường, nhưng
vẫn hơn hàng nhân thiên thông thường, vì những hạng này
vẫn thuộc về thế gian.
Tỳ
kheo phá giới, giới hạnh dù không thanh tịnh nhưng đã có
sự huân đào trong Phật pháp, đã gieo trồng thiện căn xuất
thế. Việc này trong kinh Ðại Bi nói rất rõ: “Những người
xuất gia tay tả bồng con trai, tay hữu bồng con gái, từ quán
rượu này đến quán rượu khác, tuy nhiên các vị ấy không
ngoài Hiền kiếp này sẽ nhập Niết Bàn”.
Không
thể chấp nhận người xuất gia ẵm con trai, con gái, ra vào
các quán rượu. Ðương nhiên việc đó không thể được,
vì hoàn toàn không giống với bậc xuất gia trong Phật pháp,
lại còn làm cho người tạo khẩu nghiệp. Chúng ta không thể
che giấu, bào chữa cho việc làm ấy là hợp pháp, hợp luật.
Có điều là dù quý vị ấy như vậy, nhưng không thể nói
quý vị ấy đối với Phật pháp không có chút cống hiến,
đem sự lợi ích cho mọi người. Chỉ cần các vị ấy có
chút cống hiến cho Phật pháp, chúng ta cũng phải tán thán
các vị ấy, khiến cho quý vị ở trong Phật pháp càng tăng
tiến.
(Những
lời trên của pháp sư Diễn Bồi rất là thật tế. Vì đối
với những vị xuất gia không tâm tàm quý, ở đây tạm gác
qua, không bàn đến; còn những vị biết tàm quý, trong khi
chính mình giới hạnh không được trọn mà được tín đồ
cung kính, cúng dường, nội tâm tự hổ thẹn, nhờ đó mà
có thể xa lìa mọi lỗi lầm, ở trong Phật pháp tu hành tinh
tấn để trở thành một tăng nhân có giới đức).
Ở
đây, cần phải nói rõ tội rao nói tội lỗi của tứ chúng
trong Phật pháp khinh hay trọng, căn cứ vào đối tượng nào
mà bạn đi rao nói để phán đoán?
Như
đối với các vị lãnh đạo tối cao trong quốc gia mà bạn
đi rao nói tội lỗi của tứ chúng thì bạn mắc tội rất
nặng. Tại sao vậy?
Vì
người lãnh đạo tối cao của quốc gia đều có tâm hy vọng
các tôn giáo trong nước mình góp sức gánh vác trách nhiệm
giáo hóa nhân dân, để bổ sung những chỗ không hoàn hảo
của pháp luật, chính trị quốc gia. Nhưng bản thân của quý
vị trong tôn giáo không kiện toàn, khiến các vị lãnh đạo
quốc gia cảm thấy tôn giáo này vô ích cho nhân dân xã hội.
Ðể tôn giáo này lưu hành trong nước chẳng ích lợi gì,
chi bằng tiêu diệt nó cho xong. Trong lịch sử, các bạo quân
phá diệt Phật pháp, đa số đều do động niệm này mà sinh
ra.
Nếu
bạn đối trước kẻ ác, ngoại đạo, rao nói tội lỗi của
tứ chúng, tội ấy dù không nặng như nói đối với quốc
vương, nhưng cũng không phải nhẹ. Vì kẻ ác, ngoại đạo,
từng giờ từng phút tìm kiếm những lỗi lầm của tứ chúng
để giúp thêm tài liệu bài báng Phật pháp. Bấy giờ, họ
không cần tìm kiếm mà chính chúng ta tự động cung cấp tài
liệu cho họ, giúp cho họ mạnh mẽ bài báng Phật pháp. Nếu
bạn trách họ, hỏi họ: “Tại sao các ông đi bài báng Phật
pháp như vậy?” họ sẽ đáp ngay không chậm trễ: “Ðiều
ấy không phải chúng tôi cố ý làm như vậy, mà chính người
học Phật của các ông tự đi rao nói. Người học Phật của
các ông đều không đúng, thì thấy rằng giáo pháp hay lý
luận của Phật pháp không thể tĩnh hóa nhân tâm. Như thế,
trên thế gian này, cần chi phải có Phật pháp?” Chúng ta
hãy tưởng tượng sự tổn thất của đối với Phật pháp
lớn biết dường nào!
