B.2.1.3.
DÂM GIỚI (giới dâm)
Kinh
văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Nhược Phật tử tự dâm, giáo dâm” cho đến câu:
“Vô từ bi tâm dã thị Bồ Tát Ba La Di tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Nếu
Phật tử tự mình dâm dục, bảo người dâm dục với tất
cả phụ nữ, các loài cái, loài mái, cho đến thiên nữ, quỷ
nữ, thần nữ, cùng phi đạo mà hành dâm dưới mọi hình
thức: nhân dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, nghiệp
dâm dục. Là Phật tử, đối với tất cả mọi đối tượng
trên, không được cố ý dâm dục và phải có lòng hiếu thuận,
cứu độ tất cả chúng sanh, đem pháp thanh tịnh răn dạy
người; trái lại, không có tâm từ bi, làm cho mọi người
sanh việc dâm dục, không phân biệt súc sanh cho đến mẹ con,
chị em trong lục thân cũng hành dâm. Phật tử này phạm Ba
La Di tội.
Lời
giảng:
Dâm
tức là dâm dục, nghĩa là giữa nam nữ có tâm ái nhiễm,
đắm trước với nhau, tức là tâm tình đối với sắc dục
thiên trọng không thể xa lìa nên gọi là dâm sắc, là hoang
dâm.
Cổ
thi Trung Quốc có câu: “Nội tác sắc hoang, ngoại tác cầm
hoang” (bên trong hoang mê theo sắc dục, bên ngoài làm việc
hoang mê theo cầm thú). Trong Phật pháp, dâm dục gọi là “bất
tịnh hạnh”, là do ái dục làm nhiễm ô nội tâm của chính
mình, nên gọi là “bất tịnh”; bằng những việc làm phi
pháp, giới phẩm thanh tịnh, gọi là “hạnh”, bị nhiễm
ô; còn gọi là “phi phạm hạnh”.
Người
tu học Phật pháp phải tu diệu hạnh thanh tịnh, nhưng vì
làm việc giao cấu ô uế, bỉ ổi, hư lậu thật đáng hổ
thẹn nên gọi là “phi phạm hạnh” vậy.
Người
làm việc phi phạm hạnh, bên trong làm nhơ thể tánh của mình,
bên ngoài làm nhơ bẩn tâm địa của người khác. Trong kinh
thường nói dâm dục là chánh nhân sanh tử, cội gốc luân
hồi. Tại sao vậy?
Vì
cội gốc dâm dục không đoạn trừ vĩnh viễn, không mong gì
thoát ly sanh tử luân hồi. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Dâm tâm
bất trừ, trần bất khả xuất. Túng hữu đa trí, thiền định
hiện tiền, như bất đoạn dâm, tất lạc ma đạo” (tâm
dâm dục không đoạn trừ, không dễ gì ra khỏi trần lao.
Dù có đa trí thiền định ngay hiện tại, dâm dục không đoạn
tuyệt, chắc chắn lạc vào ma đạo).
Theo
kinh dạy trên, chúng ta thấy đối với người tu học Phật
pháp, vấn đề dâm dục rất trọng đại. Những ai không muốn
lặn ngụp trong bể dục, nổi chìm trong sông ái, cần phải
làm thế nào đoạn trừ dâm dục cho kỳ được. Ðây là công
phu đứng đầu.
Có
người cho rằng quan hệ nam nữ chỉ có song phương đồng
ý với nhau, ngoài ra không làm tổn hại đến người khác,
không làm não loạn chúng sanh, tại sao lại xem dâm dục quá
quan trọng đến như vậy?
Nên
biết, việc dâm dục nếu chưa bị tiêm nhiễm thì thôi, khi
đã bị tiêm nhiễm rồi thì bị nó trói cột rất chặt. Chừng
ấy muốn thoát ly nó, hoặc muốn cắt đứt dây ái dục, thật
không phải đơn giản, nên Ðại Trí Ðộ Luận của tổ Long
Thọ dạy: “Dâm dục tuy bất não chúng sanh, hệ phược cố
vi đại tội” (dâm dục dù không não hại chúng sanh, nhưng
có sức trói cột, nên tội ác rất lớn).
Ví
như lao ngục ở thế gian, vì sợ tù nhân chạy trốn nên bắt
mỗi người phải mang gông vào cổ, lấy xiềng sắt còng tay
chân lại. Nhưng đối với lao ngục sanh tử trong tam giới,
gông cùm, xiềng xích tròng trói chúng sanh lại chính là ái
dục vô hình.
Tất
cả hữu tình bị dây ái trói cột rất chắc chắn, muốn
thoát ly lao ngục tam giới rất là khó. Càng rất khó! Nên
trong nhiều kinh, Ðức Phật cực lực quở trách việc dâm
dục không chỗ nào sót.
Trong
kinh có nói: Vào thời quá khứ có vị tiên nhân đã đắc
ngũ thông, dùng thần thông bay vào cung vua. Các cung nga, thể
nữ xúm nhau lễ bái, rờ rẫm, vuốt ve. Lúc ấy tiên nhân
khởi sanh tâm dục nhiễm khiến thần thông tự nhiên tiêu
mất. Vì không thể dùng thần túc thông bay ra khỏi vương
cung, tiên nhân phải đi bộ từng bước trở về thâm sơn,
cùng cốc.
Chúng
ta thử nghĩ tai họa của dâm dục lớn biết chừng nào! Nên
trong luật Tăng Kỳ nói: “Khả úy chi thậm vô quá nữ nhân,
bại chánh hoại đức mạc bất do chi!” Nghĩa là: Những việc
đáng sợ nhất không gì hơn người nữ; chánh pháp bại hoại,
đạo đức suy đồi, tất cả đều do nơi người nữ. Nếu
không tin hãy xem trên thế gian này nhiều việc thương phong
bại đức, đâu có việc nào chẳng do nữ nhân mà ra.
Cho
nên dù là một chánh nhân quân tử hay dù là một cao tăng
đạo đức đến độ nào, nếu nội tâm chưa ly dục, một
mai bị nữ nhân cột trói rồi, chánh nhân quân tử có thể
thành hư ngụy tiểu nhân, cao tăng đạo đức có thể thành
phá giới tỳ kheo. Nữ nhân thế đấy, không đáng ghê sợ
hay sao?
Kinh
Chánh Pháp Niệm Xứ đối với vấn đề này lại càng kêu
gọi thống thiết:
Thế
gian nan đắc khổ,
Giai
do ư nữ phụ.
Phi
thiểu, phi trung niên,
Mạc
bất do thử nhân.
Nữ
nhân hoại thế gian
Linh
thiện tất diệt tận.
Thiên
trung đại hệ phược,
Mạc
quá ư nữ sắc.
Nữ
nhân phược chư thiên,
Tương
chí tam ác đạo.
Dịch:
Nam
tử thế gian bị thống khổ,
Ðều
do bởi nơi phụ nữ,
Không
luận thiếu niên hay trung niên,
Không
ai chẳng do nguyên nhân này.
Nữ
nhân phá hoại thế gian,
Làm
cho thiện pháp tiêu diệt hết.
Triền
phược lớn nhất ở thiên giới.
Không
có gì hơn là nữ sắc,
Nữ
nhân trói cột hàng chư Thiên,
Dẫn
dắt đi vào tam ác đạo.
