A.4.2. TỔNG
KẾT GIỚI TƯỚNG
(chung kiết
tướng trạng giới tướng)
A.4.2.1.
KINH GIA TỰ THUYẾT (nhà kiết lập kinh tự thuyết)
Kinh
văn
1.
Phiên âm:
Từ
câu “nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật...” đến câu “...Thính
Phật tụng nhất thiết chư Phật đại thừa giới”.
2.
Dịch nghĩa:
Thuở
ấy, Ðức Phật Thích Ca mới thành đạo Vô Thượng Chánh
Giác. Trong khi ngồi dưới cội Bồ Ðề, Ngài bắt đầu kiết
giới Bồ Tát. Ngài dạy: “Hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng,
tam bảo, hiếu thuận với pháp chí đạo. Hiếu gọi là Giới,
tức là ngăn cấm”.
Liền
khi ấy, từ nơi miệng Phật phóng ra vô lượng tia sáng. Các
Bồ Tát, mười tám Phạm thiên, sáu cõi trời Dục giới, mười
sáu đại quốc vương đồng chắp tay, chí tâm nghe Ðức Phật
tụng giới pháp Ðại Thừa của tất cả chư Phật.
Lời
giảng:
Hai
chữ “nhĩ thời” (khi ấy) chỉ thời gian Ðức Phật từ
cõi trời trở lại nhân gian, thị hiện xuất gia, thành đạo
tại châu Diêm Phù Ðề.
Năm
chữ “Thích Ca Mâu Ni Phật” là tôn hiệu, chỉ cho vị Hóa
Chủ tụng giới.
Câu
“sơ tọa Bồ Ðề thọ hạ” (ngồi dưới cội Bồ Ðề)
chỉ về hóa xứ tụng giới (hóa xứ: xứ giáo hóa; hóa chủ:
người giáo hóa), chỉ cho địa phương Ðức Phật đến giáo
hóa.
Câu
“thành Vô Thượng Chánh Giác dĩ” chỉ cho quả vị Bồ Ðề
tối cao mà Phật thị hiện chứng đắc. Bởi quả vị Bồ
Ðề của hàng thánh nhân trong tam thừa chứng đắc, không
thể sánh ngang hàng với Phật vị, cũng không có người nào
có thể vượt qua Bồ Ðề Phật quả. Cho nên gọi là Vô Thượng
Chánh Giác.
Ðức
Phật ở dưới cội Bồ Ðề, sau khi thành Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác, lập tức chế định Ðại Thừa Bồ Tát
giới. Cho nên nói: “Sơ kiết Bồ Tát Ba La Ðề Mộc Xoa”.
Ðức Phật thành Phật không bao lâu đã chế định giới pháp.
Ðiều đó chứng tỏ giới pháp là điều kiện tối yếu nhập
đạo không thể chậm trễ.
Nói
giới Bồ Tát, đương nhiên là để phân biệt với giới Thanh
Văn. Vì giới pháp Thanh Văn là tùy duyên phạm tội mà Ðức
Phật căn cứ vào đó để chế giới.
Trái
lại giới Bồ Tát không như thế. Nghĩa là tất cả năm mươi
tám giới Ðức Phật chế định ngay trong một lúc (điều
này trong phần Tiên Ðề Khái Thuyết đã nói qua).
Chính
vì cơ nghi thụ nhiếp giới pháp Ðại Thừa chỉ dành cho hành
giả Ðại Thừa, cho nên Ðức Phật chế định hai phần giới
trọng, giới khinh. Ðó không phải là giới pháp hàng Nhị
Thừa có thể học được. Duy chỉ có Ðại Thừa Bồ Tát
mới có thể giữ gìn Bồ Tát Ba La Ðề Mộc Xoa mà Ðức Phật
đã kiến lập khi vừa mới thành đạo.
Phần
trên đã giải thích bốn câu: “Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật
sơ tọa Bồ Ðề thọ hạ, thành Vô Thượng Chánh Giác dĩ,
sơ kiết Bồ Tát Ba La Ðề Mộc Xoa” (thuở ấy Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni lúc mới thành đạo Vô Thượng Chánh Giác.
Trong khi Ngài ngồi dưới cội Bồ Ðề, Ngài bắt đầu kiết
giới Bồ Tát).
Thật
vậy, Ðức Phật khi mới thành đạo Vô Thượng Chánh Giác,
Ngài liền chế định Bồ Tát đại giới.
Nhưng
định nghĩa thế nào là Giới?
Ngài
hoàn toàn chưa vì đại chúng giải thích minh bạch. Bấy giờ,
Ngài mới nêu ra cương lãnh của Giới, đó chính là “hiếu
thuận”.
Ngài
đem chữ Hiếu hợp cùng chữ Giới chung làm một để thuyết
minh rằng giới pháp Chân Ðế chính là hiếu đạo. Duy chỉ
có hiếu hạnh mới là giữ gìn giới pháp một cách chân thật.
Cũng
như chỉ có theo đúng pháp để giữ giới mới thiết thực
đạt tới sự cùng tột của hiếu đạo. Cho nên, học giới
không có gì khó, chỉ cần học tập “hiếu thuận với cha
mẹ, sư tăng, Tam Bảo” mà thôi.
Nếu
đối với cha mẹ, sư tăng, Tam Bảo có thể thực hành đến
mức hiếu thuận chơn chánh tức là đã đồng với nghiêm
trì tịnh giới.
Như
thế đủ thấy rằng: Giới hạnh của Bồ Tát là nhân tối
thắng trong muôn hạnh. Cha mẹ là người sanh thành, dưỡng
dục sắc thân của chúng ta. Nếu như không có cha mẹ thì
không bao giờ có sắc thân của chúng ta trên thế gian. Và
đã không có sắc thân thì làm sao có thể hành đạo? Cho nên
ân đức của cha mẹ đối với chúng ta thật là vĩ đại.
Thử
nghĩ, cha mẹ ban sanh mạng cho chúng ta, lại nuôi nấng, vỗ
về cho chúng ta được trưởng thành. Trong suốt quá trình
ấy, cha mẹ đã nếm không biết bao nhiêu sự cay đắng. Chúng
ta bổn phận làm con, dù trai hay gái, đối với cha mẹ, phải
phát khởi hiếu tâm, thừa thuận, phụng sự cha mẹ để mong
đền đáp một phần trong muôn một thâm ân này.
Nếu
đối với cha mẹ không thực hành hiếu đạo thì bất luận
đối với thế pháp hay xuất thế pháp đều không bằng loài
cầm thú!
Trung
Hoa xưa có tích “ô nha phản bổ” (quạ con nuôi mẹ). Danh
từ “ô nha” nếu phân tích kỹ thì Ô là con quạ lông cánh
đen mướt. Loài quạ này biết đền đáp công ơn cha mẹ nó.
Nha cũng là loài quạ, nhưng loại này không biết báo hiếu.
Nhưng danh từ “ô nha” ở đây chỉ chung loài quạ lông cánh
xanh đen. Khi quạ mẹ già không thể kiếm ăn được thì quạ
con đi khắp nơi tìm kiếm vật thực đem về nuôi dưỡng quạ
già. Quạ là loài phi cầm mà còn biết hiếu thảo như thế,
còn chúng ta là loài người, lẽ nào đối với cha mẹ không
thực hành được hiếu đạo đối với mẹ cha?
Tiện
đây, dịch giả xin trích bộ Vật Do Như Thử của Từ Thái
Sử, vài mẫu truyện ngắn về loài phi cầm, tẩu thú còn
biết báo hiếu cha mẹ.
*
Tích thứ 1: Trường Hưng hiếu nga trủng (mộ phần con ngỗng
có hiếu tại Trường Hưng)
Vào
niên hiệu Thiên Bảo năm cuối, tại huyện Trường Hưng, có
một người phụ nữ tên Trần Thị, nuôi một con ngỗng mái.
Ngỗng ấy khi đẻ trứng, bị ruột sa mà chết. Bấy giờ,
ngỗng con thấy thế buồn rầu kêu la thảm thiết và bỏ ăn.
Sau đó, nó đi kéo một chiếc chiếu rách che thi hài của mẹ
nó. Rồi lại ngậm những cọng cỏ non sắp bày trước thi
hài như hình trạng cúng tế. Ngỗng con ngước lên trời buồn
kêu một lúc rồi cũng chết theo mẹ.
Trần
thị thấy thế làm lạ, sanh lòng thương cảm, bèn mua một
cái tráp ván, bỏ ngỗng vào đem chôn. Người sau nhân đó
gọi là “mộ phần của hiếu nga”.
Lý
Tự Nghĩa xem chuyện ấy xong, nhận xét: “Tôi thiết nghĩ
chỉ một con ngỗng con mà còn biết báo hiếu cho mẹ nó. Con
người đối với cha mẹ cư xử như thế nào? Chính mắt tôi
trông thấy có những người khi cha mẹ chết, họ vẫn uống
rượu, ăn thịt, vui cười, đùa giỡn trong khi đọc văn tế
lễ. Họ cũng tự lấy đó làm cao. Con người như thế chắc
chắn không phải là con người! Nếu họ đọc truyện ngắn
của con hiếu nga trên thì không cảm thấy thẹn đến chết
hay sao?”
Ông
Hạo tử (biệt hiệu của Từ Thái Sử, người trước tác
bộ Vật Do Như Thử) nói: “Mẫu thân chết, hiếu nga bi thảm
đến như thế, không biết nếu mẫu thân nó còn sống thì
con hiếu nga ấy gần gũi luyến ái biết dường nào!” Hạc
tử làm bài thơ rằng:
Sự
tử hà cập sự sanh,
Ngưỡng
thiên khốc thuyết lệ tung hoành,
Vi
nhi xả mạng thân nan thục,
Tuyền
hạ nan văn đổng mẫu thinh.
