Chương
I: TIỀN ĐỀ KHÁI THUYẾT
(những điều
khái quát đầu tiên)
A. Giới học
vi Phật pháp đích căn bổn
(Giới học
là căn bản trọng yếu của Phật pháp).
Giới
luật học của Phật giáo trong hai phái Nam, Bắc truyền có
những điểm bất đồng rõ rệt:
- Về
Phật giáo Nam Truyền chỉ có giới học của Thanh Văn, hoàn
toàn không có giới học của Bồ Tát, đối với giới này,
thất chúng Phật tử mỗi chúng đều thọ riêng.
- Trái
lại, về Phật giáo Bắc Truyền chẳng những có giới học
của Thanh Văn, lại có giới học của Bồ Tát, trong đó Tam
Tụ Tịnh Giới của giới Bồ Tát thì thất chúng Phật tử
đều chung thọ.
Phật
giáo Bắc tông hay Nam tông đối với giới luật học, dù có
điểm bất đồng như vậy, nhưng đều nhận chân giới học
là căn bổn của Phật pháp. Cho nên bất luận Phật giáo đồ
Nam Tông hay Bắc Tông, đối với giới pháp mình đã bẩm thọ,
hoàn toàn không được xem thường. Vì sao vậy? Vì học Phật,
cần lấy Giới Luật làm cơ sở đầu tiên. Một hành giả
có chí hướng cầu Phật pháp, nếu không nghiêm trì tánh giới
pháp Phật đã chế lập một cách hoàn chỉnh, thì người
ấy vẫn y nhiên đứng ở ngoài cửa mà chưa được vào trong
nhà, cũng không được lên chốn lầu cao của Phật Pháp.
Thế
nên căn cứ vào Tiểu Thừa mà thuyết minh: “Giới thị chánh
thuận giải thoát chi bổn”, nghĩa là: Giới pháp là căn bản
chính, thuận theo con đường giải thoát. Căn cứ vào Ðại
Thừa mà thuyết minh: “Giới vi vô thượng Bồ Ðề chi bổn”,
có nghĩa: giới là cội gốc của quả Vô Thượng Bồ Ðề.
Vì lý do ấy, lẽ đương nhiên, muốn được chân chính giải
thoát và chứng đắc quả vị Vô Thượng Bồ Ðề, vẫn còn
phải nương nơi trí tuệ vô lậu, mà cơ sở tối sơ, phải
nói là Giới Học.
Tại
sao vậy? Bởi nhờ sự hạn chế của Giới Học, khiến cho
tâm niệm của hành giả tuyệt đối không được dong ruổi
theo ngoại cảnh, nhờ đó mà nội tâm dần dần được an
tịnh. Bấy giờ, từ trong tâm cảnh an định, trí huệ vô
lậu sẽ được khai phát. Sau đó, lại phải vận dụng huệ
kiếm Bát Nhã chặt đứt dây vô minh từ vô thỉ, mới được
lên ngồi giường giải thoát, mới được an tọa trên tòa
Bồ Ðề.
Nên
kinh dạy: “Nhơn Giới sanh Ðịnh, tùng Ðịnh phát Huệ”,
nghĩa là: nhờ giữ Giới mà được Ðịnh tâm, từ định
tâm khai phát trí huệ. Ðích thực là một tuần tự bất di,
bất dịch, không ai có thể vượt bực được.
Do
đó, có thể thấy rõ Trí Huệ ở tầng tối cao, cố nhiên
là trọng yếu, và Giới Luật tuy ở tầng nền tảng thấp
nhất, nhưng lại càng trọng yếu hơn. Nếu như Giới Luật
ở tầng nền tảng không được củng cố thì Thiền Ðịnh
ở tầng giữa, Trí Huệ ở tầng cao đều không thể xuất
hiện trong tâm của hành giả.
Giờ
đây, tôi (Pháp Sư giảng giới) xin thỉnh vấn một điều:
Mục đích chính của quý vị (chỉ chung giới Phật tử xuất
gia và tại gia) học Phật, có phải muốn được giải thoát
không?
Nếu
như thừa nhận là phải, thì quý vị đối với Giới Học
cần phải giữ gìn nghiêm cẩn, nhiên hậu mới có thể được
giải thoát theo đúng chỗ quý vị mong cầu.
Có
phải mục đích chính của quý vị học Phật là muốn chứng
quả vị Bồ Ðề vô thượng không?
Quả
như quý vị thừa nhận là phải, thì đối với Giới Học,
quý vị cần phải thủ trì nghiêm cẩn, nhiên hậu, mới có
thể được chứng quả Vô Thượng Bồ Ðề, theo chỗ mong
muốn của mình.
Giả
như không phải như thế, nghĩa là đối với Giới Học, quý
vị có chỗ khuyết phạm, thì chẳng những đối với thắng
lợi xuất thế, không thể mong được kết quả, mà chính
với công đức cõi Nhơn Thiên, quý vị cũng vẫn vô phần.
Thế nên, chư Phật mười phương ba đời xuất hiện ở thế
gian, không vị Phật nào không cực lực suy tôn giới pháp
một cách cẩn trọng. Lịch đại Tổ Sư Tây Thiên cũng như
Ðông Ðộ, không Ngài nào chẳng đem giới pháp ân cần giáo
hóa hậu sanh.
Nên
kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp thuyết minh: “Nhứt thiết chúng sanh,
sơ nhập Tam Bảo hải, dĩ Tín vi bổn. Trụ tại Phật gia,
dĩ Giới vi bổn”. Nghĩa là tất cả chúng sanh khi mới vào
trong bể Tam Bảo, phải dùng lòng tin sâu dày làm gốc. Khi
đã an trú trong nhà Phật, thì dùng Giới làm cội gốc.
Tại
sao vậy? Vì Giới là khởi điểm để hướng thượng, hướng
thiện, hướng quang minh, hướng lên đường giải thoát. Thế
nên không cho phép hành giả bất luận xuất gia hay tại gia
có một chút xem thường.
Vì
thế, khi đức Bổn Sư sắp tịch diệt, do tâm Ðại Bi, Ngài
đinh ninh dạy các đệ tử: “Sau khi ta diệt độ, các ông
phải nhất tâm tôn kính Giới Luật, phải xem Giới Luật như
thầy của các ông”.
Ở
đây, không khỏi có người hỏi rằng: Tại sao giới pháp
lại có tính trọng yếu như thế?
Giải
đáp điều này, xin dẫn lời thuyết minh trong kinh Ðại Niết
Bàn như sau:
- Giới
là thềm thang của tất cả pháp lành, cũng là cội gốc của
tất cả thiện pháp; như quả đại địa là cội gốc của
tất cả thảo mộc phát sanh.
-
Giới là một đấng đạo sư tối cao của các thiện căn;
là vị thương chủ dẫn dắt đàn thương nhân.
- Giới
là thắng tràng của tất cả các thiện pháp; như thắng tràng
của Thiên Ðế Thích.
-
Giới có công năng đoạn trừ vĩnh viễn tất cả ác nghiệp
và tam ác đạo; như các dược thảo có công năng trị liệu
tất cả các thứ ác bịnh.
-
Giới là tư lương trên đường hiểm sanh tử, giới là chiếc
áo giáp đồng, là cây gậy thần trừ diệt ác tặc kiết
sử.
- Giới
là một thần chú tối linh, diệt trừ rắn độc phiền não.
Giới là cây cầu để qua khỏi hạnh nghiệp tội ác.
Kinh
văn quá minh bạch, không cần phải nói thêm nhiều. Căn cứ
theo đó, có thể khẳng định rằng: Bất luận tu tập thiện
nghiệp hay đoạn trừ ác pháp; bất luận mong thoát ly khổ
não hay cầu được giải thoát an lạc; bất luận đoạn phiền
não nghi hoặc hay chứng chơn thường, đối với giới pháp,
đều phải có tánh cách quyết định. Nếu không có Giới
thì tất cả việc nói trên đều không thành tựu.
Như
thế tại sao có thể nói là Giới không trọng yếu? Lại vì
sao có thể đối với giới pháp dám sanh tâm khinh thường?
Kinh
Ðại Bát Niết Bàn nói: “Muốn thấy đuợc Phật tánh, chứng
Ðại Niết Bàn, quyết định phải có tâm thâm tín, kính trọng,
tu trì tịnh giới. Nếu người nào thọ trì kinh này mà hủy
phạm tịnh giới, người ấy là quyến thuộc của ma, không
phải là đệ tử của ta. Ta cũng không cho người ấy thọ
trì, đọc tụng kinh này”.
Ðối
với việc thọ trì, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa, hành
giả thu hoạch được công đức vĩ đại. Hơn nữa, công đức
thọ trì kinh điển Ðại Thừa mà hành giả thu hoạch được,
nếu so với người đem thất bảo bố thí, thì gấp bội hơn
không biết mấy lần. Ðiều ấy cứ xem trong kinh Kim Cang Bát
Nhã Ba La Mật thì rõ.
Lại
nữa, việc thọ trì, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa, ở
các kinh Ðại Thừa đồng nhất trí tán thán, nên thông thường
hàng Phật tử đa số đều thọ trì, đọc tụng kinh điển
Ðại Thừa. Nhưng y chiếu theo lời Phật dạy trong kinh Niết
Bàn dẫn trên, thì thọ trì kinh điển, cố nhiên là điều
tốt, nhưng phải dùng thân tâm thanh tịnh mà thọ trì.
Nói
rõ hơn, là phải lấy việc tu trì tịnh giới mà đọc tụng.
Nếu chỉ thọ trì kinh điển mà không xem trọng tịnh giới
của Như Lai, thậm chí hủy phạm tịnh giới thì đức Phật
không nhận người này là Phật tử chơn chánh, mà là quyến
thuộc của ma vương. Ðức Phật chẳng những không do vì việc
người ấy thọ trì kinh Niết Bàn mà hoan hỷ, lại còn không
cho người ấy thọ trì kinh này.
Chúng
ta hãy suy tưởng thái độ của Phật, thì biết rằng thọ
trì tịnh giới là trọng yếu biết dường nào! Sao lại có
thể không vâng giữ một cách nghiêm cẩn?