Tai
hại của nữ nhân là một thứ cực trọng, lời kinh dạy
ở trên có thể nói đã thổ lộ tường tận. Kinh Tạp A Hàm,
quyển 36 cũng nói: “Nữ nhân phạm hạnh cấu, nữ tắc lụy
thế gian” (người nữ làm nhơ phạm hạnh, người nữ làm
lụy thế gian).
Tất
cả tội ác tánh dục đều đem đổ cho nữ giới. Nếu nói
nghiêm cẩn hơn, việc dâm dục đâu phải là thứ nhu yếu
đơn phương của nữ giới? Tất cả nam giới chưa ly dục,
đối với vấn đề này lại không phải là một thứ nhu cầu
đồng như nữ giới hay sao? Tại sao trong kinh phần nhiều chỉ
chuyên quở trách nữ sắc?
Vấn
đề này trong bộ Phật Pháp Khái Luận của Ấn Thuận Luật
Sư có nói: “Vì Phật pháp phần nhiều là vì tỳ kheo mà
Phật thuyết pháp, cho nên tánh dục đối với nam nữ, thiên
trọng quở trách nữ sắc”.
Lại
nói tiếp: “Kỳ thật, nếu Ðức Phật vì nữ chúng thuyết
pháp thì lại dạy là ‘nam nhân phạm hạnh cấu, nam tắc
lụy thế gian’.
Cả
nam lẫn nữ đối với vấn đề dâm dục này đều có tâm
tiêm nhiễm đắm say. Nên bao nhiêu tội ác có quan hệ đến
tính dục, cả nam lẫn nữ phải cùng gánh trách nhiệm, không
thể hoàn toàn quy lỗi về cho nữ chúng một cách đơn phương”.
Vì
thế cả nam lẫn nữ, đối với sự sinh hoạt dâm dục đều
phải tiết chế hoàn toàn, cho đến tuyệt đối đoạn tuyệt,
không nên túng tình phóng đãng.
Nếu
dâm dục vô độ, buông lung, chẳng những tự mình gặp nhiều
việc khó khăn, lại phá hoại tín tâm của người đối với
mình, đồng thời gây ra việc hủy báng cho nhiều người.
Dĩ nhiên là tự mình bất lợi trước nhất.
Trên
đây là nói riêng về Phật tử tại gia, vì với kẻ xuất
gia thì hoàn toàn đoạn tuyệt dâm dục nên không đề cập.
Cổ đức dạy: “Một người hành dâm có thể hủy hoại
thế gian, cho đến các chú thuật và việc hòa hợp các phương
thuốc chế luyện cũng không thành. Lại có thể hủy hoại
tất cả giới hạnh, thiền định, giải thoát và tất cả
thiện căn xuất thế của tam thừa”.
Luận
Du Già nói: “Chư ái vi trung, ái dục vi tối” (trong các thứ
tham ái, ái dục là thứ nhất). Hành giả tu học Phật pháp,
nếu đối trị ái dục gắt gao, thì những tham ái khác tự
nhiên có thể khắc phục. Tai hại của dâm dục rất nhiều
nói không thể hết được. Chỉ y theo các kinh, luật, luận,
lược nói ba điều quá hoạn như sau:
-
Tợ lạc thật khổ (tợ hồ vui nhưng thực sự là khổ): Nam
nữ ở đời vì sao đều ưa thích việc ái dục? Vì đều
lầm cho ái dục là đại lạc của nhân sinh. Ðối với Phật
pháp, việc nhiễm dục tợ hồ vui, nhưng sự thực là khổ
não, hoàn toàn khổ chứ không vui.
Giống
như một người mắc bệnh ghẻ ngứa hay lác. Lúc quá ngứa
ngáy khó chịu, phải cào gãi không ngớt thật là khổ não,
nhưng người ấy cảm thấy khoái lạc, dễ chịu. Với người
không mắc bệnh, thấy kẻ ấy cào gãi, chẳng những không
cho là vui, lại nhận là rất khổ.
Cũng
thế, người đã ly dục thấy tính dục giữa nam nữ hoàn
toàn khổ chứ chẳng vui. Sự khoái lạc của dâm dục thực
sự không phải vui, tính nó hoàn toàn hư ngụy. Nhưng nó có
một sức mạnh, có khả năng dối gạt, mê hoặc chúng sanh,
khiến chúng sanh tự động tiến vào ái dục như con phi nga
(thiêu thân) gieo mình vào lửa, để rồi bị lửa thiêu thân.
Ðại
Trí Ðộ Luận nói: “Xưa kia có một dâm nữ đến trong miễu
Thiên Thần hẹn hò với một nam nhân; nhưng nam nhân ấy không
đến. Dâm nữ không được toại ý, lửa dục bồng bột bèn
đốt cháy cả miễu Thiên Thần”. Như thế không lạ gì thế
nhân bị lửa dục thiêu đốt, tất cả đều không nghĩ tưởng
đến sự tác hại, chỉ tìm cầu ái dục cho kỳ được, quyết
không thôi. Quả thật đó là lấy lửa tự thiêu đốt mình,
không một chút gì tốt đẹp, cho nên cổ đức nói:
Sĩ
đao nhân chi mật,
Tham
độc hoa chi sắc,
Tổn
hại chư chúng sanh
Thị
ma chi ý nguyện.
Dịch:
Liếm
chút mật trên dao bén,
Tham
sắc đẹp của hoa độc,
Làm
tổn hại chúng sanh,
Ðấy
là ý nguyện của ma.
Sắc
dục mới xem qua dường như rất đẹp, nhưng đụng đến không
được vì trong ấy có chất độc. Nếu động đến nó, chắc
chắn bị chất độc làm hại, có thể táng thân mất mạng,
nên nói tợ hồ vui nhưng thật sự là khổ.
-
Tợ vị thật tai (tợ hồ thú vị nhưng thật sự là tai nạn):
Thông thường thế nhân đối với việc dâm dục đều cảm
thấy thú vị vô hạn. Một thứ tư vị rất nồng nàn. Nhưng
trong Phật pháp lại thấy dâm dục là một thứ rất nhiều
tai hại, hoàn toàn không thú vị.
Trong
kinh nêu một thí dụ: Những La Sát nữ lúc mới gặp người
liền thân thiết vô cùng. Sau khi đã thân cận với người,
nó liền ăn tươi nuốt sống người ấy.
Như
vậy thử hỏi đối với người, La Sát nữ có thú vị gì?
Là những kẻ oan gia đối đầu muốn đến hại chúng ta, nên
tỏ ra vô cùng thân thiết, thương mến chúng ta, để chúng
ta không đề phòng; đến lúc chúng ta lọt vào trong vòng của
họ rồi, khi phát giác được thì chúng ta đã bị họ làm
hại rồi. Lúc bấy giờ, không có phương chi cứu vãn được
nữa...
Nên
biết tai hại của dâm dục như thế. Thường đối với những
người có sức cám dỗ, mê hoặc, người khác rất ưa thích
vì thấy nơi đó thú vị vô cùng. Nhưng đến lúc người đã
thật tiêm nhiễm nó rồi thì tán thân hoại thể. Ðây cũng
chỉ là việc nhỏ. Việc lớn lao là bị nó đoạn tuyệt Pháp
Thân huệ mạng, chẳng những làm chướng ngại khiến người
không đến được cảnh an lạc Niết Bàn, lại còn chịu vô
lượng sự thống khổ. Nên kinh Bồ Tát Tạng, quyển 10, nói:
Tập
cận dục thời,
Vô
ác bất tạo;
Thọ
bỉ quả thời,
Vô
khổ bất thọ.
