|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
I: TIỀN ĐỀ KHÁI THUYẾT (những điều khái quát đầu tiên)
|
|
|
|
Chương
II: CHÁNH THÍCH KINH VĂN (Chánh thức giải thích kinh văn)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Chương
III: CHÁNH THUYẾT GIỚI TƯỚNG (chánh thức thuyết giảng giới
tướng
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
KHINH
GIỚI TƯỚNG
|
|
|
|
CHƯƠNG
IV: KẾT KHUYẾN LƯU THÔNG
|
|
|
|
c
PHẠM VÕNG
KINH BỒ TÁT GIỚI BỔN GIẢNG KÝ
Hán
văn: Pháp sư Thích Diễn Bồi
Việt
dịch: Hòa Thượng Thích Trí Minh
B.
BIỆT THUYẾT GIỚI TƯỚNG
(thuyết
giảng riêng biệt giới tướng)
B.1.
THUYẾT TRỌNG GIỚI TƯỚNG (thuyết giảng về các giới trọng)
B.1.1.
BIỆT THUYẾT THẬP TRỌNG (giảng riêng mười giới trọng)
B.1.1.
SÁT GIỚI (giới sát sanh)
Kinh văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “Phật ngôn: Nhược Phật tử...” cho đến câu: “...thị
Bồ Tát Ba La Di tội”.
2.
Dịch nghĩa:
Ðức
Phật dạy: “Nếu Phật tử hoặc tự mình giết, hoặc bảo
người giết, phương tiện giết, khen tặng sự giết, thấy
giết mà tùy hỷ, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, nhân
giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp giết. Phàm tất
cả loài hữu tình có mạng sống, đều không được cố ý
giết. Là Phật tử lẽ ra phải luôn luôn có lòng từ bi, lòng
hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất cả chúng sanh, nhưng
nếu trái lại, tự phóng tâm nỡ lòng sát hại, Phật tử
này phạm Bồ Tát Ba La Di tội”.
Lời
giảng:
Từ
đây trở xuống, chánh thức tuyên thuyết giới tướng. Trong
phần này, trước tiên giảng nói tướng trạng của 10 giới
trọng. Bây giờ xin bắt đầu giảng nói giới sát sanh thứ
nhất.
Thế
nào gọi là sát sanh?
Mỗi
sanh mạng hình thể của chúng sanh có đủ tâm thức và hoạt
động, lấy hơi thở ra vào để duy trì sự sanh tồn của
sanh mạng; nên nói: Một hơi thở còn là sanh mạng chưa đoạn
tuyệt. Nếu người nào đoạn tuyệt hơi thở vào ra của chúng
sanh làm cho không còn tiếp tục phát sanh, sanh mạng không tương
tục được nữa, gọi là Sát Sanh.
Ý
nghĩa sát sanh của Phật pháp không phải ở nơi niệm niệm
tương tục mà là nhất kỳ tương tục (1). Cưỡng đoạt sự
tương tục của sanh mạng là trái ngược với ý chí mong cầu
sanh tồn của chúng sanh; nên sát sanh là một tội ác rất
lớn.
Nói
theo Phật pháp, hơi thở của chúng sanh có sai khác trong ba
thời: hơi thở trong quá khứ đã diệt, không thể tương tục,
không gián đoạn. Hơi thở hiện tại tuy sát na không dừng,
nhưng cũng không thể tương tục không gián đoạn. Hơi thở
vị lai vì chưa sanh nên không thể từ đâu để tương tục,
không gián đoạn.
Thế
thì nói “đoạn tuyệt hơi thở ra vào gọi là sát sanh”,
rốt ráo căn cứ vào đâu mà nói? Nên biết quá khứ, hiện
tại không thể sát hại, nói một cách chính xác; mà Sát ở
đây mang ý nghĩa làm việc ngăn chặn sự hoạt động tương
tục trong vị lai của sanh mạng hữu tình. Nghĩa là hiện tại,
dùng những sát cụ: gươm, đao, súng, giáo... làm thương hại
cho sanh mạng vị lai của chúng sanh, hiện tiền không còn được
nữa, nên gọi là Sát Sanh.
Có
người căn cứ vào lập trường Duyên Khởi Tánh Không nói:
“Sát sanh là từ nơi nhân, từ nơi duyên. Như trong kinh này
nói nhân sát, duyên sát. Ðã do nhân duyên hòa hợp sát hại,
tất nhiên là không có, vì tự tánh vốn là không. Rõ biết
tánh Sát vốn không nên đúng theo lý thì không phạm tội sát
sanh” (sát sanh không phạm tội). Lời trên là tà thuyết,
hiểu lầm ý nghĩa chữ Không. Tuyệt đối không nên thủ tín
theo thuyết ấy.
Nên
biết rằng lý Duyên Khởi Tánh Không của Phật pháp dùng để
đối trị bệnh chấp Có của phàm phu. Không nên nói: Do hiểu
rõ “tánh Sát vốn không” là không có tội sát sanh! Người
học Phật chân chánh thông đạt lý Không, chẳng bao giờ sát
sanh.
Nếu
tạo tội sát sanh, tất nhiên không hiểu rõ lý Không. Nếu
cho là không có tội mà hành động sát sanh tức là tà kiến;
Phật pháp cực lực bài bác và quở trách. Chẳng những không
nói là vô tội, mà tội ấy còn nặng hơn những tội khác.
Ðiều này người học Phật, xuất gia lẫn tại gia, cần phải
đặc biệt chú ý!
Giới
Bồ Tát lấy việc sát sanh làm giới cấm trước nhất, giới
Thanh Văn lấy việc dâm dục làm giới cấm hàng đầu; đó
là ý gì?
Như
trước đã nói, giới Thanh Văn đợi có cơ duyên Phật mới
chế lập, nghĩa là: Ví như một tăng nhân nào đó khi phạm
sai lầm, sau đó, Ðức Phật mới nhân đó mà chế định ra
cấm giới.
Chẳng
hạn như giới Dâm của Thanh Văn, do vì có một Tôn Giả sau
khi xuất gia, về thăm gia đình. Vì Tôn Giả này là con trai
duy nhất, nên cha mẹ tìm mọi cách khiến Tôn Giả cùng vợ
chăn gối để có con nối giòng. Sau khi Tôn Giả làm việc
như vậy, Ngài vô cùng buồn thẹn. Bạn đồng tu hỏi duyên
cớ, Tôn Giả đem sự việc trên nói thật. Nhân đó, Ðức
Phật quở trách, rồi bắt đầu kiết giới Dâm. Thế nên
gọi là: “Ðợi có duyên mới chế giới”.
Theo
luật Tiểu Thừa thì: “Tỳ kheo phạm tội tối sơ là dâm
dục, cho nên Phật chế giới Dâm trước”, cho nên sát sanh
không có liệt ở trước. Lại nữa, mục đích duy nhất của
hành giả Thanh Văn thừa là thoát ly sanh tử trong tam giới,
không lập chí thành Phật, chỉ mong đời vị lai đừng tái
phục sanh mạng này nữa. Cho nên giới Dâm đặt ở trước.
Bồ
Tát lấy từ bi lợi tế chúng sanh làm cơ bản, thấy mỗi
chúng sanh sinh tồn ở thế gian đều tham sanh úy tử; Bồ Tát
cảm thông sâu xa, nên chỉ lo cứu tế chúng sanh không kịp,
làm sao có thể đi giết hại chúng sanh? Nếu sát hại sanh
mạng chúng sanh là mất tâm Từ Bi sẵn có của Bồ Tát và
đâu còn tư cách gì là Bồ Tát?
Nên
luận Du Già nói:
-
Nếu có người hỏi Bồ Tát lấy gì làm thể? Nên chánh thức
đáp rằng: “Lấy đại bi làm thể”. Cho nên vị Bồ Tát
chân chánh còn vì vật mà xả thân, làm sao có thể sát hại
chúng sanh. Vì vậy, giới Sát đặc biệt đứng hàng đầu.
Sát
sanh trong giới Ðại Thừa cũng như Tiểu Thừa, xuất gia cùng
tại gia đều chế lập thành giới trọng. Nếu sát sanh, tội
ấy rất nặng.
Thế
nên bất luận một Phật tử nào, xuất gia cũng như tại gia,
nếu như làm những hành động sát sanh thì đều bị liệt
vào tội rất nặng, không còn tư cách nhập đạo.
