B.1.1.44.
VỌNG NGỮ GIỚI (giới vọng ngữ)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Nhược Phật tử...” cho đến câu “...thị Bồ Tát
Ba La Di”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử tự mình nói vọng ngữ, bảo người nói vọng ngữ,
phương tiện vọng ngữ, duyên vọng ngữ, cách thức vọng
ngữ, nghiệp vọng ngữ, nhẫn đến không thấy nói thấy,
thấy nói không thấy. Hoặc thân vọng ngữ, hoặc tâm vọng
ngữ. Là Phật tử lẽ ra phải luôn luôn chánh ngữ, chánh
kiến và cũng làm cho tất cả chúng sanh có chánh ngữ, chánh
kiến, mà trái lại làm cho mọi người tà ngữ, tà kiến,
Phật tử này phạm Ba La Di tội.
Lời
giảng:
Từ
“vọng ngữ” hằng ngày Phật giáo đồ chúng ta thường
nghe nói đến như thầy dạy đệ tử: “Các con không được
vọng ngữ, các con không nên tùy tiện nói vọng ngữ”. Như
thế, vọng ngữ là nhất định không được, vì chỉ có tổn
mà không có ích. Cho nên trong Phật pháp nhận chân vọng ngữ
là một tội ác và cực lực ngăn cấm.
Nói
vọng ngữ là như thế nào?
-
Lời nói không hợp với sự thật là Vọng.
-
Lời nói làm cho người lãnh hội là Ngữ.
Ðối
với người phải thành thật, đó chẳng những là điều tối
yếu nhập đạo mà làm người chính đáng ở đời cũng phải
thành thật. Vọng ngữ là giả dối, không phải đạo đức.
Vọng
ngữ là tự mình biết rõ điều ấy không thật, vì muốn
dối gạt, mê hoặc người nên nói không chút nể sợ. Tuy
thấy là dối gạt người, nhưng nhìn sâu vào trong cốt tủy
chính là tự dối gạt mình.
Như
thế giữ thái độ thành thật không phải là việc rất tốt
hay sao? Tại sao lại nói lời giả dối, gạt người?
Xét
kỹ nguyên nhân ấy không ngoài vọng cầu danh lợi, tham đồ
lợi dưỡng, là một việc không tốt, nên cần cực lực ngăn
cấm. Nói vọng ngữ để cầu danh dự lợi dưỡng là thuộc
về tội ác, mà chính sự tùy tiện nói quàng, nói xiên, nói
bậy bạ không ngăn chặn khẩu nghiệp cũng là một điều
quyết định không được.
Khi
Phật còn tại thế, La Hầu La sau khi xuất gia, vì tuổi nhỏ
không biết cẩn thận giữ gìn khẩu nghiệp. Như khi Phật
tử đến hỏi: “Hôm nay đức Thế Tôn có trong tịnh xá không?”
La
Hầu La biết có Ðức Phật, nhưng cứ tùy tiện nói dối là
không. Ðến khi Ðức Phật đi hoằng hóa nơi khác, Phật tử
đến hỏi, sa di lại nói là có. La Hầu La nói dối như vậy
nhiều lần, có người bạch lên Phật.
Một
hôm, Ðức Phật đi khất thực mang bát về, bảo La Hầu La
đem nước đến cho Ngài rửa chân. Rửa xong, Ngài hỏi La Hầu
La rằng: “Nước này có thể dùng nấu trà, nấu cơm được
không?”
La
Hầu La đáp rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Không được, vì
pha trà, nấu cơm phải dùng nước trong sạch mới được.
Nước này đã rửa chân rồi, thành ra dơ bẩn, đâu có thể
dùng được”.
Ðức
Phật dạy: “Ðúng thế! Ông cũng như vậy. Ông thường nói
lời giả dối với người như nước đã rửa chân nhơ bẩn
không thể dùng pha trà, nấu cơm. Ông thường nói dối thì
không thể tu đạo vô lậu”.
Phật
dạy như vậy rồi lại bảo La Hầu La đổ nước và đem bồn
úp lại chỗ cũ. La Hầu La vâng lời, Phật lại bảo La Hầu
La đem nước đổ lên bồn, nước chỉ lưu lại một chút
ít trên đáy bồn.
Phật
biết rõ, nhưng cố ý hỏi rằng: - Nước đổ vào bồn sao
lại không có?
La
Hầu La bạch: - Kính bạch Thế Tôn! Nước không còn trong bồn
vì bồn đã úp lại cất.
Bấy
giờ, Phật mới nghiêm khắc quở trách rằng: “Ông là người
không có tâm hổ thẹn, do tội vọng ngữ che lấp tâm tánh
như nước không chảy vào bồn, ông không thấm đạo cũng
như thế”.
La
Hầu La được sự giáo huấn của Phật, biết vọng ngữ là
điều quyết không được làm. Từ đấy về sau không bao giờ
nói một lời vọng ngữ.
Ðại
Trí Ðộ Luận nói: “Người vọng ngữ trước tiên là tự
dối gạt mình, rồi sau mới dối gạt người. Cho thực là
hư, cho hư là thực. Hư thực điên đảo thì không thể nào
lãnh thọ thiện pháp, như cái bình úp, nước không chảy vào
được. Người nói vọng ngữ tâm không biết hổ thẹn, đóng
bít con đường nhân thiên và cửa ngõ đi đến Niết Bàn.
Quán biết tội lỗi này rồi, thế nên đừng nói vọng ngữ”.
Trong
kinh dạy: Xưa có một tỳ kheo tên Ha Ða rất có tài tuyên
thuyết chánh pháp và thường bố thí chánh pháp. Công đức
vĩ đại này đáng lẽ được quả báo tốt đẹp, nhưng bất
hạnh thay! Tỳ kheo này sau khi xả thân đọa vào địa ngục
chịu các kịch khổ, lý do vì sao? Có trái với luật nhân
quả hay không?
Ðức
Phật bảo các tỳ kheo rằng: “Tỳ kheo Ha Ða đọa địa ngục
không phải do tuyên thuyết chánh pháp, mà do thường nói vọng
ngữ”. Tai hại của vọng ngữ thấy rõ nơi đây!
Quý
vị không nên cho rằng tùy tiện nói vọng ngữ chút ít không
quan hệ chi. Nên biết tội sát sanh, trộm cắp, tà dâm đã
giảng, phần nhiều do vọng ngữ trợ thành. Vì thế lúc chúng
ta nói vọng ngữ, chư thiên, quỷ thần đều thấy biết. Các
Ngài vốn muốn ủng hộ chúng ta, nhưng vì chúng ta nói vọng
ngữ mà các Ngài xa lánh, không muốn ủng hộ nữa.
Thử
tưởng tội vọng ngữ tổn thất cho chúng ta lớn biết chừng
nào. Cho nên trong kinh, Ðức Phật khai thị rằng: “Thà nên
hy sinh thân mạng của chính mình, không nên phạm giới vọng
ngữ”.
Nói
lời thành thật lắm lúc bị thiệt thòi, bị khinh nhục hoặc
bị kết tội, với tự mình đó là sự hy sinh rất lớn. Tuy
vậy, đối với Phật pháp vẫn cần phải nói lời chân thật.
Không thể vì mình bị bất lợi mà không nói lời thành thật.
Trong
luận Bồ Ðề Tư Lương nói: “Dù do nói lời thành thật
mà phải bị chết, bị mất địa vị Chuyển Luân Vương cùng
chư thiên vương, nhưng cũng phải nói lời thành thật”. Sự
quý báu của lời chân thật, lời đứng đắn, hoàn toàn thấy
rõ nơi đây.
Trái
ngược với lời vọng ngữ là lời thành thật, chân thành
phát xuất từ nội tâm. Người làm đến mức độ chân thành
chính là chân thực không khi người, không bao giờ nói lời
hoang đường để gạt người. Cho nên dù đối với Phật
pháp hay với Nho gia, chân thành vẫn là tối trọng yếu. Chân
thành chẳng những là chánh nghĩa không thể thiếu giữa người
với người tương xử với nhau, mà cũng là một nhân tố
xây dựng tín tâm với nhau.