Dịch:
Trong
khi gần ái dục,
Không
tội ác nào chẳng tạo tác.
Ðến
khi thọ quả báo của ái dục,
Không
thống khổ nào chẳng lãnh thọ.
Hay:
Trong
khi ái dục cận kề,
Bao
nhiêu tội ác chẳng nề tạo gây.
Ðến
khi quả báo đã đầy,
Làm
sao thoát khỏi trùng vây khổ sầu.
Hoặc:
Ái
hà dục hải,
Phiêu
nịch vô ngạn,
Tứ
sanh chi ba,
Trường
lưu bất tuyệt,
Nhất
thiết oán hại,
Giai
tùng dục sanh.
Dịch:
Sông
ái biển dục,
Nổi
chìm không bờ,
Sóng
lớp sanh tử,
Chảy
hoài chẳng dứt,
Tất
cả oán hại,
Ðều
từ dục sanh.
Hay:
Sông
biển mênh mông ái dục đầy,
Bến
bờ chìm nổi ngút chân mây,
Tử
sinh lớp lớp không ngừng nghỉ,
Oán
hại đều nơi ái dục này.
Chúng
sanh ở trong đêm dài sanh tử thường cảm thọ những nỗi
thống khổ biệt ly, không phải đều do dâm dục mà ra hay
sao? Vì thế, nói dâm dục tựa hồ thú vị mà thật ra nhiều
tai nạn.
-
Tợ tịnh thật uế (tợ hồ sạch sẽ, nhưng thật sự ô uế):
Nhục thân của chúng sanh tất cả đều toàn là những thứ
bất tịnh. Dù cho tắm hết nước trong bể cả cũng không
thanh tịnh được mảy may. Vì sanh mạng nhục thể là do bao
nhiêu xương thịt hợp thành, bên ngoài bọc một lớp da mỏng,
bên trong là huyết nhục, đại tiện, tiểu tiện... nhơ bẩn
không kham nổi.
Nếu
lột lớp da mỏng ra thì thật hôi thối không thể chịu được.
Còn ở các miền nhiệt đới, nếu một ngày không tắm gội
thì thân thể có mùi khó chịu vô cùng. Việc này ai cũng biết,
nhưng mọi người đều dễ bị lớp ngụy trang bên ngoài giả
hiện dường như thanh tịnh dối gạt, khiến những hạng tầm
thường thích ưa nhục thể thối hôi, nhơ bẩn này, tâm không
chút nhàm chán. Ðấy không phải là chúng sanh quá điên đảo
là gì?
Vấn
đề này trong kinh thường nêu thí dụ: như các con heo người
đời nuôi dưỡng, suốt ngày đêm chúng lăn lóc trong bùn sình,
phẩn tiểu bất tịnh, nhìn thấy rất dơ bẩn. Nhưng những
con heo kia tâm chúng lại rất ưa thích, ở mãi trong ấy. Nếu
có người muốn dắt chúng ra, chúng lại không ưa thích. Nên
có bài tụng này:
Nhục
thân tuy bất tịnh,
Tợ
tịnh cuống ngu phu.
Nhạo
uế nhi vô yểm,
Tợ
trư nhạo ứ uế.
Dịch:
Với
nhục thân này dù bất tịnh,
Tợ
hồ thanh tịnh gạt kẻ ngu,
Ưa
thích nhơ bẩn không biết chán,
Nào
khác loài heo thích bùn sình.
Nhất
là nữ giới vì muốn dối gạt, cám dỗ nam nhân nên trang
điểm dung nhan, lại còn dùng nước thơm thoa xức, khiến người
ta sa vào lưới ái tình. Khi đã vướng vào lưới rồi, thì
không phương gì xé rách để thoát ly. Nên trong Ðại Trí Ðộ
Luận, tổ Long Thọ nói:
Xảo
sát nhân ý,
Nữ
nhân vi trí.
Dịch:
Khôn
khéo quan sát tâm ý của người,
Ấy
là mưu trí của người nữ.
Ở
lãnh vực này, quả thật nữ giới có khả năng; nhưng nếu
có thể quán thân bất tịnh, dù thấy mỹ nhân dường như
thiên nữ hay tiên nữ, cũng không bao giờ sanh khởi dục niệm.
Ðức
Phật dạy: “Nếu là một Phật tử đã thọ giới Bồ Tát
rồi, bất luận là tự dâm hay giáo nhơn dâm đều vi phạm
Luật Nghi Giới của Bồ Tát”.
Ðiều
ấy lược giải như sau:
*
Tự dâm: tự thân mình làm hạnh ô uế, tức sự giao cấu
nam nữ, quyến luyến triền trược lẫn nhau.
*
Giới nhơn dâm: bảo người làm hạnh ô uế, khiến sa vào
lưới ái tình, không thể nào giải thoát. Việc tự dâm và
giáo nhơn dâm ở Ðại Thừa và Tiểu Thừa giải thích có
những điểm bất đồng.
Thanh
Văn thừa cho rằng: tự dâm phạm căn bổn trọng tội mà thành
nghiệp đạo. Theo pháp Bồ Tát thì chẳng những tự dâm mà
cả giáo nhơn dâm đều phạm căn bổn trọng tội mà thành
nghiệp đạo.
Vì
vậy, Phật giáo Ðại Thừa quan niệm tự mình hay bảo người
khác làm tội vẫn đồng nhau, không có sự sai khác khinh -
trọng. Vì Bồ Tát hành Bồ Tát hạnh, hóa độ chúng sanh,
phải đem pháp thanh tịnh dạy bảo, dẫn dắt chúng sanh, khiến
chúng sanh đi trên con đường thanh tịnh, mới là hợp đạo
lý, đâu nên bảo người làm hạnh bất tịnh? Nếu bảo người
làm hạnh ô uế, khiến chúng sanh chìm đắm trong sông ái,
dĩ nhiên phạm giới luật nghi của Bồ Tát.
Câu
“nãi chí nhất thiết nữ nhân bất đắc cố dâm” là nói
đối với tất cả phụ nữ, không luận sang, hèn, già, trẻ,
lớn, nhỏ; bất luận xấu, đẹp, thân, sơ, chủ yếu là nữ
nhân thì không được cố ý cùng họ hành dâm. Ðối với
hai chúng tại gia và xuất gia có sự sai khác. Chúng xuất gia
tuyệt đối cấm chỉ hành dâm. Chúng tại gia thì chỉ được
chánh dâm, không được tà dâm.
Trong
bộ Thành Phật Chi Ðạo, Ấn Thuận Luật Sư thuyết minh:
“Nếu
nam nữ đồng ý được cha mẹ cùng người bảo hộ đồng
ý, không trái với luật pháp quốc gia và trải qua hôn lễ,
kết thành phu phụ. Ðây là chánh dâm, là yếu tố tổ hợp
thành tựu gia đình, là việc cần yếu để có con cháu nối
giòng, là việc chánh đáng không tội.
Trái
lại, nam nữ Phật tử tại gia dù hai bên đồng ý, mà trong
Phật pháp cấm ngăn (lúc thọ Bát Quan Trai Giới), hay luật
pháp quốc gia không cho phép, hoặc thân nhân cùng người bảo
hộ không đồng ý, đều thuộc về tà dâm. Cần phải ngăn
cấm! Việc ấy là ác hạnh, phá hoại sự hòa vui trong gia
đình, nhiễu loạn trật tự của xã hội”.