Ðối
với Bồ Tát thì sát sanh là việc càng trọng đại hơn. Vì
đại hạnh của Bồ Tát nương nơi chúng sanh mà thành tựu.
Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói: “Tất cả chúng sanh
là gốc rễ, chư Phật, Bồ Tát là hoa trái. Dùng nước Ðại
Bi làm lợi ích chúng sanh, thì thành tựu hoa quả trí huệ
của chư Phật, Bồ Tát”.
Có
chúng sanh để độ mới có Bồ Tát đi cứu độ. Vì thế,
chúng sanh là ân nhân thành tựu đại hạnh cho Bồ Tát, nên
từng giờ, từng phút phải nghĩ đến việc báo ân, đâu thể
nào trở lại giết hại chúng sanh?
Ðối
với Bồ Tát, chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ nhiều
đời, nhiều kiếp. Trong đời đời kiếp kiếp, ta từ nơi
đó sanh ra, bổn phận làm con phải báo đáp thâm ân cha mẹ,
đâu nên giết hại?
Lại
nữa, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tương lai đều
sẽ thành Phật. Ai là người thành Phật trước? Ðiều ấy
không khẳng định được. Hành giả Bồ Tát cần phải kết
duyên, phải cung kỉnh tôn trọng đối với tất cả chúng
sanh, nên tự nghĩ: “Chúng sanh kia có kẻ sẽ thành Phật trước
mình, tương lai sẽ tế độ mình”.
Ðại
Trí Ðộ Luận nói: “Với những đàn kiến kia, có thể sẽ
thành Phật trước mình, mình sẽ nhờ nó tế độ, việc ấy
nào đâu biết được!”
Hiện
tại, nếu sát hại sanh mạng chúng sanh, ấy là giết hại
chư Phật vị lai, cũng làm tổn hại tiền đồ của chính
mình. Nếu nghiêm trì giới không sát sanh, chẳng những kết
thiện duyên với chúng sanh một cách thâm hậu, mà lại còn
rộng bố thí vô úy cho chúng sanh. Nên biết, chúng sanh sợ
nhất là việc tử vong sanh mạng. Nếu Bồ Tát không sát hại,
tự nhiên chúng sanh không hãi sợ, nên kinh Niết Bàn nói:
Nhứt
thiết úy đao trượng,
Mạc
bất ái thọ mạng,
Thứ
kỷ khả vi dụ,
Vật
sát, vật hành trượng.
Dịch:
Tất
cả chúng sanh sợ đao gậy,
Không
thể không yêu sanh mạng,
Cứ
xét nơi bản thân thì rõ,
Nên
không giết hại, không đánh đập.
Câu
“thứ kỷ khả vi dụ” ở Nho gia gọi là Thứ Ðạo, trong
Phật pháp gọi là Pháp Tự Thông. Nói một cách dễ hiểu:
“Tức thị dĩ kỷ chi tình đạt tha chi tình” (Phàm những
việc mình không muốn người khác mang đến cho mình, mình
không nên cưỡng chế đưa cho người). Lấy bụng ta suy ra
bụng người.
Giả
như có người muốn đến sát hại sanh mạng của chúng ta,
ta không bao giờ chấp nhận, vì ta vẫn mong cho sanh mạng này
tiếp tục sanh tồn mãi mãi, không đoạn tuyệt. Riêng mình
đã thế, thì phải tưởng đến người khác cũng đồng một
tâm trạng như vậy.
Như
thế, chúng ta không thể nào giết hại sanh mạng của chúng
sanh, cũng không nên vô cớ làm cho chúng sanh bị đau khổ,
sợ hãi.
Kinh
Tăng Nhứt A Hàm quyển ba mươi bảy nói: “Ta bao giờ cũng
muốn sống, muốn đừng chết, bao giờ cũng muốn được hạnh
phúc, bao giờ cũng mong tránh khỏi khổ đau. Vì thế, nếu
có người muốn đến phá hoại sanh mạng muốn sống, không
muốn chết, muốn được hạnh phúc, muốn tránh xa khổ đau
của ta đây, đấy là việc ta có ưa thích hay không? Nếu ta
không ưa thích, mà lại đi phá hoại sanh mạng của người
khác thì người khác cũng đồng như ta: không bao giờ ưa thích.
Phàm việc gì riêng mình không ưa thích, không vui sướng, thì
người khác cũng không ưa thích, không vui sướng. Thế thì
tại sao ta lại đem những việc chính mình không ưa thích,
không vui sướng mà trói cột cho người? Cứ suy nơi mình mà
xét đến người như vậy, thông thường gọi là có tâm niệm
đồng tình với nhau”.
Bồ
Tát lấy sự nhiếp hóa chúng sanh làm khóa đề duy nhất, mà
yếu vụ tối đại để nhiếp hóa là phải làm thế nào tiếp
cận với chúng sanh, rồi sau dẫn dắt chúng sanh vào trong Phật
pháp.
Nếu
Bồ Tát luôn ôm ấp tâm niệm sát hại thì chúng sanh mỗi
khi trông thấy liền sanh tâm sợ hãi, tức khắc sẽ ly khai
vị Bồ Tát ấy; thì thử hỏi vị ấy làm sao nhiếp hóa chúng
sanh? Và như thế thì sao được gọi là Bồ Tát? Vì thế,
Bồ Tát cần phải giữ giới bất sát sanh cho nghiêm cẩn.
Ðến
đây Ðức Phật dạy rằng: “Nếu Phật tử đã phát tâm
Bồ Ðề, thọ giới Bồ Tát, cần phải y theo giới pháp ấy
tu hành, không nên có tâm khinh thường vi phạm lời Phật dạy”.
Trước
tiên nói về giới sát sanh. Bất luận là tự sát, giáo nhân
sát, phương tiện sát, hoặc tán thán sát, hoặc kiến sát
tùy hỷ, cho đến chú sát. Ðây đều là hành vi sai lầm, là
tội ác cực trọng!
Sau
đây xin giải thích riêng từng thể loại:
-
Tự sát: tự mình làm việc sát hại, hành quyết sanh mạng
chúng sanh. Hoặc dùng tay chân và các bộ phận khác trên thân
mình làm việc giết hại; hoặc dùng những vật như dao, kiếm,
gậy gộc, ngói, đá, súng, ống v.v... bên ngoài làm việc sát
hại. Bất luận sát hại cách nào, chủ yếu là chính tay mình
kết thúc sanh mạng của đối phương thì kết thành tội sát
sanh. Lối tự sát này là sát nghiệp do hai thứ thân, tâm tạo
thành.
-
Giáo nhân sát: chính miệng mình dạy bảo người khác làm
việc giết hại. Hoặc trước mặt người dạy bảo họ làm
như thế nào; hoặc sai khiến người khác, nói rõ phải làm
như thế nào; hoặc viết thư bảo người khác làm như thế
nào. Dù không phải chính tay mình sát hại chúng sanh, nhưng
dạy bảo người làm, chủ yếu là lúc sanh mạng đối phương
bị kết liễu thì thành tội sát sanh. Lối sát sanh này là
sát nghiệp do thân, khẩu hai thứ tạo thành. Cổ đức có
nói:
Thiệt
thượng hữu Long Tuyền,
Sát
nhân bất kiến huyết.
Nghĩa
là: Trên lưỡi con người có bảo kiếm Long Tuyền, giết chết
người mà không thấy máu chảy. Do đó, chúng ta thấy rõ tội
xúi bảo người khác giết hại trọng đại biết dường nào.
-
Phương tiện sát: Cách sát hại thứ ba này chẳng phải mình
trực tiếp hành động, cũng không dạy bảo người khác làm
việc sát hại. Lối sát hại này là khéo léo lập ra những
phương tiện đặc biệt, khiến sanh mạng của đối phương
phải bị đoạn tuyệt như: trói cột, giam nhốt, hoặc chỉ
đường lối bảo người tìm kiếm, bắt cho được, rồi sau
đó kết thúc sanh mạng của chúng sanh. Những việc này gọi
là phương tiện sát. Lối sát sanh này là sát nghiệp do tâm
ý tạo thành.