Nếu
bạn đối với Phật tử tại gia rao nói tội lỗi của hàng
xuất gia thì vị Phật tử tại gia trước đây trong tâm bao
giờ cũng cung kính tôn trọng các vị xuất gia như một vị
Bồ Tát. Giờ đây, do bạn nói với các Phật tử ấy tội
lỗi của các vị xuất gia này, tội lỗi của người xuất
gia kia, khiến các Phật tử ấy đối với người xuất gia
có ấn tượng không tốt. Từ đó, thối thất tín tâm đối
với ngôi Tam Bảo. Do đó, tội của bạn đương nhiên cũng
không phải nhẹ.
Không
nói tội lỗi của người khác là một mỹ đức rất lớn
của tư cách làm người. Ở thế gian này rất ít người có
được. Ða số người đều bị kẹt vào cái tội đi rao nói
tội lỗi của người khác, không nhiều thì ít, không cách
gì tránh được.
Như
trong tình đồng đạo, mà đi rao nói người ấy thế này,
người kia khác, đúng lý mà nói là không nên, nhưng vì không
phải nói với ngoại đạo, nên tội cũng không nặng lắm,
chỉ kết thành tội phương tiện.
Còn
trong tăng đoàn, nếu trước khi cử hành lễ, Bồ Tát được
phép công khai kiểm điểm cử tội chúng tăng, đôi khi còn
cực lực quở trách. Trường hợp này hoàn toàn không phạm.
Hoặc vì thiện ý, đem tội lỗi của một đồ chúng nói cho
sư phụ của người ấy nghe, để đúng pháp dạy bảo họ,
khiến họ cải hối lỗi lầm, theo Phật pháp tu tập. Trường
hợp này hoàn toàn không phạm.
Như
các nữ hài ở trong trai đường, là chỗ các thiếu nữ tập
học kinh luật và tụng kinh niệm Phật, tu hành trai giới thanh
tịnh. Ở Trung Hoa thời xưa, các Phật tử tại gia lập trai
đường cho các thiếu nữ con em của mình phát tâm đến tu
học Phật pháp như người xuất gia. Vì các nữ hài ấy không
biết sự hiểm ác của nhân tâm, cũng không biết sự ác trược
ngoài xã hội, nên bị người dụ dỗ mê hoặc, đi vào con
đường sai lầm. Và vì sư trưởng hoặc giám hộ bận rộn
không biết được sự nguy hại trên. Nhưng người bên cạnh
nhận thấy sự nguy hại cho các cô, khởi tâm muốn cứu giúp
các cô ra khỏi sự sa đọa, bèn đem sự thật mình đã thấy
nghe nói với gia trưởng, hy vọng gia trưởng của họ sẽ
khai hóa, dẫn dắt họ ra khỏi con đường tội lỗi. Dù bạn
có thể bị các cô thiếu nữ kia oán ghét, hay hờn giận suốt
đời, nhưng bạn chỉ cần hỏi lương tâm mình, nếu thấy
không thẹn vì là việc làm không tội ác, thì cũng không nên
ngại gì sự giận ghét của các cô.
Rao
nói tội lỗi của người, phạm tội khinh hay trọng phải
căn cứ vào động cơ thúc đẩy bên trong và lời nói bên
ngoài để phán đoán. Nếu vì tham cầu tài lợi và danh dự,
rao nói tội lỗi của người để mong bao nhiêu danh dự, lợi
dưỡng về phần mình, bèn dùng những lời hết sức bỉ ác,
tội này đương nhiên là rất nặng.
Trường
hợp vì báo cừu hận của mình với người nào, nên dùng
tâm sân hận rao nói tội lỗi của người, trong tâm cảm thấy
được thỏa mãn vui sướng vô hạn, bên ngoài hiện ra sắc
mặt hung dữ, lời nói ác độc mãnh liệt, tội này rất nặng.
Nếu
vì ngu si không biết lời nói của mình là khinh hay trọng,
cũng không biết có sự tổn hại cho người, nói một cách
lơ láo, miễn cưỡng, không hăng hái, tội này so ra nhẹ hơn.
Nếu
như dùng tâm vô ký khinh suất mà rao nói tội lỗi của người
thì chỉ phạm tội phi nhiễm ô hạnh (nghĩa là lúc rao nói
lỗi của người, không phải do phiền não sai sử thì không
phạm căn bổn trọng tội).
Vì
vậy, cùng là rao tội lỗi của người nhưng kết tội khinh
hay trọng không đồng nhau.
Ngoài
việc tự mình rao nói lỗi của tứ chúng, có khi lại bảo
người khác rao nói tội lỗi của tứ chúng.