Tiếp
theo xin giải thích câu “không được cố ý dâm dục”. Chữ
“cố” không phải là trường hợp bị sự cưỡng bức của
kẻ bạo lực, cũng không phải vô tâm làm hạnh bất tịnh,
mà là hữu ý khởi tâm làm việc ấy. Nghĩa là sự hành dâm
không phải do vô tình, lầm lỡ; vì hữu ý dĩ nhiên không
phải là lầm lỡ. Trường hợp gặp phải nạn duyên đặc
biệt, bị sự cưỡng bức của kẻ ác, tự mình không tự
chủ được nên bị người làm hạnh nhiễm ô. Trường hợp
này không thể nói là “cố ý dâm dục”.
Nhưng
cần phân biệt là trong trường hợp bị cưỡng bức như thế,
nếu nội tâm hoàn toàn không chút ưa thích thì không phạm
tội. Trong Luật dạy, khi bị người cưỡng bức mà không
có ý ưa thích là thế nào?
Là
lúc ấy cảm thấy như bị người dùng sắt nóng nung vào thân,
không có một niệm ưa thích. Nếu lúc ấy có một niệm ưa
thích là phạm tội. “Có niệm ưa thích” là thế nào? Là
như đói được thức ăn, khát gặp nước uống. Cho nên trong
Phật pháp, trường hợp bị cưỡng bức này phân tách rất
nghiêm cẩn, chu đáo.
Ở
đây, có người nêu lên một vấn đề để đàm luận: nước
Ấn Ðộ có nói đến việc dùng bùa chú để dâm dục, như
trường hợp Ma Ðăng Già nữ niệm chú Tiên Phạm thiên để
nhiếp lấy A Nan tôn giả. Tôn Giả nhờ vào sự cứu hộ của
đức Phật mà giữ gìn giới thân được thanh tịnh. Nhưng
nếu Ma Ðăng Già nữ nhiếp lấy chúng sanh khác thì không thể
không hoàn thành dâm sự. Tại sao trong kinh đây không cấm
chế?
Phải
biết dâm dục tiến hành là ý muốn của song phương, không
có gì trở ngại, nên đâu cần gì phải dùng chú thuật mới
thành tựu việc ưa thích? Nên trong kinh, đối với việc dùng
bùa chú dâm dục được bỏ qua, không nói đến.
Dâm
dục sở dĩ trở thành việc dâm dục không phải là việc
đơn giản, cần phải hội đủ bốn điều kiện: nhân, duyên,
pháp, nghiệp mới thành tựu việc dâm dục. Bốn điều kiện
ấy lược giảng như sau:
-
Dâm nhân (nhân dâm dục): tập khí, chủng tử tham nhiễm dâm
dục có sẵn trong tạng thức từ vô thỉ trở lại. Do đó,
hiện tại mới danh khởi tâm niệm dâm dục. Ấy gọi là dâm
nhân.
-
Dâm duyên (duyên dâm dục): sau khi sanh khởi một niệm dâm
dục, tâm niệm ấy tương tục không gián đoạn. Bấy giờ,
đối với đối phương lưu tâm liếc ngó, đi theo gần gũi,
dùng nhiều cách cho thành việc gặp gỡ giữa nam nữ. Ðấy
gọi là dâm duyên.
-
Dâm pháp (cách thức dâm dục): khi hai bên tiếp cận nhau, có
những thái độ luyến ái với nhau, như má tựa, vai kề, lại
tán thán thuật ái tình cùng với tác dụng, phương tiện,
tư cụ, pháp tắc... Ðấy gọi là dâm pháp.
-
Dâm nghiệp (nghiệp dâm dục): do ba điều kiện nhân, duyên,
pháp hòa hợp. Bấy giờ, tùy ý khiến hai căn của đôi bên
giao tiếp. Bất luận có xuất tinh hay không, chủ yếu là sự
tiếp xúc, tiến vào chừng như hạt mè để thành tựu việc
dâm dục. Ðấy là dâm nghiệp.
Như
giới sát sanh, trộm cắp, việc hành dâm cũng đủ ba chướng:
-
Sanh khởi một tâm niệm ham muốn dâm dục là phiền não chướng.
-
Thành tựu sự ưa muốn của việc dâm dục là nghiệp chướng.
-
Chiêu cảm lấy quả khổ trong luân hồi sanh tử là báo chướng.
Như
trước đã nói, dâm dục là chánh nhân sanh tử, là cội gốc
của luân hồi. Người tu học Phật pháp, bất luận tại gia
hay xuất gia, muốn thoát ly sanh tử luân hồi, điều kiện
tối yếu là cần phải đoạn trừ dâm dục. Nếu không đoạn
trừ dâm dục thì ước muốn siêu thoát luân hồi là chuyện
vô hy vọng.
Nói
một cách nghiêm khắc hơn, chẳng những với nữ nhân trong
nhân đạo, mà là đối với tất cả giống nữ, không được
sanh khởi nhiễm tâm cùng với họ hành hạnh bất tịnh, nên
kinh dạy: “Nãi chí súc sanh nữ, chư thiên nữ, quỷ thần
nữ, cập phi đạo hành dâm” (cho đến các loài cái, loài
mái, thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ cùng phi đạo mà hành dâm).
Nếu có hành vi ấy đều là phạm trọng tội.
Việc
hành dâm giữa người và súc sanh cái tuy ít thấy, nhưng không
phải là không có. Kinh Lăng Già nói: Xưa kia có một vị quốc
vương vào rừng săn bắn, ngựa sợ rong chạy vào rừng sâu.
Bấy giờ, quốc vương gặp một sư tử cái, bèn cùng với
sư tử làm hạnh bất tịnh, sau sanh ra con.
Theo
trên, chứng tỏ trên thế gian này đã từng có những việc
như vậy. Vì muốn ngăn chặn nhân vi tế dần đi đến sự
thật, Ðức Phật đặc biệt chế định điều này để tránh
việc phi pháp như vậy phát sanh.
Lại
như chư thiên nữ, quỷ nữ, thần nữ, những nữ tử này
vốn không phải là kẻ hành dâm của thế nhân, chẳng qua
có khi các nữ nhân ấy hóa hiện thân người, nên người
đời không biết là nữ của chư thiên và quỷ thần nên mới
cùng họ sanh phát ái nhiễm.
Tuy
không phải là việc thông thường, nhưng đều không được
đối với thiên nữ, quỷ thần nữ hành dâm. Với người
thế tục, thông thường việc hành dâm chánh thức giữa nam
nữ nơi hai căn kết hợp, ấy là chánh dâm. Nếu về phi đạo
hành dâm đều gọi là tà dâm.
Kinh
Thiện Sanh nói: “Nếu ở phi thời, phi xứ, phi nữ, xử nữ,
tha phụ, hoặc tự thân mình đều gọi là hạnh tà dâm”
vì những thứ hành dâm trên đây đều không thuận với đạo
lý thế gian, lại trái với tự nhiên tính, nên gọi là phi
đạo.
Thế
nào gọi là phi thời?
Như
hành dâm lúc ban ngày, hoặc ngày lục trai trong mỗi tháng,
ba tháng trường trai trong một năm, hoặc thê thiếp trong khi
có thai nghén hay sau thời gian sanh sản, hoặc lúc con còn bú,
lúc có kinh nguyệt... đều không phải là lúc hành dâm. Nếu
hành dâm tức phạm tà dâm.
Thế
nào gọi là phi xứ?