Ðại
ý bài thơ này nói lên tình thương của ngỗng con đối với
ngỗng mẹ. Trong đó, Hạc tử muốn nhấn mạnh ý nghĩa: Thờ
phượng cha mẹ lúc chết không bằng lúc sống. Nhưng ngỗng
con kia quá thương mẹ. Khi thấy thi hài của mẹ nó nằm đó,
nó buồn đau vô cùng, nên ngước mặt lên trời than khóc,
máu hòa nước mắt tuôn rơi chung quanh xác mẹ. Bổn phận
làm con dù có xả thân mạng cũng khó đền đáp công ơn sanh
dưỡng. Và ngỗng mẹ ở suối vàng đâu nghe được những
tiếng khóc đau thương của ngỗng con?
* Tích
thứ 2: Biển bức thức mẫu khí (dơi con biết hơi mẹ)
Tiêu
Vu Thị, người tại My Châu, vì bệnh cần phải hòa hợp các
thứ thuốc để làm thành tễ (thuốc tễ). Trong tễ thuốc,
tất cả các loại thuốc đều lấy từ dược thảo, riêng
có một vị phải dùng biển bức (con dơi). Do đó, ông tìm
bắt một con dơi đem về nhổ lông, phơi khô, sao tán thành
bột, hòa thuốc làm tễ.
Trong
khi ông làm thuốc tễ thì có vài con dơi nhỏ tự nhiên đến
vây quanh. Những con dơi kia chưa mở mắt, nhưng chính do biết
hơi mẹ mà bay đến. Cả nhà họ Ðinh thấy thế đều rơi
lệ, thệ nguyện từ đó về sau, nếu có bào chế thuốc,
quyết không dùng sanh mạng loài vật, lại rất siêng năng
phóng sanh. Nhờ đó, thuốc kia chưa uống mà bệnh đã lành.
Lý
Tự Nghĩa nói: “Những biển bức con biết hơi mẹ mà đến,
có thể thấy tình mẫu tử nhất khí đồng thể, sanh tử
tương quan. Thế nên nhất quyết không nên dùng sinh mệnh để
hòa hợp thuốc. Suy gẫm kỹ, nếu thương tổn sinh mạng loài
vật để cứu mạng mình thì dù có thể cứu được đi nữa,
vẫn còn rất tàn nhẫn, huống chi vị tất cứu được ư?
Tôi
nhớ lại năm Ất Hợi, phu nhân trong nhà tôi bệnh nặng, thầy
thuốc bảo phải dùng toàn thân con trạch lớn, hòa với các
thứ thuốc để làm thành hoàn (viên tròn) mới có thể cứu
được. Tôi quyết định ngăn cản không cho. Nhưng y sĩ muốn
cứu phu nhân tôi, lén mua trạch chế thuốc cho uống, nhưng
rốt cuộc bệnh vẫn không lành. Thế là không thể cứu mạng
người, còn làm thương hại đến sanh mạng loài vật. Thực
là việc đáng thương, đáng buồn!”
Hạc
tử nói: “Xét cho kỹ những con biển bức biết hơi mẹ,
đến vây quanh nơi chỗ làm thuốc. Ðối với sự việc ấy,
chẳng những toàn gia họ Ðinh đều rơi lệ mà đến hôm nay
tôi đọc truyện này cũng liền gấp quyển, nước mắt tự
nhiên chảy ròng ròng xuống”.
* Tích
thứ 3: Ðộc thôn đao (trâu nghé nuốt đao - truyện trích trong
tập Liễu Nhai Tử)
Ở
Trung Hoa ngày xưa, tại huyện Thuật Dương, có anh đồ tể
họ Vương chuyên nghề giết trâu bán thịt nuôi sống.
Một
hôm anh mua về hai con trâu: một mẹ, một con. Anh định giết
trâu mẹ trước nên cột trâu mẹ vào một cây cột để đi
mài dao. Ðang lúc đó có người đến gõ cửa, anh để dao
xuống chạy ra mở cửa. Trâu nghé thừa dịp không người,
liền ngậm con dao của anh đồ tể, chạy thẳng đến nhà
hàng xóm.
Ðến
nhà của Tôn Lão, trâu nghé dùng sừng cụng vào cửa. Nghe
tiếng động, Tôn Lão chạy ra mở cửa thì thấy một con nghé,
trong miệng ngậm một con dao đã nuốt gần một nửa. Chỉ
trong chốc lát sau, nó đã nuốt hết con dao. Trâu nghé nhìn
Tôn Lão với vẻ buồn rầu và kêu la thảm thiết.
Trong
lúc Tôn Lão còn đang kinh dị thì anh đồ tể họ Vương hơ
hải chạy đến. Vì sau khi tiếp khách xong, anh định tiếp
tục mài dao, nhưng xem lại thì con dao biến mất. Trâu nghé
cũng không còn. Anh ta đi kiếm, khi đến nhà Tôn Lão hỏi lý
do, mới biết sự thật trâu nghé nuốt dao, vì nó không muốn
trâu mẹ bị giết.
Tôn
Lão là người sống bằng nghề nông, nghe chàng họ Vương
thuật lại việc trâu nghé ngậm dao chạy đi, ông liền động
mối từ tâm, chẳng nỡ để cả hai mẹ con bị giết, nên
hỏi đồ tể họ Vương giá hai con trâu bao nhiêu. Biết được
giá cả, Tôn Lão liền xuất một món tiền lớn và dùng lời
nhã nhặn bảo họ Vương: “Anh làm nghề bán thịt trâu thì
phải có lời mới sống. Hôm nay xin anh hoan hỷ cho tôi mua
lại hai mẹ con trâu. Tôi xin hoàn số tiền gấp đôi”.
Ðồ
tể họ Vương biết Tôn Lão là người nhân đức từ trước
đến nay, nên vui vẻ nhận lấy số tiền. Tôn Lão đến nhà
họ Vương mở trói trâu mẹ, dắt đem về. Trâu nghé vừa
thấy mẹ, hai hàng lệ tuôn rơi, và quỳ bên Tôn Lão tỏ vẻ
tạ ơn. Trâu mẹ cũng đến liếm con từ đầu đến đuôi.
Tôn Lão nghĩ rằng trâu nghé không thể sống, nhưng trải qua
cả tuần lễ vẫn không thấy có gì lạ. Về sau trâu mẹ
đem hết sức lực làm ruộng cho Tôn Lão được vài năm rồi
chết. Tôn Lão chôn cất tử tế, trâu nghé cũng đem hết sức
làm ruộng cho con của Tôn Lão sau khi ông qua đời hơn hai mươi
năm.
Khi
trâu nghé chết, những người biết chuyện 20 năm trước trâu
nghé nuốt đao, họ xúm nhau bàn với con Tôn Lão mổ bụng
trâu ra xem. Con Tôn Lão nghĩ rằng nếu con vật còn sống mà
đem mổ bụng là tội ác, nhưng nay nó đã chết rồi thì tử
thi giống như cây đá, nên bằng lòng cho người mổ bụng
trước khi chôn cất. Khi mổ bụng ra thì rõ ràng chiếc dao
nằm ở dạ dày. Ðiều quái lạ là có một cái bao da rất
dày bọc chung quanh con dao, giống như chiếc vỏ đao bọc bên
ngoài.
Hạc
tử nói: “Sự việc con trâu nghé này thật là kinh thiên động
địa! Tôi đọc truyện này đầu tiên phải tấm tắc khen
ngợi, thế rồi kính cẩn thâu nhiếp sắc diện, rồi lại
xúc động rơi lệ, đứng dậy khoa chân múa tay...
Sau
đó, ông lại đề thơ cảm tác:
Thôn
đao tạc tạc mạc nghi hư,
Khấu
giác độc cầm Tôn lão cư,
Tử
mẫu sạ phùng ngưỡng thiên đống,
Nhứt
thời cuồng hỷ cánh hà như?
Dịch:
Nuốt
dao việc ấy chớ hồ nghi,
Húc
sừng gõ cửa lão Tôn bi,
Mẹ
con gặp gỡ nhìn trời rống,
Mừng
này mấy thuở sánh sao bì?
* Tích
thứ 4: Khuyển bộ mẫu (Chó nuôi mẹ - truyện này trích trong
Cẩm Tâm Lục)
Ở
Trung Hoa, tại huyện Ðức Hưng, có người chuyên làm ruộng,
gia đình nghèo túng. Trong nhà có nuôi con chó cái. Lúc nó sinh
con, vì không có gì ăn, lại thêm đám con xúm nhau bú, cho nên
thân hình nó chỉ còn da bọc xương.
Cách
nhà này hơn nửa dặm, có người họ Vương, một hôm đến
nhà bác nông phu, thấy tình trạng thảm thương như vậy, nên
nhân khi mấy con chó con dứt bú, bèn xin một con chó con đem
về nuôi.
Hằng
ngày ông này dùng tấm cám nấu cho chó con ăn no. Chó con sau
khi được ăn no liền vui mừng ngoắt đuôi, hớn hở chạy
về chỗ cũ ói ra những đồ ăn trong bụng cho mẹ nó ăn.
Buổi mai cũng như chiều, dù gặp lúc mưa gió, chó con vẫn
không quên mẹ.
Một
nhân sĩ đương thời mục kích cảnh ấy có làm bài phú ca
ngợi hiếu khuyển sau đây:
Cảm
từ phong vũ lộ giang tân,
Triêu
mộ bái hồi bàng mẫu thân,
An
đắc gia gia hoan thúc thỉ,
Bạch
đầu thùy niệm ỷ lư nhân.
Dịch:
Cảm
lòng con trẻ gió mưa sông,
Chiều
mai nuôi mẹ chẳng thưa lòng,
Cảnh
nghèo hôm sớm vui rau cháo,
Tóc
trắng phương trời tựa cửa trông.