-
Tán thán sát (khen tặng giết): Như có người vốn không có
tâm ý sát sanh, nhưng có người bên cạnh dùng các thứ hoa
ngôn, xảo ngữ, khen tặng là người ấy có sức mạnh vĩ
đại, có khả năng giải quyết sanh mạng của chúng sanh, khiến
cho người ấy, lúc bấy giờ, sanh khởi tâm sát hại, thực
hiện việc sát hại, thành tựu việc sát hại.
Hoặc
trường hợp trước mắt có một người chán đời, muốn
tự tận cuộc sống của họ. Có người thừa cơ hội ấy
khen tặng những mỹ đức của người chán đời kia, nói rằng:
“Anh đã có nhiều công đức như thế, nếu chết đi sẽ
được sanh thiên giới, hưởng thọ bao nhiêu khoái lạc ở
thiên đường, thật là một việc vừa lòng, khoái ý biết
chừng nào? Tại sao sanh tồn ở thế gian này để chịu nhiều
khổ não? Tại sao không mau mau chết đi?” Nếu đối phương
vì sự khen tặng này tự tận thì kết thành tội sát sanh.
Loại sát sanh này là sát nghiệp do tâm, khẩu tạo thành.
-
Kiến sát tùy hỷ (thấy sự sát hại mà vui mừng): Lối sát
hại này dù không dạy người giết, khen tặng sự giết, nhưng
thấy người làm việc giết hại cho rằng việc giết hại
là rất đúng, không có gì tội lỗi, tâm tùy hỷ theo việc
ấy. Hoặc có người trước đã có tâm sát hại, nhưng còn
ở trong vòng lưng chừng, chưa quyết định, nhân bấy giờ
có người tùy hỷ, khác gì khích lệ làm việc sát hại, mới
quyết định giết chúng sanh. Lúc sanh mạng chúng sanh kết
thúc là thành tội sát sanh. Sát nghiệp này do tâm ý tạo thành.
-
Chú sát (dùng bùa chú để giết): Lối này là dùng chú thuật
cực ác, chú nguyền cho chúng sanh bị chết. Tương truyền
ở Ấn Ðộ có thứ Tỳ Ðà La chú. Niệm tụng chú ấy có
thể làm cho tử thi chưa bị hoại hư đứng dậy, đoạn dùng
nước tắm rửa sạch sẽ, mặc y phục, rồi đưa đao trượng
cho tử thi, đặt trên một chiếc xe, rồi bảo với tử thi
rằng: “Người ấy... có việc oán thù với ta. Giờ ngươi
hãy đi giết người ấy”. Ðây là sát tội dùng bùa chú
giết. Sát nghiệp này do tâm, khẩu tạo thành.
Hai
chữ “nãi chí” (cho đến) là nói chưa hết, nghĩa là những
phương pháp sát hại rất nhiều, không phải chỉ có mấy
thứ kể trên, mà còn những các giết khác như đào hầm,
đốt lửa để cho hết khói. Ðoạn dùng cát đất phủ lên
trên, rồi bảo người đi trên ấy cho họ sụp hầm lửa mà
chết. Hoặc đào hầm sâu khiến người ấy rơi xuống mà
chết. Hoặc gài bẫy khiến người vương bẫy mà chết. Hoặc
đưa thuốc độc bảo người uống, hoặc làm đọa thai, chết
người v.v... Tóm lại, phàm dùng những phương pháp chi kết
liễu sanh mạng chúng sanh đều là tội sát sanh.
Tướng
trạng sát sanh như thế, nếu chỉ có nhân sát mà không có
duyên sát, cố nhiên không cấu thành sát nghiệp, mà phải
do nhân duyên hòa hợp mới thành. Như khởi tâm mà không tương
tục, vẫn không thể thành sát nghiệp, nên phải hội đủ
ba điều. Kết thành sát nghiệp, tất cả gồm bốn thứ như
sau:
-
Nhân sát (nguyên nhân giết): Do phiền não từ vô thỉ xung
động trong nội tâm, sanh khởi niệm sát hại, gọi là nhân
sát.
-
Duyên sát: là sát tâm tương tục không gián đoạn, nên dùng
nhiều phương tiện để thực hiện việc sát sanh là duyên
sát.
-
Sát pháp (cách thức giết): Bày chỉ các thứ làm việc sát
hại, phương pháp dùng những hung cụ như: đao, kiếm, cung,
tên, súng đạn v.v... gọi là sát pháp.
-
Sát nghiệp (nghiệp giết): Do ba duyên nói trên thành tựu,
làm cho những sanh mạng hữu tình mà mình muốn đoạn diệt
không còn tương tục nữa, gọi là sát nghiệp.
Nhân
sát có thể xuyên suốt đời quá khứ. Duyên sát, pháp sát
chỉ thuộc về hiện tại, trong khi sát nghiệp chẳng những
ở đời hiện tại mà còn kéo luôn đến đời vị lai. Như
vậy, bốn thứ này triển chuyển giúp đỡ cho nhau đến đời
vị lai, khiến chúng sanh giết hại lẫn nhau và sự sanh tử
luân hồi không bao giờ chấm dứt.
Nói
về ba chướng thì một niệm sát tâm sanh khởi đầu tiên
là Phiền Não Chướng, hoàn thành việc sát hại chúng sanh
là Nghiệp Chướng, và nghiệp này chiêu cảm nỗi khổ trong
tam ác đạo đời vị lai là Báo Chướng. Do đó, có thể thấy
ba chướng làm cho chúng sanh luân chuyển đều là do một niệm
sát tâm tối sơ. Nếu không có sát niệm tối sơ bất thiện
này thì không bao giờ tạo thành sát nghiệp, gây nên trọng
tội như núi Tu Di và chiêu cảm quả khổ cùng cực trong sanh
tử. Cho nên giới sát sanh thật vô cùng trọng yếu.
Câu
“nãi chí nhất thiết hữu mạng dã bất đắc cố sát”
nghĩa là: Phàm tất cả loài hữu tình có mạng sống đều
không được cố ý giết. Nói rõ hơn, chẳng những đối với
con người cùng những chúng sanh có hình vóc to lớn, chúng
ta không được giết hại; mà ngay cả đến những giống loại
có thân hình rất nhỏ như côn trùng, sâu kiến, bọ mạt,
các côn trùng bò, bay, máy, cựa đều không được cố ý sát
hại.
Kinh
văn nói “cố sát” là cố tâm sát hại, không phải vô ý
lầm lỡ mà giết. Về việc ngộ sát, Kết Quả Luận của
Kỳ
Na Giáo ở Ấn Ðộ cho là vẫn bị tội sát sanh như thường.
Các luận giả này nêu ví dụ như sau: Nếu như lầm đụng
phải lửa thì vẫn bị lửa cháy phỏng mình; đối với lý
sát sanh cũng như thế. Nhưng Phật giáo căn cứ theo Ðộng
Cơ Luận mà thuyết minh, nên không thừa nhận việc ngộ sát
là có tội.
Tại
sao không thừa nhận việc ngộ sát là có tội? Nên biết rằng
Phật giáo vẫn cho rằng sát sanh là có tội, nhưng phân ra
nhiều điều kiện khác nhau và chủ yếu là phải xem xét động
cơ thúc đẩy của người tạo sát nghiệp như thế nào mới
luận tội trạng. Chẳng hạn, người nào đó không có động
cơ thúc đẩy, không có ý muốn sát hại, dẫu lầm giết chết
người thì tối đa chỉ phải gánh lấy trách nhiệm do sự
không chú ý, nhưng không thể nói người ấy phải mang tội
sát sanh.
Kinh
văn nói: “Nhất thiết hữu mạng” là nói chung tất cả
hữu tình, bất luận cao cấp hay hạ cấp, thân hình to lớn
hay nhỏ bé, chủ yếu nếu đoạn tuyệt sanh mạng của chúng
sanh đều thành trọng tội, không thể khoan dung. Thế nên đức
Như Lai đại từ đại bi với tất cả chúng sanh, Ngài cấm
chế tất cả cảnh duyên có thể gây nên sự sát hại. Thậm
chí nghiêm cẩn đến mức độ đối với loài thảo mộc có
đủ tính sanh trưởng, đều không được vô cớ chặt nhổ
hay làm tổn thương, huống gì là các loài hữu tình có đủ
tâm thức hoạt động?
Làm
người nơi thế gian, nếu có chút từ tân, đối với việc
sát sanh còn không bao giờ cố ý hành động, huống chi bậc
Bồ Tát lấy đại bi tâm làm gốc, dĩ nhiên không nên làm
thương hại sanh mạng chúng sanh.