Ngoại
trừ âm hộ của nữ nhân, nếu ở đường đại tiện, trong
miệng, cùng với những bộ phận khác trên thân đều không
phải là chỗ để hành dâm. Nếu hành dâm tức phạm tội
tà dâm.
Thế
nào gọi là phi nữ?
Là
nam tử: người hoàng môn, nhị căn đều không phải đối
tượng hành dâm. Nếu hành dâm tức phạm tội tà dâm.
Thế
nào gọi là xử nữ?
Là
hoàng hoa khuê nữ chưa gả cho người, cũng không phải thuộc
về mình, dĩ nhiên không được có những hành động không
đúng đạo lý. Nếu xâm phạm tới các cô ấy tức phạm tà
dâm.
Thế
nào gọi là tha phụ?
Là
hạng phụ nữ đã có chồng, thuộc về chồng của người
ấy. Ðối với những phụ nữ này lại càng không được
có những điều phi lễ. Nếu đối với họ có chỗ ái nhiễm
thì phạm giới tà dâm.
Thế
nào gọi là tự thân?
Là
hạng người có thứ phiền não kỳ dị, bảo người khác
làm hạnh bất tịnh ở trên thân mình, hoặc đường đại
tiện, hoặc trong miệng... Những việc này không hợp đạo,
chúng ta không nên làm theo vì tự thân họ ưa thích tiếp thọ
những hành vi phi pháp này, Trong trường hợp đó, cả hai đều
phạm giới tà dâm.
Việc
hành dâm trong miệng, trong Ðại Luật Tỳ Kheo có thuật một
câu chuyện như sau: Vua A Xà Thế sanh một hoàng tử tên Ưu
Bà Di Bạt Ðà. Khi mới sanh ra, dương vật của hoàng tử sanh
trùng rất ngứa ngáy, mà dùng bao nhiêu thuốc trị liệu cũng
không hết. Bấy giờ, người ẵm bồng hoàng tử thường dùng
miệng ngậm dương vật hoàng tử, thì sự ngứa ngáy dần
dần bớt, nên bà bảo mẫu vẫn thường làm như vậy. Vì
hơi nóng trong miệng làm xuất tinh nên các thứ trùng đó theo
tinh dịch ra ngoài mà được lành bệnh. Việc đó thành thói
quen, về sau hoàng tử cưới vợ thường bảo vợ ngậm nam
căn để cảm thọ sự khoái lạc. Người vợ quá tức giận,
đang lúc lõa thể, trùm mặt, chạy trốn về nhà. Việc trên
loan truyền trong cung, lan đến nhân dân trong nước, dân chúng
nhiều người bắt chước làm theo. Vua A Xà Thế hạ lệnh
cấm chỉ nhân dân không được hành dâm trong miệng.
Là
một vị Bồ Tát, có đầy đủ trí huệ, phải khác hẳn với
người ngu si vô trí thông thường. Chẳng những không hành
dâm với tất cả, lại còn phải xem tất cả nam tử là cha
mình, tất cả nữ nhân là mẹ mình, khởi tâm cung kính hiếu
thuận không hết, làm thế nào lại có những hành vi không
chánh đáng? Nếu có, tức là trái nghịch với thiên lý, tán
thất bổn tánh của chính mình, làm não hại cha mẹ thì không
còn tội nào lớn hơn và đâu được gọi là hiếu thuận?
Làm sao có tư cách gọi là Bồ Tát?
Bồ
Tát không được não hại chúng sanh mà phải cứu độ chúng
sanh. Không phải chỉ khiến cho chúng sanh thọ hưởng phước
báo an vui cõi nhân thiên là đủ, mà cần phải thực hành
những điều thiện khiến cho chúng sanh đồng vào Vô Dư Niết
Bàn, được diệt độ, xa lìa gốc khổ sanh tử vĩnh viễn.
Muốn
được vậy, quyết phải đem pháp thanh tịnh khuyên dạy mọi
người, dạy tu pháp quán bất tịnh, dạy nghiêm trì giới
hạnh, đoạn tuyệt ái căn dâm dục, cứu người ra khỏi sông
ái phiền não, mới là diệu dụng của đại sĩ, mới là có
tâm từ bi giáo hóa dẫn dắt chúng sanh.
Trong
kinh Lăng Nghiêm dạy: “Căn bổn do dâm dục mà bị luân hồi
trong tam đồ ác đạo. Còn Niết Bàn của Như Lai do đâu mà
tu chứng? Cần phải cả thân, tâm, dâm cơ đều đoạn, mới
mong chứng đắc quả Vô Thượng Bồ Ðề”, chính là ý này
vậy.
Bồ
Tát lấy việc độ sanh làm trách nhiệm, nếu không đem pháp
thanh tịnh khuyên dạy người, khởi tâm từ bi giáo hóa dẫn
dắt như đã nói trên, lại còn sanh khởi dâm niệm với mọi
người, khiến tánh thức bị hôn mê, hoang dâm vô độ, thậm
chí hành dâm với cả súc sanh lẫn cả với mẹ, con, chị,
em... Ðây là một tội ác to lớn biết dường nào!
Về
lục thân thì có lục thân của cha là chú, bác, anh, em, con,
cháu; lục thân của mẹ là cô, dì, chị, em, con, cháu. Trên
thực tế, làm điều phi pháp trong lục thân thật ít có và
không thể được.
Nhưng
ở đây, Phật sở dĩ ngăn cấm là để đề phòng trước,
vì sợ e thế gian có hạng người tà kiến, cho là với thân
nhân làm điều phi pháp thì không có tội như xâm phạm đến
người khác; cho nên Ðức Phật đại từ đại bi đặc biệt
răn dạy chúng ta việc ấy là điều tối yếu, không thể
hành động được.
Trong
giới sát sanh đã nói Bồ Tát lấy đại bi làm thể, vì có
tâm đại bi mới có thể bạt trừ những thống khổ phiền
não sanh tử cho chúng sanh. Có tâm đại bi mới có thể ban
an vui Bồ Ðề Niết Bàn cho chúng sanh.
Bồ
Tát phải từng giờ, từng phút khởi tâm đại từ bi như
thế, vì chúng sanh giảng nói pháp môn ly dục tịch tịnh Niết
Bàn. Nếu không thực hành như vậy, trở lại sanh niệm dâm
dục với người, dùng dây luyến ái trói cột chúng sanh một
cách chắc chắn trong bể khổ sanh tử. Ðấy chứng tỏ vị
Bồ Tát này không có tâm từ bi với chúng sanh. Ðã không có
tâm từ bi lại còn sanh khởi dâm niệm với tất cả mọi
người, nên kinh răn dạy: “Phật tử này phạm Ba La Di tội”,
tức căn bản trọng tội không thể dung thứ.
Từ
trước đến nay, trong kinh đều cho dân dục là cội gốc của
sanh tử, việc này dĩ nhiên là đúng. Nhưng sự thật dâm dục
cũng không phải hoàn toàn là cội gốc của sanh tử. Tại
sao như vậy?
Vì
có những chúng sanh tuy không sinh hoạt trong việc dâm dục
nhưng với sanh tử cũng không giải quyết được. Như chư
thiên cõi Sơ Thiền trở lên hoàn toàn không có dâm dục, nhưng
vẫn còn ở trong sanh tử luân hồi, không thoát ly tam giới,
không được giải thoát.
Như
vậy thì ngũ chúng xuất gia trong Phật pháp, tại sao lại phải
cấm tuyệt?