Bảo
người rao nói tội lỗi cũng có nhiều hình thức khác nhau,
có khi dùng miệng như bảo người rằng: “Kẻ kia có điều
không đúng với tôi. Anh nên đi các nơi rao nói cho mọi người
biết kẻ ấy là người không đúng...”
Có
khi hiện tướng sai bảo người, nghĩa là, tuy miệng không
nói rõ người mình muốn rao nói tội lỗi như thế nào, chỉ
hiện thái độ bên ngoài để người bị sai bảo biết rõ
phải làm việc chi, rồi theo đó, đi đến các nơi rao nói
tội lỗi của người cho mọi người biết. Có khi sai bảo
người thân tín mang thơ mình viết trao cho một người tin
cậy khác, bảo họ rao nói tội lỗi của người mình muốn
rao nói v.v... Như trên đều là bảo người đi rao nói tội
lỗi của người.
Bảo
người rao nói tội lỗi của người đại khái có hai nguyên
nhân:
1.
Chính mình với kẻ ấy có mối tư hận hoặc tư thù rất
lớn. Nếu không bộc lộ tội lỗi của người ấy ra, trong
lòng mình cảm thấy không vui. Nhưng nếu tự mình đi rao nói
thì có thể người khác biết mình có ác cảm với cá nhân
kia và sẽ không tín thọ lời nói của mình, sanh ra ảnh hưởng
không tốt. Do đó, mới bảo người khác đi rao nói tội lỗi
của người mà mình muốn nói, để tránh sự hiểu xấu của
người khác đối với mình, đồng thời mình cũng được
vừa lòng, thỏa chí.
2.
Biết người này có mối thù rất lớn đối với một người
khác, nhưng họ không biết đi rao nói tội lỗi của kẻ ấy.
Bấy giờ bạn mới nói với người này rằng: “Kẻ ấy có
cừu hận với anh như vậy, sao không đem tội lỗi của y nói
cho mọi người nghe, để lột mặt nạ của y cho mọi người
biết chỗ xấu ác của y”. Người ấy nghe lời xúi biểu
của bạn, đi nơi khác rao nói tội lỗi của kẻ kia, làm cho
họ bị tổn thất danh dự. Bấy giờ bạn mới vui cười sung
sướng vì đạt được mục đích đả kích địch nhân.
Thứ
dụng tâm xấu ác này thật là không được làm. Một vị
Bồ Tát chân chánh khi nghe người khác rao nói tội lỗi của
tứ chúng, phải khuyên bảo họ đừng nên rao nói. Có lẽ
đâu lại tự mình đi rao nói tội lỗi của người đi tu hành
trong Ðại Thừa, Tiểu Thừa, còn lại đi khuyến bảo kẻ
khác đi rao nói?
Nên
trong Nhiếp Luật có dạy: “Phàm Phật tử xuất gia thốt
ra một lời chi đều vì lợi ích cho người, không nên ôm
ấp niệm tư thù, tư hận mà đi rao nói tội lỗi của người”.
Luật
Tát Bà Ða nói: “Thà làm tội ác phá hoại tượng tháp, quyết
không đi rao nói tội lỗi của người xuất gia. Nếu rao nói
tội lỗi của người xuất gia tức là phá hoại Pháp Thân
của Phật”.
Quý
vị hãy suy nghĩ cho kỹ, tội lỗi ấy lớn biết dường nào?!
Rao
nói tội lỗi của tứ chúng cũng có bốn điều kiện: nhân,
duyên, pháp, nghiệp. Ðúng ra phải gọi là thuyết nhân, thuyết
duyên, thuyết pháp, thuyết nghiệp, nghĩa là: nhân rao nói,
duyên rao nói, phương pháp rao nói, nghiệp rao nói.
(Ghi
chú: Như trong kinh này lại nói: “Tội quá nhân, tội quá
duyên, tội quá pháp, tội quá nghiệp” (nhân tội lỗi, duyên
tội lỗi, cách thức tội lỗi, nghiệp tội lỗi). Vì lý do
trên, trong giới bổn Việt văn, sau khi tham khảo kỹ, Hòa Thượng
dịch rõ là nhân rao nói tội lỗi, duyên rao nói tội lỗi,
cách thức rao nói tội lỗi, nghiệp rao nói tội lỗi).
Hiện
tại, y cứ theo kinh văn giới bổn chữ Hán, lược phân biệt
bốn thứ như sau:
1.