Ý
nghĩa bài phú trên:
Hai
câu đầu mô tả hoản cảnh chó con nuôi mẹ. Sau khi được
chủ mới xin về nhà nuôi và cho ăn uống no đủ, chó con không
quên mẹ, nên ngày ngày hai lượt chạy trở về chốn cũ ói
thức ăn ra để nuôi mẹ. Dù gặp lúc mưa to, gió lớn, sông
nước ngăn trở, chó con vẫn không ngại khổ nhọc, lo cho
mẹ khỏi bị đói lòng, không bao giờ xao lãng bổn phận.
Hai
câu dưới đem cảnh nghèo khổ của chó con nuôi mẹ so sánh
với cảnh nghèo túng của những người nghèo trong xã hội.
Trên đời này, có mấy người sống trong cảnh nghèo đói
mà được niềm hạnh phúc đầm ấm, trong sự hiếu thảo
của con nuôi dưỡng như trường hợp chó mẹ được con nuôi
như vậy?
Ba
chữ “hoan thúc thỉ” mô tả cảnh người nghèo, tuy chỉ
ăn đậu, uống nước lã, sống qua ngày nhưng vui sống với
những đứa con hiếu thảo. Ba chữ này trích trong kinh Lễ:
“Chiết thúc, ẩm thỉ tận kỳ hoan” (ăn đậu, uống nước
lã cũng vui vô cùng).
Hai
chữ “bạch đầu” ý chỉ mẹ nuôi con khôn lớn đến lúc
bạc đầu nhưng có mấy ai nghĩ đến thâm ân từ mẫu.
Ba
chữ “ỷ lư nhân” ý nói khi con ra khỏi nhà, mẹ thường
sớm chiều tựa cửa ngóng trông.
* Tích
thứ 5: Ðộc tàng đao (bò con giấu dao – truyện trích trong
tập Ðồng Sanh Lục)
Tại
tỉnh Vân Nam, châu An Ninh bên Trung Hoa, có anh chàng đồ tể
họ Triệu, chuyên làm nghề bán thịt bò nuôi sống. Một hôm,
anh ta mua về hai con bò một mẹ, một con. Khi đem về nhà,
anh định giết bò mẹ trước, nên trói lại rồi vào nhà
lấy thùng ra hứng huyết. Bò con đứng cạnh trông thấy chiếc
dao đồ tể để gần mẹ nó, nó vội ngậm dao đem giấu nơi
kẹt đá.
Anh
đồ tể khi xách thùng ra, kiếm con dao thọc cổ bò, nhưng
không thấy đâu cả. Trong lúc anh ta đi kiếm khắp chỗ, thì
có người hàng xóm trông thấy việc làm của bò con thuật
lại cho anh ta. Nhưng anh đồ tể không tin, sau đó lấy một
con dao khác đặt vào chỗ cũ, rồi vào trong nhà nép bên cửa
sổ nhìn xem, anh thấy rõ ràng bò con cũng làm như trước.
Ðồ
tể họ Triệu chính mắt thấy cảnh đó, lòng buồn vô hạn,
nước mắt tuôn rơi, ăn năn những tội đã làm từ trước.
Chàng lập tức bỏ nhà vào trong Hoa Sơn làm đạo sĩ. Hằng
ngày hành thiện và chí thành sám hối, lại dặn mẹ ở nhà
nuôi hai con bò ấy. Ðến 20 năm sau, khi chúng chết, chôn cất
chu toàn.
Hạc
Tử đề thơ cảm tác:
Ðao
đầu chuyển thính huyết phi hồng,
Tiểu
độc hàm đao dĩ kế cùng;
Nhị
thập niên gian tì mẫu hạn,
Hoa
Sơn tiêu thụ hảo tòng phong.
Ý
nghĩa bài thơ trên diễn tả cảnh người đồ tể trong lúc
giết bò, chỉ cầm dao trong nháy mắt thì máu đỏ đã bắn
ra tung tóe. Câu hai diễn tả hành động bò con ngậm dao đem
giấu để cứu mẹ. Hai câu sau nói sự hai mẹ con bò được
gia đình họ Triệu nuôi tử tế, riêng anh đồ tể bây giờ
chuyên lo tu dưỡng, hưởng cảnh thanh nhàn nơi Hoa Sơn.
Hạc
Tử đã bình luận: “Việc làm của đồ tể họ Triệu trong
truyện này cùng với đồ tể họ An đem dê mẹ, dê con vào
chùa phóng sanh, đều là bậc anh dũng, phát tâm dõng mãnh,
phóng hạ đồ đao một cách dứt khoát dễ dàng”.
Hàng
Sơn Tử có câu: “Liên hoa sanh phất thang”, nghĩa là “hoa
sen sanh trong nước sôi” cũng là để nhắc nhở tích xưa,
chuyện thật vậy.
Dịch
giả thành kính y trong bộ Vật Do Như Thử dịch lại 5 truyện
ngắn trên. Hai chuyện thuộc về phi cầm; ba truyện thuộc
về tẩu thú. Kính mong chư thượng đức, tăng ni hai giới
cùng quý Phật tử tại gia đã thọ Bồ Tát giới sau khi đọc
những truyện này, luôn nhớ lời Phật dạy: “Nhứt thiết
chúng sanh giai hữu Phật tánh, thị tâm tác Phật” (Tất cả
loài hữu tình có tâm thức, có hoạt động, tức nhiên có
Phật tánh. Ðã có Phật tánh thì trong những kiếp tương lai,
không chóng thì chầy, cũng sẽ thành Phật).
Khi
đã hiểu như thế, đối với cá nhân tự mình, nên nghiêm
trì tịnh giới, làm cho Bồ Ðề tâm tăng trưởng. Ðối với
chúng sanh (lớn như voi, trâu; nhỏ như kiến, mọt) luôn thực
hành theo lời Phật dạy là phải có tâm hiếu thuận, từ
bi. Ðược như thế thì phước đức vô lượng và mau viên
mãn quả Bồ Ðề.
Riêng
về ý nghĩa bốn chữ Vật Do Như Thử là tựa đề quyển
sách, có ý nghĩa là loài vật, cầm thú còn như thế (biết
hiếu thảo) huống chi là con người, không lẽ không bằng
loài vật.
Như
trên đã nói qua hiếu đạo của loài cầm thú, bây giờ xin
nói qua hiếu đạo của con người. Y chiếu theo trong kinh điển,
xin nêu lên hai gương hiếu hạnh:
* Tích
1: Gương đại hiếu của Viêm Ma vương tử
Phụ
thân của Viêm Ma Vương Tử một hôm lâm trọng bệnh. Sau khi
chẩn mạch, y sĩ cho biết muốn chữa bệnh phải có con mắt
của người từ lúc sơ sinh đã không bao giờ có tâm nóng
giận, chưng làm thuốc uống thì bệnh mới hy vọng chữa khỏi.
Ngoài ra không có vị thuốc nào có thể chữa khỏi được.
Viêm
Ma Vương Tử nghe vậy liền thưa với y sĩ rằng: “Thưa tiên
sinh, tôi là người từ trước đến nay không hề nóng giận.
Vậy tôi xin thành tâm nguyện móc mắt để trị bệnh cho thân
phụ”.
Chư
vị hãy suy nghĩ đây là một gương hiếu hạnh vĩ đại biết
dường nào!
* Tích
2: Ðồng tử Từ Tâm
Trong
kinh lại nói, có một đồng tử tên là Từ Tâm. Vì muốn
ra biển cả tìm châu báu để cứu tế những chúng sanh trong
cảnh bần cùng, khốn khổ. Sau khi định như vậy, đồng tử
bèn từ biệt thân mẫu của mình để ra đi.
Thân
mẫu của đồng tử vì lòng thương con tha thiết, bà e rằng
đồng tử xuống biển tìm châu báu chưa chắc đã tìm được,
nhưng sanh mạng quý báu lại bị mất. Vì thế bà không tán
thành ý kiến của con. Nhưng từ tâm muốn tìm châu báu cứu
giúp chúng sanh của Từ Tâm quá tha thiết, đồng tử không
kể đến lời can ngăn của mẹ, quyết chí ra đi.
Trước
khi đi, trong lúc nóng giận vì sự cản trở của mẹ, đồng
tử đã đến gần bà nhổ đi một sợi tóc mà không ai hay
biết. Vì hành động ngỗ nghịch bất hiếu đối với thân
mẫu như vậy, nên khi đồng tử vào trong biển cả, tự nhiên
thấy một vòng sắt nóng cháy đỏ từ không trung rơi xuống
ngay đỉnh đầu xoay tít trên ấy.
Ðồng
tử cảm thấy thống khổ cực điểm, liền lập tức phát
đại thệ nguyện rằng: “Từ này về sau, tôi nguyện nếu
có bao nhiêu tội nhân phải chịu khổ hình này, tôi xin tình
nguyện chịu thay tất cả”.
Do
sự phát nguyện rộng sâu như thế, vòng lửa cháy đỏ đang
xoay trên đầu đồng tử liền tiêu diệt.
Kinh
Khê Ðại Sư khi xem truyện ấy, có làm bài kệ:
Nghịch
mẫu tổn phát,
Thành
địa ngục tâm,
Phát
thệ lập nguyện,
Thuộc
Phật giới hiện.
Dịch:
Nghịch
với mẫu thân nhổ sợi tóc,
Tâm
ngỗ nghịch ấy thành nhân địa ngục.
Phát
thệ lập nguyện độ chúng sanh
Tức
là thiện tâm soi nơi Phật giới.
Thế
nên, chúng ta đối với cha mẹ phải luôn thực hành hiếu
đạo.
Trên
đã đề cập đến sự hiếu thuận đối với phụ mẫu, tiếp
theo xin giải thích sự hiếu thuận đối với sư tăng, Tam
Bảo. Chữ Sư trong kinh văn chỉ cho Bổn Sư Hòa Thượng, cũng
chỉ cho tam sư thất chứng. Bổn Sư Hòa Thượng và tam sư
thất chứng chẳng những có ân đức dạy dỗ chúng ta, mà
còn có trọng ân thành tựu giới thân huệ mạng cho chúng
ta.