Chân
thành chẳng những phát xuất từ nơi chân lý mà cũng là biểu
lộ từ nơi chân tình. Chân thành lại còn là sức thúc đẩy
rất lớn đối với con người, có thể làm cho con người
trở nên dũng cảm, không sợ điều gì, có khả năng tồi
phá đến mức không có thứ cứng rắn nào chịu đựng được,
giữ được.
Nên
cổ nhân Trung Hoa có nói: “Tinh thành sở chí, kiên thạch
vi khai” (tinh thành đi đến đâu thì mọi thứ dù cứng rắn
như vàng đá, cũng phải vỡ tan), chính là ý nói trên vậy.
Lại
nữa nhân loại chung sống với nhau, cùng xây dựng nền tảng
trên hai chữ Chân Thành. Nếu không có chân thành thì nhân
loại làm sao chung sống? Tại sao người quân tử nhìn nhận
Chân Thành là điều hết sức quý giá?
Vì
chân thành là tuyền nguyên duy nhất của đạo đức (tuyền
nguyên là nguồn của suối, tức cội gốc của dòng nước,
dùng danh từ này ám chỉ chân thành là nguồn cội của đạo
đức).
Chánh
tâm tu thân của mỗi cá nhân nương nhờ nơi sự chân thành.
Sự đối xử lẫn nhau giữa mình và người được duy trì
cũng nhờ sự chân thành. Cho nên cần phải thể hiện đến
mức độ chân thành mới là đạo lý làm người.
Lại
nữa, chỉ có những người thật sự chân thành trong thiên
hạ mới có thể đem hết năng lực phát huy bổn tánh của
chính mình. Khi dùng sự chân thành tiếp đãi với người,
tự nhiên người sẽ tiếp thọ sự cảm hóa của mình và
lại có ý rất thích được đồng hóa với mình.
Do
đây, ta thấy sức mạnh vĩ đại của sự chân thành mà những
kẻ tầm thường không thể hiểu được. Cho nên nói: “Thành
ý là tiền đề của chánh tâm, là cơ sở của tu thân, là
điều tất cả các tôn giáo đều nhu dụng, là điều kiện
tiên quyết của người tu hành cần phải đủ”.
Phật
giáo xem tội vọng ngữ là căn bổn trọng tội nên càng xem
trọng sự chân thành, cho chân thành là đạo làm người. Nếu
không chân thành thì không đủ tư cách làm người. Ðức Phật
lại đối với đại chúng dạy rằng: “Nếu là một Phật
tử, làm vị Bồ Tát lẽ ra phải dùng tâm chân thành mà cảm
hóa chúng sanh. Vì chỉ có sự chân thành mới khiến chúng
sanh tiếp thọ sự giáo hóa của mình. Nếu không làm như vậy,
lại thường nói những lời hư giả, một ngày nào đó, khi
chúng sanh biết được thì còn ai tin lời nói của mình nữa?
Cho nên bất luận tự vọng ngữ, giáo vọng ngữ, phương tiện
vọng ngữ, đều không thể được, nên phải triệt để ngăn
cấm, chừa bỏ”.
*
Thế nào là tự vọng ngữ?
Là
chính mình đối với người, nói là mình đã chứng đắc
pháp thượng nhơn, là pháp sở tu sở chứng của bậc thánh
hiền. Pháp sở tu gồm 37 phẩm Bồ Ðề phần và các môn tam
muội; pháp sở chứng bao gồm các địa vị trong Tam Hiền,
Thập Thánh.
Nói
đại vọng ngữ là nói như thế nào?
Là
tự nói mình đã chứng đắc Thập Ðịa, Bích Chi, Tứ Quả,
Tứ Hướng, Tứ Thiền, Tứ Không, thành tựu pháp quán Bất
Tịnh, pháp quán Sổ Tức, Lục Thông, Bát Giải Thoát; chư
thiên long đến thưa hỏi, quỷ thần đến vấn đáp với mình.
Hoặc nói rằng chính mình đã đoạn kiết sử, đã vĩnh viễn
xa lìa tam đồ... Những việc trên đều hư giả không chân
thật, chỉ có tâm mong cầu danh dự lợi dưỡng, nên gọi
là “đại vọng ngữ”.
Trong
Luật dạy, khi nói rằng mình đã tu đắc các pháp kể trên
mới kể là hoàn thành căn bổn trọng tội. Phàm bực tu hành
đã chứng đắc thì pháp sở tu hay sở chứng chỉ tự mình
biết lấy, như người uống nước nóng, lạnh tự mình hay
biết.
Cổ
đức có dạy: “Hữu đạo, vô đạo, tự kỷ tri chi” (có
đạo hay không có đạo, tự mình biết lấy, không cần nói
với người). Không được nói vọng ngữ là mình đã chứng
đắc, trong trường hợp nếu mình thật sự đã chứng đắc,
cũng không nên nói với người.
Do
nguyên nhân nào mà nói vọng ngữ, không chân thật?
Bệnh
căn lớn nhất là do tham cầu danh dự, lợi dưỡng. Vì nhiều
người ở đời rất ưa thích cung kính, cúng dường những
bậc đã chứng đắc thiền định, thần thông, đạo quả.
Nếu chúng ta bày tỏ với mọi người rằng mình đã chứng
đắc những pháp ấy, thì danh dự, lợi dưỡng sẽ tấp nập
đưa đến.
Quả
thật, nhìn bên ngoài thì thấy được vô số danh dự, lợi
dưỡng, nhưng thật sự chúng ta đã tự tạo vô biên tội
nghiệp. Tại sao vậy?
Nên
biết rằng, việc đó không nên tùy tiện nói bậy, vì lời
nói không tương xứng với sự thật. Do đó, danh dự lợi
dưỡng sẽ bị mất đi nhanh chóng, lại còn mang tội đại
vọng ngữ, não hại người đời, gây một ấn tượng xấu
xa cho Phật pháp, làm thối mất tín tâm của chúng sanh đối
với Phật pháp. Thử hỏi việc này đối với Phật pháp tổn
hại biết chừng nào?
Thế
nên vọng ngữ đối với bản thân mình đã không lợi ích,
cũng không làm lợi ích cho Phật pháp, thì tại sao ta có thể
tùy tiện nói bậy bạ? Như người ban đêm bắn tên, không
chắc trúng ai, trở lại hại mình?
*
Thế nào là giáo nhân vọng ngữ?
Giáo
nhân vọng ngữ (bảo người nói vọng ngữ), loại này gồm
hai thứ:
-
Bảo người đối với người khác nói vọng ngữ rằng vị
ấy thật là bậc tu hành đạo đức cao siêu, đã chứng đắc
pháp thượng nhân... hoặc là bảo người tuyên dương mỹ
đức của chính mình; hoặc bảo các đệ tử đi các nơi rao
nói sư phụ tôi là một bậc tu hành đạo đức cao siêu, hoặc
nhờ bằng hữu đối đáp lẫn nhau truyền nói: Vị ấy là
bậc đại đức duy nhất đương thời, có các thứ thần thông
diệu dụng. Nhờ đó mà được danh dự, lợi dưỡng tức
là đã phạm căn bổn trọng tội.
-
Bảo người ấy đối với kẻ khác nói rằng; Ông nên đi
rao truyền với mọi người rằng ông đã chứng được pháp
thượng nhơn, có khi ông cùng với chư thiên quỷ thần đàm
thoại, lắm lúc ông cùng long vương đàm đạo. Có khi quỷ
thần đến chỗ ông nêu ra nhiều vấn đề thưa hỏi. Ông
đều có đủ khả năng giải đáp cho các vị ấy rất ưa
thích, sau đó từ biệt...