Nhân rao nói tội lỗi: do ba độc tham, sân, si huân nhiễm ở
trong tâm từ vô thỉ đến nay, hiện tại mới khởi sanh ra
tâm niệm rao nói tội lỗi của người, nên gọi là nhân tội
lỗi.
2.
Duyên rao nói tội lỗi: lúc rao nói tội lỗi, phải tìm kiếm
cho được những lỗi lầm của đối phương, để làm tài
liệu cho mình lúc rao nói. Ðó là duyên tội lỗi.
3.
Cách thức rao nói tội lỗi: dùng các thứ phương tiện như
lời nói khôn khéo, khiến cho người khác nghe biết tội lỗi
của người mình muốn nói. Ðó là cách thức tội lỗi.
4.
Nghiệp rao nói tội lỗi: từ nơi miệng mình thốt ra lời
nói rõ ràng, rành rẽ, người đối diện lãnh hội những
lời nói ấy một cách minh bạch. Ấy là nghiệp tội lỗi.
Bốn
pháp như thế hòa hợp mới kết thành căn bổn trọng tội.
Ðúng
sự thật mà nói, một vị Bồ Tát phát tâm độ người, chẳng
những tự mình không nên rao nói tội lỗi của tứ chúng mà
khi nghe kẻ ác bên ngoại đạo hoặc người ác bên Tiểu Thừa
đi rao nói những sự việc phi pháp, phi luật trong Phật pháp,
phải thường sanh khởi tâm từ bi giáo hóa những bọn người
ác ấy, khiến họ sanh tín tâm lành đối với Ðại Thừa.
Ngoại
đạo chỉ dùng những đồ chúng các tôn giáo khác. Nguyên
vì họ không đạt được nội tâm, chỉ một mặt hướng
về bên ngoài để cầu pháp. Vì thế, Phật pháp cho họ là
ngoại đạo. Họ đã không đạt nội tâm, đương nhiên không
tin tâm mình là Phật. Bấy giờ mê chân, theo vọng, cho tà
là chánh, tạo những nghiệp bất thiện, bị luân hồi trong
lục đạo nên gọi là “người ác”.
Nhị
Thừa trong kinh dạy là bậc thánh nhân trong Phật pháp, đã
vượt ra ngoài tam giới và được giải thoát, việc này không
phải kẻ tầm thường làm được. Nhưng tại sao trong kinh
này lại gọi nhị thừa là ác nhân?
Vì
hành giả trong nhị thừa chấp quy mô nhất định, với những
việc làm của hành giả Ðại Thừa sanh tâm nghi ngờ. Không
biết sự diệu dụng của Ðại Thừa là vô cùng vô tận nên
không chịu phát đại tâm cứu độ chúng sanh, cứ chấp chặt
cho việc ấy là như vậy, phải như vậy, không thể phương
tiện linh động chút nào nên bị quở là ác nhân.
Người
ác trong ngoại đạo, đại đa số đều bác cho là không nhân
không quả. Mỗi khi trông thấy việc làm đúng pháp, đúng
luật của hành giả trong Phật pháp, chẳng những họ không
thừa nhận là đúng, trái lại còn nói việc làm ấy không
hợp với chánh pháp, và tu theo chánh hạnh luật nghi. Như thế
thì bạn nói là họ điên đảo hay không điên đảo?
Người
ác trong Tiểu Thừa, dù y theo luật nghi giới một cách nghiêm
cẩn, tất cả đều đúng pháp, đúng luật, mọi việc đều
trúng quy, trúng củ. Nhưng đối với các phương tiện của
hành giả trong Ðại Thừa vận dụng, họ không biết được
chỗ dụng ý u vi của, thâm áo của các ngài, không biết đấy
là phương tiện vì độ sanh mà làm ra, cũng không biết đó
là vì tâm đại bi thúc đẩy các ngài làm như thế, họ trở
lại nói những hành động của Bồ Tát là phi pháp, phi luật,
trái với chánh đạo của Như Lai. Bấy giờ họ sanh tâm khinh
thị Bồ Tát, thậm chí nói Bồ Tát là người phá hoại Phật
pháp.
Hành
giả Bồ Tát bất luận nghe ngoại đạo rao nói tội lỗi của
người tu hành trong Phật pháp, hoặc nghe hàng Nhị Thừa rao
nói tội lỗi của tứ chúng trong Phật pháp, phải sanh tâm
lân mẫn, từ bi, vận dụng lời nói của mình để giáo hóa
bọn người ác ấy, khuyên bảo hàng ngoại đạo rằng: “Các
ông rao nói tội lỗi của người tu hành trong Phật pháp là
không đúng. Vì các ông không hiểu rõ được Phật pháp. Ðáng
lẽ các ông phải mau mau từ bỏ con đường sai lầm của mình
mà vào trong con đường chánh đáng của Phật pháp. Nếu các
ông cứ mê mải trầm luân trong tư tưởng sai lầm của mình
thì không thể nương vào đâu để tự cứu được”.