Trong
kinh Nguyệt Ðăng Tam Muội, lại dạy rõ về điểm trọng yếu
của Giới Pháp như vầy:
Tuy
hữu sắc tộc cập đa văn
Nhược
vô giới trí do cầm thú,
Tuy
xử ty hạ thiểu văn kiến,
Năng
trì tịnh giới danh thắng sĩ.
Dịch:
Dù
có sắc tộc và đa văn,
Nếu
không giới trí như cầm thú,
Tuy
hạng tầm thường, ít kiến văn,
Nghiêm
trì tịnh giới là thắng sĩ.
Xin
giải thích rõ bài kệ trên như sau:
Một
cá nhân ở đời, sự cao thấp về địa vị không phải căn
cứ vào chủng tộc tôn quý, cũng không phải vì họ có sắc
tướng đoan nghiêm, hay nhằm vào sự bác học đa văn của
họ, mà hoàn toàn căn cứ nơi đức hạnh của người ấy
cao thượng hay không. Thông thường, nói theo thế tục là đức
hạnh, trong Phật pháp gọi là tịnh giới. Dù là một người
thông thường hay một hành giả tu học Phật pháp, giới hạnh
đích xác là vô cùng trọng yếu.
Vì
thế, nếu không có giới hạnh và trí huệ, dù chủng tộc
người ấy cao quý đến mức nào, sắc tướng đoan nghiêm
đến mức nào, học vấn quảng bác đến đâu, căn cứ vào
quan niệm Phật pháp mà xét, thì kẻ ấy so với cầm thú nào
khác gì mấy. Ngược lại, nếu tu trì tịnh giới làm một
con người có đạo đức cao thượng, dù ở vào địa vị
thật thấp kém, dù kiến văn cạn hẹp, hiếm hoi, nhưng vẫn
có thể được suy tôn là bậc thắng sĩ trên thế gian. Giá
trị của con người đó, mọi người đều cung kính tôn trọng.
Cho nên, giới hạnh là căn bản làm người.
Hành
giả tu học Phật pháp, đặc biệt là người xuất gia tu Ðại
Thừa, cần phải làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt, Chánh
Pháp được cửu trụ ở thế gian.
Khi
đức Phật còn tại thế, đầu tiên Ngài chế định Giới
Luật, đem pháp giới nhiếp phục chúng Tăng. Bản hoài của
Ðức Phật chính là mong muốn làm sao cho Tăng đoàn hòa vui
thanh tịnh. Tăng đoàn cần phải gánh vác trách nhiệm trọng
đại ấy. Nhưng trách nhiệm trọng đại ấy có gánh vác được
hay không, điều trọng yếu không gì khác hơn là hành giả
có tu trì tịnh giới hay không?
Nếu
như mọi Phật tử xuất gia đều nghiêm trì pháp giới thanh
tịnh, thực hành pháp Lục Hòa Kính, thì mới có thể làm
cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt, Chánh Pháp được cửu
trụ mãi nơi thế gian. Nên trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy:
“Thọ trì oai nghi giới pháp được đầy đủ, thực hành
pháp Lục Hòa Kính, khéo léo ngự trị đại chúng, tâm không
lo buồn, hối hận, thuận theo chánh pháp của Phật, không
trái lời Phật dạy. Thế nên có thể làm cho ngôi Tam Bảo
không đoạn tuyệt và chánh pháp do đó được cửu trụ trong
thế gian”.
Hành
giả Ðại Thừa lấy việc cầu Phật Quả làm mục đích tối
cao, mà thành Phật nhất định sẽ được tướng phước báo
của bậc đại nhân, tức là ba mươi hai hảo tướng của
đức Phật. Nhưng nguyên nhân được ba mươi hai tướng, không
phải do nhân duyên sai biệt nào khác, chính là do ở nơi tu
trì tịnh giới mà được. Nếu không theo đúng phép tu trì
tịnh giới, chẳng những không được ba mươi hai tướng phước
báo của bậc đại nhân, mà đến cả cái thân người hạ
tiện cũng không thể có được.
Trong
Ðại Trí Ðộ Luận cũng từng thuyết minh: “Nếu người
nào muốn cầu sự lợi ích vĩ đại, quyết phải nghiêm trì
tịnh giới như yêu quý của báu, như ái hộ thân mạng. Tại
sao thế? Vì giới pháp là nơi cư trú của tất cả pháp lành”.
Trong
kinh luận nói lên sự lợi ích vĩ đại, đương nhiên là chỉ
cho quả vị Vô Thượng Bồ Ðề. Cho nên chẳng những chư
hành giả Thanh Văn thừa cần phải nghiêm cẩn vâng giữ giới
pháp, mà chính bậc Bồ Tát Ðại Thừa càng cần phải vâng
giữ nghiêm mật hơn.
Giới
là cội gốc xuất sanh tất cả pháp lành công đức và cũng
là cội gốc đắc Niết Bàn, chứng Bồ Ðề. Nên Giới là
chỗ chung cùng đồng vâng giữ của hành giả trong ngũ thừa.
Chúng
ta nếu không muốn đi trên con đường Phật Pháp thì thôi,
nếu như muốn đi trên con đường Phật pháp, thì cần phải
theo đúng như pháp, giữ gìn tịnh giới cho nghiêm cẩn.
Kinh
Anh Lạc Bổn Nghiệp dạy: “Tiến nhập Phật gia, dĩ Giới
vi bổn”. Nghĩa là khi mới bước vào nhà Phật, phải lấy
Giới Pháp làm cội gốc. Do đó, không cho phép bất cứ một
hành giả nào tu học Phật pháp mà còn có chỗ vi phạm giới
luật.
Bộ
Giới Học Yếu Thuật dạy rõ: “Từ chỗ thiển cận mà nói
thì Giới Học của Phật pháp là quy luật, luân lý, đạo
đức của nhân sinh, là chuẩn tắc của con người, sở dĩ
gọi là con người. Nếu đi vào chỗ thâm sâu mà giảng, giới
pháp của Như Lai là đào tạo nhân cách cho đến chỗ viên
mãn, cứu cánh Phật Quả”.
Người
tu hành học Phật pháp từ khi phát tâm đối với Tam Bảo,
bước vào cửa Phật, mãi đến lúc hoàn thành Phật quả,
đều có thể nói là có giới tướng trong suốt giai đoạn
xa xôi ấy (thông thường trong kinh Phật dạy một người từ
khi mới phát Bồ Ðề tâm, cho đến lúc viên thành Phật quả,
phải qua hằng hà sa số kiếp, chính là chỉ cho giai đoạn
xa xôi ấy). Thế nên, nghiêm trì tịnh giới đầy đủ thật
là hạng mục (1) hành đạo. Ngừời tu trong Phật giáo Ðại
Thừa cần phải có đủ, không thì không thể đạt đến mục
đích dự kỳ của hành giả ngũ thừa. Do đó, có thể thấy
rằng dù giới học có những sai biệt, nhưng thật sự rất
là nhất quán.
Ðại
Thừa Phật giáo phải lấy sự phát tâm Bồ Ðề làm căn bản.
Tức là lấy tâm Bồ Ðề làm giới thể của Ðại Thừa Bồ
Tát Giới. Nếu như không phát tâm Bồ Ðề thì dù có nghiêm
trì tịnh giới, cũng chỉ là giới của thế tục.
Cho
nên Hoằng Nhứt Luật Sư dạy: “Ngũ giới, bát giới tuy thuộc
Tiểu thừa, nhưng hàng Phật tử muốn bẩm thọ giới phẩm
ấy, cần phát tâm đại Bồ Ðề, không nên độc thiện nhứt
thân, nghĩa là chuyên tu thiện pháp để cầu giải thoát cho
riêng bản thân mình, riêng thụ hưởng cảnh tịch diệt. Dù
rằng, Khai, Giá, Trì, Phạm không khác với Thanh Văn, nhưng
sự phát tâm khởi hạnh đồng với đại sĩ, mong tất cả
thanh tín nên cố gắng”.
(thanh
tín: thiện nam tín nữ)
Ðây
là lời khích lệ của Hoằng Nhứt Luật Sư, hy vọng rằng
mỗi Phật tử đều nên thực hành Bồ Tát Ðại Thừa. Thực
là lời dạy có giá trị, mỗi Phật tử học Phật phải nên
xem trọng!
Chí
hướng Ðại Thừa cốt ở lợi tha, nếu không phát tâm Bồ
Ðề thì không thể nào mang sự lợi ích phổ biến rộng rãi
cho khắp chúng sanh. Cho nên, Bồ Tát vì muốn lợi ích chúng
sanh, nếu có thể không rời Bồ Ðề nguyện, thì mới gọi
là tịnh giới đầy đủ vậy!
B. Thinh Văn
Giới dữ Bồ Tát Giới dị đồng
(Ðiểm dị
đồng của giới Thanh Văn và Bồ Tát)
Hành
giả tu học Phật pháp, căn cứ theo kinh từ trước đến nay,
phân làm 2 loại: Hàng Thanh Văn thì phát tâm chán lìa và hàng
Bồ Tát thì phát tâm Bồ Ðề. Bất luận chỗ phát tâm của
hành giả thuộc Ðại Thừa hay Tiểu Thừa (Thanh Văn thuộc
Tiểu Thừa, Bồ Tát thuộc Ðại Thừa) khác nhau như thế nào,
nhưng cả hai vẫn đồng có giới hạnh riêng để tự tu trì.
Sự
sai biệt của hai hạng hành giả nói trên như thế nào?
Ðây
là một vấn đề chúng ta cần phải thấu triệt. Quan niệm
thông thường cho Biệt Giải Thoát Giới của thất chúng Phật
tử thuộc về giới hạnh tu trì của hàng Thanh Văn; Tam Tụ
Tịnh Giới là giới hạnh tu trì của hàng Bồ Tát. Ðứng
về mặt đại thể, đây là biểu thị sự sai biệt giữa
hai giới Thanh Văn và Bồ Tát. Nhưng nói một cách quả quyết,
nghiêm cẩn và tường tận hơn, thì điểm dị đồng giữa
hai giới Thanh Văn và Bồ Tát lại phải căn cứ vào nhiều
phương tiện để luận đàm. Các phương diện đó bao gồm
tám chủng loại sau đây:
1.
Thông Giới dữ Biệt Giới (thông giới và biệt giới)
* Thanh
Văn giới thuộc về Biệt Giới: những giới mà thất chúng
Phật tử từng hạng bẩm thọ riêng, như:
-
Ngũ Giới là Giới của các Phật tử tại gia bẩm thọ.