Nhờ
nói như vậy mà người kia thu được nhiều danh dự lợi dưỡng,
tự mình hoàn toàn không được chút gì. Người kia đến nơi
nào cũng rao nói như vậy. Vì nguyên nhân xúi biểu người,
cho nên dù không kết thành căn bổn trọng tội, nhưng không
tránh khỏi phạm tội khinh cấu.
Vì
thế, một Phật tử chơn chánh, chẳng những không nên tùy
ý tuyên dương mỹ đức của mình, hoặc bảo người khác
tuyên dương mỹ đức của họ để tự mong cầu lợi dưỡng.
*
Thế nào là phương tiện vọng ngữ?
Là
lúc muốn nói vọng ngữ, trước tiên, phải mượn những lời
xảo trá, quỷ quyệt như nói rằng: “Tôi tu hành, một ngày
nọ đương lúc tọa Thiền hay niệm Phật, tụng kinh có thiên
hoa từ hư không rải xuống” khiến người nghe sanh tâm tín
thọ.
Tự
mình phương tiện nói vọng ngữ như vậy sẽ phạm căn bổn
trọng tội, còn sai khiến người khác đi các nơi rao nói như
thế, hay viết thư gởi các nơi biểu dương đức hạnh của
mình, hoặc dùng tay, chân... ra dấu, hoặc làm một động tác
dụng ý làm cho người nhân đó mà hiểu, cũng đều phạm
căn bổn trọng tội.
Lại
bên ngoài giả mượn ngôn thuyết tán thán kẻ khác, nhưng
sự thật bên trong tự ẩn ý khen mình là người đức hạnh...
Còn có những trường hợp quái gở khác như: trước hết
dùng mật thoa lên thân một cây đại thọ, do đó hấp dẫn
nhiều ong mật bay đến, rồi không biết hổ thẹn, đối với
người nói rằng: “Tôi có thể chiêu dẫn những đàn ong
mật bay đến”, để dối gạt người... đều phạm căn bổn
trọng tội.
Ngoài
ra, còn mượn cơ quỷ thần, thiên tiên... những pháp mê tín
nói là thỉnh thần tiên, hoặc nói đại tiên này lâm đàn
dạy chúng ta phải làm thế này, thế kia. Hoặc nói Tế Công
Hòa Thượng lâm đàn, Ngọc Hoàng Ðại Ðế lâm đàn, thậm
chí nói là Quán Thế Âm Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát... lâm đàn.
Những loại hội môn, đạo môn, những đoàn thể mê tín,
phong kiến vào các thời đại trước thường lợi dụng những
việc ấy để dối gạt người.
Vì
mượn cớ quỷ thần, tiên, Phật lâm đàn nói thế này, thế
khác, bảo người phải phụng hiến một số kim tiền đại
lượng. Tất cả những việc đó, Phật pháp quy vào tội phương
tiện vọng ngữ và xem là một tội ác rất lớn.
Thông
thường người đời không biết đây là một lối lừa gạt
kẻ mê tín, cho là việc thực có mà không liễu giải được
chân tướng của nó, lại còn cho đó là sự việc trong Phật
pháp. Như thế, không thể không nói là một tai hại vô vọng
ở trong Phật pháp (vô vọng ở đây phản nghĩa với hư vọng;
nghĩa có thật, rõ ràng trong thực tế, không phải không có).
Vì thế, người Phật tử chánh tín tuyệt đối không được
đi cầu cơ. Nếu mê tín cầu cơ để mong cầu danh dự, lợi
dưỡng đều phạm căn bổn trọng tội.
Kinh
Bồ Tát Thiện Giới nói: “Nếu Bồ Tát được người tán
thán là đã chứng đắc Thập Trụ, A La Hán... mà yên lặng
lãnh thọ, tức phạm căn bổn trọng tội. Nếu là người
tăng thượng mạn, tuy không có tâm dối gạt, nhưng cũng phạm
tội khinh cấu, vì người ấy chỉ sở đắc chút ít, đã
tự cho mình là thật chứng!”
Người
tăng thượng mạn là thế nào?
Nghĩa
là thông thường chưa được mà nói được, chưa chứng mà
nói chứng. Thật ra không phải người tăng thượng mạn không
có công phu tu hành, nhưng dụng công tu hành của họ vừa hơi
tương ứng chánh pháp, đã vội tự cho mình thật sự đã
đắc pháp gì, hoặc chứng quả vị gì... Tuy sanh khởi tâm
tăng thượng mạn như vậy, nhưng nội tâm hoàn toàn không
phải cố ý muốn dối gạt người để cầu danh dự lợi
dưỡng. Cho nên dù đối với người nói được pháp gì, chứng
quả vị gì... chỉ phạm tội khinh cấu, không phạm căn bổn
trọng tội.
Kết
thành tội vọng ngữ phải hội đủ bốn điều kiện: nhân,
duyên, pháp, nghiệp như sau:
-
Vọng ngữ nhân (nhân vọng ngữ): do chủng tử tham lam từ
vô thỉ trở lại dối gạt. Nay phát sanh tâm muốn nói dối
gạt người để mong được nhiều danh dự, lợi dưỡng. Ấy
là nhân vọng ngữ.
-
Vọng ngữ duyên (duyên vọng ngữ): người hiện đang ở trước
mặt để dối gạt là cái duyên rất tốt, hỗ trợ cho việc
vọng ngữ. Hoặc dùng những phương tiện khác như nói, im
lặng, động, tịnh, qua, lại, đi, đứng, hiện oai nghi tề
chỉnh... chứng tỏ mình là người có thánh đức. Tất cả
đều là duyên vọng ngữ.
-
Vọng ngữ pháp (cách thức vọng ngữ): Các pháp tắc dùng
vận dụng lúc nói vọng ngữ. Có chỗ giải thích pháp vọng
ngữ là chỉ cho Thập Ðịa, Tứ Quả...
-
Vọng ngữ nghiệp (nghiệp vọng ngữ): do ba việc trên hợp
lại thành tội vọng ngữ, có chỗ giải thích là từ trong
miệng thốt ra lời nói rõ ràng, khiến cho người đối diện
lãnh hội được, thế gọi là vọng ngữ.
Cho
nên kết thành tội vọng ngữ không phải là đơn giản, phải
có đủ điều kiện hợp thành. Chẳng những tội đại vọng
ngữ như trên không nên tùy tiện nói bậy, mà các tội vọng
ngữ khác cũng không nên tùy ý muốn nói thế nào thì nói.
Vì
thế, kinh dạy tiếp theo: “Nãi chí bất ngôn kiến, kiến
ngôn bất kiến, thân tâm vọng ngữ” (cho đến không thấy
nói thấy, thấy nói không thấy, thân tâm đều vọng ngữ).
Những thứ tiểu vọng ngữ này cũng không nên nói.
*
Thế nào gọi là không thấy nói thấy?
Như
chính mình chưa từng thấy người kia làm những việc không
chính đáng hoặc tội ác. Như vì mình đối với những người
ấy có mặc cảm không tốt, hay có chút phiền hà trong lòng,
rồi tự đi nói: “Chính mắt tôi trông thấy người ấy làm
những việc tội ác như vậy...” Cố ý ghép người vào tội
ác như thế, gọi là “không thấy nói thấy”.
*
Thế nào gọi là thấy nói không thấy?
Như
chính mình thấy người ấy làm những việc thiện, hữu ích
cho nhân quần, xã hội. Nhưng vì mình đối với người ấy
không có thiện cảm, hoặc bị tâm tật đố sai khiến, muốn
che đậy thiện hạnh của người mà moi móc tội ác của người,
rồi tự đi nói: “Chính tôi chưa từng thấy người ấy làm
những việc gì tốt...” gọi là thấy nói không thấy.
Ngoài
việc đã nói trên, còn có những thứ vọng ngữ khác như:
-
Không nghe nói nghe, nghe nói không nghe.
-
Không giác nói giác, giác nói không giác.
-
Không biết nói biết, biết nói không biết.