Ðiều
này trong bộ Phật Pháp Khái Luận của Ấn Thuận Luật Sư
có nói: “Sự lôi cuốn ràng buộc nam nữ có sức mạnh đặc
biệt. Trong xã hội, sự kết hợp nam nữ có nhiều điều
thống khổ không thể tránh khỏi. Thật là nhân duyên chướng
đạo! Cho nên để thích hợp với pháp xuất gia trong xã hội
hiện tại, cần phải triệt để cấm tuyệt sự dâm dục
giữa nam nữ”.
Vì
triệt để cấm tuyệt, nếu gặp trường hợp vi phạm, tức
là phạm căn bổn tánh tội. Phật tử tại gia dù thọ Ngũ
Giới hay Bồ Tát Giới, lúc thọ Bát Quan Trai Giới một ngày
một đêm nếu không đoạn trừ chánh dâm, đây là “giá tội”.
Nên giới Dâm cũng có đủ tánh tội và giá tội.
Có
người cho rằng nam nữ ở đời, pháp luật thế gian không
cấm, nên chỉ những người thọ giới của Phật mới gọi
là phạm tội. Như thế đáng lẽ chỉ có giá tội chứ không
có tánh tội. Lời này hoàn toàn không đúng!
Pháp
luật thế gian không cấm việc vợ chồng chánh thức thông
thường. Nếu gian dâm, phóng đãng, phá hoại sự hòa vui trong
gia đình người khác, đối với pháp luật thế gian, tội
ấy cũng không nhẹ. Vì thế giới dâm dục, thất chúng Bồ
Tát đều cấm chế. Luật Ðại, Tiểu Thừa cũng đồng nhau.
Và riêng chỉ có ngũ chúng xuất gia mới tuyệt đối nghiêm
cấm sự dâm dục, còn hai chúng tại gia dù chỉ cấm đoán
tà dâm, nhưng về lãnh vực chánh dâm với thê thiếp của
mình cùng hành dâm phi thời, phi xứ, nếu vi phạm, đều kết
thành căn bổn trọng tội.
Trong
giới dâm này có đủ tam tụ tịnh giới:
-
Không được cố ý dâm dục, thuộc về Nhiếp Luật Nghi Giới.
-
Ðem pháp thanh tịnh khuyên dạy người thuộc về Nhiếp Thiện
Pháp Giới.
-
Cứu độ chúng sanh thuộc về Nhiếp Chúng Sanh Giới.
Nếu
không có tâm từ bi, dùng dây ái nhiễm trói cột chúng sanh,
tức là phạm Nhiếp Chúng Sanh Giới. Cho nên nếu Bồ Tát phạm
giới dâm, tức đã phạm Tam Tụ Tịnh Giới, mất hẳn tư
cách của Bồ Tát. Vì thế, nên phải giữ gìn thật nghiêm
cẩn.
Giới
dâm kết thành tội nghiệp, không phải có đủ bốn duyên
như nghiệp sát sanh, năm duyên như nghiệp trộm cắp, chỉ
cần 3 duyên là thành tựu tội trọng giới dâm, xin lược
giải như sau:
1)
Dâm đạo: chỉ 3 đường đại tiện, tiểu tiện và miệng.
Nếu với ba đường của nữ tử mà nhân, thiên, tu la, quỷ
thần, súc sanh hành dâm, tức là phạm căn bổn trọng tội.
-
Nếu trong 2 đường của người hoàng môn cho đến súc sanh
hoàng môn mà hành dâm cũng phạm tội căn bổn trọng tội.
-
Nếu trong hai đường của người nhị căn cho đến súc sanh
nhị căn mà hành dâm cũng phạm căn bổn trọng tội.
-
Nếu nơi súc sanh đã chết, thân chưa rục rã hư nát, ở nơi
ba đường mà hành dâm cũng phạm căn bổn trọng tội.
Nói
chung là tất cả chúng sanh trong lục thú, bất luận đường
nào trong ba đường mà phát sanh tánh hành dâm, tức phạm căn
bổn trọng tội.
Ðức
Phật ngăn cấm một cách nghiêm khắc vấn đề trong hai hoặc
ba đường của các nam nữ hành dâm, chính thật là có thâm
ý từ bi của Ngài trong việc ngăn cấm này.
2)
Dâm tâm: đây là căn bổn phạm giới. Vì nếu không có một
tâm niệm dâm dục này, tuyệt đối không bao giờ hành dâm.
Trong
Luật nói: có một tỳ kheo đặc biệt dâm tâm rất nặng,
không phương cách gì khống chế, nhưng lại sợ phạm căn
bổn giới, bất đắc dĩ phải cắt sanh thực khí mà vất
bỏ. Ðức Phật biết việc này, quở trách thầy tỳ kheo ấy
rằng: “Cái nên đoạn là dâm tâm mà ông không đoạn, cái
không nên đoạn, trở lại đi đoạn tuyệt, thật là ngu si”.
Ðã
có tâm niệm dâm, trong lúc hành dâm, trong tâm sanh vô cùng
ưa thích, khoái lạc như người đói được ăn, khát gặp
nước uống, ý cảm thấy thỏa mãn khoái lạc vô hạn. Nếu
có tâm lý này, đương nhiên không bị khó chịu như người
dùng sắt nóng đâm vào tim, đem tử thi hôi thối cột vào
cổ, ăn nuốt đồ phẩn uế. Chỉ có cảm thọ sự khoái lạc,
không có một niệm cảm thọ sự khổ đau. Ðấy chính là
dâm tâm.
3)
Sự toại: như thế nào mới kể là hoàn thành dâm dục? Nói
về nam giới, chỉ cần để nam căn vào một trong ba đường
của nữ tử chừng bằng hột hồ ma (mè), tức phạm căn bản
trọng tội, giới thể bị mất hẳn.
Nên
trong Luật dạy: “Thà để nam căn vào miệng rắn độc, không
nên để vào trong ba đường của nữ nhân vì rắn độc chẳng
qua chỉ hại nhục thân mà thôi. Nhưng cùng với người nữ
phát sinh nhục dục, quyết có nguy hại cho pháp thân, huệ
mạng. Sự tai hại này lớn biết dường nào?”
Thế
thì làm sao mới không bị phạm căn bổn trọng tội?
Là
khi nam căn hướng về ba đường của nữ tử, khi chưa để
vào, phải tức khắc cảnh giác, đình chỉ ngay thì chỉ kết
thành tội phương tiện.
Nói
đi rồi phải nói lại, nếu gặp trường hợp mình không có
ý dâm dục, nhưng bị sự cưỡng bức của kẻ oan gia, cừu
địch. Trong lúc bị đối phương hành xử bức bách, không
thể tự chủ được, cảm thọ như bị người dùng sắt nóng
nung vào thân, thực là đau khổ không kham chịu được, không
có chút lạc thú. Trường hợp này hoàn toàn không phạm.
Hoặc
trong lúc ngủ mê, bị kẻ lãng mạn lừa dịp, mà tự mình
không hay biết, cũng không phạm tội.
Hoặc
bị bệnh tâm loạn mê cuồng.
Hoặc
chuyển sanh qua đời khác không tự nhớ biết. Dù có trải
qua sự hành dâm, nhưng cũng không phạm tội.
Ðể
minh chứng những trường hợp bị cưỡng hiếp mà không phạm
tội, xin trích trong các bộ luật Tiểu Thừa những dẫn chứng
như sau:
*
Trong luật Thiện Kiến, quyển tám, nói: Ưu Bát La Hoa tỳ kheo
ni đi khất thực bên ngoài, lúc trở về mở cửa vào thất.