Lại
khuyến hóa các hành giả trong Nhị Thừa rằng: “Các ngài
không nên cho rằng việc làm của các ngài đều đã xong. Các
ngài cũng không nên cho rằng các ngài đã chứng Niết Bàn.
Thật ra trong lộ trình của Phật pháp, các ngài chỉ mới
đi được phân nửa đường mà thôi. Các ngài phải bỏ ngay
Tiểu Thừa, hướng về Ðại Thừa để đi tiếp đoạn đường
các Ngài chưa đi”.
Giáo
hóa những bọn người ác như vậy, khiến họ sanh tín tâm
lành đối với Phật pháp Ðại Thừa, đây mới là con đường
chánh đáng của Bồ Tát giác ngộ quần sanh. Nếu không thực
hành như vậy, thì không đúng với tư cách của Bồ Tát.
Vì
thế, kinh dạy tiếp theo: “Nhi Bồ Tát phản cánh tự thuyết
Phật pháp trung hội quá giả” (mà trái lại, Phật tử lại
tự mình rao nói tội lỗi trong Phật pháp), lẽ tự nhiên tội
ác này rất lớn!
Vì
dụng tâm của Bồ Tát hoàn toàn là làm lợi ích cho chúng
sanh, khiến cho chúng sanh được an ổn không lo sợ. Nếu có
người rao nói tội lỗi trong Phật pháp, đáng lẽ Bồ Tát
phải đem hết sức mình khai hóa, dẫn dắt họ, không cho nói
bậy bạ như thế, để khỏi chướng ngại việc hoằng dương
Phật pháp và không tán thất tánh đức của họ. Có đâu
lại tự mình rao nói tội lỗi của người tu hành trong Phật
pháp, làm cho họ không thể tăng tấn trong Phật pháp, thậm
chí còn thối thất tín tâm. Như thế, đối với thiện lữ
trong Phật pháp đã gây thương hại, mà đối với chánh pháp
của Như Lai cũng bị tổn thương. Thử hỏi tại sao bạn lại
đi nói như thế? Và hạnh bi tế Bồ Tát của bạn ở chỗ
nào? Vì thế trong kinh kết tội là Phật tử này phạm Bồ
Tát Ba La Di tội.
Tứ
chúng trong Phật pháp không có tội lỗi mà rao nói tội lỗi,
đương nhiên là không được. Nhưng trên thực tế, có những
việc không đúng pháp, nếu nói tội lỗi của họ, khiến
hành giả biết mà cảnh giác lo sợ, hoặc khi nghe nói lỗi
của mình sẽ dõng mãnh cải hối thì có gì là không được.
Nếu
cấm hẳn không được đi rao nói thì không lẽ Phật pháp
che đậy, bào chữa tội lỗi của Phật tử để cho Phật
giáo đồ không được thanh tịnh hay sao?
Không!
Tuyệt đối là không! Phật tử cứ mỗi nửa tháng trong lúc
tụng giới thường phải kiểm điểm cử tội với nhau. Nếu
có tội, phải bảo nhau sám hối. Nếu có người không thừa
nhận lỗi lầm của mình, không thành tâm tiếp thọ sự trị
phạt của chúng tăng, sẽ bị trục xuất ra khỏi tăng đoàn
không cho cộng trú.
Cho
nên Tăng đoàn trong Phật giáo trước cũng như sau, luôn giữ
không khí hòa hợp, an vui thanh tịnh, tuyệt đối không cho
người phạm giới tồn tại trong Tăng đoàn.
Những
việc làm này cùng với tâm tư hận thù của riêng mình không
sợ tội phước, nhân quả, rao nói tội lỗi của người,
dùng những lời ác độc đi rao nói cốt sao cho được sâu
rộng, hai việc làm này hoàn toàn khác hẳn nhau, không nên
xen lộn và cho là giống nhau.