-
Thật có nói là không, thật không nói có.
-
Pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp...
Tóm
lại, vọng ngữ có rất nhiều, khi nào tương vi (trái với)
tâm mà nói đều thuộc về vọng ngữ.
Vọng
ngữ là lời nói không thật thốt ra từ nơi miệng, còn hành
động của thân tâm biểu hiện như thế nào mà thành vọng
ngữ?
-
Thân vọng ngữ: như thân hành động hoặc biểu hiện một
thái độ cho người biết một sự việc nào đó. Chẳng hạn
như có người hỏi bạn đã chứng được quả vị ấy hay
chưa? Dù bạn không nói nhưng gật đầu và người kia hiểu
là bạn muốn nói là đã chứng.
-
Tâm vọng ngữ: lại như hỏi bạn tu hành đã đến mức thân
tâm thanh tịnh phải không? Bạn không đáp lại, nhưng vì muốn
tỏ ra mình đã được thân tâm thanh tịnh, bạn yên lặng,
đồng nghĩa với sự thừa nhận và người trước mặt đã
hiểu ý bạn.
Những
loại như vậy, do có tâm dối gạt biểu hiện ra những thân
tướng, khiến người đối diện lãnh hội dụng ý của mình.
Dù không mở miệng một lời hay một câu nào, nhưng nghiệp
vọng ngữ đã kết thành. Trường hợp này gọi là thân vọng
ngữ và tâm vọng ngữ.
Dù
là đại hay tiểu vọng ngữ, đúng lý mà nói, đều không
thể tùy tiện nói bướng. Trên thực tế, đại vọng ngữ
không nhiều, tiểu vọng ngữ thì thật nhiều. Nhất là trường
hợp giả dối làm nhân chứng cho người ở thời này rất
nhiều.
Chẳng
hạn một người vốn không trộm lấy đồ vật, nhưng bất
hạnh cho anh khi đi đến nơi có người bị trộm và nhân viên
trị an đang lùng bắt kẻ trộm. Khi cảnh sát hỏi một người
bên cạnh: “Có phải người đang đi này trộm đồ vật hay
không?” Người này chính là oan gia đối đầu của người
đi đường. Vì muốn trả thù cho hả dạ, tuy biết người
này không từng lấy trộm, nhưng cứ làm chứng bướng và
quả quyết rằng chính người này lấy trộm. Nên người đi
đường bị bắt về bót, mang phải tai nạn thật nguy hiểm
và chịu đau khổ thảm não vô cùng. Trong Phật pháp, giả
dối làm chứng cho người như vậy là một tội ác rất lớn,
không thể dung thứ.
Cho
nên làm người, đặc biệt là một hành giả Bồ Tát, chẳng
những tự mình phải thường sanh chánh ngữ, chánh kiến, không
được lầm lộn nói phàm là thánh, hư vọng cho chánh là tà,
đồng thời cũng cần phải sanh chánh ngữ, chánh kiến cho
tất cả chúng sanh, mới tỏ rõ bổn hoài lợi sanh của Bồ
Tát.
-
Chánh ngữ: lời nói chính xác, còn gọi là lời thành thật,
không nói những lời hư vọng, không chân thật, nên gọi là
Chánh Ngữ.
-
Chánh kiến: sự kiến giải chính xác, là chủ trương kiên
định bất di bất dịch. Với hành giả tu học Phật pháp,
mục đích duy nhất là tự mình mong cầu thoát ly sanh tử và
làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Có kiến giải như vậy
gọi là Chánh Kiến.
Nếu
hành giả tu học Phật pháp mà mong cầu lợi dưỡng, tính
toán mưu cầu quyền lợi, địa vị cho chính mình, điều đó
chứng tỏ tri kiến của bạn không thích đáng. Như thế, Chánh
Ngữ biểu hiện bên ngoài, Chánh Kiến súc tích bên trong, nên
không bao giờ dám nói phải thành trái, trắng thành đen, tà
nói chánh, ác nói thiện, cho đến đem phàm nhân nói thành
thánh giả.
Tự
mình thường sanh chánh kiến, chánh ngữ là phần tư lợi,
giúp người sanh chánh ngữ, chánh kiến là lợi tha. Có đầy
đủ tự lợi, lợi tha như thế mới đúng phong cách của một
vị Bồ Tát. Không thực hành đúng theo tinh thần chân chánh
của một hành giả Bồ Tát, trái lại còn khiến cho chúng
sanh khởi sanh tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, lẽ tất nhiên,
Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội.
Tại
sao vậy?
Vì
do tà kiến sách động ở bên trong, tự nhiên thốt ra những
tà ngôn vọng ngữ bất tam, bất tứ, không việc gì ra việc
gì, tạo ra tội ác tà nghiệp bên ngoài. Do hành vi tội ác
tà ngữ, tà nghiệp này sẽ chiêu cảm quả khổ đời vị
lai.
Bồ
Tát hóa độ chúng sanh, chủ ý muốn cho chúng sanh xa lìa tất
cả khổ não, được đến cảnh Niết Bàn an vui. Nếu hiện
tại đã không thể hiện được mục đích ấy, trái lại
còn làm cho tất cả chúng sanh phải chịu đại thống khổ
thì không phải là hành vi nên có của một vị Bồ Tát.
Một
cử chỉ, một việc làm, một lời nói của Bồ Tát đều
phải làm gương mẫu cho chúng sanh biết và noi theo. Nếu chính
bản thân Bồ Tát có những hành vi trái phép, khiến những
Phật tử mới phát tâm cảm thấy hoang mang, mất chỗ nương
tựa, không biết hướng về nơi đâu để tiến tu. Như thế
là “khi phàm dối thánh, mê hoặc nhân tâm”, trên thì phạm
tội với chư Phật, dưới thì lầm loạn chúng sanh, tội này
trọng đại biết chừng nào! Vì thế, nên phạm căn bổn trọng
tội.
Cổ
nhân Trung Quốc nói: “Nhứt ngôn ngộ tận, thiên hạ thương
sanh” (một lời nói nhầm lẫn có thể làm khắp bá tánh
thiên hạ bị tổn hại). Ý nghĩa này chứng tỏ sự trọng
yếu của lời nói mà đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni cùng các
thánh triết trong thế gian đều đã răn dạy chúng ta phải
hết sức thận trọng.
Giới
vọng ngữ cũng có đủ Tam Tụ Tịnh Giới:
-
Thân tâm không vọng ngữ thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Thường sanh chánh ngữ và chánh kiến thuộc về Nhiếp Thiện
Pháp Giới.
-
Khiến cho chúng sanh có chánh ngữ và chánh kiến thuộc về
Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Vì
thế nếu Bồ Tát nói vọng ngữ thì với Tam Tụ Tịnh Giới
hoàn toàn hủy phá. Vì thế, tư cách của Bồ Tát cũng bị
mất hẳn. Như vậy, Phật tử đã phát tâm tu Bồ Tát hạnh,
lẽ nào không nên thận trọng lời nói?
Vọng
ngữ mà thành trọng tội cũng không phải đơn thuần, mà phải
có đủ 5 duyên, phân biệt sơ lược như sau:
1.
Thị chúng sanh (là chúng sanh): phân làm 3 phẩm:
-
Thượng phẩm chúng sanh: như đối với cha mẹ, sư tăng mà
nói vọng ngữ thì phạm căn bổn trọng tội. Vì sư tăng,
cha mẹ đều là bực bề trên, có ân đức với mình. Bổn
phận làm con, làm đệ tử, dám cả gan nói lời hư giả với
các Ngài, tội ấy nặng biết bao! Nếu nói lời vọng ngữ
với các bậc thánh nhân, nếu các thánh giả ấy không bị
bạn dối gạt, lại còn dùng sức thần thông ngăn che, khiến
người khác không nghe được lời nói dối của bạn, và không
bị lừa gạt, mê hoặc thì chỉ kết tội phương tiện. Nếu
các thánh giả ấy chưa chứng đắc Tha Tâm Thông, không biết
lời bạn là hư dối, cho là chân thật, thì phạm căn bổn
trọng tội.