Do
vậy, kinh văn dạy tiếp rằng: “Thị Bồ Tát ưng khởi thường
trụ từ bi tâm, hiếu thuận tâm, phương tiện cứu hộ nhất
thiết chúng sanh” (là Phật tử lẽ ra phải luôn có lòng
từ bi, lòng hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất cả chúng
sanh).
Từ
Bi tâm là cơ bản của Bồ Tát. Sở dĩ được gọi là Bồ
Tát vì từng giờ, từng phút thường an trụ nơi tâm niệm
này không gián đoạn, lại cũng không tạm quên trong một niệm.
Từ
bi thương xót nghĩ nhớ đến chúng sanh như thủ hộ con đỏ,
chỉ nghĩ làm cách nào đem sự an lạc ban cho chúng sanh, làm
thế nào để bạt trừ sự thống khổ cho chúng sanh. Mà thể
hiện sự cứu khổ ban vui lớn nhất không chi hơn việc bảo
hộ sanh mạng của chúng sanh, tâm không bao giờ móng khởi
một niệm sát hại.
Cho
nên tâm từ bi của các vị Bồ Tát không thể xa lìa trong
chốc lát. Nếu lìa tâm từ bi mà sát hại chúng sanh, đương
nhiên mất hẳn tư cách của Bồ Tát.
Bồ
Tát quán sát tất cả chúng sanh đều là cha mẹ của mình.
Bổn phận làm con phải hiếu thuận với cha mẹ. Việc này
có thể nói là thiên kinh, địa nghĩa. Cho nên hiếu đạo trong
Phật pháp lấy tất cả chúng sanh làm đối tượng. Nhưng
đối tượng của Bồ Tát nhiếp hóa cũng lấy chúng sanh làm
mục tiêu. Vì lý do ấy nên Bồ Tát phải từng giờ, từng
khắc an trụ nơi một niệm hiếu tâm này, luôn luôn đừng
cho gián đoạn. Chẳng những không cho gián đoạn trong một
giờ, một phút, cũng không có một niệm xao lãng, quên đi.
Bồ Tát cung kính, hiếu thuận với tất cả chúng sanh, chỉ
biết lấy ý chỉ cha mẹ làm ý chỉ của mình, dùng sự ưa
chán của cha mẹ làm sự ưa chán của mình, cung kính tùy thuận
không trái nghịch. Trái nghịch còn không được, huống chi
là có tâm sát hại?
Nên
biết sát hại là việc bội nghịch thiên địa và trái với
chánh lý, là tội bất hiếu, bất thuận tối đại. Nên kinh
này đã nói: “Hiếu danh vi giới” (hiếu thuận gọi là giới),
hàm chứa đạo lý vô cùng sâu sắc. Cho nên:
Phật
tử muốn đừng sát sanh, phải thường an trụ tâm từ bi,
hiếu thuận. Căn cứ vào chúng sanh sở duyên thì tâm từ bi
và tâm hiếu thuận khác nhau:
-
Từ tâm là duyên nơi thù oán của chúng sanh mà phát khởi.
-
Bi tâm là duyên nơi khổ não của chúng sanh mà phát khởi.
-
Hiếu tâm duyên nơi thượng phẩm chúng sanh mà phát khởi (“thượng
phẩm” chỉ cho chư Phật, thánh nhân, sư tăng, cha mẹ).
Nếu
xem tất cả chúng sanh là cha mẹ thì duyên nơi mỗi chúng sanh
đều phải đủ cả ba tâm. Bồ Tát thường an trụ tâm từ
bi, hiếu thuận, chẳng những không được sát hại chúng sanh,
lại phải vận dụng nhiều phương tiện cứu hộ chúng sanh.
Như khi thấy người sát sanh, phải khéo léo dùng phương tiện,
đối với người ấy, nói rõ tội lỗi sát sanh, khiến cho
họ bỏ hẳn sát niệm. Như thế người ấy không hoàn thành
sát nghiệp và chúng sanh bị sát hại kia khỏi phải chịu
cực kỳ thống khổ. Thật là phương tiện từ bi vĩ đại,
niệm cung kính hiếu thuận chân thật biết dường nào!
Cho
nên dùng phương tiện cứu hộ chúng sanh là chỗ tu học thiện
xảo tối yếu trong tâm từ bi hiếu thuận. Vì làm cho chúng
sanh sắp bị sát hại được thoát ly những cực hình thống
khổ như cắt cổ, nhổ lông, lột da, cạo vảy, nằm dãy dụa
trên đao thớt v.v... và được hưởng thọ sự an lạc.
Bồ
Tát phải thực hành công hạnh như vậy, nếu không thì không
xứng đáng với tư cách Bồ Tát. Vì thế, kinh dạy tiếp:
“Nhi phản tự tâm khoái ý sát sanh giả, thọ Bồ Tát Ba La
Di tội” (mà trái lại, tự phóng tâm nỡ lòng sát sanh, Phật
tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội).
Chữ
“phản” ở đây là không nên làm như thế, ý nói: vị Bồ
Tát chơn chánh phải lấy sự lợi ích của chúng sanh làm tiên
đề. Bất luận lúc nào, nơi nào, nếu thấy chúng sanh lâm
vòng khổ nạn, Bồ Tát cần phải suy nghĩ, tìm mọi phương
cách cứu hộ, khiến các chúng sanh được thoát ly khổ nạn,
mới là hành vi cần phải có của Bồ Tát. Nếu không cứu
hộ chúng sanh đang khổ nạn thì trái với bản nguyện độ
sanh và mất lòng từ bi hộ sanh. Huống gì hiện tại lại
tiến thêm một bước nữa, buông lung theo tâm mình, thuận
theo khoái lạc của ý mình, giết hại chúng sanh, không tâm
lân mẫn mảy may, không có tâm đồng tình, nhẫn tâm làm việc
giết hại chúng sanh.
Bồ
Tát nếu quả thật nhẫn tâm đến độ ấy, chứng tỏ là
người tàn nhẫn đến cực điểm, điều mà đức Bổn Sư
Thích Ca dạy là “đoạn đại từ bi”, tức là đã đoạn
tuyệt tâm đại từ bi, không còn có tư cách gì gọi là Bồ
Tát. Người Phật tử tàn bạo kia, nếu do lòng tham, tâm buông
lung giết hại chúng sanh, thì đồng như hàng đồ tể (người
chuyên nghề giết súc vật, trâu, bò, dê, heo v.v...)
Nếu
do tâm sân, có ý khoái lạc sát sanh thì khác gì kẻ làm công
bộc trong xã hội, chuyên dùng hình phạt tàn ác, ngược đãi
nhân dân (công bộc: người phục vụ cho nhân dân).
Dù
do động cơ nào (tham hoặc sân) mà sát sanh đều là việc
bội thiên nghịch địa, trái với chân lý, trái với tâm hạnh
của Bồ Tát, cần phải phán vào trọng tội, nên nói: “Thị
Bồ Tát Ba La Di tội”. Ba La Di là tên trọng tội cực ác
như hiện nay tuyên phán tội tử hình.
Danh
từ Ba La Di, Trung Hoa dịch ra nhiều tên như:
-
Quyên Khí: Hành giả tu học Bồ Tát đạo vốn có nhiều công
đức, nhưng vì phạm tội Ba La Di nên tất cả công đức quảng
đại kia kể như vứt bỏ, không thể chứng đắc đạo quả,
nên gọi là Quyên Khí.
-
Khí Tội: hành giả phạm tội này thì gạt bỏ hẳn ra ngoài
biển cả Phật pháp, không được nhập trong chúng thanh tịnh
để cùng nhau cử hành các Phật sự: thuyết giới, yết ma
v.v... Hai chúng thanh tịnh cũng không dung nạp người ấy sống
chung, nên trong Luật dụ như: “Như đại hải thủy bất nạp
tử thi” (như nước bể cả không bao giờ dung chứa thây
người chết).
-
Ðọa Lạc: người phạm tội này, sau khi xả thân, nhất định
bị đọa vào tam ác đạo, chịu những cực hình thống khổ.
-
Ðoạn Ðầu Pháp: Trong luật Ngũ Phần với nghĩa thứ tư này
giải thích rất tường tận: “Ba La Di gọi là pháp cực ác,
gọi là pháp đoạn đầu, gọi là không phải pháp Sa Môn.