Nếu
không có giới thân để làm gốc tu nhân thì tất cả công
đức pháp lành đều không thể sanh trưởng được. Nếu như
không có sự giáo huấn của sư trưởng thì chúng ta không
biết tu hành như thế nào. Dù có tu đi nữa, cũng lạc vào
đường lối tu hành mù quáng, không có hy vọng được thành
Phật.
Thâm
ân trọng đức vĩ đại này hoàn toàn từ nơi bậc sư trưởng
đã ban cho chúng ta. Cho nên đối với sư trưởng chúng ta phải
hết lòng thờ kính, phụng dưỡng và hiếu thuận, không được
trái nghịch, để khả dĩ gọi là báo bổ một phần trong
muôn một thâm ân trọng đức này!
Tam
Bảo nghĩa là Phật, Pháp, Tăng. Phật là đấng Ðạo Sư trong
tam giới. Pháp là hoằng quy xuất thế gian. Tăng là đệ tử
Như Lai, người thay thế cho Phật tuyên dương chánh pháp, lợi
ích quần sanh. Phật, Pháp, Tăng gọi là Tam Bảo, là phước
điền tốt của muôn loài, là từ phụ của tứ sanh. Có công
năng thành tựu huệ mạng cho chúng sanh. Huệ mạng của chúng
ta hoàn toàn nương nhờ sự huân tu trong ngôi Tam Bảo mà thành.
Nếu
không có sự huân tu trong ngôi Tam Bảo thì chúng ta nhờ đâu
mà được huệ mạng cho đến chứng đắc quả Vô Thượng
Bồ Ðề? Vì thế, thâm ân trọng đức của Tam Bảo đối
với chúng ta thật vĩ đại, không thể nào hình dung và đo
lường.
Cho
nên là một Phật tử đối với ân sâu dường bể cả của
Tam Bảo, phải khéo léo cung kính, phụng dưỡng, hết lòng
hiếu thuận, tôn trọng, không được trái nghịch, mới có
thể đền đáp thâm ân trong muôn một. Nếu không như thế,
thì không xứng đáng là người đệ tử của Tam Bảo.
Tóm
lại:
Cha
mẹ có công sanh thành dưỡng dục. Sư tăng có công giáo huấn
dẫn dắt. Tam Bảo có ân cứu độ. Thế nên chúng ta nhất
thiết phải hiếu thuận. Hiếu thuận đối với cha mẹ, sư
tăng, tam bảo là đồng với vâng giữ giới cấm của Như
Lai, nên gọi hiếu thuận là cương lãnh của giới pháp. Ðây
là một giá trị đặc biệt, chúng ta phải chiêm nghiệm, nghiên
cứu và tôn trọng triệt để.
Thông
thường, thế nhân không hiểu rõ giới pháp và hiếu thuận
tuy dị danh nhưng đồng nhất thể. Nên khi nhìn thấy những
người xuất gia, cát ái từ thân, không nuôi dưỡng cha mẹ,
cạo râu, bỏ tóc, đem thân giam hãm nơi chốn thiền môn thanh
tịnh hay chốn lan nhã tịch tĩnh; họ liền cho rằng hành động
ấy là đại bất hiếu. Vì thế, họ kết luận Phật giáo
là một tôn giáo không xem trọng Hiếu đạo.
Quan
niệm ấy thật vô cùng sai lầm! Phải biết giới pháp của
Phật là hiếu đạo, bao dung tất cả. Không thể cho Phật
pháp là quên đạo hiếu thuận. Phật pháp chẳng những không
quên hiếu đạo mà trái lại còn xem đó là điều tối trọng
yếu.
Do
vậy, nên trong Tây Quy Trực Chỉ quyển 3 của bộ An Sĩ Toàn
Thư, có chương mang đề mục “Ðại hiếu nhân bất nguyện
nhập thai” (người đại hiếu không nguyện nhập vào thai
mẹ) thuyết minh như sau:
Thần
thức con người khi gá vào thai mẹ, chẳng những tự mình
bị khổ, mà chính cũng làm cho mẫu thân thọ đại khổ.
-
Ðây xin nói về nỗi khổ khi còn ở trong thai và lúc thoát
thai. Khi còn trong thai, hài nhi nằm ở dưới sanh tạng, trên
đại trường. Ban đầu hình thể dường như váng cháo, sau
đó như cái bóng nước, tiếp tục triển chuyển đổi thay
dần dà thành hình. Lúc ở trong bào thai hoàn toàn không được
tự do, lại chịu nhiều thống khổ, khi mẹ ăn đồ nóng,
thai khác nào như bị nước sôi rưới và thân; khi mẹ ăn
thức lạnh, thai nhi dường nằm trên băng tuyết.
-
Chỗ ở là nơi hoàn toàn không tinh khiết, thức ăn đều là
máu huyết bất tịnh. Thời kỳ hoài thai tuy không quá ba trăm
ngày mà sự thọ khổ dài gần 20 năm, nên trong kinh gọi là
“thai ngục”. Ðến khi đã đầy đủ ngày tháng, hài nhi
lộn ngược, đầu hướng xuống sản môn, hình chất dần
dà to lớn, muốn tìm lối ra cũng không biết phải làm sao!
Thế
là con đường tự tử chính ở giờ phút này, mà nhân duyên
giết mẹ cũng ngay giờ phút này. Lúc sanh, bà mụ kéo hài
nhi từ bụng mẹ ra, nỗi đau ấy hài nhi cảm thấy dường
như bị xe cán. Vì thế, khi vừa ra khỏi thai, không một hài
nhi nào mà không cất tiếng khóc. Tiếng khóc nghe chừng âm
vang hai chữ: “Khổ a! Khổ a!”
Khi
ra khỏi thai, trẻ chưa nhận thức được thế nào là dơ sạch,
bò lết nằm ngồi trên phẩn uế. Cho dù người đại phú
quý hay bậc đại thánh, đại hiền cũng vẫn như vậy. Nhưng
vì mọi người đã quen chấp nhận, nên cho là luật tự nhiên,
không lưu tâm đến những điểm đó.
Nhưng
nếu là kẻ có tâm tỉnh ngộ, những lúc đêm khuya thanh vắng,
tự mình suy ngẫm, lẽ nào không cảm thấy buồn chán hổ
thẹn! Lúc lâm bồn hài nhi chịu thống khổ đã đành, nhưng
người mẹ lại càng muôn vàn nỗi thống khổ lẫn hổ thẹn.
Từng phút giây đối diện với tử thần, mỗi niệm, mỗi
niệm, sợ sanh khó được. Nếu may mắn qua khỏi, sống lại,
khi vừa thấy hài nhi thì bao nhiêu đớn đau, hổ thẹn đều
quên mất, lòng mẹ thương yêu quý trọng con dường như châu
ngọc.
Từ
đây lo chăm sóc, ẵm bồng, cho ăn, cho bú, nằm nơi ẩm ướt,
nhường chỗ khô ráo cho con. Khi sanh nở, bao nhiêu tinh huyết
đều tiêu mòn, nỗi khổ của từ mẫu nói sao cho cạn.
Nên
xưa kia có thầy sa-di mới bảy tuổi xuất gia, tinh tấn tu
hành. Sau khi đắc đạo Lục Thông, thầy dùng Túc Mạng Thông
tự biết rõ những đời quá khứ của mình. Thầy xúc động
than rằng:
-
Chỉ một thân ta đây mà làm khổ lụy không biết bao nhiêu
bà mẹ. Ở đây, ta chỉ nói sự thống khổ của năm bà mẹ
thôi. Khi làm con của bà mẹ thứ nhứt, gần nhà một sản
phụ cũng sanh một nam tử như ta. Riêng ta đoản mạng, mỗi
khi mẹ ta nhìn thấy con bà hàng xóm trưởng thành liền sanh
lòng buồn rầu, khổ não. Khi làm con bà mẹ thứ hai, ta cũng
lại chết sớm. Mẹ ta nếu thấy người cho con bú liền sanh
lòng buồn khổ. Ðến khi làm con người thứ ba, mới lên mười
tuổi, ta cũng qua đời. Mẹ ta mỗi khi thấy con của người
khác ăn uống như ta, thì đâm ra đau buồn, khổ não. Khi làm
con bà mẹ thứ tư, chưa nói đến cuộc hôn nhân thì ta đã
chết. Mẹ ta trông thấy những thanh niên trang lứa như ta,
có cha mẹ đi kết thông gia và cưới vợ, thì cũng buồn rầu
đau khổ vô cùng. Hiện tại làm con bà mẹ thứ năm, ta mới
bảy tuổi, theo thầy xuất gia, học đạo, mẹ ta ở nhà trơ
trọi một mình, mỗi khi nhớ đến con, quên ăn, bỏ ngủ sanh
ra đau buồn khổ não.
Chao
ôi! Chúng sanh ở trong vòng luân hồi sanh tử có vui thú gì?
Mỗi khi thọ sanh chỉ làm khổ lụy cho mẹ như thế. Vì vậy,
sau khi xa lìa cha mẹ, ta tinh tấn học đạo chuyên tu, hôm nay
đạo quả đã viên thành...
Hiện
nay trên khắp nẻo đường thênh thang xuôi ngược, bao nhiêu
lữ hành lại qua nhộn nhịp như thoi đưa. Ðại đa số đều
là những kẻ làm khổ lụy cho cha mẹ, có mấy ai biết báo
đáp công ơn dưỡng dục sanh thành?
Nếu
suy gẫm cho kỹ, thoát thai một đời làm khổ lụy cho cha mẹ
một đời; thoát thai trăm ngàn muôn ức đời làm khổ lụy
cho cha mẹ đến trăm ngàn muôn ức đời, chẳng phải thật
đáng buồn hay sao?