Lúc ấy, trong thất có một nam bà la môn núp dưới gầm giường.
Vì tối không nhìn thấy, tỳ kheo ni tháo y nằm ngủ.
Bấy
giờ, người Bà La Môn từ dưới giường bò ra, phạm tỳ
kheo ni; nhưng tỳ kheo ni này ái dục đã hoàn toàn đoạn hết,
nên trong lúc ấy như bị sắt nóng nung vào thân, nên không
phạm tội.
Người
bà la môn kia sau đó bỏ đi. Quả đại địa này dầu có khả
năng mang nổi Tu Di Sơn vương nhưng không thể mang nổi kẻ
ác thân bảy thước (tức thước Tàu ngày xưa, không phải
thước Tây bây giờ). Thế nên bị quả đất nứt ra, tội
nhân kia lập tức đọa A Tỳ địa ngục. Ðến địa ngục,
tội nhân bị lửa dữ thiêu đốt như mành lưới bao phủ,
vô phương thoát khỏi.
Chư
tỳ kheo biết việc này, bạch lên Ðức Phật. Ðức Thế Tôn
bảo rằng: “Ưu Bát La Hoa tỳ kheo ni vì ái dục đã đoạn
hết, lúc ấy không có một cảm niệm khoái lạc nên không
phạm tội”.
*
Vì có một số tỳ kheo ni ở một mình nơi chốn lan nhã tịch
tịnh, hoặc tọa thiền một mình dưới gốc đại thọ, dễ
bị kẻ cường đồ xâm phạm. Thế nên đức Thế Tôn cấm
các tỳ kheo ni không được một mình ở chốn A Lan Nhã, hay
ngồi dưới cội cây trong núi rừng hoặc đồng trống. Việc
này trong Luật Tứ Phần, quyển năm mươi lăm nói:
-
Liên Hoa Sắc tỳ kheo ni ngủ ngày không đóng cửa, bị kẻ
giặc vào thất hành dâm rồi bỏ đi, ni cô vì ngủ mê không
hay biết. Khi thức dậy, thấy trên thân thể bất tịnh, sanh
nghi là phạm tội, bèn đem sự thật bạch lên Ðức Phật.
Ngài dạy: “Không phạm! Nhưng tỳ kheo ni không nên ngủ ngày
mà không đóng cửa”.
-
Bấy giờ có Nan Ðà tỳ kheo ni ban ngày ngồi dưới một đại
thọ cành lá sum sê đầy hoa trái, bị kẻ giặc phạm dâm.
Nan Ðà tỳ kheo ni nghi mình phạm giới, bạch lên Phật. Ngài
dạy: “Này Nan Ðà! Khi ấy ngươi có cảm thọ sự khoái lạc
không?”
- Bạch Thế Tôn! Khi ấy con như bị người dùng sắt nóng
nung vào thân.
Phật
dạy: - Không phạm! Nhưng tỳ kheo ni không nên ở chỗ như
vậy.
*
Lại trong bộ Ni Tỳ Nại Da nói: Liên Hoa Sắc tỳ kheo ni đã
chứng quả A La Hán, ở trong rừng vắng tọa thiền, có một
bà la môn thấy nàng dung nhan đoan chánh, đẹp đẽ, phi thường,
bèn cầu xin cùng mình hoan lạc.
Tỳ
kheo ni hỏi rằng: - Này bà la môn tử! Thứ ác pháp nhơ bẩn
ấy ta đã hoàn toàn xa lìa. Nhơn giả đối với thân ta thấy
có thú lạc chi mà sanh dục nhiễm?
Gã
Bà-la-môn đáp rằng: - Tôi rất yêu đôi mắt của thánh giả.
Tỳ
kheo ni dùng thần thông lấy tròng mắt của mình ra, để vào
bàn tay bảo rằng: - Giờ đây nhơn giả hãy xem kỹ cục thịt
này có chỗ nào đẹp mà ưa thích!
Gã
Bà-la-môn thấy thế nổi giận nói rằng: -Nữ sa môn trọc
khéo làm chuyện huyễn thuật. Ðoạn đánh lên đầu tỳ kheo
ni, rồi bỏ đi.
Liên
Hoa Sắc tỳ kheo ni bạch lên Phật, Ðức Phật dạy rằng:
- Thí như một cục thịt vứt bỏ nơi ngã tư, các phi điểu
cầm thú đều bu lại. Nữ nhân cũng thế; nên từ nay chư
tỳ kheo ni không được ở chốn A Lan Nhã.
*
Thời bấy giờ các bí sô ni vào thành Thất La Phiệt, ngồi
nơi ngã tư đường, bị các ác nam tử và kẻ trộm cướp
bức hiếp. Các tỳ kheo ni đem việc ấy bạch lên Phật, Ngài
dạy: “Nên ở trong chùa ni!”
Ngoài
ra, còn có những quả báo túc nghiệp bị cưỡng bức, không
cảm thọ khoái lạc, mà chỉ có sự đau khổ như bị dùi
sắt nóng đâm vào thân thì không phạm. Như trường hợp Kim
Sắc Nữ tỳ kheo ni đã chứng quả La Hán, bị vương tử bức
hiếp, khi bị nhục, cảm thấy như bị sắt nóng nung vào thân.
Sau đó, vận thần thông từ lầu các ở vương cung bay về
chùa ni nên không phạm.
Nếu
lúc hôn mê bất tỉnh, bị người cưỡng gian không hay biết
thì không phạm. Nếu nửa tỉnh nửa mê hoặc lúc thức bị
cưỡng hiếp, không khởi niệm khoái lạc, lại buồn rầu,
đau khổ thì không phạm.
Còn
một điều đặc biệt cần nói thêm cho rõ là lúc ngủ mộng
mị xuất tinh có phạm giới hay không?
Ðiều
này ở trong luật Ðại Thừa và Tiểu Thừa có điểm bất
đồng:
-
Luật Tiểu Thừa: trong giấc mộng xuất tinh là hiện tượng
tự nhiên của sinh lý, tối đa là tự trách vọng tưởng của
tâm mình là quá nhiều, chứ không thể nói việc ấy có phạm
giới.
-
Luật Ðại Thừa: Nếu trong giấc mộng thấy tự làm việc
dâm dục xuất tinh, thức dậy phải sanh tâm cải hối mãnh
liệt, quở trách, phiền não một cách nghiêm khắc, tại sao
mình bị lầm loạn, điên đảo như thế?
Ở
đây thấy rõ, so với giới Thanh Văn, giới Bồ Tát nghiêm
trọng hơn, vì Thanh Văn cố giữ thân thể không phạm, còn
Bồ Tát lại nghiêm cẩn đi sâu vào nội tâm, nên trong giấc
mộng di tinh cũng không tránh khỏi lỗi lầm.
Kinh
Ưu Bà Tắc Giới nói: “Bồ Tát nghĩ tưởng chuỗi anh lạc
trên thân của nữ nhân v.v... đều phạm tội Ba La Di”.
Kinh
Niết Bàn nói: “Dù không cùng với nữ nhân giao cấu, chỉ
xa nghe tiếng chuỗi anh lạc của nữ tử ở ngoài vách tường,
tâm sanh ái nhiễm, tức thành dâm dục phá giới!”