-
Thập Giới là Giới của Phật tử xuất gia sa-di, sa-di-ni.
-
Sáu học pháp là Giới của Thức-xoa-ma-na.
-
Cụ Túc Giới là Giới của tỳ kheo, tỳ-kheo-ni.
Ðệ
tử Phật sở dĩ được phân làm thất chúng là do nơi sự
bẩm thọ giới pháp bất đồng phát sinh ra. Chiếu theo chỗ
thọ giới pháp khác nhau của thất chúng Phật tử mà phân
biệt, thì chẳng những có từng lớp cạn sâu trong từng giới,
mà còn phân ra những giới dành cho nam, nữ Phật tử riêng
thọ. Ðiều này do bởi chính Ðức Phật chế ra khi còn tại
thế, chế lập đầu tiên. Ngài vì muốn thích ứng với hoàn
cảnh xã hội cũng như tâm cơ sanh chúng đương thời, nên
chế giới ngăn cấm Phật tử không được hành động như
thế này hay thế khác.
* Bồ
Tát Giới thuộc về Thông Giới: Bất cứ Phật tử nào có
tín tâm đối với Phật đều có thể thọ. Chỉ đặc biệt
là phải có một điều kiện duy nhất: phải phát tâm Bồ
Ðề, bất luận tại gia hay xuất gia; già, trẻ, lớn, nhỏ,
nam, nữ v.v... Ðó là điểm cốt yếu cho những ai muốn bẩm
thọ Bồ Tát Giới.
- Như
người nào trước kia thọ Ngũ Giới, về sau phát tâm Bồ
Ðề thọ Bồ Tát Giới, thì gọi là Bồ Tát Ưu Bà Tắc hoặc
Bồ Tát Ưu Bà Di.
- Như
người trước kia thọ Thập Giới, về sau phát tâm Bồ Ðề
thọ Bồ Tát Giới, thì gọi là Bồ Tát Sa Di hoặc Bồ Tát
Sa Di Ni.
- Như
người trước kia thọ Cụ Túc Giới, về sau phát tâm Bồ
Ðề thọ Bồ Tát Giới, thì gọi là Bồ Tát Tỳ Kheo hoặc
Bồ Tát Tỳ Kheo Ni.
Căn
cứ vào việc mọi hành giả theo Phật pháp, khi đã phát tâm
Bồ Ðề, đều có thể thọ Bồ Tát Giới, nên gọi là Thông
Giới.
2.
Nhiếp Luật Nghi Giới dữ Tam Tụ Tịnh Giới (Nhiếp Luật
Nghi Giới và Tam Tụ Tịnh Giới)
* Thanh
Văn Giới mà thất chúng Phật tử riêng thọ, thông thường
gọi là Nhiếp Luật Nghi Giới.
- Công
dụng duy nhất của giới này cốt ở sự “phòng phi chỉ
ác” (phòng ngừa tất cả những việc sai quấy mà ngăn dứt
tất cả tội ác), cho nên đều dạy chúng ta những sự việc
nào không nên làm. Hành giả nếu đúng như pháp tuân giữ,
sẽ riêng được giải thoát. Cho nên Nhiếp Luật Nghi Giới
còn được gọi là Biệt Giải Thoát Giới.
* Ngoài
Nhiếp Luật Nghi Giới, hành giả Thanh Văn còn có Ðịnh Cộng
Giới và Ðạo Cộng Giới (còn gọi là Tịnh Lự Luật Nghi
và Vô Lậu Luật Nghi).
- Biệt
Giải Thoát Giới chứng đắc từ nơi sự bẩm thọ, trong khi
Ðịnh Cộng Giới và Ðạo Cộng Giới không phải do nơi bẩm
thọ mà chứng đắc. Ðây là sự khác biệt của ba loại giới
nói trên.
- Biệt
Giải Thoát Giới thuộc về thi-la của cõi Dục Giới.
- Ðịnh
Cộng Giới thuộc về thi-la của cõi Sắc và Vô Sắc Giới.
Dù
có sự sai biệt như vậy, nhưng đồng thuộc về nghiệp hữu
lậu trong tam giới. Ðạo Cộng Giới thuộc về thi-la vô lậu,
không thuộc về nghiệp trong tam giới. Ðịnh Cộng Giới và
Ðạo Cộng Giới dù có những đặc điểm riêng, nhưng cùng
đồng tôn chỉ khuyên răn xa lìa tội ác. Cả hai giới này
đều gọi là “tùy tâm chuyển giới” (giới tùy theo tâm
mà chuyển biến).
Khi
tâm của hành giả ở trong trạng thái Ðịnh, tương ứng với
cảnh Ðịnh, hoặc lúc tâm tương ứng với Vô Lậu Thánh Ðạo;
khi ấy, hai nghiệp thân, ngữ của hành giả tùy thuận theo
sự tương ứng đó mà phát sanh tác dụng “phòng phi chỉ
ác” một cách tự nhiên.
Tác
dụng này là do khi hành giả ở trong Ðịnh và Vô Lậu Ðạo
mà phát sanh. Dù có công hiệu như vậy, nhưng phỏng sử một
khi xuất định, hoặc giả khi tâm duyên theo cảnh khác thì
tác dụng “phòng phi chỉ ác” cũng tùy theo đó mà mất đi
lập tức.
Cho
nên Ðịnh Cộng Giới, Ðạo Cộng Giới và cả Biệt Giải
Thoát Giới (luật nghi do bẩm thọ mà chứng đắc) bị chuyển
biến suốt đời. Ðây lại có thêm một điểm tương đồng
giữa ba giới.
Ngoài
Nhiếp Luật Nghi Giới, Ðại Thừa Bồ Tát Giới lại còn có
Nhiếp Thiện Pháp Giới và Nhiêu Ích Hữu Tình Giới.
- Nhiếp
Thiện Pháp Giới: hành giả thọ giới Bồ Tát không phải
chỉ không được làm tất cả những điều ác là đủ; vì
như vậy mới chỉ thể hiện ở mặt tiêu cực. Hành giả
còn phải cố gắng tu tập các thiện pháp. Ðây mới chính
là thể hiện mặt tích cực.
Ấn
Thuận Ðại Sư có dạy: “Người học Bồ Tát đạo để
mong cầu thành Phật quả, không phải có một việc là xa lìa
và không làm các pháp nhiễm ô, rồi cho là xong chuyện. Nói
thí dụ như một khu vườn chẳng những cần phải dọn dẹp,
nhổ và phát cỏ cho sạch sẽ; lại còn cần trồng những
thực vật hữu dụng. Cho nên Bồ Tát cần phải học rộng
tất cả những Phật pháp, viên thành tất cả công đức,
thì mới có thể thực hiện được sự tích cực phi thường”.
Dù
hành giả Thanh Văn bẩm thọ Luật Nghi Giới, không phải là
hoàn toàn không cần tu tập tất cả thiện pháp, nhưng vẫn
không giống với sự rộng học tất cả Phật pháp của hành
giả Bồ Tát.
- Nhiêu
Ích Hữu Tình Giới: biểu thị sự việc hành giả Bồ Tát
lấy việc hóa độ chúng sanh làm chủ đích. Vì Bồ Tát phát
tâm hóa độ chúng sanh, nếu không thực hành việc độ sanh
thì đâu thể gọi là Bồ Tát?
Bồ
Tát đã lấy việc nhiếp hóa chúng sanh làm căn bản, lẽ đương
nhiên chính bản thân mình phải làm mô phạm cho chúng sanh.
Nếu như bản thân Bồ Tát không tu giới hạnh, thử hỏi thì
làm sao được sự tín nhiệm của chúng sanh?
Cho
nên nếu lấy sự hóa độ chúng sanh làm hạnh nguyện thì
cần nghiêm giữ giới pháp không được vi phạm.
Có
người cho giới Thanh Văn là quá nghiêm cẩn, mỗi chút mỗi
vi phạm. Vì thế rất khó giữ gìn cho trọn vẹn, nhưng giới
Bồ Tát trái lại rất khoan dung; vả lại, đại sĩ không câu
chấp tiểu tiết. Bấy giờ mọi người đua nhau nguyện tu
học Ðại Thừa Bồ Tát, đều tự cho mình là hành giả đã
an trụ trong Bồ Tát hạnh. Khi làm những điều bất hợp pháp,
bị người khác chỉ trích là luật nghi không hoàn chỉnh,
lại lấy cớ ta đây là Bồ Tát để đáp lại kẻ chỉ trích
mình, không biết đó chính là điều tuyệt đối sai lầm.
Chân
chánh và thẳng thắn mà nói, Bồ Tát nếu muốn làm sư phạm
cho nhơn thiên, điều kiện trước nhất cần thọ trì là Nhiếp
Luật Nghi Giới. Vì Nhiếp Luật Nghi Giới chẳng những là
cội gốc của Nhiếp Thiện Pháp Giới mà còn là cơ thạch
cho Nhiêu Ích Hữu Tình Giới (cơ là nền tảng, thạch là đá;
nghĩa là nền tảng xây bằng đá, mượn để thí dụ cho Nhiếp
Luật Nghi Giới là một nền tảng rất cứng chắc cho Nhiêu
Ích Hữu Tình và Nhiếp Thiện Pháp Giới).
Bồ
Tát nếu không khéo hộ Nhiếp Luật Nghi Giới, thì chẳng những
với Nhiếp Thiện Pháp Giới không thể sanh khởi, mà luôn
cả Nhiêu Ích Hữu Tình Giới cũng hoàn toàn không thực hiện
được. Vì thế, hành giả Bồ Tát đối với Tam Tụ Tịnh
Giới, cần phải xem trọng ngang nhau. Có như thế, mới thể
hiện rõ điểm đặc sắc của Ðại Thừa Bồ Tát Giới.
3.
Tùng sư thọ giới dữ bất tùng sư thọ giới (thọ giới
nơi thầy và không thọ giới nơi thầy)
Thọ
giới mà đắc giới có một pháp thức nhất định, nhưng
giới Thanh Văn và Bồ Tát đều có chỗ bất đồng. Thất
chúng Phật tử Thanh Văn thừa muốn thọ giới, đại thể
mà nói, đều phải có thầy truyền trao giới pháp.