Thế
nên Ðại Thánh Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta thương xót
thế gian, Ngài dạy chúng ta nhứt tâm niệm Phật, cầu sanh
Tây Phương Tịnh Ðộ, hóa sanh nơi hoa sen. Tự mình đã tránh
khỏi được hoạn nạn về sanh khổ, mà đối với cha mẹ
cũng vĩnh viễn tránh được sự gây khổ lụy cho từ thân.
Ðó chẳng phải là hạnh đại hiếu của bậc đại hiếu
hay sao?
Thế
nhưng, có lắm người không tin Phật, họ trở lại phỉ báng
Phật, cho rằng những người xuất gia là đại bất hiếu.
Ấy là họ cam lòng chịu ở trong thai ngục, cũng như làm khổ
lụy cho mẫu thân!
Truyện
ngắn trên đây cho chúng ta thấy đạo hiếu thuận trong Phật
pháp là hàm dung tất cả.
Ở
đây, những Phật giáo đồ thuần chánh, đôi lúc cũng có
thể phát sanh nghi vấn: “Ý nghĩa giới pháp trong Phật pháp
rất rộng lớn, còn hiếu thuận thông thường của thế tục
đâu thể nào là cùng tột, để sánh với nghĩa giới pháp
của Phật?”
Nên
biết rằng: Hiếu thuận trong Phật pháp giảng nói, không phải
là thứ hiếu thuận thông thường trong thế tục.
Tại
sao vậy? Vì quan niệm về hiếu thuận của thế tục, mọi
người nếu quả có thể thực hành được thì chẳng qua chỉ
thu được tiểu quả của cõi nhân thiên mà thôi. Ngược lại,
quan niệm hiếu thuận của Phật pháp rộng lớn dường như
hư không.
Nếu
có thể thực hành được thì thâu hoạch được quả vị
Vô Thượng Bồ Ðề, cho nên trong kinh văn nói hiếu thuận
là pháp chí đạo. Không phải là thứ hiếu thuận phục lao,
phụng dưỡng thông thường.
Trong
Vu Lan Bồn Sớ thuyết minh:
Khể
thủ tam giới chủ,
Ðại
hiếu Thích Ca tôn,
Lịch
kiếp báo thâm ân,
Tích
nhân thành Chánh Giác.
Dịch:
Cúi
đầu đảnh lễ Tam Giới Chủ
Thích
Ca Mâu Ni đại hiếu tôn
Nhiều
kiếp đáp đền ơn cha mẹ,
Chứa
nhóm nhân lành thành Chánh Giác.
Cực
đỉnh của vô thượng Phật quả là do báo đáp thâm ân của
song thân mà thành, thì đâu phải là thứ hiếu thuận của
thế gian? Hiếu thuận với song thân sẽ được đắc thành
quả Phật và bất hiếu với song thân lẽ đương nhiên phải
thọ quả khổ. Nói vậy để thấy rằng quả báo sướng,
khổ của thế gian và xuất thế gian đều do nơi hiếu hoặc
bất hiếu chiêu cảm nên, tức là do nơi trì giới hay không
trì giới mà thọ lãnh vậy.
Phần
trên giải thích câu: “Hiếu thuận chí đạo chi pháp”. Theo
sự dẫn giải này, chúng ta thấy rõ hiếu thuận cùng pháp
giới tuy dị danh nhưng đồng nhất thể.
Nên
Ðức Phật dạy tiếp: “Hiếu danh vi Giới” (Hiếu gọi là
Giới). Theo quan niệm trong Phật pháp, hiếu thuận đứng về
mặt thời gian, chẳng những trong đời hiện tại, bổn phận
làm con, không phân biệt nam nữ, dù hết lòng hầu hạ, phụng
dưỡng, cúng dường cho cha mẹ, cũng chưa được xem là hoàn
toàn hiếu thuận và đền đáp thâm ân cha mẹ đầy đủ;
mà phải làm thế nào cho cha mẹ sanh tín tâm đối với Tam
Bảo, từ trong Tam Bảo tu học, để thâm tâm được giải
thoát. Ðó mới chính thật là đại hiếu hạnh theo quan niệm
của Phật pháp.
Trên
thế gian này nếu nói về bậc chân chánh, có đầy đủ tư
cách thực hành hạnh đại hiếu, thì phải suy tôn đức Thích
Ca Mâu Ni Phật của chúng ta. Khi thành đạo, Ngài chẳng những
riêng vì cha mẹ hiện đời thuyết pháp, mà còn muốn đền
đáp công ơn của cha mẹ nhiều đời. Nên khi hóa độ chúng
sanh, lúc giảng đến vấn đề hiếu thuận với cha mẹ, Ngài
dạy chúng ta phương thức làm thế nào để thể hiện hạnh
hiếu thuận với cha mẹ hiện đời, luôn cả đối với cha
mẹ nhiều đời, nhiều kiếp.
Theo
quan điểm của Phật pháp mà nói, chẳng những như trong kinh
Phạm Võng nhấn mạnh: “Nhứt thiết nam tử thị ngã phụ,
nhứt thiết nữ nhơn thị ngã mẫu” (tất cả người nam
đều là cha của ta; tất cả người nữ đều là mẹ của
ta), mà tất cả chúng sanh bao gồm nhân loại đến các loài
hữu tình khác, không một chúng sanh nào không phải là cha
mẹ của chúng ta. Vì từ vô thỉ cho đến ngày nay, chúng ta
trôi lăn trong vòng sanh tử, thì không có chúng sanh nào không
từng làm cha mẹ của chúng ta. Chẳng qua vì luân hồi nhiều
kiếp thay hình đổi dạng nên không còn nhận ra lẫn nhau,
chỉ biết cha mẹ trong đời hiện tại của mình, còn với
tất cả người khác không cho là cha mẹ.
Cũng
vì không biết tất cả chúng sanh đều là cha mẹ của mình
nên tâm lượng của chúng sanh vô cùng hạn hẹp. Vì muốn
mở rộng lòng dạ của chúng ta, Ðức Phật đã nhiều phen
đặc biệt khai thị rằng: “Nhất thiết chúng sanh giai thị
phụ mẫu”. Như thế, đối với tất cả chúng sanh, nếu
chúng ta đồng thực hành sự không sát sanh, không trộm cắp...
phải biết đó chính là nghiêm trì tịnh giới.
Chúng
ta đối với tất cả chúng sanh, nếu đã xem là cha mẹ của
mình thì cần phải cung kính, tôn trọng, không chút khinh suất.
Ðó chính là hiếu thuận. Cho nên ý nghĩa sở tại của hiếu
thuận chính là giới hạnh đầy đủ. Chính vì như thế, trong
phần kinh văn phía sau, khi giảng đến mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh, rất nhiều giới, Ðức Phật đề
cập đến tâm hiếu thuận, tâm cung kính, tâm từ bi.
Tất
cả tâm này lại xuất phát từ tâm hiếu thuận mà lưu lộ.
Tất cả đều lấy tâm hiếu thuận làm căn bản. Do đó, chúng
ta thấy rõ hiếu thuận tức là giới pháp.
Vì
thế, hành giả trong Phật pháp, bất luận tại gia hay xuất
gia, nếu không thể chân chánh thực hành hiếu đạo, tức
không phải chơn tâm học Phật và cũng sẽ không được thọ
dụng pháp vị trong Phật pháp. Như vậy, là Phật tử nói
riêng, tất cả nhân loại nói chung, không nên khinh thường
bỏ qua hạnh hiếu thuận, nếu không muốn nói là phải hết
sức xem trọng.
Ðại
Thừa Bồ Tát giới tức Tam Tụ Tịnh Giới, dù bàn luận ý
nghĩa ra thì rất sâu rộng, không cùng tận. Nhưng nếu đem
so sánh với ba câu trong Nho Giáo của Trung Hoa về đạo hiếu
thuận đối với cha mẹ thì nội dung tư tưởng rất phù hợp
với Tam Tụ Tịnh Giới. Ba câu ấy như sau:
1.
Bất nhục kỳ thân (không làm cho cha mẹ bị nhục)
Ý
nói phận làm con phải triệt để tránh mọi hành vi, cử chỉ
trong cuộc sống khả dĩ làm cho cha mẹ chúng ta bị sỉ nhục.
Nếu thường giữ tâm niệm không làm cho cha mẹ bị sỉ nhục,
thì lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ làm những việc
trái với đạo đức nhân sinh, cũng như những tội ác vi phạm
pháp luật.
Nên
Nhạc Chánh Tư Xuân nói: “Nhứt cử túc nhi bất cảm vong
phụ mẫu; nhứt xuất ngôn chi bất cảm vong phụ mẫu; thị
cố ác ngôn bất xuất ư khẩu, phẫn ngôn bất cập ư thân.
Bất nhục kỳ thân, bất sỉ kỳ thân, khả vi hiếu hĩ”
(Mỗi khi giở chân không dám quên ơn cha mẹ, mỗi khi thốt
lời cũng không dám quên ơn cha mẹ.Thế nên, lời nói ác không
bao giờ thốt ra khỏi miệng, những lời nói tức giận cũng
không đến nơi thân mình được. Giữ gìn bản thân không
bị sỉ nhục, cũng không làm cho song thân bị sỉ nhục. Như
thế có thể gọi là hiếu vậy).
Phải
thực hành thế nào để có thể đạt đến mức độ nói
trên? Muốn vậy, chỉ có việc duy nhất là vâng giữ Nhiếp
Luật Nghi Giới của Bồ Tát. Vì công hiệu tối đại của
Nhiếp Luật Nghi Giới là khiến cho chúng sanh không làm tất
cả những tội ác.