Bồ
Tát lấy việc lợi tha làm trách nhiệm của mình. Khi chúng
sanh có lỗi lầm gì, phải vì họ che giấu, không nên moi móc,
rao nói. Sau đó, dần dần khuyên răn cảm hóa để chúng sanh
ấy “cải quá tự tân”, trở thành một người tốt trong
Phật pháp. Khi thấy chúng sanh ấy có những công đức gì,
cần phải cực lực tuyên dương khích lệ, giúp cho chúng sanh
ấy làm thiện sự một cách tích cực, hầu làm cho thiện
hạnh chúng sanh ngày một tăng trưởng.
Vì
thế, trong bất cứ trường hợp nào, cũng không nên đi rao
nói tội lỗi của hành giả trong tứ chúng. Nếu Bồ Tát rao
nói tội lỗi trong tứ chúng, dù là sự thật hay bịa đặt,
nếu rao nói trọng tội thì thành trọng tội, nói lỗi khinh
thì thành tội khinh.
Dù
những tội lỗi là sự thật, nếu đi rao nói cũng phạm tội
lưỡng thiệt thượng phẩm và tội ác khẩu. Nếu tội lỗi
không có thật, chỉ là bịa đặt thì chồng thêm một tội
vọng ngữ. Như thế, buông lung, khoái ý, rao nói tội lỗi
của tứ chúng, tổn hại cho người thế nào, tạm gác qua
một bên, không cần luận đến. Trước tiên, chính mình đã
tạo khẩu nghiệp rất nặng. Như thế, tại sao lại muốn
rao nói tội lỗi của người và khổ gì mà lại đi làm như
thế?!
Nếu
giữ giới rao nói tội lỗi của tứ chúng là nghiêm trì Tam
Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát.
-
Không rao nói tội lỗi của tứ chúng thuộc về Nhiếp Giới.
-
Thường sanh khởi tâm từ bi, thuộc về Nhiếp Thiện Pháp
Giới.
-
Dạy người sanh tín tâm lành đối với Ðại Thừa, thuộc
Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Vì
thế, nếu hủy phạm giới rao nói tội lỗi của tứ chúng
là trái nghịch với Tam Tụ Tịnh Giới của Bồ Tát, và tư
cách của Bồ Tát sẽ bị mất hẳn. Thế thì chúng ta đối
với giới này không thận trọng, chú ý gìn giữ hay sao? Ðặc
biệt là hành giả Bồ Tát, đối với giới điều này, lại
càng phải lưu tâm giữ gìn cho nghiêm cẩn.
Nhưng
làm thế nào mới là giới không rao nói tội lỗi của tứ
chúng?
Ðối
với Bồ Tát xuất gia và tại gia, cùng tỳ kheo, tỳ kheo ni,
khi hành được việc lành, dù chỉ mảy may, cũng phải cực
lực tùy hỷ tán thán. Nếu như các vị không có thiện hạnh
gì cũng phải thường nghĩ đến thiện pháp trong Phật tánh
của họ mà tán thán, như trong kinh Niết Bàn, đức Phật đã
dạy chúng ta như thế. Do đó, tự nhiên không bao giờ chúng
ta đi rao nói tội lỗi của tứ chúng.
Rao
nói tội lỗi của tứ chúng là một tội ác rất nặng và
quả báo phải cảm thọ trong tương lai như thế nào?
Kinh
dạy người ấy phải bị đọa vào địa ngục Bạt Thiệt
(bị rút lưỡi), hoặc Canh Thiệt (kéo lưỡi ra cho trâu cày),
những nỗi thống khổ phải cảm thọ như thế thật nói không
hết được. Nếu luận về tội lưỡng thiệt, tương lai sẽ
chịu báo ứng không lưỡi hay trăm lưỡi. Còn luận tội ác
khẩu thì đời hiện tại nếu bạn nói chuyện xấu của người
khác làm cho giữa người với người xảy ra mối bất hòa,
tương lai sẽ bị đọa địa ngục. Khi từ địa ngục ra,
chuyển sanh làm người sẽ chiêu cảm quả báo quyến thuộc
bất hòa, gây gổ, gia đình xáo trộn, ngửa nghiêng, không
được an vui.
Trung
Hoa có câu: “Họa tùng khẩu xuất”, cái lưỡi con người
chính là cái búa chém vào thân. Cho nên, làm người trên thế
gian, đối với lời nói, phải luôn kiểm điểm và hết sức
thận trọng, không nên buông lung, khoái ý hại người trong
hiện tại, mà phải xem thường quả khổ phải chịu của
thân sau.
Kết
thành tội nghiệp của giới này phải có đủ sáu duyên, phân
biệt như sau:
1.