Như
chúng tại gia thọ trì Ngũ Giới, phải thọ từ nơi một đại
đức xuất gia. Ðiều này trong nhiều kinh điển và luận Câu
Xá đều nói như vậy. Trường hợp nhất định không tìm
không có sư tôn truyền thọ giới pháp, có thể đặc biệt
cho phép tự phát nguyện bẩm thọ. Việc này trong Luật Tứ
Phần và Ðại Trí Ðộ Luận quy định như vậy. Ðây chẳng
qua là phương tiện ngoại ngạch, bất đắc dĩ.
Như
thế, nếu gặp trường hợp có sư tôn truyền trao giới pháp,
thì tuyệt đối không được áp dụng ngoại lệ tự phát
nguyện bẩm thọ. Ðến như chúng tại gia thọ Bát Quan Trai
Giới, cũng phải ở trước ngũ chúng xuất gia mà bẩm thọ,
lại còn phải tìm một vị giới sư suốt đời không ăn phi
thời làm thầy truyền giới.
Trường
hợp không thể tìm được vị sư tôn như thế, Phật tử
có thể ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát tự phát thệ
thọ giới.
Ðối
với chúng xuất gia thọ giới Sa Di và Sa Di Ni, phải có hai
thứ giới sư truyền giới. Trường hợp đặc biệt thọ giới
Cụ Túc, phải có đủ tam sư thất chứng. Ðây là nghi thức
tối quan trọng.
Vấn
đề từ Thập Sư thọ giới Cụ Túc dành cho những nơi Phật
pháp thịnh hành, Tăng chúng đông đảo. Trái lại, đối với
những vùng biên địa hẻo lánh, Tăng chúng không đông, không
có phương tiện quy tụ đầy đủ Thập Sư truyền giới, có
thể giảm bớt phân nửa, chỉ cần 5 vị: bốn vị làm chúng
Tăng, một vị làm Yết Ma sư tác pháp để truyền trao giới
phẩm. Ðây là chánh thuyết của Tỳ Bà Sa Luận, Chánh Lý
Luật v.v... Ðức Ðạo Tuyên Luật Sư cũng căn cứ theo thuyết
này.
Tóm
lại:
Giới
Thanh Văn quyết định phải thọ giới pháp từ nơi thầy với
các nghi thức quy định bắt buộc.
Về
giới Bồ Tát, phần nghi thức được quy định như thế nào?
Ðiều
này trong kinh Bồ Tát Bổn Nghiệp Anh Lạc dạy rõ có 3 phẩm
thọ giới: thượng, trung, và hạ phẩm.
- Thượng
phẩm: Từ nơi Ðức Phật mà thọ giới. Ðiều kiện này rất
khó thực hiện. Trong kinh Phật dạy: “Một là giới tử lúc
thọ giới, ở trước chư Phật, Bồ Tát mà bẩm thọ. Ðây
thực sự là Thượng Phẩm Giới”.
- Trung
phẩm: Từ nơi những đệ tử của Phật mà bẩm thọ. Trong
kinh Phật dạy: “Hai là sau khi Phật, Bồ Tát nhập diệt.
Trong vòng một ngàn dặm, nếu có vị Bồ Tát nào đã thọ
giới trước thì phải thỉnh làm Pháp Sư, dạy bảo, truyền
trao giới pháp cho mình. Trước tiên, phải thành kính đảnh
lễ dưới chân Pháp Sư, thứ đến tác bạch như vầy: ‘Kính
thỉnh tôn giả làm thầy truyền trao giới pháp cho con’. Giới
tử đắc giới ấy gọi là Trung Phẩm giới”.
- Hạ
phẩm: Sự thọ giới trong trường hợp không gặp Phật xuất
thế, hoặc đã nhập diệt, trong vòng ngàn dặm cũng không
có đệ tử của Phật để làm thầy truyền giới, Phật tử
có thể ở trước hình tượng Phật bẩm thọ. Trong kinh Phật
dạy: “Ba là sau khi Phật, Bồ Tát nhập diệt, trong vòng nghìn
dặm, không có Pháp Sư làm thầy truyền trao giới pháp thì
nên ở trước hình tượng Phật, Bồ Tát, hồ quỳ chắp tay
tự thệ nguyện thọ giới. Nên tác bạch như vầy: Ðệ tử...
kính bạch thập phương chư Phật và đại địa Bồ Tát, con
nguyện thệ học tất cả giới của tất cả Bồ Tát. Ðây
là hạ phẩm giới”.
Ấn
Thuận Luật Sư thuyết minh: “Trường hợp thậm chí không
có hình tượng Phật để tự thọ giới thì y cứ theo trong
kinh Phổ Hiền Quán dạy: Giới tử có thể quán tưởng đức
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật làm hòa thượng, Ðại Trí Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát làm Yết Ma A Xà Lê, Di Lặc Bồ Tát làm
Giáo Thọ A Xà Lê, vẫn có thể thọ giới được”.
Theo
kinh Phạm Võng này chỉ có hai cách thọ giới:
- Tự
thệ thọ giới: Ðây là trường hợp trong vòng mấy ngàn dặm,
không có Pháp Sư truyền trao giới pháp. Giới điều thứ 23
trong 48 giới khinh, tuyên thuyết minh bạch như vầy: “Dục
dĩ hảo tâm thọ Bồ Tát Giới thời, ư Phật, Bồ Tát hình
tượng tiền, tự thệ thọ giới, đương dĩ thất nhật, Phật
tiền sám hối, đắc kiến hảo tướng tiện đắc giới. Nhược
bất đắc hảo tướng, ưng nhị thất, tam thất, nãi chí nhất
niên, yếu đắc hảo tướng. Ðắc hảo tướng dĩ, tiện đắc
Phật, Bồ Tát hình tượng tiền thọ giới. Nhược bất đắc
hảo tướng, tuy Phật tượng tiền thọ giới, bất danh đắc
giới”.
(Nếu
Phật tử sau khi Phật nhập diệt, lúc có tâm tốt muốn thọ
giới Bồ Tát, thì đối trước tượng Phật cùng tượng Bồ
Tát mà tự nguyện thọ giới. Nên ở trước tượng Phật
và tượng Bồ Tát, sám hối trong bảy ngày. Nếu thấy được
hảo tướng là đắc giới. Nếu chưa thấy được hảo tướng
thì sám hối 14 ngày, 21 ngày hay đến cả năm, cầu cho được
thấy hảo tướng. Khi được thấy hảo tướng rồi, thời
được đối trước tượng Phật, Bồ Tát mà thọ giới. Như
chưa thấy hảo tướng, thời dầu có đối trước tượng
Phật thọ giới, vẫn không gọi là đắc giới).
- Từ
thầy thọ giới: Ðây là trường hợp có thể thỉnh được
vị Pháp Sư truyền trao giới pháp. Cũng theo giới điều hai
mươi ba dạy tiếp rằng: “Nhược tiên thọ Bồ Tát giới
Pháp Sư tiền thọ giới thời, bất tu yếu kiến hảo tướng.
Hà dĩ cố? Thị Pháp Sư chư sư tương thọ cố, bất tu hảo
tướng. Thị dĩ Pháp Sư tiền thọ giới thời tức đắc giới,
dĩ sanh chí trọng tâm cố tiện đắc giới”.
(Nếu
khi đối trước vị Pháp Sư đã thọ giới Bồ Tát thì không
cần thấy hảo tướng. Vì sao vậy? Vì vị Pháp Sư là chư
sư truyền giới cho nhau, nên không cần hảo tướng. Hễ đối
trước vị Pháp Sư ấy mà thọ giới liền đắc giới, do
vì hết lòng kính trọng nên đắc giới).
Với
hai trường hợp thọ giới đã nói rõ ở trên, Ấn Thuận
Luật Sư trịnh trọng dạy như vầy: “Nếu không có Phật
xuất thế, cũng không có đệ tử Phật, thì có thể ở trước
tượng Phật hoặc quán tưởng Phật mà thọ giới, nhưng nếu
có đệ tử Phật thì vẫn cần phải từ nơi đệ tử của
Phật mà bẩm thọ giới mới là thích hợp”.
4.
Thanh Văn Giới thị tân đắc dữ Bồ Tát giới thị huân phát
(Giới Thanh Văn thuộc về tân đắc và giới Bồ Tát thuộc
về huân phát)
Giới
pháp Thanh Văn xuất gia hay tại gia đều phải trải qua nghi
thức thọ giới mới đắc giới thể. Giới thể này trước
vốn không có mà khi thọ giới mới được, nên gọi là “tân
đắc”. Cũng chính vì tính chất mới được này nên có thể
có hai tình trạng xảy ra nơi Phật tử thọ giới là “đắc
giới”, rồi lại có thể “thất giới”. Hai tình trạng
có thể dẫn đến sự thất giới là:
- Phạm
căn bản trọng giới (vi phạm những giới cấm quan trọng):
Bất luận hình tướng bên ngoài thể hiện giống hệt một
Phật tử chân chính đến mức độ nào (Phật tử ở đây
bao gồm hai chúng), nếu giới thể đã bị mất thì người
Phật tử đó đã mất hẳn đặc chất của người Phật tử.
- Nhất
kỳ sanh mạng kết thúc (thời gian mạng sống đã đến lúc
chấm dứt): Nguyên vì giới thể Thanh Văn thuộc về “tận
hình thọ”, nghĩa là khi thời gian thọ mạng của người
thọ giới tồn tại, giới thể tất nhiên theo sanh mạng mà
chuyển sanh. Một khi sanh mạng băng hoại, giới thể tự nhiên
cũng theo đó mà tiêu mất. Như vậy, có đắc giới tất nhiên
sẽ có thất giới.
Với
quan điểm này, Ấn Thuận Ðại Sư thuyết minh: “Các học
giả Thanh Văn có người cho giới thể là Vô Biểu Sắc, hoặc
có người cho là Bất Tương Ưng Hành Pháp”.
Gần
đây, quý sư trong giới xuất gia thuộc hệ phái Ðại Thừa,
cho là công năng tự tâm sở trong tâm tương tục, cũng thuộc
về “tân huân”. Quan niệm như thế có phần không đúng.
Vì Ðại Thừa Bồ Tát Giới là pháp sẵn đủ của tự tâm,
là pháp sẵn có, không phải sau khi thọ giới mới có được
giới pháp đó.