-
Trung phẩm chúng sanh: đối với chúng sanh ở cõi người, cõi
trời, mà nói lời vọng ngữ với họ. Nếu họ bị lừa gạt
thì bạn phạm căn bổn trọng tội. Nếu chư thiên ở thiên
giới có tha tâm thông, biết rõ lời nói không chân thật của
bạn mà không bị mê hoặc thì chỉ kết thành tội phương
tiện.
-
Hạ phẩm chúng sanh: đối với a tu la, quỷ thần, súc sanh
mà nói vọng ngữ. Trong kinh có chỗ nói là phạm căn bổn
trọng tội, có chỗ nói chỉ kết thành hư cấu.
Phạm
trọng tội là luận về căn cơ của chúng sanh, có thể hiểu
rõ được lời giảng của Pháp Sư, bẩm thọ giới Bồ Tát.
Nếu cố ý nói vọng ngữ để mê hoặc quỷ thần, súc sanh
để tự mình thu được nhiều danh dự, lợi dưỡng thì phạm
căn bổn trọng tội, nhưng khác ở chỗ là không bị mất
giới. Hoặc có bị mất giới nhưng vẫn có thể tái thọ.
Cho nên phải xem trình độ lãnh thọ của chúng sanh bị bạn
lừa dối cạn hay sâu mà quyết định.
2.
Chúng sanh tưởng (tưởng là chúng sanh): duyên thứ hai này
có 3 loại. Mỗi loại lại phân ra nhiều trường hợp cụ
thể:
*
Tưởng chúng sanh có sáu trường hợp:
-
Chúng sanh tưởng là chúng sanh: phạm trọng tội.
-
Chúng sanh nghi là chúng sanh: phạm trọng tội.
-
Chúng sanh tưởng phi chúng sanh (loài vô tình): không phạm nhưng
trái lại.
-
Không phải chúng sanh tưởng là chúng sanh: phạm tội khinh
cấu.
-
Phi chúng sanh nghi là chúng sanh: phạm tội khinh cấu.
-
Phi chúng sanh tưởng phi chúng sanh: không phạm.
*
Tưởng thánh nhân cũng có sáu trường hợp:
-
Là thánh nhân tưởng là thánh nhân: chẳng hạn trong một nhóm
đông người, trong ấy có vị A La Hán, bạn biết đích xác
như
thế mà lại nói lời vọng ngữ với vị ấy. Vì đã là thánh
nhân nên vị ấy không bị lừa gạt và bạn bị phạm tội
khinh cấu.
-
Chính là thánh nhân nghi là thánh nhân: Như có vị A La Hán
lẫn lộn trong đám đông, bạn không nhận định một cách
đích xác được. Trong tâm bạn nghĩ như vầy: “Người trước
mặt mình có phải là A La Hán hay không phải A La Hán?” Cuối
cùng dù người ấy phải hay không phải, bạn vẫn cứ nói
lời vọng ngữ, và cho rằng không quan hệ gì, thì tội này
so với tội trước nặng hơn, nhưng vẫn kết thành tội khinh
cấu.
-
Thánh nhân tưởng chẳng phải thánh nhân: Vì không nhận thức
được người ấy là thánh nhân, dù có kẻ nói rằng người
này là bậc A La Hán, nhưng bạn vẫn không tin là thánh nhân.
Như thế, trường hợp này so với trường hợp trước, tội
vọng ngữ của bạn nặng hơn.
-
Chẳng phải thánh nhân tưởng là thánh nhân: Ví như có một
kẻ phàm phu mà bạn lại cho là thánh nhân và nói vọng ngữ
với người ấy, bạn sẽ phạm tội khinh cấu.
-
Chhẳng phải thánh nhân tưởng chẳng phải thánh nhân mà nói
vọng ngữ sẽ phạm tội trọng.
-
Chẳng phải thánh nhân nghi chẳng phải thánh nhân và nói vọng
ngữ sẽ phạm tội trọng.
*Tưởng
là người cũng có sáu trường hợp:
-
Người tưởng là người mà nói vọng ngữ, và người đó
hiểu rõ ý nghĩa lời nói của bạn, bạn sẽ phạm trọng
tội.
-
Người nghi là người: đối với một người nào đó, mà
bạn nghi ngờ không biết là người hay phi nhân, nói vọng
ngữ với người đó bạn sẽ phạm căn bổn trọng tội. Vì
người ấy đích thực là người và hiểu được lời nói
của bạn.
-
Người tưởng là phi nhân: nói vọng ngữ với người ấy,
tội này so với tội trước có phần nhẹ hơn.
-
Phi nhân mà tưởng là người: đối với người ấy nói vọng
ngữ, dù kẻ ấy không phải là người, nhưng vì bạn đã
xem kẻ ấy chính là người nên tội nầy nặng hơn trước.
-
Phi nhân nghi là người: bạn không thể biết đích xác người
ấy là người hay không phải là người, hoặc sanh nghi ngờ
rằng không biết họ có phải là người hay không. Tội này
hơi nhẹ.
-
Phi nhân tưởng là phi nhân: đối với trường hợp này nói
vọng ngữ mắc tội nhẹ.
Ở
đây, có điểm cần nói thêm cho rõ:
-
Tưởng chúng sanh: chỉ về loài hữu tình.
-
Phi chúng sanh: chỉ cho loài vô tình.
Hữu
tình, vô tình tương phản nhau, nên trong 6 trường hợp thuộc
tưởng chúng sanh, có hai trường hợp không phạm. Còn trong
phần tưởng người, chữ “người” ở đây chỉ nhân loại.
Phi nhân là quỷ thần, súc sanh. Tuy hai hạng này sánh với
người có chỗ sai biệt, nhưng đồng là loài hữu tình. Giữa
người với phi nhân sự tương phản chỉ có tính cách tương
đối nên khi nói vọng ngữ phải bị phạm tội khinh, chớ
không phải hoàn toàn không phạm.
4.
Khi cuống tâm (tâm dối gạt)
Cuống:
nói láo (khác với cuồng: điên khùng).
Ðộng
cơ phát xuất từ sự mong cầu danh dự, lợi dưỡng là điều
chủ yếu kết thành tội vọng ngữ. Thông thường hầu hết
nhân loại trên thế gian này, không ai không mong cầu danh dự,
lợi dưỡng. Nên có thể nói rằng mọi người suốt ngày
lăn lộn trong trường danh lợi. Nho thi có câu:
Thiên
hạ hi hi, giai vị danh lai,
Thiên
hạ nhương nhương, giai vị lợi vãng.
Dịch:
Thiên
hạ tưng bừng vì danh mà đến,
Thiên
hạ nhộn nhịp vì lợi mà đi.
Nhưng
cầu danh chưa chắc được danh, cầu lợi chưa chắc được
lợi. Vì cầu mà không được mới sanh khởi ý tưởng không
tốt, đưa đến việc tìm kiếm những phương pháp mê hoặc,
lường gạt mọi người, để thâu được nhiều danh lợi.
Ðó gọi là tâm dối gạt. Mục đích chủ yếu là hoàn toàn
muốn dối gạt người, chớ không phải chỉ nói nói cười
cười cho vui chuyện.
5.
Tâm dối gạt này có hai loại:
-
Thông tâm: bạn dùng lời giả dối không phải mong lừa gạt
một người, mà hy vọng được nhiều người nghe theo lời
giả dối của bạn. Trường hợp này tùy theo người nghe lời
giả dối của bạn nhiều hay ít mà kết thành căn bổn trọng
tội.
-
Cách tâm: bạn dùng lời hư dối để mong dối gạt một người
nào đó. Nhưng người này lại không nghe theo lời dối gạt
của bạn, trong khi đó, một kẻ khác lại nghe theo lời bạn.
