A.3. VÃNG
HOÀN PHI NHẤT
(qua lại không
phải một lần)
Kinh
văn
1.
Phiên âm
Từ
câu “ngô kim lai thử thế giới bát thiên phản...” cho đến
câu “lược khai tâm địa pháp môn cánh”.
2.
Dịch nghĩa:
Ðức
Phật đã tám ngàn lần đến thế giới Ta Bà này, ngự trên
bảo tòa Kim Cương Hoa Quang, nhẫn đến ngự nơi cung của Ðại
Tự Tại thiên vương lược giảng Tâm Ðịa pháp môn cho cả
thảy đại chúng trong pháp hội ấy.
Lời
giảng:
Phẩm
Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa thuyết minh: “Tất cả trời,
người, a tu la đều cho rằng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật xuất hiện tại cung họ Thích, cách thành Dà Gia không
bao xa, ngồi nơi đạo tràng chứng a nậu đa la tam miệu tam
bồ đề”.
Chẳng
những hàng thiên, nhân và a tu la khi Phật còn tại thế đã
nghĩ và nói như vậy, mà hiện nay chúng ta cũng nghĩ và nói
như vậy. Cho nên mỗi khi nói đến đức Giáo Chủ của chúng
ta, mọi người đều nói cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm
về trước, Ðức Phật đã xuất hiện ở Ấn Ðộ. Do đó,
mỗi năm khi cử hành lễ Phật Ðản, kỷ niệm ngày Ðức
Phật đản sanh, ai cũng chúc mừng là cách đây hơn hai ngàn
năm trăm năm, Ðức Phật đã giáng sanh ở Ấn Ðộ.
Thật
vậy, chúng ta căn cứ vào lịch sử hiện hữu để biết đích
xác sự kiện Ðức Phật xuất hiện trên thế gian. Nhưng đứng
về mặt tôn giáo thì đây không phải là lần đầu Ðức
Phật xuất hiện ở thế gian, nơi hiện tại chúng ta đang
sống, để chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Phẩm
Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa giảng tiếp rằng: “Thực ra
ta thành Phật trải qua vô lượng, vô biên trăm ngàn muôn ức
na do tha kiếp”.
Trong
kinh này, Phật cũng nói: “Ta đến thế giới Ta Bà này đã
tám ngàn lần”. Kinh văn nói tám ngàn lần, nhưng con số này
không nhứt định, có thể hoặc nhiều hơn hay ít hơn đôi
chút, chúng ta không nên quy định một cách nhất định.
Thông
thường trong kinh nói “ngũ trược ác thế”, về tính chất
này thì chưa có thế giới nào hơn thế giới Ta Bà này, nhưng
bi nguyện của đức Ðại Thánh Thế Tôn quá sâu rộng: vì
muốn hóa độ chúng ta cùng tất cả chúng sanh khổ não thoát
ly khỏi thế giới Ta Bà đầy ác trược này, nên Ngài một
lần, rồi nhiều lần trở lại trong nhân gian.
Ðiều
đáng thương tiếc cho chúng ta là đã quá ngu si, mê muội,
không chút giác ngộ, vẫn y nhiên làm chúng sanh điên đảo,
quá phụ bạc với tâm đại từ, với ân rộng lớn của Ðức
Phật. Lại còn phụ bạc với chính tánh linh bổn hữu của
chính mình. Nghĩ đến như vậy càng thêm đau đớn và làm
sao chẳng cảm thấy hổ thẹn muôn phần?
Ở
đây, chúng ta cần phải biết là Ðức Phật tuy qua lại thế
giới Ta Bà này liên tục, nhưng đó là Ứng Thân của Như
Lai, do nơi đại dụng Bi Trí của Phật Ðà; còn Pháp Thân
của Như Lai thì hoàn toàn vắng lặng, dường như hư không,
không có hiện tượng sinh diệt, cũng không có trạng thái
đến hoặc đi, không có những biểu hiện động hoặc tịnh.
Kinh
Kim Cương thuyết minh: “Như Lai giả vô sở tùng lai, diệc
vô sở khứ” (Như Lai không từ chỗ nào đến, cũng không
từ chỗ nào đi).
Kinh
Hoa Nghiêm nói: “Như Lai vô thân, vị chúng sanh cố thị hiện
kỳ thân” (Như Lai hoàn toàn không có thân, vì hóa độ chúng
sanh nên thị hiện có thân hình). Ðức Như Lai vì chúng sanh
mà thị hiện có thân, và cũng do nơi nhân duyên cơ cảm, chúng
sanh mới trông thấy Ðức Phật xuất hiện ở thế gian. Một
khi nhân duyên cơ cảm của chúng sanh đã hết, tự nhiên chúng
sanh lại trông thấy Ðức Phật ly khai thế gian này.