Như cây kim bị sứt đít, không thể dùng được. Như người
đã chết không thể sống lại. Như tảng đá to bị bể nát
không thể hoàn nguyên lại. Như cây đa-la đã bị chặt rồi,
không thể sống lại”.
-
Tha Thắng Xứ Pháp: Bồ Tát lấy trí huệ làm Tự, lấy phiền
não làm Tha. Thọ Bồ Tát giới là phải dùng gươm trí huệ
chém phiền não, nhưng hiện tại, do sự phá giới này, chẳng
những không thể phá trừ phiền não, mà trái lại còn bị
phiền não thắng phục. Tất cả sự hủy phạm khác đều
từ nơi đây phát sanh nên gọi là Tha Thắng Xứ Pháp.
Tóm
lại:
-
Không được cố ý sát hại tất cả chúng sanh có sanh mạng
là Nhiếp Luật Nghi Giới của Bồ Tát.
-
Thường an trụ tâm từ bi, tâm hiếu thuận là Nhiếp Thiện
Pháp Giới của Bồ Tát.
-
Phương tiện cứu hộ tất cả chúng sanh là Nhiếp Chúng Sanh
Giới của Bồ Tát.
Nếu
giữ gìn giới bất sát sanh nghiêm cẩn thì Tam Tụ Tịnh Giới
của Bồ Tát đều ở trong ấy. Thế nên, hành giả Bồ Tát
phải hộ trì giới này cẩn thận.
Nên
biết sát sanh đích xác là trái với Bồ Tát hạnh, nên Bồ
Tát phải y kinh Thập Thiện Giới dạy:
Nhược
kiến sát sanh giả,
Như
đao thích kỳ tâm.
Dịch:
Nếu
thấy người sát sanh,
Như
đao đâm tim mình.
Thấy
người sát hại còn như thế, huống chi chính mình sát hại?
Tại sao Bồ Tát phải như vậy? Kinh Thập Thiện Giới lại
dạy:
Nhứt
thiết ái nhãn mục,
Ái
tử diệc phục nhĩ,
Ái
thọ mạng vô cực,
Thị
cố bất sát sanh,
Danh
vi phạm hạnh tối.
Dịch:
Tất
cả thế nhân yêu đôi mắt,
Lòng
thương yêu con cũng như vậy.
Yêu
tiếc thọ mạng không cùng tột,
Thế
nên hành giả đừng sát sanh,
Gọi
là phạm hạnh cao tột nhất.
Sát
sanh chẳng những đem lại thương hại cho người khác mà với
chính mình cũng hoàn toàn bất lợi, như kinh Thập Thiện Giới
lại dạy:
Ðạm
nhục giả đa bệnh,
Đoản
mạng tự trang nghiêm,
Đương
hành đại bi tâm,
Phụng
trì bất sát giới.
Dịch:
Những
người ăn thịt sanh nhiều bệnh hoạn,
Tự
lấy đoản mạng để trang nghiêm.
Thế
nên phải tu tâm đại bi,
Cung
kính giữ gìn giới bất sát.
Vị
Bồ Tát chân chánh chẳng phải như vậy, nếu vi phạm thì
chẳng phải là chơn Bồ Tát. Giới sát sanh này nếu người
đã thọ giới rồi mà vi phạm thì mắc 2 thứ tội là Tánh
tội và Giá tội, còn người chưa thọ giới thì chỉ bị
tánh tội mà thôi. Tánh tội là chính pháp ấy – pháp nhĩ
– có tội như vậy (“pháp nhĩ”, trong kinh thường dùng
từ này để chỉ lẽ tự nhiên phải như vậy, như lửa thì
bốc lên, nước thì chảy xuống). Bất luận thọ giới hay
không, hễ phạm thì mắc tội. Giống như luật pháp của quốc
gia ấn định, sát nhân tất nhiên phải đền mạng, chính
là ý ấy.
Giá
tội, chữ “giá” là ngăn chận, chỉ cho những điều Ðức
Phật cấm ngăn, chế định trong giới luật. Phật tử đã
thọ giới rồi mà hủy phạm, chẳng những phạm tánh tội
lại thêm giá tội. Vì Phật tử ấy phạm giới luật của
Phật.
Cần
nên lưu ý:
Có
người lầm tưởng rằng Sát, Ðạo, Dâm v.v... đối với những
người chưa thọ giới của Phật chỉ mắc một tánh tội,
còn người đã thọ giới lại bị mắc cả hai tánh và giá
tội. Như vậy, thọ giới là nhân duyên để chiêu lấy tội
lỗi. Về phía bản thân mình, tự bị tổn hại chứ không
ích lợi gì, cần chi phải thọ giới của Phật? Thọ giới
nếu không phải là tìm lấy sự phiền phức cho mình, tăng
thêm tội lỗi cho mình ư? Lầm rồi! Quan niệm này tuyệt đối
thực sai lầm.
Ở
trước Phật có dạy: “Người đã thọ giới tức là dự
vào hàng của chư Phật, thành ra một người thanh tịnh đệ
nhứt, đầy đủ các công đức. Vì lực dụng của trì giới
vĩ đại, nên tội nghiệp của phá giới cũng đặc biệt sâu
nặng. Vì tội phá giới sâu nặng nên Phật tử thọ giới
rồi, dù gặp duyên phải hy sinh tánh mạng cũng không nên hủy
phạm giới. Do công đức trì giới thù thắng nên những người
chưa thọ giới, đáng lý phải bẩm thọ, không nên vì phạm
giới có đủ hai thứ tội, vội cho thọ giới là tổn hại
chứ không ích lợi, rồi không chịu thọ giới.
Nên
biết: Thọ giới là cốt cho Phật tử trì giới, chớ không
phải để cho thọ giới rồi phạm giới. Vì nếu trì giới
được thanh tịnh, há chẳng phải là tự mình được sự
lợi ích thù thắng vĩ đại sao? Không nên sợ tội mà không
chịu thọ giới. Nếu sợ tội thì phải sợ phạm giới, chớ
không nên sợ thọ giới!
Ðiều
văn giới sát sanh trên đã giảng rõ, nhưng còn những điểm
trọng yếu cần phải nói rõ thêm:
Căn
cứ theo các kinh luật thuyết minh, kết thành tội sát sanh
phải hội đủ bốn điều kiện. Giờ đây, quý vị hãy dụng
tâm nghe kỹ. Chỉ có hiểu minh bạch được lý này mới có
thể biện biệt thật sự vi phạm căn bản trọng tội hay
không. Bốn điều kiện vừa nói tức là bốn duyên sau đây:
1.
Chúng sanh: Ðối tượng bị sát hại đích xác là chúng sanh.
Nhưng chúng sanh lại rất nhiều loại, đại khái có thể phân
làm 3 phẩm:
*
Thượng phẩm chúng sanh: Chư Phật, thánh nhân, sư trưởng,
cha mẹ.
-
Phật là bậc thánh nhân tối cao, không phải ai cũng có thể
giết hại được, nên trong kinh xưa nay không nói chuyện sát
hại Phật. Dù có chúng sanh ác tâm muốn giết hại Phật,
nhưng không bao giờ giết được. Tuy không giết được Phật,
nhưng do khởi ác tâm, chỉ làm cho thân Phật xuất huyết cũng
đã phạm trọng tội, và là một thứ tội nghịch trong ngũ
nghịch.
-
Giết A La Hán cũng là một trong ngũ nghịch tội. Giết thánh
nhân đệ tam quả trở xuống chỉ phạm trọng tội Ba La Di,
không thuộc về tội ngũ nghịch. Ðến như giết Bồ Tát ở
địa vị ngoại phàm thì chỉ phạm trọng tội, còn giết
Bồ Tát Thập Phát Thú trở lên thì phạm nghịch tội.
-
Lại giết hại sanh thân phụ mẫu, hòa thượng thế độ,
vị a xà lê truyền giới cho mình, đều phạm ngũ nghịch tội.
Tội trọng là tội Ba La Di. Ngũ nghịch là tội đại nghịch,
phi đạo lý, vì kẻ dưới mà giết hại bực bề trên. Như
con đối với cha mẹ, cha mẹ là bực bề trên, sản sanh căn
bản sanh mạng của chúng ta. Làm con phải hết lòng cung kính,
hiếu thuận; trái lại, đi xâm phạm giết hại cha mẹ là
bực bề trên, đương nhiên phải gia tội một bực.