Vì bạn vốn không có tâm lừa gạt kẻ nầy, nên người này
dù có nghe, nhưng bạn không phạm tội. Còn đối với người
kia, vì bạn cố tâm muốn lừa gạt, dù họ không nghe theo,
nhưng đối với người ấy, bạn vẫn bị kết thành tội
phương tiện.
6.
Thuyên trọng cụ:
Nói
về thân chứng mắt thấy. Ví như tự nói chứng đắc Tứ
Quả, Thập Ðịa, Bát Ðịnh, Thần Thông; hoặc nói “tôi
thấy chư thiên, long vương, quỷ thần... đến chỗ tôi”.
Những quả vị, những pháp, những người đã nói trên gọi
là “trọng cụ”.
Thập
Ðịa, Tứ Quả, Bích Chi Phật v.v... là thánh nhân Ðại Thừa
và Tiểu Thừa trong Phật pháp. Nếu tùy tiện nói dối mình
đã chứng đắc quả vị ấy sẽ phạm căn bổn trọng tội.
Còn như Bát Ðịnh, Tứ Thiền, và Tứ Không của phàm phu,
ngoại đạo có thể tu chứng, dù không do những pháp này mà
được liễu thoát sanh tử, nhưng là những pháp thù thắng
trong thế gian, nếu bạn tùy tiện nói vọng ngữ là đã chứng
đắc những pháp thiền định ấy, cũng đồng phạm căn bổn
trọng tội.
Ðến
như pháp quán Bất Tịnh, quán Sổ Tức, là hai món cam lồ
trong Phật pháp. Nếu tu tập được thành tựu hai pháp quán
này cũng có thể tiến vào thành Niết Bàn, hưởng thọ diệu
vị cam lồ. Nay bạn tùy tiện nói với người rằng: “Tôi
đã thành tựu pháp quán bất tịnh, tôi đã khéo tu pháp quán
sổ tức”, tỏ ra rằng bạn đã chứng đắc, nhưng sự thật
hoàn toàn chưa có chỗ chứng đắc nên bạn phạm căn bổn
trọng tội.
Như
nói: “Chư thiên, long vương, quỷ thần v.v... đến chỗ tôi
cúng dường”, như thế nhất định là bạn phải có đủ
thánh đức mới có thể khiến cho thiên long, quỷ thần cảm
động đến cúng dường, chứ không phải đơn giản. Người
đời nghe như vậy, cho rằng bạn phải là một bậc tu hành
cao siêu phi thường nên họ cũng phải tranh nhau đến cúng
dường cho bạn. Vì thế bạn phải gánh lấy căn bổn trọng
tội.
Lại
còn trường hợp nói với người: “Tôi đã tu hành đến
mức vĩnh ly tam đồ, tôi đã đoạn trừ tất cả phiền não...”
Nên biết việc này cũng không thể tùy tiện muốn nói gì
thì nói, vì đều là việc nằm trong những chứng quả. Bạn
chưa có được quả chứng gì, phiền não vẫn còn y nguyên,
tam đồ cũng chưa thể thoát ly. Vì thế, nếu đối với người
đời, bạn nói như vậy tất nhiên sẽ phạm căn bổn trọng
tội.
Nếu
đối với người nói rằng: “Tôi đã thành tựu tổng tướng
niệm xứ, biệt tướng niệm xứ. Tôi đã tu thành các pháp
Noãn, Ðảnh, Thế Ðệ Nhất v.v... (chỉ về tứ thiền căn,
thuộc về Gia Vị Hạnh trong năm hạnh, là địa vị giai cấp
tu hành trong tông Pháp Tướng Ðại Thừa). Những pháp trên
đối với các hành giả rất khó, nhưng rốt ráo vẫn thuộc
về pháp phàm phu, nên dù nói với người vẫn kết thành căn
bổn trọng tội, nhưng giới thể không bị mất, hoặc giả
không kết trọng tội mà chỉ kết thành tội khinh cấu.
Nếu
đối với người nói: “Toàn thể phong thổ quỷ thần đều
đến chỗ tôi, họ rất thích nghe tôi nói, tôi muốn họ làm
việc chi, họ đều vâng lời làm theo”. Hoặc nói: “Tôi
đối với những giới cấm của Như Lai đều giữ gìn được
thanh tịnh một cách phi thường. Dù là giới Ðại, Tiểu,
thô, tế như thế nào tôi hoàn toàn không dám có chút vi phạm”.
Hoặc nói: “Tôi có thể thông đạt Tam Tạng thánh điển
của Như Lai, bất cứ vấn đề nào trong Phật pháp, tôi đều
đủ khả năng giải đáp một cách khéo léo. Quý vị có những
nghi vấn gì trong Phật pháp, có thể tùy thời tự tiện đến
hỏi tôi, tôi sẽ giải đáp cho quý vị một cách mỹ mãn”.
Nói
như thế để tỏ ra bạn là người lảu thông tam tạng kinh
điển, hoặc nói: “Tôi có thể khéo tu tập thiền định,
mỗi ngày tôi định thời khóa lạy Phật bao nhiêu, niệm Phật
bao nhiêu, tụng kinh bao nhiêu, trì mật chú bao nhiêu, tôi mỗi
ngày đều có tu mật hạnh” v.v... để tỏ ra bạn là người
đúng như pháp tu trì.
Những
lời nói như thế, nhưng thực tế hoàn toàn không được như
thế. Ðó chỉ là những lời vọng ngữ, không chân thật,
nên phạm tội Khinh Cấu.
Lại
nếu bạn khởi tâm dối gạt người. Bổn ý muốn nói tự
mình đã chứng được Sơ Quả, nhưng lại nói chứng được
Nhị Quả, muốn nói chứng được Nhị Quả, lại lầm nói
chứng Sơ Quả; muốn nói chứng được đệ tam quả, lại
lầm nói chứng Tứ Quả, muốn nói chứng được Tứ Quả
lại lầm nói chứng được Tam Quả v.v... những loại như
thế, vì chưa đạt được mục đích của mình đã rao nói,
nên chỉ kết thành tội phương tiện.
7.
Tiền nhân lãnh giải (người trước mặt lãnh hội được
những điều giảng giải)
Dù
là nói lời vọng ngữ thế nào, chủ yếu là người đối
diện hiểu rõ, mới có thể bị người nói vọng ngữ dối
gạt. Nói lời hư vọng dối gạt người, bất luận là tự
mình nói, hay bảo người nói, hoặc dù là viết thư nói...
Cốt yếu là người nghe lời nói lãnh hội được ý nghĩa
của bạn, hiểu rõ được dụng ý của bạn và cực lực
tín phụng. Ðây là lúc bạn bị kết thành căn bổn trọng
tội.
Giả
như bạn nói những lời hư vọng mà người trước mặt không
hiểu rõ dụng ý của bạn, không tin phục lời bạn, không
bị sự lừa gạt của bạn, thì chỉ kết thành tội khinh
cấu. Hoặc giả đối với người, bạn nói lời hư giả,
ngay lúc ấy, người nghe không hiểu, nhưng về sau, họ hồi
tưởng lại lời của bạn và mới hiểu rõ ý tứ nguyên lai
của bạn. Lúc ấy mới kết thành căn bổn trọng tội.
Trường
hợp bạn không đi đến người để nói tự mình chứng đắc
thánh quả, đắc thiền định, đắc thần thông, nhưng người
lại đến hỏi bạn có đắc thánh quả, đắc thiền định,
đắc thần thônghay không? Bạn thật sự không có chứng đắc,
đáng lý bạn phải thành thật nói chưa chứng đắc, nhưng
vì bạn bị tâm mong cầu danh dự, lợi dưỡng sai khiến, thúc
đẩy, nên đối với người hỏi, bạn gật đầu một cái,
chứng tỏ bạn đã đắc quả, đắc định... và người ấy
cũng thừa nhận như vậy, chứng tỏ bạn đã đắc quả, đắc
định. Bạn dù không khai khẩu, nhưng đã gật đầu tự nhận,
nên vẫn phạm căn bổn trọng tội.