Ở
đây có thể thấy Bồ Tát giới xem trọng nội tâm biết dường
nào!
Bất
cứ phương diện nào, trong Phật pháp đều xem giới dâm rất
là quan trọng, quyết không thể có chỗ vi phạm, mà đặc
biệt là đối với Thanh Văn Tiểu Thừa lại càng xem trọng.
Còn
Ðại Thừa Bồ Tát có hai loại xuất gia và tại gia:
Hàng
Bồ Tát tại gia có khi vì hóa độ, dẫn dắt chúng sanh đi
vào con đường chánh của Phật pháp, cũng có thể đặc biệt
khai cho. Ðiều này trong bộ Phật Pháp Khái Luận của Ấn
Thuận Luật Sư có nói rõ: “Với sự luyến ái của dị tánh,
nếu nhân việc này mà dẫn người vào con đường chánh đáng,
ly khai ác pháp, hướng về thiện pháp, trường hợp này cũng
không ngại gì dùng tâm bi mẫn, cùng với người ấy giao hợp
theo ý muốn của họ”. Tuy nhiên ở đây phải đặc biệt
chú ý là theo lời Luật Sư, duy chỉ có hạng Bồ Tát tại
gia mới có thể khai cho. Còn Bồ Tát xuất gia, quyết không
thể viện theo cớ ấy mà hành động theo vọng tình. Tại
sao vậy?
Trong
Du Già Luận nói: “Xuất gia Bồ Tát vị hộ Thanh Văn thánh
giáo giới bất linh hoại diệt” (Bồ Tát xuất gia vì hộ
trì lời răn dạy của Phật trong Thanh Văn thừa, đối với
giới pháp, quyết không cho hoại diệt). Bất luận ở trường
hợp nào, tất cả không được phép làm việc phi phạm hạnh.
Nếu
chân thật đích xác vì tâm đại bi sai khiến, quyết cũng
phải chánh thức xả giới xuất gia. Sau khi hoàn tục mới
có thể thỏa mãn ý nguyện của đối phương. Ngoài ra không
được viện lý do gì, vin theo cớ lợi sanh để làm việc
phi phạm hạnh.
Hàng
Bồ Tát tại gia vì sao với giới tà dâm có thể thể hiện
một ít phần?
Trong
Du Già Giới Bổn đối với trường hợp này có lời dạy
rất hay: “Nếu ưu bà tắc tại gia thấy có nữ tử chưa
gả cho người, không có cha mẹ, thân thuộc, bằng hữu...
nhiếp hộ; vì không có người dạy bảo, dẫn dắt nữ tử
ấy trôi trong giới phóng đãng, dâm dật, nữ tử ấy đối
với Bồ Tát ưu bà tắc khởi tâm ái nhiễm không chánh đáng,
chỉ hy vọng cùng với Bồ Tát làm việc dâm dục.
Tại
gia Bồ Tát thấy sự tình như thế, suy nghĩ như vầy: Nữ
tử này không thuộc về người nào. Đối với mình lại sanh
tâm luyến ái khôn nguôi. Nếu mình không phương tiện làm
thỏa mãn sự mong muốn của cô, cô sẽ buồn rầu cuồng loạn,
có thể đến tự sát. Thật là việc mình không muốn thấy.
Nếu mình phương tiện giúp cho cô thỏa mãn sở nguyện, và
cung cấp tất cả sự nhu dụng cho cô, rồi khuyến hóa, dẫn
dắt cô ấy đối với Tam Bảo sanh khởi tâm tín kính, khiến
cho cô gieo trồng thiện căn sâu dày trong Phật pháp và dạy
bảo cô xa lìa tội ác, tập quán phóng đãng dâm dật, không
còn ưa thích với việc hành tà dâm. Như thế không phải là
một đại thiện sự sao?
Bồ
Tát ưu bà tắc suy nghĩ như thế rồi, an trụ trên tâm từ
bi, cùng với nữ nhân kia làm việc phi phạm hạnh. Dù tập
theo pháp ô nhiễm như vậy, nhưng vì do tâm từ bi khiến cho
nữ tử ấy ra khỏi con đường bất thiện, đi vào con đường
thiện pháp chánh đáng. Cho nên trường hợp này đối với
Bồ Tát giới chẳng những không vi phạm, lại còn được
sanh nhiều công đức”.
Trong
kinh Thanh Tịnh Tỳ Ni, đối với việc này cũng có nói một
cách rõ rệt: Có trường hợp Bồ Tát muốn giáo hóa những
chúng sanh cần giáo hóa, bấy giờ trong tâm mục của Bồ Tát
chỉ biết có chúng sanh cần phải cứu độ, vốn không có
ý niệm đem giới pháp để vào trong tâm (ý nói vì muốn cứu
độ chúng sanh nên không chấp nhặt vào giới pháp, phải phương
tiện chớ không có ý hủy giới pháp), miễn sao cứu độ
được chúng sanh. Dù cho đối với giới pháp tựa hồ không
tương ứng, nhưng cuối cùng vẫn thành tựu Thi Ba La Mật.
Ðại
Thừa Bồ Tát lấy việc lợi tha làm nhiệm vụ duy nhất, chủ
yếu là có lợi cho chúng sanh, không phải vì mình đối với
người ấy có tâm ái nhiễm. Trường hợp này không gọi là
phạm giới.
Không
nên dâm dục mà dâm dục, tâm ý buông theo dục lạc, nếu
có nhân như vậy, sẽ mắc quả báo.
Về
chánh báo thì nhất định phải bị đọa lạc trong tam ác
đạo, chịu thống khổ rất nặng. Hoặc ở trong địa ngục
ôm cột đồng, nằm giường sắt, hoặc làm chúng sanh thì
thành chim uyên ương...
Về
dư báo thì thoát khỏi tam ác đạo, sanh ở nhân gian này thì
cũng gặp người vợ không trinh lương, gia đình xào xáo, quyến
thuộc không hòa thuận...
Vì
thế dâm dục là nguồn gốc của mọi đau khổ, là gốc chướng
đạo, nên đối với nó phải hết sức răn dè, sợ sệt,
không nên có chút xem thường. Muốn vậy chúng ta phải làm
thế nào?
Cổ
đức có dạy: “Hoặc tu quán pháp Bất Tịnh: quán thân này
là một đãy da đựng các đồ dơ bẩn, phẩn uế... hoặc
quán kỹ dâm căn kia, thực chỉ là đường tiểu tiện, hoặc
duyên nơi ảnh tượng Phật, Bồ Tát, hoặc chuyên tâm thành
ý niệm hồng danh A Di Ðà Phật, hoặc cung kính niệm danh hiệu
Quán Tự Tại Bồ Tát, hoặc tụng kinh trì chú, hoặc chuyên
nghĩ nhớ đến giới thể của mình bẩm thọ, hoặc nhiếp
niệm nơi tâm, hoặc quán sự sanh diệt vô thường, hoặc quán
tất cả pháp đều duy thức biến. Tùy theo tâm đi đến chỗ
nào đều phải cố gắng đối trị”.
Nếu
như mặc tình trôi theo dòng vọng tưởng ái dục, thì thật
khó cứu vãn. Vì đắm say theo sắc dục nam nữ, khác nào đắm
say theo chút mật dính trên mũi dao bén và hoàn sắt nóng, chỉ
thuần khổ não không một chút vui sướng; chỉ có hại chứ
không có lợi. Nên từng giờ, từng phút đối với việc dâm
dục phải luôn cảnh giác!