Thị chúng sanh (là chúng sanh) gồm 3 phẩm khác nhau:
-
Ðối với hai phẩm thượng và trung, nếu bạn rao nói tội
lỗi của người đã thọ giới Bồ Tát, tức phạm căn bổn
trọng tội. Nếu nói tội lỗi của người chưa thọ giới
Bồ Tát và tỳ kheo, tỳ kheo ni, chỉ phạm tội khinh cấu.
-
Trường hợp chúng sanh hạ phẩm, có chỗ nói là dù chúng
sanh ấy có thọ giới hay không, nếu bạn đi rao nói tội của
họ thì chỉ phạm tội khinh cấu. Có chỗ nói là nếu rao
nói tội của chúng sanh đã thọ giới Bồ Tát thì phạm trọng
tội, nhưng không nhất định bị mất giới thể.
Ðối
với trường hợp người không có tội mà nói có tội là
phạm trọng tội. Còn người thật có phạm trọng tội, nếu
đi rao nói tội lỗi của họ sẽ như thế nào?
Nếu
thật có phạm trọng tội và người ấy giới thể đã mất,
nếu rao nói tội lỗi của họ thì chỉ phạm tội khinh cấu.
Nhưng nếu giới thể của họ chưa mất, hoặc giới thể đã
mất, nhưng đã theo đúng pháp mà thọ trở lại, nếu rao nói
tội lỗi của người ấy sẽ phạm căn bổn trọng tội.
2.
Chúng sanh tưởng (tưởng là chúng sanh): duyên này cũng gồm
sáu trường hợp:
Hai
loại chúng sanh sau đây, nếu nói tội lỗi của họ sẽ phạm
trọng tội:
-
Chúng sanh tưởng là chúng sanh có giới.
-
Chúng sanh nghi là chúng sanh có giới.
Nói
tội lỗi của bốn loại dưới đây sẽ phạm tội khinh cấu:
-
Chúng sanh tưởng không phải chúng sanh và không giới.
-
Chẳng phải chúng sanh tưởng là chúng sanh có giới.
-
Chẳng phải chúng sanh nghi chúng sanh có giới.
-
Chẳng phải chúng sanh nghi là chúng sanh không giới.
3.
Thuyết tội tâm (tâm rao nói tội lỗi):
-
Tâm hãm một: mục đích là muốn cho người ấy mất hết
danh dự, lợi dưỡng, không còn chỗ đứng trong xã hội.
-
Tâm trị phạt: mục đích là muốn người ấy bị những hình
phạt đánh đập, trói cột, phải thọ lấy những nỗi thống
khổ thê thảm. Những tội lỗi mà bạn rao nói dù có thật
hay không, hoặc nếu bịa đặt thì cũng phạm trọng tội.
Ðây chính là chủ nghiệp của rao nói tội lỗi.
4.
Sở thuyết hóa (những tội lỗi đã rao nói): những việc
tội lỗi cùng với tên tội lỗi đã rao nói, tức là chỉ
những việc sát, đạo, dâm, vọng, uống rượu, ăn thịt,
những tên tội rao nói, bên Ðại Thừa như ngũ nghịch, thập
trọng và khinh cấu; bên Tiểu Thừa thì Ngũ Thiên, Thất Tụ...
Trong
khi rao nói tên tội trọng, những tội trọng mà trong ý tưởng
của bạn cho là trọng tội, nghi là tội trọng thì sẽ phạm
trọng tội. Nếu bạn tưởng là tội khinh thì sẽ phạm tội
khinh cấu.
Tên
tội khinh, sự việc khinh, nếu bạn tưởng là khinh thì phạm
khinh cấu; hoặc nghi là khinh thì phạm khinh cấu; nhưng nếu
bạn tưởng là trọng mà rao nói thì phạm trọng tội.
Ðồng
là rao nói tội lỗi, nhưng rốt ráo phạm khinh hay trọng cứ
xem tư tưởng của bạn lúc bấy giờ để quyết định, không
nên căn cứ vào một mặt mà kết luận.
5.
Sở hướng nhân: duyên này xem bạn đối với người nào rao
nói để định tội khinh hay trọng.
-
Với thượng và trung phẩm chúng sanh, trường hợp đối với
những người không thọ giới Bồ Tát mà rao nói tội lỗi
của thất chúng Bồ Tát, hoặc với những người không thọ
giới tỳ kheo mà rao nói tội lỗi của hai chúng tỳ kheo thì
phạm trọng tội.