Hoặc
giả sau khi người ấy hỏi rồi, bạn không gật đầu tự
nhận, cũng không nói rằng tôi chưa chứng đắc, chỉ yên
lặng không nói gì, khiến người kia không biết bạn có chứng
đắc hay không? Trường hợp này dù không phạm tội trọng,
nhưng tội khinh cấu thì không tránh khỏi vì dù bạn không
nói gì, nhưng đã tỏ thái độ không thành thật.
Ngoài
những tội vọng ngữ trên, còn có những thứ tiểu vọng
ngữ rất nhiều, thông thường thế nhân rất dễ phạm. Có
người cho rằng nói vọng ngữ chút ít không quan hệ chi; nhưng
không biết rằng, lúc bạn nói mỗi một lời tiểu vọng ngữ
nào, bạn phải bị kết mỗi một tội khinh cấu. Và căn cứ
vào mức độ, người lãnh hội hiểu rõ lời nói hư vọng
của bạn nhiều hay ít mà kết thành tội khinh cấu nhiều
hay ít.
Như
có 500 người lãnh hội, hiểu rõ thì kết thành 500 tội khinh
cấu. Tiểu vọng ngữ mới xem, dường như không quan hệ gì,
nhưng nếu do sự sai sử của tăng thượng phiền não, thường
xuyên vi phạm mãi không thôi. Lại thêm rất hứng thú, ưa
thích trong việc vọng ngữ; không có tâm hổ thẹn mảy may,
cũng bị mất giới thể Bồ Tát. Do đó mà thành căn bổn
trọng tội.
Giới
thể Bồ Tát đã mất rồi, bạn lại không biết tỉnh ngộ,
nên đến đâu cũng nói tiểu vọng ngữ. Vì trên thân bạn
không có giới thể để kềm chế, nên chỉ phạm tánh tội,
còn giá tội thì không.
Nếu
lúc nói vọng ngữ, bạn thường có tâm phát giác, biết đó
không phải là tư cách làm người, không phải là hành vi nên
có của người Phật tử tu học Phật pháp. Do đó, trong tâm
sanh rất hổ thẹn, lập tức từ đó về sau không dám nói
vọng ngữ nữa; thì dù cho giới thể của bạn đã bị mất,
nhưng bạn vẫn có thể thọ được tái thọ giới Bồ Tát,
cũng không nhất thiết trước tiên phải sám hối cho thấy
được hảo tướng mới được thọ trở lại giới pháp.
Trên
thực tế, tội đại vọng ngữ, không thấy hành Phật tử
tại gia lẫn xuất gia phạm nhiều, vì tất cả đều biết
rõ tội đại vọng ngữ “chưa đắc nói đắc, chưa chứng
nói chứng” có một hậu hoạn không thể lường. Ðối với
tội tiểu vọng ngữ, trong sinh hoạt hằng ngày, tùy thời
gian và địa phương đều khó tránh khỏi sự vi phạm. Dù
rằng dường như không quan hệ trọng yếu lắm, nhưng khi đã
nói quá nhiều thì sẽ biến thành tội đại vọng ngữ. Từ
tội khinh trở thành trọng tội. Vì thế chúng ta cần phải
hết sức thận trọng!
Giảng
đến đây chúng tôi xin hỏi: Như thế nào mới khỏi phạm
tội vọng ngữ?
Dụ
như một vị Pháp Sư hoằng dương chánh pháp, vì quần chúng
giảng nói việc chứng đắc Thập Ðịa như thế nào, quả
vị Thập Ðịa ra sao, tu chứng tứ quả như thế nào, tuần
thứ của tứ quả ra sao... Cho đến dạy bảo hành giả tu
pháp quán bất tịnh thế nào, tu pháp quán sổ tức thế nào,
tu tập tứ thiền định như thế nào, tu tứ không định như
thế nào... Cứ thường nhật vì thính chúng giảng nói như
vậy, nhưng chưa từng bao giờ nói tự mình đã chứng đắc
thì không phạm tội vọng ngữ.
Lại
những trường hợp nói đùa, nói giỡn, nói một mình, nói
lầm lộn mà vốn không có ý dối gạt ai, cũng không vi phạm.
Hoặc tự mình trong lúc nội tâm bị cuồng loạn, điên đảo,
không tự chủ được, hoặc do một chứng bệnh gì làm cho
nội tâm mất sự minh chánh trầm trọng. Trong tình trạng này,
dù nói những lời không đúng sự thật cũng không phạm tội
vọng ngữ.
Lại
trường hợp xả bỏ báo thân, chuyển sanh qua đời khác không
tự nhớ cũng không phạm tội.
Tóm
lại:
Tội
đại vọng ngữ ở trong Phật pháp rất quan trọng. Không những
rao nói nơi miệng mà trong nội tâm uẩn súc đại vọng ngữ
cũng thuộc về căn bổn trọng tội.
Trong
kinh Văn Thù Vấn nói: “Ðản khởi nhất niệm vọng ngữ
tưởng, phạm Ba La Di tội” (nội tâm khởi một tưởng niệm
vọng ngữ thì phạm Ba La Di tội).
Tại
sao lại phải nhận thức đến độ ấy?
Một
Phật tử đã thọ giới Bồ Tát, trong mọi trường hợp đều
phải xa lìa bốn thứ lỗi của vọng ngữ, cả trong giấc
mộng cũng không nên nói lời dối gạt người, huống chi lúc
bình thường lại cố ý nói vọng ngữ. Vì thế nên cần phải
luôn luôn nói lời chơn thật, không nên nói lời hư vọng.
Ðiều này đối với một vị Bồ Tát hóa độ chúng sanh rất
là khẩn yếu.
Vị
Bồ Tát cần phải vì chúng sanh diễn nói chánh pháp, chúng
sanh có tín thọ mới đạt được mục đích độ sanh của
mình. Nếu Bồ Tát trước đã nói vọng ngữ với chúng sanh
rồi, thì về sau dù có nói lời chi, chúng sanh cũng không thể
tin. Như vậy, thử hỏi làm sao hóa độ chúng sanh?
Kinh
Niết Bàn nói: “Tất cả chúng sanh dù có đủ Phật tánh,
nhưng cần phải do sự trì giới thanh tịnh, về sau mới thấy
được Phật tánh. Nhân thấy được Phật tánh mới đắc
thành quả A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ- đề”.
Theo
lời kinh dạy trên thì biết rằng: Dù mọi người đều sẵn
đủ Phật tánh, nhưng từ vô thỉ lại bị phiền não che đậy,
nên chưa từng thấy được Phật tánh. Dù trên lý thể nói
là Phật, nhưng thực tế vẫn là một phàm phu khổ não. Thế
nên muốn thấy được Phật tánh, hoàn thành Phật quả tối
cao, cần phải tu các thiện hạnh để đối trị các thứ
phiền não. Lúc phiền não đã sạch hết, Phật tánh toàn thể
hiển hiện, mới mong thành tựu quả vô thượng Bồ Ðề.
Nếu
không thực hành như vậy mà đi đến đâu cũng nói: “Tôi
đã thành tựu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”. Nếu ai
hỏi vô thượng Bồ Ðề làm thế nào mà được thành thì
nói: “Vì tôi sẵn đủ Phật tánh cho nên đắc thành vô thượng
Bồ Ðề”. Nên biết người thốt ra lời ấy đã phạm Ba
La Di tội về đại vọng ngữ.
Như
vậy thì bất cứ trường hợp nào cũng không được nói vọng
ngữ phải không?
Không!
Phải xem tùy lãnh vực, khía cạnh nào nên hay không nên nói.
Nếu vì bản thân mình thì dù nguy hiểm hoặc phải hy sinh
đến tính mạng, cũng nên hy sinh, chớ không nên nói vọng
ngữ. Nếu vì lợi sanh, thật sự có lợi ích cho chúng sanh,
cũng không ngần ngại, nên phương tiện quyền xảo nói vọng
ngữ. Nói vọng ngữ như vậy, chẳng những mình không phạm
tội lại còn sanh nhiều công đức.