-
Ðối với hành giả tu học Phật pháp, Hòa Thượng thế độ,
A Xà Lê truyền giới là cha mẹ Pháp Thân huệ mạng, sánh
với công ơn sanh thành dưỡng dục nhục thân của cha mẹ
hơn gấp bội lần. Ðáng lẽ phải hết lòng cung kính cúng
dường, mà trở lại giết hại các Ngài, là tội đại nghịch,
phi đạo lý vì kẻ dưới lại giết hại bực bề trên.
*
Trung phẩm chúng sanh: nhân loại và trên thiên giới. Nếu sát
hại những chúng sanh cõi trời, cõi người, chẳng những phạm
căn bản trọng tội, đồng thời mất hẳn giới thể đã
bẩm thọ.
*
Hạ phẩm chúng sanh: a tu la, quỷ thần, súc sanh v.v... những
chúng sanh này nếu hiểu rõ lời của Pháp Sư truyền giới,
và thọ giới Bồ Tát rồi, nếu sanh ác tâm giết hại chúng
sanh ấy là phạm căn bản trọng giới, nhưng giới thể không
bị mất. Nhưng có một điểm đặc biệt chú ý là: Trong khi
sát hại chúng sanh hạ phẩm mà không một chút gì sanh tâm
hổ thẹn sợ tội, lại càng sát hại càng cao hứng, càng
cố ý làm thương hại chúng sanh không ngớt, thì chẳng những
phạm tội Ba La Di mà giới thể cũng bị mất!
Những
hạng a tu la, quỷ thần v.v... nếu không hiểu rõ lời nói
của Pháp Sư truyền giới pháp, không đủ tư cách thọ giới,
chưa thọ Bồ Tát giới, như có ác tâm sát hại thì không
phạm tội Ba La Di, giới thể không bị mất, chỉ phạm tội
khinh cấu mà thôi.
Tuy
nhiên, theo sự giải thích của Linh Phong Ðại Sư về Bồ Tát
giới, thì sát hại chúng sanh hạ phẩm có hai thứ:
-
Ðồng phạm trọng tội: Bồ Tát phải nghiêm hộ sanh mạng
chúng sanh, nếu có tâm sát sanh, cố nhiên phạm trọng tội.
Vì đứng về giới Bồ Tát, đối với chúng sanh trong lục
đạo đều thâu nhiếp. Vì thế nên phạm trọng tội.
-
Phạm tội khinh cấu: Chúng sanh trong tứ ác thú, a tu la v.v...
chẳng phải là pháp khí của đạo pháp. Ðây là nhắm vào
giới tỳ kheo, chỉ giới hạn trong phạm vi nhơn đạo, nên
chỉ phạm tội khinh.
Như
trên đã giảng về những chúng sanh bị giết hại có sự
sai khác giữa các bậc thánh, phàm, cao thấp bất đồng. Do
đó, sự phán định tội sát sanh cũng có sự khác biệt về
trọng, khinh và ngũ nghịch.
Ðồng
là tội sát sanh, nhưng đừng cho rằng tất cả các trường
hợp sát sanh mang tội giống nhau. Chúng ta cần phải phân biệt
hết sức tinh tế, tuyệt đối không nên mù mờ, cho rằng
tội sát sanh là đồng một thứ.
2.
Chúng sanh tưởng (trong tâm tưởng là chúng sanh): Trong lúc
người tạo sát nghiệp, trong ý tưởng cho đối tượng đích
xác là chúng sanh. Cổ đức đối với duyên thứ hai này chia
làm ba trường hợp chính, và mỗi trường hợp chính này lại
bao gồm hai trường hợp phụ:
*
Ðương (đúng như vậy), chia làm hai trường hợp:
-
Thực tại là chúng sanh: người tạo sát nghiệp trong ý tưởng
cho chúng sanh đang lúc bị sát hại là chúng sanh. Như thế,
sau khi giết chúng sanh ấy chết, tất nhiên người đó phạm
căn bản trọng tội.
-
Thực tại không phải là chúng sanh: người tạo sát nghiệp
kia, trong ý tưởng cũng cho là không phải chúng sanh. Như thế,
dù cho giết chúng sanh ấy chết, cũng có thể nói là hoàn
toàn vô tội.
*
Nghi (nghi ngờ) có hai trường hợp:
-
Thực tại là chúng sanh: trong lúc tạo sát nghiệp, người
ấy sanh tâm nghi ngờ: đây có phải là chúng sanh hay không
phải chúng sanh? Nghi thế, nhưng cuối cùng cũng giết chết
chúng sanh ấy, tức phạm căn bản trọng tội.
-
Thực tại không phải là chúng sanh: trong lúc tạo sát nghiệp,
người kia trong tâm sanh nghi ngờ như vầy: đây có phải là
chúng sanh hay không phải chúng sanh? Chẳng hạn, như ban đêm,
người ấy thấy sợi dây lầm cho là con rắn, thấy đất
cho là con trùng, rồi dùng dao chém hoặc dùng tay bóp vật ấy.
Tuy không thương hại sanh mạng của chúng sanh, nhưng vì người
ấy trong tâm có đủ một niệm sát, nên dù không phạm căn
bản trọng tội, vẫn phạm tội khinh cấu.
*
Tịch (sai lầm) chia làm hai loại:
-
Thực tại là chúng sanh: trong lúc tạo sát nghiệp, trong tâm
ý người tạo tuyệt đối không cho chúng sanh ấy thực là
chúng sanh. Như ban đêm đi đường thấy con rắn. Con rắn ấy
thực chất là chúng sanh, nhưng người đi đêm kia cho con rắn
là sợi dây, sanh tâm đùa cợt, liền cầm dao chặt đứt,
giết chết sanh mạng con rắn. Vì tâm ý người ấy hoàn toàn
không có niệm sát sanh, nên dù giết chết rắn, nhưng vẫn
không phạm tội sát sanh.
-
Thực tại không phải là chúng sanh: trong lúc tạo sát nghiệp,
trong thâm tâm người tạo hoàn toàn tưởng thực là chúng
sanh. Chẳng hạn như người ấy đi đêm, thấy gốc cây khô.
Gốc cây khô không phải là chúng sanh, nhưng người ấy tưởng
là người, liền chặt đứt gốc cây khô ấy. Như thế, dù
thật sự không gây thương tổn đến sanh mạng chúng sanh,
nhưng vì trong tâm ý người ấy, lúc đó có đủ niệm sát
hại, nên cũng phạm tội khinh cấu, mặc dù không phạm căn
bản trọng tội.
Cho
nên tội sát sanh trong Phật pháp là một sự kiện được
phân tích, kết luận hợp tình, hợp lý, không phải hư vọng
đem tội gán ghép cho người, mà hoàn toàn phải xem xét trạng
thái tâm lý của người ấy ngay lúc tạo nghiệp thế nào.
Nếu có đủ tâm niệm sát sanh, dù không sát hại chúng sanh,
cũng phạm tội khinh cấu. Nếu không có tâm sát sanh, dù có
sát hại chúng sanh, cũng không nhất định là có tội.
Cho
nên Phật pháp đối với việc sát sanh phán đoán theo khuynh
hướng “động cơ luận giải” chứ không theo “kết quả
luận giải”; cần phải biện biệt người tạo nghiệp đương
thời có tâm sát sanh hay không? Ðây là sự tối khẩn yếu!
Vấn đề này cùng với pháp luật hiện tại của xã hội
có thể nói là hoàn toàn thích hợp, nghĩa là phải xem xét
động cơ của người ấy có thực là sát tâm hay không!
3.
Sát tâm: động cơ sát hại chúng sanh. Ðã có động cơ này
thì lúc nào và ở đâu cũng muốn bức não, muốn sát hại
chúng sanh. Ðây là chủ nghiệp của sát nghiệp. Chủ yếu
là ôm ấp ác niệm, thì dù tự thân hay bảo người khác,
hoặc dùng phương pháp gì để thực hiện việc sát hại,
đều bị kết tội sát sanh. Tâm sát sanh có hai loại khác
nhau:
-
Thông tâm: buông lung tâm ý, làm những việc như đào hầm
hố, làm cung tên, hay chặt phá, thiêu đốt v.v... và trong lúc
làm có mang tâm giết hại chúng sanh. Nếu chúng sanh vì việc
này mà chết, thì người hành động bị phạm căn bổn trọng
tội. Nếu chúng sanh không vì duyên cớ đó mà chết thì chỉ
phạm tội phương tiện, tức là khinh cấu.