Thế
nên vấn đề Ðức Phật xuất thế hay nhập diệt không phải
do nơi bản của Phật, mà hoàn toàn tùy thuộc vào nơi chúng
ta và tất cả chúng sanh, vì Phật không bao giờ có tướng
khứ lai.
Như
trong kinh Niết Bàn nói: “Vì muốn chúng sanh sanh khởi tâm
hoan hỷ cực kỳ, nên chư Phật Như Lai xuất hiện trên thế
gian này một cách bất ngờ. Vì muốn cho chúng sanh, tất cả
sanh khởi tâm luyến mộ đến cao độ, chư Phật Như Lai thị
hiện Niết Bàn một cách tự nhiên”.
Thật
ra thì Phật là thường trụ và bất diệt. Chúng sanh sở dĩ
thấy có Phật xuất thế, có khi thấy Phật diệt độ, việc
ấy hoàn toàn do nghiệp chướng chúng sanh nặng hay nhẹ. Nếu
chúng sanh nghiệp chướng nhẹ thì trông thấy Ðức Phật vẫn
hiện ở thế gian; chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng thì
không thấy Ðức Phật trụ thế.
Kinh
Niết Bàn đối với vấn đề này lý giải rất rõ ràng: “Ta
dù ở cõi Diêm Phù Ðề này, thường thị hiện nhập Niết
Bàn, nhưng thật ra ta không hề nhập Niết Bàn mà chúng sanh
đều cho rằng Như Lai thật sự diệt độ. Nhưng tánh Như
Lai vốn không diệt. Thế nên phải biết Như Lai là pháp thường
trụ, là pháp không biến đổi. Ðại Niết Bàn tức là pháp
giới của Như Lai”.
Phẩm
Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa cũng nói: “Như thế, từ khi
Ta thành Phật đến nay đã trải qua thời gian hết sức lâu
xa, thọ mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp, thường trụ bất
diệt”.
Căn
cứ vào những lời kinh trích dẫn bên trên thì chúng ta biết
rằng Như Lai vốn chưa từng nhập diệt. Vấn đề Như Lai
chưa từng nhập diệt, căn cứ vào ba thân của Phật để
giảng thì:
-
Pháp thân vốn không có tướng sanh diệt, đương nhiên không
thể nói nhập diệt.
-
Báo thân vạn đức trang nghiêm, thọ mạng vô biên vô tận,
lẽ tự nhiên cũng không thể nói nhập diệt.
-
Hóa thân do vì độ chúng sanh nên tùy duyên thị hiện, thì
làm sao có thể bỏ chúng sanh mà vào cõi Vô Dư Niết Bàn?
Phật
xưa nay vốn không diệt độ, nhưng sở dĩ nói diệt độ vì
Như Lai dùng đó như một phương tiện hóa độ chúng sanh.
Vì có những hạng chúng sanh, Phật cần phải thị hiện Niết
Bàn mới có thể độ được, nên Ðức Phật không thể không
thị hiện nhập Niết Bàn.
Vì
sao nhất thiết phải làm như thế? Vì có những hạng chúng
sanh phước đức quá mỏng manh, thấy Như Lai ở lâu nơi thế
gian cho Phật là tầm thường, không sanh ý tưởng khó gặp,
lại cũng không có tâm cung kính. Và vì vậy, những hạng chúng
sanh này không chịu theo đúng như pháp Phật dạy, để tinh
tấn gieo trồng các thiện căn.
Ðể
cứu độ những hạng chúng sanh kiêu mạn, phóng dật, giải
đãi, hay ôm lòng nhàm chán này, Ðức Phật phải vận dụng
phương tiện đại bi trên và tuyên bố sẽ diệt độ để
cảnh tỉnh những chúng sanh ấy, khiến cho họ biết rằng
Phật xuất thế rất khó gặp, muốn thấy được Như Lai thật
là một việc không phải dễ dàng.
Ðiều
này không riêng gì đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mà tất
cả chư Phật trong ba đời và ở mười phương cũng đều
thị hiện như vậy. Nơi đây, có người hỏi rằng: Rõ ràng
đức Như Lai đã thành Phật từ nhiều kiếp lâu xa, khi đến
thế gian này giáo hóa chúng sanh thì cứ trực tiếp hiện thân
thuyết pháp là tốt lắm rồi, tại sao cần phải nương nhờ
duyên cha mẹ giáng sanh? Tại sao lại phải xuất gia tu hành?