Trong
kinh Bồ Tát Bổn Nghiệp Anh Lạc có thuyết minh: “Giới phẩm
của tất cả hàng Bồ Tát, bất luận phàm hay thánh, đều
lấy tự tâm làm thể, vì tâm vô tận nên giới thể cũng
vô tận”.
Phần
văn trường hàng mở đầu kinh này cũng nêu rõ: “Quang minh
kim cương bửu giới thị nhứt thiết Phật bổn nguyên, nhứt
thiết Bồ Tát bổn nguyên, phật tánh chủng tử. Nhứt thiết
chúng sanh giai hữu Phật tánh. Nhứt thiết ý thức sắc tâm
thị tình, thị tâm, giai nhập Phật tánh giới trung”.
Nghĩa
là: “Giới pháp kim cương quang minh quý báu này chính là bổn
nguyên của tất cả chư Phật, bổn nguyên của tất cả Bồ
Tát, cũng là chủng tử của Phật tánh. Tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh. Tất cả ý thức sắc tâm, là tình, là
tâm, đều vào trong phạm vi Phật tánh”.
Bồ
Tát Giới là pháp sẵn đủ trong tâm của tất cả chúng sanh.
Chẳng những không cần đợi duyên chế lập, mà còn có sẵn
công năng “phòng phi chỉ ác”, công năng “từ bi lợi vật”,
công năng “vô biên công đức thanh tịnh định huệ” v.v...
Nhưng sở dĩ phải thọ giới trở lại trong hiện tại, chẳng
qua là làm cho giới đức sẵn đủ ấy huân phát và tăng trưởng
mạnh mẽ. Giới Phật tánh thường trụ lấy tâm làm giới
thể, nên sau khi phát tâm thọ giới, chẳng những trong đời
hiện tại không bị mất giới, mà khi sanh mạng kết thúc,
giới thể cũng vẫn tồn tại.
Bồ
Tát Giới là giới tột cùng đời vị lai, nếu Phật tử thọ
trì không thất giới thì mãi mãi cho đến khi chứng quả Vô
Thượng Bồ Ðề, giới thể đều tương tục, không gián đoạn.
Dẫu sau khi sanh mạng kết thúc, tái sanh trở lại không ghi
nhớ được việc mình đã thọ giới ở đời quá khứ. Nếu
hiện tại phát tâm thọ giới trở lại, trường hợp này
gọi là duyên tăng thượng, tuyệt đối không được gọi
là “tân đắc”. Ðến như trong đời hiện tại, giả sử
phạm trọng giới, dù cũng có thể gọi là thất giới, nhưng
nếu đúng theo pháp sám hối, thì có thể thọ giới trở lại.
Cho
nên kinh nói: “Giới Bồ Tát có pháp thọ mà không có pháp
xả; có phạm nhưng không mất giới, vì là giới thể cùng
tột đến đời vị lai vậy”. Ðiều này Ấn Thuận Luật
Sư nhấn mạnh như sau: “Bồ Tát từ khi mới phát tâm nhẫn
lại, giới đức trong tự tâm mỗi ngày dần tăng trưởng.
Hiện tại trở lại thọ giới, cũng chẳng qua là nương theo
ngoại duyên để huân phát, làm cho sự huân trưởng ấy được
thành thục mà thôi”.
Cho
nên giới Bồ Tát đúng như trong kinh này thuyết minh: “Thị
chư Phật chi bổn nguyên, hành Bồ Tát đạo chi căn bổn, thị
đại chúng chư Phật tử chi căn bổn” (Nghĩa là: “Tâm địa
đại giới này là bổn nguyên của chư Phật, là căn bản
của người hành đạo Bồ Tát, là căn bản của đại chúng
Phật tử”).
Bất
luận là chúng sanh ở trong hình thái nào, chỉ cần hiểu rõ
lời Pháp Sư thuyết giới, đều được phép thọ giới.
5.
Thanh Văn Giới bất khả văn độc dữ Bồ Tát Giới khả dĩ
văn độc (Giới Thanh Văn không được đọc và nghe, trong khi
giới Bồ Tát có thể nghe hoặc đọc)
Giới
Tỳ Kheo Thanh Văn y cứ theo luật Phật chế định, có quan
hệ điều văn của Ngũ Thiên, Thất Tụ, nên hàng Phật tử
tại gia chưa thọ giới Cụ Túc, tuyệt đối không được
phép xem giới, đọc giới và nghe giới.
Việc
này trong Luật Văn có dạy rõ ràng: “Một lúc nọ, chúng
Tăng làm lễ Bố-tát, có người lén nghe tụng giới, bị Hộ
Pháp Thiện Thần đánh đuổi”. Nhưng đối với giới Ðại
Thừa Bồ Tát khi chưa thọ giới, tuy không được tham dự
bố-tát, tụng giới, nhưng nghe giảng ý nghĩa của giới pháp
hay xem, đọc, hoặc nghiên cứu ý nghĩa của giới bổn thì
có thể được, không bị cấm chỉ tuyệt đối.
Vì
thế, sau khi tôi tuyên bố giảng kinh Phạm Võng, có những
Phật tử hỏi: - Con chưa thọ Bồ Tát Giới, Pháp Sư có thể
cho con tham dự được không? Tôi trả lời: - Ðương nhiên
là được.
Nhưng
nếu khi giảng giới tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, dù quý vị nào có
tâm thành khẩn muốn nghe, tôi cũng không chấp thuận. Còn
giảng kinh Ðại Thừa Phạm Võng Bồ Tát Giới, tôi rất mong
muốn quý vị đến nghe thật đông, càng đông càng tốt. Chẳng
những không vi phạm giới luật mà còn có nhiều lợi ích.
Vì do sự nghe giảng ấy, quý vị sẽ được kích phát tâm
Bồ Ðề và huân phát Phật Tánh vốn đã có sẵn trong mỗi
quý vị.
6.
Thanh Văn đích giới điều dữ Bồ Tát đích giới điều (Giới
điều của Thanh Văn và giới điều của Bồ Tát)
Giới
điều của thất chúng Phật tử Thanh Văn thừa đều khác
biệt, không giống nhau như:
- Ngũ
Giới của hàng Phật tử nam, nữ tại gia.
- Thập
Giới của Phật tử xuất gia: sa-di, sa-di-ni.
- Và
những giới điều tối cực nghiêm cẩn, chu mật của hàng
tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni.
Thông
thường giới tỳ-kheo gồm 250 giới, nhưng trong Luật Tăng
Kỳ thì chỉ có 218 giới, luật của Nhứt Thiết Hữu Bộ
xưa truyền lại cho là 260 giới. Về số mục, điều văn của
hai bộ Luật nói trên có nhiều điểm bất đồng, nhưng phần
đại thể vẫn giống nhau.
Có
đoạn thuyết minh rõ như vầy: Giới tỳ-kheo phần đại lược
thì có hai trăm năm mươi giới, phần trung bình thì ba ngàn
oai nghi, tám vạn tế hạnh. Giới tỳ-kheo-ni phần đại lược
gồm ba trăm bốn mươi tám giới, phần trung bình gồm tám
vạn oai nghi, mười hai vạn tế hạnh.
Nếu
nói rộng ra thì giới của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni đều là
vô lượng vô biên vì tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni lúc thọ giới đều
được pháp giới vô lượng vô biên, số lượng đồng với
cảnh hư không khắp pháp giới, không một pháp nào không trọn
vẹn, đầy đủ, nên mệnh danh là giới Cụ Túc.
Còn
như giới Bồ Tát thì:
- Kinh
Phạm Võng quy định là mười giới trọng và bốn mươi tám
giới khinh.
-
Kinh Ưu Bà Tắc Giới nói là sáu giới trọng, hai mươi tám
giới khinh.
-
Kinh Du Già Bồ Tát Giới nói là bốn giới trọng, năm mươi
mốt giới khinh.
Lại
có nhiều kinh khác như kinh Bồ Tát Thiện Giới, kinh Bồ Tát
Ðịa Trì v.v... giảng nói các giới nhiều ít rất khác nhau,
nhưng về phần căn bản trọng giới vẫn giống nhau.
Vì
sự kiện ấy, Ấn Thuận Luật Sư nhấn mạnh: “Thông thường
thọ giới là bẩm thọ mỗi một giới điều như trong kinh
văn đã dạy. Nhưng kỳ thật, thọ giới là phát khởi công
năng “phòng phi chỉ ác” trong nội tâm, quyết không chỉ
thu hẹp trong giới hạn của điều văn. Vì thế, hàng Phật
tử bất luận xuất gia hay tại gia, xin đừng ngộ nhận những
gì trong Giới Luật không đề cập đến thì quý Phật tử
đều hành động được”.
Tại
sao vậy? Ðơn cử giới uống rượu, tất cả hàng Phật tử
từ cư sĩ đến tỳ-kheo đều phải thọ trì nghiêm cẩn. Nhưng
trong Luật không quy định việc cấm hút thuốc, cũng không
cấm chỉ các loại độc phẩm như nha phiến, hải lạc nhơn
(một loại thuộc ma túy) v.v... Do đó, có người cho rằng
Ðức Phật không có chế giới cấm hút thuốc thì cứ việc
hút không tổn hại gì. Thật là sai lầm! Họ không biết rằng,
khi Ðức Phật còn tại thế, không có những ác tập (tập
quán xấu) về độc phẩm như hút thuốc, nghiện nha phiến
v.v... cho nên đức Phật không chế giới này.
Căn
cứ vào việc Ðức Phật cấm uống rượu vì rất có hại
cho thân tâm mà nói thì những thức độc phẩm kia đương
nhiên cũng phải cấm chỉ, không được hút. Việc chế định
bằng văn tự rõ ràng của Giới Luật chẳng qua chỉ thích
ứng theo thời cơ mà chọn lấy những thứ trọng yếu để
nêu lên làm quy lệ mà thôi.
Ðến
như Bồ Tát giới trong các kinh giải nói nhiều ít không đồng,
cũng là do nơi ý nghĩa ấy. Do vậy, chúng ta đối với Giới
Luật của Ðức Như Lai đã chế định, cần phải vận dụng
một cách linh động, hoạt bát, không nên chấp nhặt một
khía cạnh, rồi cho rằng: “Những gì Ðức Phật không cấm
ngăn thì bây giờ cũng không cần ngăn cấm, những gì Ðức
Phật đã chế chỉ cũng không cần canh cải”. Cần phải
có sự thích nghi với thời gian, địa phương. Nên nhận chân
những gì không nên làm thì không nên cố ý làm, để tránh
những ảnh hưởng xấu trong mọi cảm quan xã hội đối với
Phật giáo.