-
Với hạ phẩm chúng sanh dù có giới hay không, đối với chúng
sanh này mà nói tội lỗi của tứ chúng thì chỉ phạm tội
khinh cấu. Vì với chúng sanh này, sự tổn thất thiệt hại
của tứ chúng không sâu rộng lắm, không gây ảnh hưởng
lớn lắm.
6.
Tiền nhân lãnh giải (người trước mặt lãnh hội hiểu rõ)
Lúc
bạn rao nói tội lỗi của tứ chúng, người trước mặt hoàn
toàn lãnh hội hiểu biết rõ bạn rao nói tội lỗi của người
nào. Lúc hoàn thành khẩu nghiệp rao nói tội lỗi của bạn,
lúc ấy mới kết tội.
Lại
còn tùy theo từng mỗi lời mà kết tội, cũng tùy theo người
lãnh hội nhiều ít mà kết tội. Nếu lúc bạn rao nói tội
lỗi của tứ chúng, nhưng người nghe hoàn toàn chưa hiểu
rõ ý nghĩa, lý thú trong lời nói của bạn thì chỉ kết thành
tội phương tiện.
Ở
đây có người hỏi rằng: Bồ Tát nếu rao nói tội lỗi của
người ngoại đạo, để họ đừng mê hoặc, dối gạt chúng
sanh, như thế có phạm tội hay không?
Ðáp:
Không!
Trường
hợp này chẳng những không phạm căn bổn trọng tội, lại
chính là đại nguyện phương tiện, tồi tà hiển chánh của
Bồ Tát.
Tại
sao vậy? Vì Bồ Tát có bổn phận cứu độ chúng sanh, quyết
không để chúng sanh lạc vào đường tà ác. Mà ngoại đạo
là những người dẫn dắt chúng sanh đi lên con đường ấy.
Nếu Bồ Tát không đem những lỗi lầm của ngoại đạo chỉ
ra, thì chúng sanh làm sao biết quay đầu, bước lên con đường
quang minh chính đại của Phật pháp?
Lại
có người hỏi rằng: Nếu ác tỳ kheo làm những việc không
đúng pháp, nhưng tỳ kheo vốn là bậc sư phạm của nhân,
thiên, nhất cử nhất động, một lời nói, một việc làm
đều mô phạm cho nhân, thiên. Chúng sanh không biết việc làm
của tỳ kheo ấy phi pháp lại cho là rất đúng và bắt chước
theo, Bồ Tát thấy như vậy, không muốn cho chúng sanh bắt
chước theo để tương lai pphải cảm thọ các khổ quả bèn
đem tội ác của tỳ kheo kia nói cho chúng sanh, những người
bắt chước theo tỳ kheo ấy được rõ biết. Như vậy có
phạm trọng tội hay không?
Ðáp:
Không!
Trường
hợp này chẳng những không phạm căn bổn trọng tội mà chính
là việc làm hoạt bát khuyến thiện, trừng ác của đại
sĩ. Không phải vì tâm tư thù mà rao nói tội của người.
Nhưng có điều phải lưu tâm phân biệt là chỉ có hàng Bồ
Tát xuất gia mới được đi rao nói tội lỗi của ác tỳ
kheo như vậy. Còn Bồ Tát tại gia, dù tỳ kheo ấy không đúng
pháp như thế nào, vẫn không được phép đi rao nói.
Lại
có người hỏi: Bồ Tát có hai loại xuất gia và tại gia.
Bồ Tát tại gia thì nhiều hơn xuất gia, và có thể phục
vụ bất cứ tầng lớp nào, giai cấp nào trong xã hội. Có
một vị Bồ Tát tại gia, làm quan trong quốc gia, thấy các
quan trong chánh phủ làm nhiễu hại nhân dân, nếu để trường
kỳ như vậy, sanh linh sẽ bị đồ thán. Vì không muốn nhân
dân bị hại, bấy giờ Bồ Tát nhằm vào tâm từ bi của mình,
đem tất cả âm mưu làm hại nhân dân của họ, công khai rao
nói, khuyến cáo nhân dân trong toàn quốc, không để họ làm
hại. Như thế có phạm căn bổn trọng tội hay không?
Ðáp:
Không! Trường hợp này chẳng những không phạm trọng tội,
mà còn biểu hiện đại nghĩa thương nước, thương dân của
đại sĩ, không phải vì tâm mong cầu danh lợi mà rao nói tội
lỗi của người.
Bồ
Tát tại gia vì quốc gia mà phục vụ, cốt yếu có lợi cho
quốc gia và nhân dân, nên không ngại gì nói thẳng tội lỗi
của các quan viên, đừng sợ mà che giấu.