Ðiều
này đức Bổn Sư Thích Ca là một tấm gương rất tốt. Khi
Ngài còn tại thế, một hôm có con thỏ bị thợ săn rượt
bắt. Nó chạy trốn vào trong đạo tràng của Phật. Ngài thấy
rõ thỏ chạy vào, nhưng khi người thợ săn đến hỏi, Ngài
nói không thấy con thỏ nào chạy vào tịnh xá. Vì muốn cứu
sanh mạng thỏ, Phật dù nói không thấy nhưng không phạm giới
vọng ngữ, lại sanh rất nhiều công đức.
Trong
Du Già Bồ Tát Giới Bổn có nói rất rõ: “Nếu gặp những
nhân duyên hữu tình bị mạng nạn, vì muốn cứu những hữu
tình ấy khỏi cảnh tán thất sanh mạng nên suy nghĩ như vầy:
Việc này dù ta biết rõ nhưng ta không thể nói thật, vì làm
cho chúng sanh chịu cảnh khổ nạn, nhưng nếu ta che giấu cũng
khó tránh khỏi lỗi trái với tự tâm. Suy tư hai ba phen như
vậy rồi vì muốn giải thoát mạng nạn cho chúng sanh, nên
đành phải nói trái với tự tâm”.
Nên
biết Bồ Tát nói vọng ngữ như thế, không vì mong cầu danh
dự, lợi dưỡng cho cá nhân mình, mà hoàn toàn xuất phát
từ lợi tha. Nên tuy nói vọng ngữ nhưng đối với giới Bồ
Tát, chẳng những không mảy may vi phạm, lại còn sanh nhiều
công đức.
Vọng
ngữ không vì tâm nhiễm ô mà vì tâm từ bi, cố nhiên là
vô tội. Nếu do nơi tâm cầu danh dự, lợi dưỡng thì tội
ấy nặng vô cùng, sẽ chiêu cảm quả báo kịch trọng. Nói
về chánh báo của tội vọng ngữ là đọa vào trong tam ác
đạo, thọ các khổ quả. Về dư báo thì khi ra khỏi tam ác
đạo, sanh ra trên thế gian này phải chịu hai hậu quả:
-
Một là thường bị người bài báng. Như có những người
thật sự chẳng có lỗi lầm gì, nhưng đi đến đâu cũng
bị người nói xấu. Ðó là do dư báo của tội vọng ngữ
đời quá khứ chiêu cảm nên.
-
Hai là thường bị người lừa gạt, mê hoặc mà bị tổn
thất tài vật rất nhiều.
Nói
lời dối gạt có quả báo như vậy, còn nếu không nói hư
dối mà nói lời chân thật thì có lợi ích gì?
Trong
kinh Ðại Thừa Lý Thú Lục Ba La Mật, phẩm Tịnh Giới nói:
“Ly hư cuống ngữ diệc tứ chủng báo” (xa lìa lời nói
hư dối thì được bốn thứ quả báo). Phân biệt sơ lược
như sau:
1.
Một người nói lời chân thật, chư thiên, long thần đều
để tâm thương xót, luôn theo thủ hộ, nhờ đó mà không
đến nỗi bị tổn hại một cách vô duyên cớ. Trên đời
này, chúng ta đến bất cứ nơi nào cũng đều có cạm bẫy.
Chỉ cần sơ ý một chút liền bị vướng bẫy, trợt té.
Hiện tại tu hành các công đức, lại giữ giới vọng ngữ
thanh tịnh nên được chư thiên thủ hộ, tự nhiên không sợ
lạc vào trong vòng của người khác. Sở dĩ chư thiên thủ
hộ bạn vì bạn thường nói lời chân thành. Do đó, chúng
ta thấy lời nói chân thành rất cần yếu vậy.
2.
Người nói lời chân thật không bao giờ dùng lời hư vọng
lừa gạt người, nên nói ra lời chi cũng đều được người
tín thọ. Ðó là một điều không phải dễ làm. Vì trải
qua thời gian lâu dài hai bên giao tiếp nhau, người ta biết
lời của bạn nói ra đều là sự thật, có căn cứ, không
phải tùy tiện nói bướng, nói càn. Lâu ngày chầy tháng,
lời nói của bạn mới được tín nhiệm không nghi.
Là
một vị Bồ Tát lợi sanh, vì người tuyên thuyết chánh pháp
của Như Lai, đã xa lìa hẳn lời nói hư vọng, nên chúng sanh
nghe pháp liền phát tâm thâm tín, thừa nhận những điều
Phật pháp đã giảng dạy rất hợp lý, lập ý vâng theo lời
dạy mà thực hành. Như thế bạn vừa khỏi phí công lại
đạt được mục đích thuyết pháp độ sanh của mình.
Giả
như lời nói của một vị pháp sư hoằng dương Phật pháp
không được sự tín thọ của thính chúng thì vị pháp sư
ấy thành tựu được cái gì? Người thông thường khi nói
chuyện còn cần làm cho người khác tín nhiệm lời nói của
mình, với vị hoằng truyền chánh pháp của Như Lai, thuyết
pháp lợi sanh thì điều khiến cho nhân quần tín nhiệm lời
nói của mình lại càng trọng yếu hơn nữa.
Như
vậy, phải làm thế nào để có thuyết pháp được sự tín
thọ của mọi người?
Ðiều
này chỉ có xa lìa vọng ngữ mới được như vậy.
3.
Người nói lời chân thật vì đã xa lìa lời nói dối, nên
bất cứ sanh ở nào, trong miệng thường toát ra hương vị
thanh khiết của liên hoa.
Nói
ra, tôi (pháp sư) tin chắc rằng quý vị cũng như tôi, nhưng
thấy khi chúng ta mặt đối mặt nói chuyện, nếu trong miệng
của người phát ra hơi hôi thối thì nhất định chúng ta
không thích nói chuyện với kẻ ấy. Trái lại, miệng người
thường phát ra mùi hương liên hoa, dù người ấy nói những
điều không đúng với những chỗ ta thích nghe, nhưng chúng
ta vẫn có ý muốn cùng với người ấy nói chuyện và những
người như thế luôn được mọi người ái kính.
Lại
nữa, do nơi mình thành thật, không hư dối, tin chắc người
đối với mình cũng không bao giờ nói lời giả dối, cho nên
không nghi người khác nói lời giả dối. Mình đối với người
có thái độ chân thành như vậy, nên tự nhiên người cũng
sẽ tin lời nói của mình là chân thật. Như thế, hai bên
đã tương xử với nhau, hoàn toàn đặt lòng tin nơi nhau, thì
không xảy ra việc bạn nghi ngờ, tôi nghi kỵ, lưới nghi từng
từng lớp lớp phát sanh. Ðấy là kết quả tốt đẹp do xa
lìa lời nói dối mà được.
Việc
rất khó làm của người đời là gây lòng uy tín với nhau.
Một người đã có uy tín tốt đẹp thì đi đến đâu cũng
được. Cho nên cần phải nói lời thành thật, xa lìa lời
nói hư dối.
4.
Người nói lời chân thật thì bất cứ nói ra lời chi, tự
nhiên được sự tín nhiệm của mọi người, nhất là một
vị Bồ Tát thuyết pháp độ sanh. Khi bạn nói ra một lời
pháp nào cũng đều được chúng sanh nghe theo và cảm thấy
vô cùng hoan hỷ. Nếu bạn đem công đức, lời nói chân thật
ấy hồi hướng về quả vô thượng Bồ Ðề thì sẽ được
chân thật ngữ của Như Lai, đắc quả vô thượng Bồ Ðề.
Xa lìa lời nói hư giả dối gạt có thể thâu hoạch được
quả báo thù thắng như trên vậy.