Tại sao phải hàng phục chúng ma rồi sau mới thành Phật?
Giải
đáp vấn đề này thật đơn giản: Tất cả chúng sanh trên
thế gian đại đa số đều là hạng vô trí. Nếu như Ðức
Phật không trải qua những giai đoạn như vậy thì họ cho
Phật là người biến hóa, không có cha mẹ, vợ con, mới có
thể tu hành thành Phật, rồi họ tự nghĩ mình là phàm phu
đầy khổ não, lại thêm có vợ con đa mang nhiều hệ lụy,
làm sao có thể tu hành và thành đạo như Ðức Phật được.
Vì
những lý do đó, Ðức Phật đã xuất hiện ở nhân gian và
không thể không thị hiện đồng như mọi người để chúng
sanh thấy rằng Ðức Phật không có những điểm đặc thù
nào khác họ, khiến họ học theo chỗ Ðức Phật học, thực
hành những điều Ðức Phật thực hành và chứng đắc chỗ
Ðức Phật đã chứng đắc.
Ðức
Phật đến thế giới này những tám ngàn lần để làm gì?
Chính
là vì những chúng sanh ở thế giới Ta Bà này thuyết pháp
giáo hóa.
Ta
Bà là tiếng Ấn Ðộ, Trung Quốc dịch là Kham Nhẫn. Tất
cả những chúng sanh trên thế giới này đều có thể kham
thọ sự độc hại của tam độc, có thể nhẫn thọ sự bức
bách của tất cả phiền não; có thể nhẫn thọ bao nhiêu
sự thống khổ trên thế gian mà không có niệm mong cầu thoát
ly để được sự giải thoát (tam độc: tham, sân, si).
Hai
câu “tọa Kim Cương Hoa Quang Vương tòa, nãi chí Ma Hê Thủ
La thiên vương cung” (ngự trên tòa báu Kim Cương Hoa Quang
Vương, nhẫn đến ngự nơi cung của Ðại Tự Tại Thiên Vương).
Ðây chỉ mười nơi Ðức Phật ngự đến thuyết pháp. Trong
kinh văn chỉ nêu ra Kim Cương Hoa Quang Vương là chỗ đầu
tiên với cung của Ðại Tự Tại Thiên Vương là nơi cuối
cùng. Còn tám chỗ kia dùng hai chữ “nãi chí” là lời lược
qua, không kể hết, nhưng đã bao hàm tất cả trong đó. Vì
kinh văn đoạn trước đã nêu rõ thứ tự mười trụ xứ
Phật thuyết pháp, cho nên ở đây không cần nhắc lại.
Kinh
văn
1.
Phiên âm
Vị
thị trung nhứt thiết đại chúng lược khai tâm địa pháp
môn cánh.
2.
Dịch nghĩa:
Lược
giảng Tâm Ðịa pháp môn cho cả đại chúng trong những pháp
hội ấy.
Lời
giảng:
Câu
“vị thị nhứt thiết đại chúng” chỉ cho đại chúng trong
mười trụ xứ. Vì Phật nói pháp ở mười nơi khác nhau,
lẽ đương nhiên mỗi nơi có một đại chúng của địa phương
ấy nghe pháp.
Ðức
Phật đã vì đại chúng mười nơi ấy giảng nói pháp gì?
Trong
kinh văn nói rõ là lược giảng Tâm Ðịa pháp môn; nghĩa là
Ðức Phật lược giảng pháp môn Tâm Ðịa, là một trong trăm
nghìn hằng hà sa số pháp môn. Ðây chỉ lược nói một vài
pháp môn, nếu so sánh với tất cả pháp môn thì con số này
chỉ ước chừng bằng đầu một sợi lông. Nếu như muốn
nói rõ ràng thì những pháp môn ấy có vô lượng, vô biên,
vô cùng tận, bất khả thuyết, bất khả thuyết...
Khi
Ðức Phật đã vì đại chúng lược giảng pháp môn Tâm Ðịa
rồi, Ngài tiến thêm một bước nữa, vì hàng phàm phu trên
quả địa cầu này giảng nói Giới pháp, bao gồm mười giới
trọng, 48 giới khinh. Ý của Phật là muốn cho tất cả chúng
sanh nương theo giới pháp ấy, nghiêm trì thanh tịnh để chứng
đắc Tâm Ðịa pháp môn, hoàn thành quả vị Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác.