Chúng
ta lúc sinh tồn trên thế gian nếu có thể tránh làm tất cả
những tội ác thì tất cả mọi sự đều quang minh chánh đại,
nào ai dám xem thường mình, cũng như khinh nhục cha mẹ mình.
Sở
dĩ cha mẹ bị người hủy nhục chỉ vì con cái tạo gây việc
lỗi lầm. Tỷ như người đó trộm cướp, giết người, thì
dư luận sẽ nói kẻ đó là con của ông đó, bà đó... do
không chịu quan tâm đến sự giáo dục con cái nên mới xảy
ra những việc đồi phong bại tục như thế... Thật là oan
uổng cho cha mẹ biết dường nào! Sự sỉ nhục ấy không
phải là do con cái gây nên hay sao?
Nếu
phụng hành Nhiếp Luật Nghi Giới của Bồ Tát nghiêm túc thì
không bao giờ làm cho cha mẹ bị sỉ nhục, hay nói khác đi,
đó chính là sự chân thật hiếu thuận đối với song thân.
2.
Hiển dương phụ mẫu (làm cho cha mẹ được vinh hiển)
Ý
nói phận làm con dù nam hay nữ, mọi hành động, cử chỉ
đều phải làm cho cha mẹ được vinh diệu, hân hoan, rạng
rỡ mày mặt.
Ðức
Khổng tử nói: “Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế,
dĩ hiển kỳ phụ mẫu, hiếu chi chung dã” (đạo làm con phải
lo lập thân hành đạo, để tiếng tốt cho đời sau, làm cho
cha mẹ được hiển vinh, đấy là trọn với hiếu đạo vậy).
Trung
Hoa ngày xưa dùng bộ Tam Tự Kinh để dạy vỡ lòng cho trẻ
con, trong ấy cũng nói: “Dương danh thanh, hiển phụ mẫu”
(đạo làm con phải làm sao cho thanh danh của mình được hiển
đạt, khiến cho cha mẹ được rỡ ràng mày mặt).
Nếu
chúng ta có học vấn quảng bác, trí thức phong phú, phẩm
tánh cao thượng thì dù ở bất cứ xã hội nào, quốc gia
nào, đều có danh dự lành tốt, được mọi người tôn kính.
Từ đó, thanh danh chúng ta được lan truyền rộng rãi. Tự
bản thân đã có thanh danh lành tốt, đương nhiên cha mẹ cũng
được vinh quang vô hạn. Ngược lại, cha mẹ sẽ cảm thấy
tủi nhục, xấu hổ vô cùng.
Nhưng
làm thế nào để cha mẹ được hiển vinh?
Chỉ
duy nhất cố gắng vâng giữ Nhiếp Thiện Pháp Giới của Bồ
Tát. Vì Nhiếp Thiện Pháp Giới có công dụng khiến chúng
sanh thực hành tất cả việc thiện. Chúng ta sanh tồn trên
thế gian, nếu có thể tận lực đem hết khả năng, thậm
chí hy sinh lợi ích cá nhân để làm những việc lợi ích
cho nhân quần, xã hội, thì mọi người sẽ ca ngợi: “Người
ấy rất nhiệt tâm đối với việc giáo dục trong xã hội
và mọi công tác từ thiện, thật là một người hiếm có.
Người ấy là con trai, con gái của ai? Ồ! Vốn là con của
ông ấy, bà ấy. Có được một người con trai như thế hẳn
ông cha cũng như thế. Có được một người con gái như thế,
hẳn là bà mẹ cũng như thế. Tốt thay! Quý thay!”
Chỉ
một lời khen ngợi như thế cha mẹ cảm thấy vinh diệu vô
cùng. Cho nên muốn thực hành được bốn chữ “quang tông
diệu tổ” của người Trung Hoa nói, chỉ duy nhất là y theo
Nhiếp Thiện Pháp Giới của Bồ Tát mà thực hành, nên có
tể nói trì giới chính là hiếu thuận vậy.
3.
Tứ loại bất quỹ (ban bố cho nhân loại không thiếu sót)
Ý
nói đạo làm con, ngoài vấn đề chính tự bản thân thực
hiện hiếu thuận với mẹ cha, còn nên khuyên bảo mọi người
đều nên hiếu thuận với cha mẹ, làm cho tất cả đều thấm
nhuần trong hạnh hiếu thảo, không bỏ sót một cá nhân nào.
Cổ đức giải thích câu “tứ loại bất quỹ” như sau:
Tứ là ban bố, quỹ là thiếu sót.
Ý
nói: Tự mình đã thực hành hiếu đạo, lại còn đem hạnh
hiếu rải đều, ban bố cho tất cả chúng sanh, chẳng để
thiếu sót mọi ai. Ðó chính là dùng thân mình làm phép tắc,
tự mình hiếu thuận với cha mẹ, lại còn phải “khổ khẩu
bà tâm” khuyên người hiếu thuận với cha mẹ để làm tròn
bổn phận làm con. Nếu như không hiếu thuận với cha mẹ,
đó chính là phạm tội ác lớn.
(“Khổ
khẩu bà tâm” là một thành ngữ. “Khổ khẩu” đồng nghĩa
với “khổ ngôn”: lời nói dùng để khiển trách, răn đe
mọi người chừa bỏ những việc làm gây tạo lỗi lầm và
tội ác, nên thường là nghịch tai mọi người. “Bà tâm”
là lòng từ lành. Nói chung thành ngữ này có nghĩa là vì lòng
từ lành, không quản mệt nhọc, đem lời khiển trách răn
đe, khiển trách chúng sanh từ bỏ tội ác, lỗi lầm).
Làm
thế nào để mình và mọi người thực hành hạnh hiếu thuận?
Chỉ
có vâng giữ Nhiếp Chúng Sanh Giới của Bồ Tát giới. Vì
lực dụng tối đại của Nhiếp Chúng Sanh Giới chính là hóa
độ cho tất cả chúng sanh, khiến tất cả đều được vào
Phật đạo.
Bất
cứ người tu hành nào đã vào được trong Phật Pháp, thì
không ai chẳng hiếu thuận với cha mẹ. Chẳng những đối
với cha mẹ hiện đời, mà cả với cha mẹ nhiều đời quá
khứ, đều mong mỏi cho các vị được độ thoát.
Nếu
như không y chiếu thực hành theo Nhiếp Chúng Sanh Giới thì
không bao giờ đạt được mục đích ấy. Vì thế nếu có
thể thực hành Nhiếp Chúng Sanh Giới một cách nghiêm cẩn,
tức là thể hiện hạnh hiếu thuận với cha mẹ từ vô thỉ
đến hiện tại. Như vậy, chúng ta đủ thấy hiếu thuận
tức là Trì Giới.
Phần
trên đã giải thích câu “hiếu danh vi giới”. Tiếp theo
đây xin giải thích câu “diệc danh chế chỉ” (cũng gọi
là cấm ngăn).
Chữ
“chế” có nghĩa là định ra với tính cách bó buộc để
chống lại điều gì. Ở đây, có nghĩa là chế ngự ba nghiệp
không cho tạo tác các điều ác quấy. Chữ “chế” ở đây
còn có nghĩa là chế định, quy định ra những pháp lành cần
phải thực hiện rốt ráo.
Chữ
“chỉ” có nghĩa là dừng lại, nghĩa là ngăn các vọng niệm,
không cho sanh khởi và loạn động. Chữ “chỉ” còn có nghĩa
là ngưng ngay tất cả mọi ác pháp, không được tiếp tục
tạo tác, như không được sát sanh, trộm cắp, tà dâm... chính
là phạm vi của chữ Chỉ.
Nên
biết rằng: Ngăn dứt tất cả tội ác không làm nữa, có
nghĩa là “chỉ trì”. Ðó chính là điều cấm chỉ trong
hạnh hiếu thuận.
Còn
như phóng sanh, bố thí, tu phạm hạnh ấy chính là Tác Trì,
nghĩa là pháp chế trong tâm hiếu thuận. Cho nên hiếu thuận
gọi là Chế Chỉ.
Trong
kinh, Phật dạy:
Chư
ác mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành.
Tự
tịnh kỳ ý,
Thị
chư Phật giáo.
Dịch:
Ðừng
làm điều ác,
Vâng
làm việc lành.
Tự
giữ thanh tịnh,
Chính
lời Phật dạy.
Bài
kệ trên giải thích hai chữ “chỉ trì” rất thấu đáo.
Theo
sự thuyết giảng bên trên, chúng ta thấy hiếu đạo trong
Phật pháp mang tính siêu việt hơn hiếu đạo của Nho gia cũng
như hiếu đạo thông thường ở thế gian. Tại vì sao?
Vì
hiếu đạo trong Phật pháp mang ý nghĩa giới pháp - Hiếu gọi
là Giới. Hiếu đạo của Phật pháp chẳng những có tính
chất bình đẳng, rộng lớn và bao dung, mà còn lìa khổ được
vui, thú hướng quả vô thượng Bồ Ðề tối cao là mục đích.
Khi mới thành đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, Ðức
Phật kiết giới Bồ Tát này, Ngài đã dạy như thế. Chính
ngay trên hội Niết Bàn, trong kinh Di Giáo, Ðức Phật cũng
dạy: “Này các tỳ kheo! Sau khi ta diệt độ, các ông phải
trân trọng tôn kính Ba La Ðề Mộc Xoa như người trong bóng
tối gặp được ánh sáng, người nghèo được của báu. Các
ông nên biết Ba La Ðề Mộc Xoa tức là vị đại sư của
các ông. Hãy xem giới pháp này như ta còn trụ thế không khác.
Ba La Ðề Mộc Xoa chính là Giới, Ðại Sư của các ông chính
là Hiếu!”
Do
đó, chúng ta thấy giáo pháp suốt thời đại của Ðức Phật
đã tuyên thuyết, trước sau đều lấy Hiếu là giới, Hiếu
làm chế chỉ. Ðiều này thể hiện trong toàn bộ giáo pháp
của Phật và trong kinh này, trước sau cũng đều nhất quán
như thế.