Quan
niệm của các hạng nhân sĩ trong xã hội đặc biệt chú trọng
là: “Phật giáo đồ phải có đức hạnh”; cho nên hàng
Phật tử, nhất là chúng xuất gia, cần phải tuân thủ giới
hạnh thật nghiêm cẩn.
7.
Thanh Văn đãi duyên chế dữ Bồ Tát Giới bất đãi duyên
chế (Giới Thanh Văn đợi đúng thời duyên Ðức Phật mới
chế lập, còn giới Bồ Tát không cần đợi thời duyên):
Về
phương diện ngôn từ giáo hóa chúng sanh, chẳng những duy
có Ðức Phật là người có thể tuyên thuyết, mà còn có
năm hạng người có thể tuyên thuyết. Về vấn đề chế
giới (chế định Giới Luật khinh, trọng), duy chỉ có Ðức
Phật chế lập, ngoài ra không ai có thể chế lập được.
Cho nên giới Thanh Văn và giới Bồ Tát đều do Ðức Phật
đích thân chế định.
Tuy
rằng tất cả đều từ Ðức Phật chế định, nhưng pháp
thức chế lập có điểm bất đồng. Như trường hợp giới
Thanh Văn cần đợi đủ nhân duyên mới chế lập, nghĩa là:
nhân vì có những sự phạm giới của tín đồ, Phật mới
tùy theo hình thức và mức độ tội trạng mà chế giới,
để răn dạy đệ tử về sau không được tái phạm. Nếu
vi phạm ở mức độ không thể dung thứ, cần phải trị phạt
nghiêm khắc.
Trái
lại, Bồ Tát Giới không như vậy! Nghĩa là, không cần phải
đợi có thật phạm giới mới chế định Giới Luật mà Ðức
Như Lai nhứt thời đốn chế (nghĩa là: Khi Ðức Như Lai thành
Ðạo, liền chế định giới Bồ Tát ngay lúc đó).
Văn
trường hàng nối tiếp sau phần văn kệ tụng mở đầu kinh
này thuyết minh: “Nhĩ thời, Thích Ca Mâu Ni Phật sơ tọa
Bồ Ðề thọ hạ, thành Vô Thượng Chánh Giác, dĩ sơ kiết
Bồ Tát Ba-la-đề mộc-xoa” (Lúc bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni
Phật mới thành đạo Vô Thượng Chánh Giác, Ngài ngồi dưới
gốc Bồ Ðề, bắt đầu kiết giới Bồ Tát ba-la-đề mộc-xoa).
Kinh
văn nói rõ Ðức Phật vừa thành Vô Thượng Chánh Giác thì
bắt đầu kiết giới Bồ Tát. Ðó chẳng phải là một chứng
minh rất rõ về việc đốn chế hay sao?
Tại
sao giới Bồ Tát nhứt thời đốn chế, mà không đợi nhân
duyên phạm giới?
Theo
lý mà giải, việc ấy có quan hệ với cơ nghi chúng sanh. Vì
Bồ Tát là đại căn cơ, không cần những vấn đề nhỏ nhặt
thế nọ, thế kia; cho nên Ðức Phật dụng pháp đốn chế.
Còn Thanh Văn là tiểu căn cơ, nếu không đợi nhân duyên riêng
biệt mà chế lập, thì họ sẽ khó tiếp thọ, nên Ðức Phật
phải dụng pháp biệt chế.
Về
phương diện sự tướng mà nói, chư Cổ Ðức nêu ra ba lý
do:
- Bồ
Tát đủ tín tâm sâu nhiệm: Vừa nghe đức Như Lai chế Ðại
Thừa giới liền tiếp thọ, không trái nghịch và cũng không
cảm thấy có bất cứ sự kinh lạ nào. Trái lại, tín tâm
của Thanh Văn còn nông cạn. Nếu Ðức Như Lai đồng một
lúc vì họ đốn chế, họ sẽ không thể nào thừa nhận được.
Lại còn cảm thấy rất khó khăn trong việc tu học Phật pháp,
thậm chí thối thất dũng khí hành đạo!
- Bồ
Tát phải đi khắp nơi hóa độ chúng sanh nên không thể từng
giây phút theo hầu bên Phật. Khi gặp những sự tình không
đúng giới pháp, không thể tức khắc bẩm bạch lên Ðức
Phật để cầu Ðức Phật giải quyết, hay phán đoán điều
ấy có hợp giới pháp hay không. Cho nên giới Bồ Tát phải
nhất thời đốn chế. Trong khi Thanh Văn là chúng thường tùy
của Phật, luôn hầu cận bên Phật. Mỗi khi có những sự
kiện trái với đức hạnh, lập tức chư vị có thể bạch
Phật để Ngài quyết đoán. Cho nên giới Thanh Văn cần phải
đợi có trường hợp phạm giới mới chế lập.
- Giới
Bồ Tát đã chế lập trong kinh này thật sự phát khởi từ
nơi Ðức Phật Lô Xá Na. Ðức Lô Xá Na vì Diệu Hải Vương
Tử muốn thọ Bồ Tát Giới, và chư Ðại Sĩ đương thời
hiện diện ở pháp tòa, nên đã tuyên thuyết, chế lập 10
giới trọng, 48 giới khinh này.
Ðó
là những nguyên do giới Bồ Tát nhất thời đốn chế; giới
Thanh Văn thì căn cứ vào từng trường hợp phạm giới của
đệ tử mà Ðức Phật tùy chế, nói rõ hơn là đợi có nhân
duyên mới chế giới.
Tóm
lại:
- Giới
Bồ Tát căn cứ vào Lý Thiện mà chế lập, gọi là giới
“Phật tánh thường trụ”.
- Giới
Thanh Văn căn cứ vào Sự Thiện mà chế lập, gọi là “hộ
thế cơ hiềm giới” (hỗ trợ tâm niệm, chấn chỉnh nhân
cách người tu hành để tránh sự sanh tâm báng bổ của người
thế gian).
- Giới
BồTát chủ đích là trở về Bản Tánh.
- Giới
Thanh Văn cốt yếu tránh xa sự chê bai, dị nghị của thế
nhân.
Ðây
là sự bất đồng về y chỉ trong sự chế lập giới pháp
của Ðại Thừa và Tiểu Thừa vậy.
8.
Thanh Văn dữ Bồ Tát thọ giới ưng hữu đích tư chất (giảng
về tư chất thọ giới cần thiết của Thanh Văn và Bồ Tát)
Thọ
Luật Nghi Giới của Thanh Văn thừa chẳng những có những
quy luật nghiêm mật và không phải bất cứ người nào cũng
đều được thọ giới. Nhất là việc thọ giới của hàng
đệ tử xuất gia thì vấn đề tư chất của những vị ấy
càng được chú trọng một cách nghiêm cẩn đặc biệt.
- Chẳng
hạn những người bản thân có những thứ bệnh bạch lại
(hủi, cùi, lác trắng), ung thư, điên loạn v.v...
- Hoặc
là sáu căn không toàn vẹn (như người một mắt, sứt môi...),
tàn tật, xấu xí.
- Hoặc
là người hoàng môn nhị hình (2).
- Hoặc
là người làm nô bộc cho người (trừ trường hợp được
chủ nhân ưng thuận thì không thuộc phạm vi hạn chế).
- Hoặc
là phi nhơn và súc sanh v.v...
Những
hạng người kể trên, chẳng những không đủ tư cách thọ
giới Tỳ-kheo mà luôn cả tư cách để thọ giới Sa-di cũng
không được. Trái lại, giới Bồ Tát không có những hạn
chế nghiêm khắc như vậy.
Trong
kinh Anh Lạc giảng dạy: “Lục đạo chúng sanh thọ đắc
giới, đản giải ngữ đắc giới bất thất” (Tất cả chúng
sanh trong lục đạo đều được thọ giới, chỉ cần hiểu
được lời nói của Pháp Sư thì đắc giới không mất).
Trong
phần văn tụng của kinh này cũng thuyết minh:
Nhứt
thiết hữu tâm dã,
Giai
ưng nhiếp Phật giới.
Dịch:
Tất
cả những người có tâm thức,
Ðều
nên nhiếp thọ Giới Luật.
Cũng
trong kinh này, văn trường hàng lại nói rõ hơn: “Nếu người
thọ giới Bồ Tát này, không luận là quốc vương, thái tử,
các quan chức hay tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, không luận là chư thiên
cõi Sắc, cõi Dục, không luận là hàng thứ dân, huỳnh môn,
dâm nam, dâm nữ hay hàng nô tỳ, cũng không luận là tám bộ
quỷ thần, thần Kim Cương hay loài súc sanh, nhẫn đến kẻ
biến hóa, hễ ai nhận hiểu được lời truyền giới của
Pháp Sư thời đều được thọ giới và đều gọi là thanh
tịnh thứ nhất”.
Y chiếu
theo Ðại Thừa Giới Kinh thuyết minh thì bất cứ loại chúng
sanh nào trong lục đạo, bất luận tư chất thế nào, chỉ
cần hiểu được lời nói của Pháp Sư thuyết giới, đều
có tư cách để thọ giới của Phật, không giảm biệt những
căn cơ nào.
Trường
hợp này so với những quy định thọ giới Tỳ Kheo bên Thanh
Văn thừa, đích thực là khoan dung hơn nhiều. Thọ luật nghi
giới bên Thanh Văn, chẳng những kẻ hoàng môn, nhị hình ở
trong cõi Nam Thiệm Bộ Châu không thể thành tựu luật nghi,
mà chính những người chánh thường (sáu căn đầy đủ),
thân tướng đoan nghiêm ở Bắc Câu Lô Châu cũng không thể
thọ Biệt Giải Thoát Giới, vì đời sống của những người
ở châu ấy quá sung mãn, nên không thể thọ Biệt Giải Thoát
Giới (giới Thanh Văn).
Tư
cách thọ giới Bồ Tát dù nói là rất phóng khoáng, chỉ cần
những loại chúng sanh hiểu được lời của Pháp Sư truyền
giới thì đều được thọ giới. Nhưng cần phải có chủng
tánh Bồ Tát, phát tâm Bồ Ðề, có tâm hạnh thù thắng, mới
có thể cảm được tịnh giới Bồ Tát.