-
Cách tâm: là bổn ý làm phương tiện để giết người này,
nhưng lại giết lầm người kia. Tức là vô tâm mà lầm giết.
Vì đối với cá nhân kia, không có tâm sát hại, nên dù có
lầm lẫn làm thương hại người ấy, nhưng không kết thành
tội. Nhưng do hữu ý với cá nhân này, mà làm phương tiện
để sát hại, tuy không giết hại được, nhưng với người
này vẫn kết thành tội phương tiện.
4.
Tiền nhân đoạn mạng (sinh mạng người bị giết đoạn tuyệt)
Là
sanh mạng những chúng sanh bị giết hại, đích xác do người
tạo ác nghiệp kia mà bị kết thúc, không thể tiếp tục
sanh tồn nữa, bấy giờ mới kết thành sát nghiệp. Nhưng
người tạo sát nghiệp mang tội khinh hay trọng, tùy thuộc
vào hai thời gian không đồng mà kết luận:
*
Ở trong đời hiện tại: Cần phải xem xét bản thân người
tạo sát nghiệp có đủ giới phẩm hay không để phán đoán
sát tội là khinh hay trọng. Nếu người ấy có đủ giới
phẩm, khi thấy sanh mạng của chúng sanh bị giết hại kia
kết thúc thì kết thành căn bổn trọng tội. Nếu như sau
một thời gian xả giới, người tạo sát nghiệp mới thấy
sanh mạng chúng sanh kia bị kết thúc thì chỉ trước lúc xả
giới mới kết thành tội phương tiện. Sau khi xả giới thì
không phạm căn bản trọng tội. Nhưng với tánh tội thế
gian vẫn không tránh khỏi.
*
Ở trong đời tương lai: trường hợp người tạo sát nghiệp
làm phương tiện để giết một chúng sanh. Sau khi làm phương
tiện, sinh mạng của người tạo sát nghiệp kết thúc trước
sanh mạng của người bị giết kia. Thế thì sát tội mắc
phải nên phán xét như thế nào? Ðiều này phải căn cứ vào
hai phương diện mà thuyết minh:
-
Người tạo sát nghiệp sau khi chết rồi, trong đời vị lai
tự nhớ túc mạng. Người bị sát hại kia, mặc dù do nguyên
nhân thế lực nào khác, hoặc bị thêm phương tiện gì khác,
sanh mạng phải đoạn tuyệt, nhưng đều kết thành trọng
tội.
-
Người tạo sát nghiệp sau khi chết rồi, trong đời vị lai
không nhớ túc mạng. Người bị sát hại kia, mặc dù do thế
lực khác mà sanh mạng đoạn tuyệt. Trường hợp này cũng
giống như trên, nghĩa là kết thành trọng tội. Tại sao vậy?
Vì Bồ Tát sau khi chết rồi, giới thể vẫn còn chứ không
mất.
Nếu
người bị giết kia do nơi thế lực khác, phương tiện khác
mà chết, chứ không phải do phương tiện trước mà chết,
thì chỉ kết thành tội khinh cấu, không kết thành căn bổn
trọng tội.
Nếu
như về sau, những phương tiện thêm vào ấy, là bởi túc
nghiệp sai sử, tự bản thân mình không thể nhớ biết một
điểm gì. Thí như tỳ kheo bị bệnh si cuồng, loạn tâm...
chẳng những không kết thành căn bổn trọng tội mà cả tội
khinh cấu cũng không phạm.
Như
trên đã nói rất tường tận và đầy đủ những điều kiện
sát sanh để kết thành tội nghiệp sát sanh.
Việc
sát sanh ở thế gian này dường như khó tránh khỏi, nhất
là đối với những người có bổn phận thống lãnh quốc
gia, gánh lấy quyền sát sanh, có những trường hợp không
thể tránh được.
Như
trường hợp tội nhân trong nước tạo tội gian phạm, người
ngoại quốc xâm lăng, hoặc phe đảng dùng bạo lực tàn sát
nhân dân vô tội, người có bổn phận thống lãnh quốc gia,
vì muốn duy trì sự an ninh trong nước, vì muốn bảo vệ tổ
quốc, vì bổn phận cứu độ nhân dân lương thiện, nếu
như không giết kẻ địch và tội nhân thì không thể nào
được.
Cho
nên Phật pháp đối với giới sát sanh có thể khai giới cho.
Ðiều này trong bộ Phật Pháp Khái Luận, Ấn Thuận Luật
Sư thuyết minh:
“Nếu
nói về Ðại Trí khế hợp với Chân Lý, Ðại Bi phải tùy
thuận thế gian, thì giới luật quyết không thể nào không
tiêu cực. Có khi gặp trường hợp không tiêu cực thì không
xong việc, như vậy cần phải linh động nhằm vào phương
tiện Từ Bi mà có thể Sát, có thể Ðạo, có thể Dâm, có
thể vọng ngữ, mới thực hiện được hoàn mãn.
Thí
dụ như có người tàn hại nhân loại nói riêng, hữu tình
nói chung, sinh linh bị thống khổ, bức bách, không thể kham
nhẫn được. Nếu không giết kẻ ác này, hữu tình sẽ bị
sa vào thảm vận càng lớn, kẻ ác này sẽ tạo tội ác càng
to, và vị lai kẻ ấy sẽ bị thống khổ cực hình. Như thế,
thà giết kẻ ác ấy, thà mình đọa địa ngục, không nên
để kẻ ấy tạo ác, tự hại mình, hại người. Thế nên
phải dụng tâm Từ Bi mà giết kẻ ác này. Ðây là giết thiểu
số mà cứu khắp tất cả.
Ðặc
biệt là phải có tâm thương xót đối với người làm ác.
Vì thương xót họ, nên phải giết họ, để họ đừng tạo
thêm ác nghiệp mà phải bị đọa địa ngục. Dù cho chính
mình vì việc sát sanh này mà đọa địa ngục, cũng không
mảy may do dự. Việc sát hại cá nhân này thuộc về hành
vi đạo đức, thuộc về đức hạnh cao thượng và tâm từ
bi vô hạn, tự nguyện hy sinh!”
Sát
sanh để cứu sanh mạng như thế, Phật giáo đồ ở Ấn Ðộ
trước kia, đệ tử Phật ở Trung Hoa và các Phật tử các
quốc gia khác hiện nay hành theo đó, có thể nói là rất nhiều:
*
Như vào triều Tống, niên hiệu Nguyên Gia, Cầu Na Bạt Ðà
La pháp sư (Trung Hoa dịch là Công Ðức Khải) đến Trung Quốc
hoằng truyền chánh pháp. Ngài ở tại nước Quang Bà. Quốc
vương nước ấy hết sức sùng kính Pháp Sư. Lúc ấy, đại
quân lân bang đem quân xâm lấn. Quốc vương đến trước Pháp
Sư bạch rằng:
-
Bạch tôn sư! Nay kẻ ngoại xâm sắp đến xâm phạm quốc
gia của con. Nếu đấu tranh với họ thì sát hại thương tổn
rất nhiều. Là một Phật tử, tâm con thật là bất nhẫn!
Nếu không chiến đấu thì quốc gia sẽ bị diệt vong. Tâm
của người làm chủ quốc gia có chỗ không yên. Kính bạch
tôn sư! Con đang tấn thối lưỡng nan, không biết làm thế
nào cho đúng, chỉ đến trước tôn sư nhất tâm quy mạng,
xin quyết định cho con!
Cầu
Na Bạt Ðà La pháp sư thản nhiên đáp: “Kẻ địch đã xâm
phạm quốc gia, biện pháp duy nhất là phải kháng cự. Nhưng
lúc đại vương khởi binh giao chiến, quyết đừng khởi ác
niệm, mà cần phải giữ gìn tâm từ bi lân mẫn, thương hại
kẻ địch”.
Quốc
vương lãnh lời chỉ giáo của Pháp Sư, thống lãnh hùng binh
giao chiến với địch. Hai bên giao phong, kẻ địch quy hàng.
Ðây
thật là dụng binh nhân nghĩa. Theo đúng tinh thần này thì
đi chinh phạt không phải là không được. Chủ yếu không
phải là hiếu chiến, hiếu sát, thì trong Phật pháp vẫn không
phản đối.