Hành
giả Bồ Tát nếu không trái nghịch với mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh thì chẳng những thuận với bổn
nguyên Tâm Ðịa, cũng như đối với Tam Tụ Tịnh Giới mà
còn là hiếu thuận với tất cả. Làm con, không phân biệt
trai gái, đều phải hiếu thuận với cha mẹ. Có thể nói
đó là việc thiên kinh địa nghĩa (đạo của trời, nghĩa
của đất), xưa nay không bao giờ thay đổi, không được hoài
nghi. Nhưng muốn biết hiếu chân hay giả, cần phải khảo
nghiệm.
Giờ
đây, xin kể một câu chuyện có thật như sau:
Vào
thời xưa tại Trung Quốc, có một ông cụ tuổi đã cao. Bà
cụ đã qua đời, chỉ còn một mình ông sống với ba người
con. Cụ ông là người tiền của rất nhiều, ruộng vườn
không kể xiết; nhưng thân thể ông lại mang nhiều bệnh tật.
Sau
khi cụ bà mãn phần một thời gian, ông đem tài sản chia ra
làm bốn phần bằng nhau. Mỗi phần gồm một ngàn vạn quan
tiền, thêm ruộng đất thật nhiều. Ba phần gia sản được
cấp cho con trưởng, con thứ và con út. Còn lại một phần
ông để dành làm phần dưỡng lão cho mình.
Sự
phân chia rất công bằng của ông khiến các người con không
ai phản đối đuợc. Nhưng vì cho rằng ông còn giữ một phần
gia sản to lớn, nên người con cả nảy sinh ý định chiếm
đoạt. Anh ta đến thưa với cha rằng: “Con xin thỉnh phụ
thân về nhà ở, con nguyện phụng dưỡng phụ thân trong lúc
tuổi già và cố gắng làm cho phụ thân được vui lòng trong
những ngày già”.
Cậu
con thứ hai cũng đồng tâm trạng tranh đoạt phần gia tài
còn lại nên cũng thưa với cha: “Con nguyện giúp cho phụ
thân du lịch ngoại quốc, con sẽ theo hầu để phụ thân được
nhìn thấy sự phong quang trên thế giới. Nhãn quan của phụ
thân sẽ được mở rộng, tâm hồn sẽ được thơ thới trong
những ngày già”.
Riêng
phần người con út sau khi cha chia gia tài, cậu không biểu
lộ bất cứ thái độ nào. Cũng không thốt một lời nào,
lúc nào cũng im lặng, trầm ngâm.
Nhìn
vẻ bên ngoài, ai cũng nghĩ hai người con lớn thật hiếu thảo,
và cậu con út dường như bất hiếu. Người cha muốn khảo
nghiệm các con của mình để biết xem người nào chân thật
hiếu thảo. Ông cho gọi cả ba về nhà và bảo rằng: “Cha
cho các con biết: Gia tài của cha đã chia làm bốn phần, đã
cho các con ba phần. Riêng phần của cha, cha đã đem trợ giúp
cho cơ quan từ thiện. Hiện nay cha không còn một đồng, lại
thêm thân mang bệnh mỗi ngày một trầm trọng. Từ đây về
sau, cha cần nương vào các con, để nhờ các con chăm sóc sức
khỏe, điều trị bệnh hoạn và cung cấp sự sống hằng ngày”.
Ba
người con khi nghe cha nói xong, đều có phản ứng khác nhau.
Cậu con cả trong lòng tự nghĩ: “Tưởng gia tài của ông
còn nguyên, té ra trong tay không còn một đồng. Vậy ta cũng
không cần nuôi dưỡng ổng làm gì”. Sau khi suy nghĩ như vậy,
cậu ta liền thưa rằng: “Thưa phụ thân, lẽ ra con phải
rước phụ thân về nhà con ở, nhưng nhà con chật hẹp, con
nít lại đông, e rằng phụ thân không được yên ổn lúc
tuổi già. Theo con nhận thấy, tốt nhứt phụ thân nên đến
nhà chú hai ở vì chú hai trước đây có hứa giúp cho phụ
thân đi du lịch ngoại quốc. Chú sẽ giúp phụ thân được
toại nguyện”.
Cậu
thứ hai vừa nghe anh cả nói xong, vội tiếp lời: “Thưa cha,
sức khỏe của cha hiện nay đã suy yếu, đối với sự du
lịch thật không còn thích hợp. Còn việc về nhà con ở thì
rất bất tiện, vì nhà con chật hẹp. Hơn nữa, con phải ra
ngoài công tác, không ai ở nhà lo cơm cháo cho cha. Theo con thấy,
cha nên về nhà chú ba ở tiện hơn!”.
Cậu
thứ ba nghe hai anh nói vậy, không cần suy nghĩ liền thưa rằng:
“Con xin thỉnh cha về nhà để con lo lắng cho cha, con cố
gắp giúp cha vui sống lúc tuổi già và sẽ rước lương y
điều trị bệnh hoạn cho cha. Tốn hao bao nhiêu cũng được,
xin cha yên tâm đừng nghĩ đến. Con chỉ mong cha được mạnh
khỏe, khang kiện là con mừng!”
Nghe
xong ông cụ liền nói rằng: “Việc ấy đâu có được, gia
tài cha cho con, để con lo cho gia đình con sau này. Con phải
giữ gìn cho kỹ. Cha nay tuổi đã già, bệnh lại trầm trọng
thế này, sống được ngày nào thì sống, con chớ bận tâm
lo lắng, cần gì phải rước lương y!”
Cậu
út thưa rằng: “Xin cha đừng nghĩ như thế! Tài sản của
cha cho con là những giọt mồ hôi và nước mắt của cha từ
bao nhiêu sự thống khổ mà có ra. Hiện nay trong tay cha không
còn đồng nào nữa, thì phần tài sản của con, con xin đem
toàn bộ để lo cho cha. Còn sự sống của vợ con của con
về sau, con và chúng nó tự lo để duy trì đời sống. Con
đâu nỡ thấy cha bệnh hoạn mà không lo lắng”.
Sau
khi nghe cậu thứ ba thành khẩn chí thiết thưa như trên, cụ
ông vô cùng cảm động, bảo rằng: “Con thật là đứa hiếu
tử chơn thật. Con đối với cha hoàn toàn không có bất cứ
tham vọng nào về tài sản. Giờ đây, cha công khai tuyên bố
với ba con: Số gia tài một ngàn vạn quan và ruộng đất của
cha không hề có sự trợ giúp cho cơ quan từ thiện nào cả.
Hôm nay cha rất an tâm mà đem toàn bộ tài sản của cha giao
cho đứa con thứ ba này. Tương lai, hai anh của con nếu lúc
nào thật túng thiếu, có thể đến nơi con lấy tiền tiêu
xài. Cha tin chắc đứa con út sẽ cấp cho hai anh của nó. Tốt
lắm! Lời nói của cha đến đây là kết thúc. Ai chân thật
hiếu thuận, ai giả vờ hiếu thuận, ta đã thấy minh bạch
lắm rồi!”
Qua
câu chuyện trên, chúng ta thấy muốn khảo nghiệm con cái hiếu
thuận hay không, không phải trong lúc giàu có mà chính trong
lúc nghèo khốn mới có thể thấy được những đứa con chân
thật hiếu thuận.
Trung
Hoa có câu: “Hàn môn xuất hiếu tử” (nhà nghèo sanh con
hiếu). Ðây thật là câu danh ngôn chí lý, vì hầu như chỉ
những gia đình nghèo mới có thể xuất sanh con thảo.
Những
gia đình giàu có thường khi vừa sanh con ra đã mướn vú nuôi
dưỡng. Kết quả tình thương yêu giữa đứa trẻ với cha
mẹ trở nên nhạt nhẽo, không gắn bó bằng tình thương với
vú nuôi. Ðó là một trong những nguyên nhân làm cho tâm hiếu
thuận khó phát sanh. Những đứa con dễ có quan niệm sai lầm,
cho rằng bổn phận cha mẹ phải cung cấp cho chúng mọi nhu
cầu. Ðó là việc cha mẹ chúng cần phải làm và đương nhiên
phải làm. Ðây không phải nói tất cả gia đình giàu có đều
không thể có được hiếu tử, nhưng là trường hợp thật
hiếm hoi đó thôi.
Căn
cứ vào tình trạng xã hội hiện nay, chúng ta có thể thấy
có nhiều gia đình giàu có, chỉ vì vấn đề phân chia tài
sản không vừa ý con cái mà xảy ra những thảm kịch tranh
giành đến nỗi gây nên cảnh đổ máu. Ðôi khi con cái còn
loạn ngôn, mắng nhiếc cha mẹ bằng những ngôn từ thật
vô lễ, chẳng hạn chúng gọi cha mẹ là “lão già này, mụ
già kia... sao không chết phứt cho rồi!”
Trái
lại trong những gia đình bần hàn, sự nuôi dưỡng con cái
do một tay cha mẹ đảm trách. Những đứa con khi khôn lớn,
nghĩ nhớ nỗi tân khổ của mẹ cha, nào ẵm bồng, nâng niu,
nuốt đắng, nhường ngọt để nuôi dưỡng cho mình được
nên người. Nay đã đến tuổi trưởng thành, sức lực dồi
dào khỏe mạnh, có thể tự lập mưu sinh cho gia đình. Nhất
là nhận thấy cha mẹ đều đến tuổi già, nếu bản thân
mình không lo phụng dưỡng thì biết còn ai? Do suy nghĩ như
vậy, tâm hiếu thuận tự phát một cách chân thành, chúng
nó sẽ hết lòng phụng dưỡng cha mẹ.