C. Phạm Võng
Giới Kinh đích truyền lai ngã quốc
(kinh Phạm
Võng chính thức truyền đến nước của tác giả)
Trong
phạm vi những khu vực Ðại Thừa Phật giáo lưu hành, tất
cả Phật tử đều phải thọ Luật Nghi giới. Riêng hai chúng
xuất gia tỳ kheo và tỳ kheo ni tuyệt đối phải thọ giới
Bồ Tát. Những hành giả khác trong ngũ chúng, nếu ai phát
Bồ Ðề tâm thọ giới Bồ Tát, đều có thể thọ Tâm Ðịa
đại giới này. Hơn nữa, từ trước đến nay, các Phật tử
đều y theo kinh Phạm Võng này để thọ giới Bồ Tát. Cho
đến gần đây, Thái Hư đại sư đề xướng giảng giải
kinh Ưu Bà Tắc Giới, mới có sự phân biệt trong việc truyền
trao giới Bồ Tát:
- Hàng
Phật tử tại gia thọ giới Bồ Tát thì y theo kinh Ưu Bà Tắc,
thọ sáu giới trọng, hai mươi giới khinh.
- Chúng
Phật tử xuất gia, thọ giới Bồ Tát thì y theo kinh Phạm
Võng thọ mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh.
Phạm
Võng Giới Kinh nhờ đó lưu hành rất rộng ở Trung Quốc,
và được chư đại đức nhiều thời đại rất mực tôn
trọng. Nhưng vì vấn đề văn tự truyền dịch cũng như lịch
sử truyền dịch thiếu sự minh bạch, kỹ lưỡng nên về
sau không ít học giả nghi kinh Phạm Võng là ngụy tạo. Do
đó sự hoằng thông kinh Phạm Võng bị ảnh hưởng rất lớn.
Vì lý do ấy, bây giờ nên giải thích thế nào về vấn đề
truyền nhập kinh Phạm Võng sang Trung Quốc?
Trước
khi nói về vấn đề truyền dịch kinh này, tôi thiết nghĩ
trước tiên, nên thuyết minh về:
* Sự
truyền dịch Bồ Tát Luật tạng
Theo
tương truyền của chư thượng đức cổ đại: Vào triều
nhà Lương, ngài Chơn Ðế tam tạng Pháp Sư lúc sắp đến
Trung Hoa hoằng truyền Phật pháp, ngài từng suy nghĩ phải
mang Bồ Tát Luật Tạng theo.
Nhưng
lúc ngài vừa đem bộ Luật Tạng lên thuyền thì thuyền sắp
bị đắm xuống biển. Mọi người trong thuyền lúc bấy giờ
đều kinh sợ, cho rằng vì đồ vật quá nhiều, nên vội vã
lấy bớt ra. Nhưng dù bớt ra bao nhiêu, thuyền vẫn cứ như
sắp đắm.
Ðến
cuối cùng khi lấy Bồ Tát Luật tạng đem ra thì thuyền nhẹ
tênh lướt sóng, không còn hiện tượng sắp chìm đắm nữa.
Chơn Ðế tam tạng mục kích sự kiện này, lòng ngài buồn
vô hạn, không thể dằn được, Ngài than rằng: “Giới Luật
Bồ Tát vô duyên với đất Hán như thế ư!”
Nếu
như truyền thuyết trên là sự thật, thì chẳng những Chơn
Ðế tam tạng có cảm tưởng đáng buồn, mà chính chúng ta
hiện tại cũng có cảm giác bi thống vô hạn. Do đó nên biết
sự lưu truyền Bồ Tát Giới không phải là dễ!
Lại
có một truyền thuyết nữa như sau:
Ngài
Ðàm Vô Sấm tam tạng Pháp Sư đến Trung Hoa. Lúc ngài ở tại
châu Tây Lương, hoằng truyền Phật pháp, có quý sa môn Pháp
Tấn v.v... từng hết lòng thỉnh cầu Ðàm Vô Sấm tam tạng
truyền trao giới pháp Bồ Tát và khao khát được ngài phiên
dịch Bồ Tát Giới Bổn để nương theo đó mà trì tụng,
phụng hành. Nhưng Ðàm Vô Sấm tam tạng chẳng những không
tiếp nhận lời thỉnh cầu của chư sa môn Pháp Tấn, lại
còn thốt ra những lời hàm chứa nhiều ý khinh miệt: “Thử
quốc nhơn đẳng tánh đa giảo hoạt, hựu vô cương tiết,
khởi hữu kham vi Bồ Tát lợi khí” (Nghĩa là: Những người
trong nước này đa số là hạng người tâm tánh giả dối,
quỷ quyệt, không có tánh cương trực khí tiết, làm sao có
thể kham nhẫn thực hành pháp khí của Bồ Tát đạo!)
Thế
nên mặc cho quý sa môn Pháp Tấn khổ lụy cầu khẩn thế
nào, trước sau Ðàm Vô Sấm tam tạng vẫn quyết không bằng
lòng truyền trao Bồ Tát giới cho các vị này. Chư sa môn Pháp
Tấn không còn cách nào hơn, chỉ đem tâm tối cực thành kính,
khẩn thiết ở trước tượng Phật ai khẩn, lập thệ thỉnh
cầu pháp giới.
Do
nơi tinh thần thành khẩn của quý ngài đã đến mức cùng
tột, nên vừa đúng một tuần, các Ngài mộng thấy đức
Di Lặc Bồ Tát đích thân vì các ngài truyền trao giới pháp.
Sau khi truyền giới Bồ Tát xong, đức Di Lặc lại đem bộ
Bồ Tát Giới Bổn trao cho quý sa-môn. Các ngài ghi nhớ đọc
tụng rất rõ ràng.
Sau
khi tỉnh mộng, các ngài đặc biệt đến ra mắt Ðàm Vô Sấm
tam tạng. Khi Ðàm Vô Sấm vừa trông thấy tướng mạo khác
hẳn với trước đây của các ngài, Pháp Sư biết đó là
những bậc pháp khí Ðại Thừa nên vô cùng hân hoan bảo rằng:
“Hán độ diệc hữu nhơn hĩ!” (Ðất Hán cũng có người
đủ pháp khí Ðại Thừa). Ngài không đợi sự cầu thỉnh
của quý sa môn, tự động dịch quyển giới bổn ra Hán tự.
Thật
là một sự trùng hợp không thể nghĩ bàn, vì quyển giới
bổn của Ngài Ðàm Vô Sấm phiên dịch so với văn nghĩa của
quyển Giới Bổn mà đức Di Lặc trao cho quý sa môn trong giấc
mộng rốt ráo giống hệt nhau.
Bộ
Ðịa Trì Giới Bổn hiện đang lưu hành trong kinh tạng gọi
là Bồ Tát Ðịa Trì Kinh. Thật ra, Bồ Tát Ðịa Trì Kinh là
tên phiên dịch khác của Du Già Luận Bồ Tát Tâm Ðịa. Nhưng
chỉ có điều là giới bổn của Huyền Trang Pháp Sư phiên
dịch, sự tường lược có chút sai khác mà thôi.
Trên
đây là nói về sự liên quan giữa các Ðại Thừa Giới Bổn.
Ở Ấn Ðộ vẫn sẵn có Bồ Tát Quảng Luật, nhưng vì chưa
truyền đến Trung Quốc, nên Ðại Thừa Bồ Tát Luật Nghi
ở Trung Quốc không hoàn bị bằng luật nghi của Thanh Văn
thừa.
Năm
bộ luật của Thanh Văn Thừa:
- Ðàm
Vô Ðức.
-
Tất Bà Ðạ.
-
Ca Diếp Di.
-
Sa Di Tắc.
-
Bà Ta Phú Ða.
Muốn
biết rõ phải tham khảo trong Ðại Luật Tỳ Kheo sớm đã
truyền đến Trung Quốc từ trước. Những mối quan hệ này,
thiết tưởng không cần nói nhiều. Phần chủ yếu cần đề
cập chi tiết và rõ ràng là sự phiên dịch của kinh Phạm
Võng khi được truyền đến Ðông Ðộ.
Phạm
Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn từ trước đến nay đều nói
Huyền Trang Pháp Sư phiên dịch. Sự việc này được các nhà
chép kinh đồng ghi nhận, dường như không có điều gì nghi
hoặc, nếu không muốn nói là rất thâm tín.
Nhưng
căn cứ vào Pháp Kinh Sở Biên Soạn Chi Chúng Kinh Mục Lục
(bộ sách ghi chép mục lục các kinh), thì vào triều đại
nhà Tùy, niên hiệu Khai Hoàng thứ 14 (Tây lịch 594), kinh Phạm
Võng bị liệt vào hạng các luật đáng nghi hoặc, lại có
nơi cho: “Chư gia cụ lục, đa nhập nghi phẩm”, nghĩa là:
Các nhà ký lục ngày xưa phần nhiều liệt kinh Phạm Võng
vào loại kinh luật đáng nghi ngờ.
Chính
vì lẽ đó nên về sau, một số học giả nghi kinh Phạm Võng
không phải do đức La Thập Pháp Sư chính tay phiên dịch. Từ
mối nghi ngờ về dịch giả, tiến đến sự nghi kinh Phạm
Võng là ngụy tạo. Những vấn đề quan hệ đến quyển kinh,
thiết tưởng không nên nói nhiều để tránh cho vấn đề
càng thêm phức tạp. Vì sự việc ấy rốt ráo như thế nào,
xin đợi hàng học giả khảo chứng.
Căn
cứ vào chư thượng đức trong nhiều thời đại đã y cứ
theo kinh Phạm Võng truyền giới Bồ Tát, cho nên chúng tôi
hiện nay cũng công nhận kinh Phạm Võng này chính từ đức
La Thập Pháp Sư phiên dịch.
* Việc
La Thập Pháp Sư phiên dịch kinh Phạm Võng như sau:
Tương
truyền kinh Phạm Võng ở Ấn Ðộ có mười vạn bài tụng,
nếu y theo kinh văn dịch hết ra thì có tất cả một trăm
hai mươi quyển, sáu mươi mốt phẩm. Khi đức La Thập Pháp
Sư dịch kinh này, chỉ dịch một phẩm thứ mười, thuyết
minh về Bồ Tát Tâm Ðịa Giới Phẩm.