*
Kinh Tăng Nhứt A Hàm có chép như vầy:
Vua
Ba Tư Nặc một hôm đơn thân đến Kỳ Hoàn tịnh xá, bạch
với đức Bổn Sư rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Vừa rồi
trong nước có đại đạo tặc nổi dậy, vì thế đêm hôm
qua con thống lãnh đại quân thảo trừ kẻ giặc. Kết cuộc
con đã bắt được nó, nên hiện tại con cảm thấy vô cùng
hoan hỷ, nên đến đây bái yết Thế Tôn. Nếu đêm rồi con
không cử binh thì không bắt được giặc. Giặc không bắt
được, quốc gia sẽ không an, nhân dân bị thống khổ...”
Ðức
Phật nghe xong, đối với đại vương dạy rằng: “Ðúng thế!
Ðúng như lời đại vương nói...”
Ðức
Phật chẳng những không quở trách Ba Tư Nặc vương chinh phạt
kẻ địch, lại còn tán thán cho là việc rất đúng. Do đó,
thấy rõ trong Phật pháp không phải là tuyệt đối không được
sát sanh. Vấn đề chính là cần phải xem xét tình trạng sát
sanh như thế nào để quyết định.
Ðối
với vấn đề này, Du Già Luận Bồ Tát giới bổn có nói
rất rõ như sau: “Nếu Bồ Tát thấy kẻ cướp hung bạo,
tham tàn, giết hại nhiều sanh mạng, hoặc muốn giết hại
bậc đại đức, Thanh Văn, Ðộc Giác, Bồ Tát, và tạo nhiều
nghiệp vô gián. Bồ Tát thấy rồi suy nghĩ: “Nếu ta giết
chúng sanh ác này sẽ bị đọa vào Na Lạc Ca (địa ngục),
còn nếu không, nó sẽ tạo nghiệp vô gián, sẽ chịu đại
thống khổ. Ta thà giết nó mà đọa Na Lạc Ca, chứ không
để nó chịu kịch khổ vô gián”.
Suy
nghĩ như thế đối với chúng sanh kia, Bồ Tát sanh lòng hết
sức hổ thẹn, do thiện tâm thương xót mà đoạn mạng ác
nhân kia. Theo nhân duyên này, đối với Bồ Tát giới chẳng
những không hủy phạm, mà lại còn sanh nhiều công đức.
Sự
sát hại này không phải do tham tâm, không phải do sân tâm,
hoàn toàn do tâm đại bi tăng thượng, thuần dùng tâm “đại
khổ chúng sanh” (thay thế chúng sanh chịu khổ) mà làm sát
nghiệp. Ðối với giới Bồ Tát chẳng những không có chỗ
vi phạm, mà còn sanh khởi công đức rất lớn.
Bộ
Phạm Võng Giới Sớ Phát Ẩn của Liên Trì đại sư cũng nói:
“Giết chết người rồi tự mình rơi lệ, suy nghĩ nhiều
phen rồi sau đó hành hình, chính sát sanh mà thành từ bi. Sát
sanh nhưng thực chẳng phải sát sanh. Với giới pháp không
trái phạm; với ân đức cũng không tổn thương. Quốc chánh
cũng như Phật tâm, cả hai đều vô ngại”.
Ðây
là lối sát sanh với thế pháp và Phật pháp, cả hai đều
thông suốt. Ðây là lối sát sanh hợp tình, hợp lý biết
dường nào! Sát sanh như thế rốt ráo có gì không được!
Cần phải sát sanh mà không sát, đây mới là điều không
được bỏ qua. Không nên sát sanh mà sát sanh, đấy là do nhẫn
tâm, khoái ý mà làm, là thuộc về tội ác!
Có
nghiệp nhân như thế, tất phải bị chiêu cảm lấy quả khổ.
Chánh báo là phải đọa vào tam ác đạo; dư báo là phải
thọ quả báo đoản mạng cùng nhiều tật bệnh trong nhân
đạo. Phân biệt rõ hơn thì:
-
Sát sanh thượng phẩm, đọa vào địa ngục.
-
Sát sanh trung phẩm, đọa làm súc sanh.
-
Sát sanh hạ phẩm, thọ khổ ngạ quỷ.
Có
chỗ nói tội sát sanh căn cứ vào ba phẩm chúng sanh thì phân
biệt như vậy. Có chỗ luận sát tâm mạnh hay yếu mà phân
biệt. Có chỗ ước về sự quan hệ ân cầm sám hối mà phân
biệt, như tạo tội sát sanh về thượng phẩm, nhưng nhờ
ân cần khẩn thiết sám hối tội lỗi mà chuyển thành tội
nghiệp trung phẩm, hạ phẩm. Có người tạo tội sát hạ
phẩm, nhưng vì che giấu tội ác, bào chữa lỗi lầm, không
biết hổ thẹn, mà chuyển thành tội nghiệp trung phẩm, thượng
phẩm.
Vì
thế, đồng là tội sát sanh, do quá trình tâm lý chuyển đổi
mà tội tánh thành khinh hay trọng sai khác. Ðiều này phàm
phu chúng ta không thể biết được, duy có Phật với Phật
mới thấu rõ cùng tột. Cho nên điều tốt nhứt là không
nên sát sanh!
Chú
thích:
1)
Niệm niệm tương tục; nhứt kỳ tương tục: ý nói về sự
vô thường. Vô thường dịch từ ba chữ A-nễ-đát, nghĩa
là tất cả các pháp trên thế gian luôn sanh diệt, đổi dời,
không một sát-na đình trụ, nên gọi là “vô thường”.
Có hai loại:
-
Sát na vô thường: từng mỗi sát na đều có sự biến hóa
sanh, trụ, dị, diệt. Ðây tức là niệm niệm tương tục.
-
Tương tục vô thường: sự tương tục trong một thời kỳ
có bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt (sanh, lão, bệnh, tử).
Kinh
Niết Bàn nói: “Thân này vô thường, niệm niệm không dừng,
dường như điển quang, dường như thác nước, dường như
huyễn mộng, dường như dương diệm”. Ðây thuộc về nhứt
kỳ tương tục, chỉ cho sự tương tục của một thời kỳ
của sanh mạng này. Kinh Pháp Bảo Ðàn nói: “Sanh tử là việc
lớn, vô thường nhanh chóng”.
Kinh
Vô Thường nói: “Trên thế gian chưa từng có việc nào chẳng
bị vô thường nó thôn tính”. Lại nữa, thế tục cho vô
thường là con quỷ, nên Trần Dục có hai câu thơ rằng:
Nhứt
triêu nhược giả vô thường chí,
Kiếm
thọ, đao sơn bất phóng y
Dịch:
Nếu
như một mai vô thường đến,
Núi
đao, rừng kiếm không buông tha.
Là
Phật tử, đối với vô thường luôn có tâm sợ sệt. Trong
kinh có ví dụ “vô thường lang” nghĩa là vô thường đáng
sợ như chó sói.
*
Trong Trí Ðộ Luận, quyển 15 thuyết minh: “Bồ Tát dù đối
với cảnh Ngũ Dục Thượng Diệu (về danh là Chuyển Luân
Vương, về sắc thì ngọc nữ muôn ngàn), cũng không bao giờ
sanh tâm ham muốn đắm say.
Tại
sao vậy? Vì chư Bồ Tát luôn quán niệm vô thường khổ, không!
Thí dụ như vị quốc vương có một viên đại thần có tội
mà lại che giấu.
Quốc
vương muốn trị phạt bèn bảo đại thần rằng: ‘Nếu khanh
tìm được một con dê thật mập mà không có mỡ, trẫm sẽ
tha tội cho khanh’.
Viên
đại thần có trí liền bắt một con dê cột lại, hằng ngày
dùng cỏ tươi non, nước trong nuôi dưỡng, lại mỗi ngày
ba lần, đem chó sói đến khủng bố dê. Dê do được nuôi
dưỡng kỹ nên rất mập tốt, nhưng không có mỡ. Quốc vương
hỏi duyên cớ, viên đại thần tâu lên sự việc.
Bồ
Tát cũng thế, thường trông thấy con chó sói vô thường khổ,
không v.v... nên tiêu diệt những thứ mỡ kiết sử, phiền
não nên thân công đức được mập béo...”

|