Như
thế, chúng ta thấy rằng: Bậc làm cha mẹ không nhất thiết
phải vì con cái tích lũy tiền của thật nhiều; cũng không
nên quá vì con mà đem thân làm trâu ngựa!
Sách
Nho có câu: “Nhi tôn tự hữu nhi tôn phước, mạc vị nhi
tôn tác mã ngưu” (con cháu tự có phước phần của con cháu,
đừng vì con cháu mà làm trâu ngựa). Chính là vì ý đã nói
ở phần trên vậy.
Nếu
như chỉ vì con cái mà chuyên lo tích lũy tiền của, thì rốt
cuộc chỉ làm gia tăng tội lỗi cho chúng. Do đó, bậc làm
cha mẹ, nếu ý thức đúng đắn đường lối ái hộ con cái,
thì một phải un đúc tư tưởng đạo đức, hiếu thuận cho
con cái. Một mặt phải vun trồng tài năng và kiến thức phong
phú, giúp chúng có được nghề nghiệp vững vàng, thì đương
nhiên chúng có thể độc lập trong cuộc mưu sinh. Ðây mới
chính thực là sự thương yêu chính đáng.
Nhưng
dù xuất thân từ nơi bần hàn hay phú quý, phận làm con phải
luôn tưởng nhớ công ơn cha mẹ trong mỗi phút giây, và hết
lòng hiếu thuận đối với cha mẹ, sư tăng, tam bảo, cũng
như đối với tất cả chúng sanh.
Ðức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật sau khi giảng dạy về vấn đề
“Hiếu gọi là giới”, tức thời từ nơi miệng của Ngài
phóng ra vô lượng tia sáng. Trong kinh, từ trước đến nay,
có hai lối giải thích hiện tượng này:
1.
Như Lai mỗi khi sắp giảng nói giáo pháp Ðại Thừa, trước
tiên, luôn luôn phóng hào quang biểu hiện điềm lành cho thính
chúng trong pháp hội trông thấy. Trước là để chúng phát
sanh tín tâm cung kính sâu sắc, sau đó, nghe Ðức Phật tuyên
thuyết đại pháp, mới có thể thành khẩn và nhận chân giáp
pháp một cách rốt ráo.
2.
Ðức Phật chế lập giới pháp, bất luận giới Thanh Văn
Tiểu Thừa hay là Bồ Tát Ðại Thừa đều là giới pháp,
chỉ có chính Ðức Phật mới có quyền chế lập. Và cũng
chỉ chính từ nơi kim khẩu của Ngài tuyên thuyết. Ngoài ra,
không có một ai có quyền làm việc đó. Hiện tại, Ðức
Phật sắp tuyên đọc giới pháp Ðại Thừa của tất cả
chư Phật. Cho nên đặc biệt từ trong miệng Ngài phóng ra
quang minh.
Trong
kinh văn nói Ðức Phật phóng ra vô lượng quang minh, biểu
thị Tâm Ðịa diệu giới vốn sẵn đủ nơi chư Phật cùng
chúng sanh cũng vốn là Vô Tận Tạng Giới, vô lượng vô biên
nên gọi là “vô lượng" và bản chất của diệu giới này
vốn thanh tịnh, không ô nhiễm nên gọi là “quang minh”.
Một
lối giải thích khác nữa là Ðức Phật phóng vô lượng quang
minh để chỉ rõ chúng sanh cần phải nương theo Quang Minh Kim
Cương bửu giới nơi bổn nguyên Tâm Ðịa của mình để làm
căn bổn tu nhân, sau đó mới chứng đắc quả vị thù thắng
Quang Minh Kim Cương bửu giới nơi bổn nguyên Tâm Ðịa.
Ðây
là giải thích câu “Phật tức khẩu phóng vô lượng quang
minh” (liền khi đó nơi miệng Ðức Phật phóng ra vô lượng
tia sáng). Tiếp theo, xin giải thích đoạn kinh văn:
1.
Phiên âm:
Từ
câu “thị thời bá vạn ức đại chúng...” cho đến câu
“...thính Phật tụng giới nhứt thiết chư Phật Ðại Thừa
giới”.
2.
Dịch nghĩa:
Bấy
giờ, có đến trăm vạn ức đại chúng, các Bồ Tát, mười
tám Phạm thiên ở sáu cõi trời Dục Giới, mười sáu đại
quốc vương đồng chí tâm chắp tay nghe Ðức Phật tụng giới
pháp Ðại Thừa của tất cả chư Phật.
Lời
giảng:
Hai
chữ “thị thời” tức chỉ thời gian Ðức Phật phóng ra
vô lượng tia sáng.
Câu
“bá vạn ức đại chúng” là ước lượng số đại chúng
nhân, thiên, phàm, thánh đến tập hợp nơi pháp hội đương
thời.
Ba
chữ “chư Bồ Tát” chỉ chư Bồ Tát từ hàng mới phát
tâm đến chư vị đại Bồ Tát đã trải qua nhiều kiếp tu
tập đại hạnh tự lợi, lợi tha.
Bốn
chữ “thập bát Phạm thiên” là chỉ cho chư thiên ở cõi
Sắc giới, gồm 18 cõi trời như sau:
*
Sơ Thiền gồm có ba tầng trời:
-
Phạm Chúng
-
Phạm Phụ
-
Ðại Phạm.
*
Nhị Thiền gồm ba từng trời:
-
Thiểu Quang
-
Vô Lượng Quang
-
Quang Âm.
*
Tam Thiền gồm ba từng trời:
-
Thiểu Tịnh
-
Vô Lượng Tịnh
-
Biến Tịnh
*
Tứ Thiền gồm 9 tầng trời:
-
Vô Vân
-
Phước Sanh
-
Quảng Quả
-
Vô Tưởng
-
Vô Phiền
-
Vô Nhiệt
-
Thiện Kiến
-
Thiện Hiện
-
Sắc Cứu Cánh
Trong
số chín từng trời này, ba tầng trước thuộc về Phàm Phu
Thiên, từng thứ tư là Ngoại Ðạo Thiên, và năm từng sau
thuộc Thánh Nhân Thiên.
Mười
tám từng trời ở Sắc Giới do đâu mà gọi là Phạm Thiên?
Chữ
Phạm ý nghĩa là thanh tịnh. Nghĩa là mười tám từng trời
ấy, về phương diện dục trần hoàn toàn đã chế ngự và
được rốt ráo thanh tịnh. Chỉ còn có sắc thân là tồn
tại, nhưng phần sắc thân tồn tại này hoàn toàn thanh tịnh,
không giống với sắc thân ô uế, cấu nhiễm của chúng sanh
cõi Dục Giới, nên gọi là Phạm.
Như
trong Trí Ðộ Luận thuyết minh: “Thanh tịnh quang khiết, tối
thắng, tối tôn, cố danh vi Thiên” (thanh tịnh, sáng sạch,
tối thắng, tối tôn nên gọi là Trời). Hợp lại gọi chung
là Phạm Thiên.
Lục
Dục thiên tử là sáu tầng trời cõi Dục Giới bao gồm Ðịa
Cư thiên và Vô Cư thiên.
*
Ðịa Cư thiên
-
Trời Tứ Thiên Vương: cõi này ở giữa núi Tu Di.
-
Trời Ðao Lợi: ở đảnh núi Tu Di.
*
Vô Cư Thiên:
-
Trời Dạ Ma.
-
Trời Ðâu Suất Ðà.
-
Trời Hóa Lạc.
-
Trời Tha Hóa Tự Tại.
Sáu
từng trời trên vì chưa ly khai vật dục và nam nữ dục nên
gọi là Lục Dục Thiên.
Câu
“thập lục đại quốc vương” (16 vị đại quốc vương):
Ở Ấn Ðộ lúc bấy giờ có rất nhiều nước nhỏ, không
thể liệt kê hết, nên chỉ nêu ra 16 nước lớn làm tiêu
biểu. Theo kinh Trường A Hàm thì 16 quốc gia này là:
1.
Nước Sử Già.
2.
Nước Ma Kiệt Ðề.
3.
Nước Ca Thi.
4.
Nước Câu Tất La.
5.
Nước Bạt Kỳ.
6.
Nước Mạt La.
7.
Nước Chi Ðề.
8.
Nước Bạt Sa.
9.
Nước Ni Lâu.
10.
Nước Bàn Xà La.
11.
Nước A Thấp Bà.
12.
Nước Bà Ta.
13.
Nước Tô La.
14.
Nước Càn Ðà Sa.
15.
Nước Kiếm Phù Sa.
16.
Nước A Bàn Ðề.
Như
thế toàn bộ đại chúng nhân, thiên, phàm, thánh trăm vạn
ức đều chắp tay chí tâm lắng nghe Ðức Phật tụng giới
pháp Ðại Thừa của tất cả chư Phật.
Hai
chữ “hiệp chưởng” biểu thị thái độ cung kính cực
điểm, tượng trưng thân nghiệp của đại chúng thanh tịnh.
Hai
chữ “chí tâm” là chuyên tâm, nhất ý, tượng trưng ý nghiệp
của đại chúng đã thanh tịnh.
Hai
chữ “thính tụng” là ý chỉ sự gìn giữ yên lặng, lắng
nghe, tượng trưng khẩu nghiệp của đại chúng thanh tịnh.
Dùng
ba nghiệp thanh tịnh, kiền thành này để nghe Ðức Phật đọc
tụng giới pháp Ðại Thừa, tức là mười giới trọng và
48 giới khinh mà tất cả chư Phật đã đồng tụng. Chính
từ nơi Tâm Ðịa giới quang này, tâm nguyên có thể được
soi sáng.
Vì
vậy, lúc nghe Giới, triệt để phải giữ gìn ba nghiệp thanh
tịnh, tuyệt đối không được buông lung với thái độ dường
như kẻ bàng quan vô sự, chỉ ngồi nghe cho có lệ mà thôi.