Phiên
dịch xong, Ngài lại cho chép ra tám mươi mốt bộ để lưu
thông nơi đời. Việc này trong bài tựa kinh Phạm Võng lại
ghi: “Triều Hậu Tần tại Trường An, Thích Tăng Triệu thuật”.
Nhưng sự thật không phải Thích Tăng Triệu thuật, mà chỉ
nói rằng:
“Cho
nên niên hiệu Hoằng Thỉ năm thứ ba, gió thuần hòa thổi
đến Ðông Ðộ” (Câu này ám chỉ chánh pháp Như Lai truyền
đến Ðông Ðộ).
Bấy
giờ, Thiên Tử hạ chiếu, kính thỉnh Pháp Sư Cưu Ma La Thập
nước Thiên Trúc, đến ở chùa Thảo Ðường, nơi Trường
An, để cùng các sa môn Nghĩa Học, hơn ba ngàn vị Pháp Sư,
tay cầm bản Phạn văn, miệng thì phiên dịch, giải thích
tất cả hơn năm mươi bộ. Trong đó, có kinh Phạm Võng gồm
một trăm hai mươi quyển, sáu mươi mốt phẩm, và Bồ Tát
Tâm Ðịa Phẩm, là phẩm thứ mười trong kinh này, chuyên thuyết
minh những công hạnh của Bồ Tát.
Lúc
bấy giờ, quý sa môn Ðạo Dung, Ðạo Ảnh v.v... tất cả gồm
ba trăm vị, đều thọ giới Bồ Tát. Mỗi người đều có
tụng phẩm Tâm Ðịa này để làm chỗ thù hướng cho tâm
mình. Cho nên thầy trò tâm ý khế hợp, đồng nhau kính cẩn,
tả phẩm Tâm Ðịa này, tất cả tám mươi mốt bộ để lưu
truyền trong nhân gian”.
Căn
cứ vào đoạn văn tự thuật trong kinh Phạm Võng vừa dẫn
trên thì thấy đó là một bằng chứng hiển nhiên chứng tỏ
chính Pháp Sư La Thập phiên dịch bộ kinh này, không một luận
thuyết nào có thể bác bỏ được. Có thể nói đó là một
bằng chứng vững vàng như núi, không một thế lực nào có
thể xô ngã được. Thế mà hàng học giả không xem kỹ lời
tựa trong kinh đã nói, lại cho rằng do ngài Tăng Triệu thuật,
đến nỗi khiến cho mọi người hoài nghi, cho rằng kinh Phạm
Võng không phải chính tay đức La Thập dịch.
Kinh
Phạm Võng hiện nay có hai quyển: Thượng và Hạ.
Có
người cho rằng: “Quyển thượng không phải do La Thập Pháp
Sư dịch, việc ấy miễn tranh luận. Quyển Hạ mới chính
là Pháp Sư La Thập dịch và cần phải hết lòng tin chắc”.
Ðây chẳng qua là một cách nói dung hòa, cũng là một dụng
tâm duy trì giới pháp. Nhưng nếu khảo sát thật sự trên
lịch sử thì thuyết dung hòa này đúng hay không? Chúng ta nên
có thái độ dè dặt, và hãy đợi khi nào có tài liệu khả
dĩ tin tưởng được, sẽ xét lại sau.
Lại
còn có sự tương truyền rằng kinh Phạm Võng là do đức La
Thập phiên dịch từ trước đến nay gọi: “Phạm Võng Kinh
Bồ Tát Tâm Ðịa Giới Phẩm”, cũng có nơi bỏ bớt chữ
Giới mà gọi: “Phật thuyết Phạm Võng Kinh Bồ Tát Tâm Ðịa
phẩm”.
Bồ
Tát Tâm Ðịa Phẩm này lại chia làm hai phẩm: Thượng và
Hạ.
- Theo
kinh văn, phẩm Thượng do Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ở
cung trời Ðệ Tứ Thiền kình tiếp (4) tất cả đại chúng,
đồng đi về cung Tử Kim Cương Quang Minh ở thế giới Liên
Hoa Tạng. Nơi đó, đức Phật Lô Xá Na ở trên đài Liên Hoa,
đối trước ngàn trăm ức Phật, Phật Thích Ca và Hoa Quang
Vương Ðại Trí Minh Bồ Tát, rộng giảng ba mươi tâm, pháp
Thập Trụ v.v... cùng với pháp môn Thập Ðịa. Do nơi thuyết
giả và thọ giả đều là Thánh Nhơn, nên đối với căn cơ
của phàm phu, đương nhiên là khó khế hợp được phần giảng
pháp này.
- Phẩm
Hạ là do Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, sau khi thọ trì
pháp môn Tâm Ðịa do đức Lô Xá Na giảng (đã nói ở bên
trên), từ thế giới Liên Hoa Tạng ẩn thân, rồi ở nơi 10
chỗ khác thị hiện thành Phật thuyết pháp. Ðức Phật ngồi
ở dưới cội Bồ Ðề nơi cõi Diêm Phù Ðề, tại thế giới
Ta Bà này, tụng lại giới pháp Bồ Tát, gồm mười giới
trọng, bốn mươi tám giới khinh, mà đức Phật Lô Xá Na đã
kiết giới và giảng giới. Hiện nay, chúng tôi đang giảng
kinh văn phẩm Hạ. Xưa gọi là “Phạm Võng Kinh Lô Xá Na Phật
Sở Thuyết Thập Trọng, Tứ Thập Bát Khinh Giới”; ý ấy
cũng chính là do sự tích này.
Kinh
này do chính đức La Thập Pháp Sư phiên dịch, từ trước
đến nay đã lưu truyền như vậy. Phần lịch sử của dịch
giả, thiết tưởng cũng nên giới thiệu sơ lược nơi đây.
Căn
cứ theo bộ Trung Quốc Phật Giáo Sử, đức La Thập Pháp Sư
đến Trung Quốc nhằm lúc mùa Ðông, triều Dao Tần, niên hiệu
Hoằng Thỉ thứ ba (Tây lịch 401). Ngài ở tại Trường An
đến niên hiệu Hoằng Thỉ thứ mười lăm (Tây lịch 413),
tháng Tư năm ấy, Pháp Sư viên tịch. Pháp sư đã ở tại
Trung Quốc hoằng truyền chánh pháp, giáo hóa chúng sanh chỉ
trong thời gian hơn 10 năm. Trong thời gian ngắn ngủi ấy, công
trình phu dương (5) thánh giáo và phiên dịch rộng rãi các
diệu điển của Pháp Sư thực là một ảnh hưởng hết sức
vĩ đại đối với Phật giáo Trung Quốc.
Công
đức này được thể hiện rõ trong hai câu điếu văn của
Tăng Triệu Pháp Sư, khi đến phúng điếu đức La Thập, như
sau:
Pháp
cổ trùng chấn ư Diêm Phù,
Phạm
luân tái chuyển ư Thiên Bắc.
Dịch:
Trống
chánh pháp rung chuyển cõi Diêm Phù,
Xe
phạm hạnh trở lại vận chuyển miền trời Bắc.
Sự
hưng thạnh pháp duyên của đức La Thập đương thời có thể
nói rằng xưa nay ít có pháp tịch nào có thể sánh kịp. Vì
thế, khi đức La Thập vừa đến Quan Trung, tất cả tăng tài
tuấn tú của Phật giáo quốc nội đương thời, đều vân
tập đến dưới pháp tòa của Ngài để học hỏi và tùng
sự phiên dịch kinh luận, đồng thời cộng tác việc hoằng
hóa chánh pháp.
Kinh
luận của La Thập Pháp Sư phiên dịch lấy “tánh không, Bát
Nhã học” làm chủ yếu:
- Các
kinh phiên dịch gồm có Ðại Phẩm Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát
Nhã, Pháp Hoa, Duy Ma, Tư Ích...
- Các
luận phiên dịch gồm có Trung Luận, Bách Luận, Thập Nhị
Môn Luận, Ðại Trí Ðộ Luận...
Ðức
Pháp Sư La Thập cùng tất cả môn nhân của ngài, những vị
đã thấm nhuần giáo lý và được huân đào từ lâu, đều
lấy Ðề Bà Luận của Long Thọ Bồ Tát để xiển dương
Trung Ðạo Diệu Nghĩa, Bát Nhã Tánh Không. Chân nghĩa của
Ðại Thừa Phật pháp nhờ đó mới được tỏ rạng ở Trung
Quốc.
Nên
trong bộ Trung Quán Luận Giảng Ký giải rõ: “Sự dịch thuật
của đức La Thập ảnh hưởng cho Ðại Thừa Phật giáo ở
Trung Quốc vô cùng sâu rộng, dù trực tiếp hay gián tiếp,
đều được thọ nhận ảnh hưởng của Ngài, nếu không có
sự truyền dịch của đức La Thập thì Phật Giáo Trung Quốc
hiện tại, quyết không được như thế...”
Chúng
ta đối với thành tích dịch thuật của Ngài, cần phải từng
giờ, từng phút tri ân không quên! Phụ thân của La Thập Pháp
Sư tên Cưu Ma La Viêm, người nước Thiên Trúc. Mẫu thân ngài
là Kỳ Bà công chúa, em gái quốc vương nước Quy Tư. Khi phụ
thân của Pháp Sư đến Quy Tư, quốc vương nước này đem
em gái gả cho. Sau khi kết hôn, bà đản sanh ra Pháp Sư. Ngài
xuất gia lúc bảy tuổi, sau đó du học các địa phương ở
Ấn Ðộ, việc này các kinh thường nói, ở đây miễn thuật
lại.
D. Bổn
kinh kinh đề - phẩm đề đích lược thích
(lược giải
thích đề mục kinh và đề mục phẩm Tâm Ðịa)
Kinh
này gọi là “Phật thuyết Phạm Võng kinh”, chủ đích lấy
Tâm Ðịa Giới Pháp làm phép tắc thân tâm cho hành giả. Cho
nên cả đến các bậc chư thiên, chư tiên, biến hóa nhơn
và Bồ Tát, cũng không thể tuyên thuyết. Duy chỉ có mỗi
một mình đức Phật, là bậc đại giác thánh giả, mới có
thể tự thân p