Thiền
trong tiếng Anh, tùy theo ngữ cảnh,
có thể được dịch như một danh
từ: meditation, contemplation, concentration,
abstraction, trance…hoặc như một động
từ: to meditate, to comtemplate, to think
of, to imagine, to call to mind, to recollect…
Định
trong tiếng Anh được dịch là Samadhi.
Nói
đến thiền thì đa số người đều liên tưởng đến phương
pháp hành trì của Phật giáo. Ngay trong Phật giáo, chữ “thiền”
cũng được dịch từ những chữ có nội dung khác biệt!
- Thiền,
trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy, viết bằng tiếng Pali
là Jhana. Jhana
dùng để chỉ bốn định hữu sắc.
- Thiền,
trong kinh điển Phật giáo đại thừa, viết bằng tiếng Sanskrit
có thể là bhavana
để nói chung về sự luyện tâm, hoặc là dhyana
nếu muốn ám chỉ bốn loại định vô sắc.
Tuy
nhiên, còn nhiều phương pháp thiền khác, cũng được dùng
trong Yoga, Lão giáo… Vậy chữ Thiền
chỉ là một từ gọi “chung chung” của rất nhiều các nội
dung rất khác biệt. Với kiến thức phổ thông, thiền cũng
thường được hiểu như phương pháp thư dãn, chống stress,
cân bằng đầu óc. Với kiến thức chuyên môn hơn thì có
sự phân biệt giữa thiền của Phật giáo, thiền của Thiền
tông, thiền của Yoga hay thiền của đạo Lão v.v…
Thiền
là gì?
Bởi
vì thiền là phương pháp của nhiều pháp môn, nên câu hỏi
“thiền là gì?” quả là một câu hỏi không được rõ ràng
và chính xác. Nhưng đối với đa số những người sơ tâm,
đó luôn là một câu hỏi được đặt ra với nhiều trăn
trở. Bài viết này là một cố gắng để trả lời một câu
hỏi rất “mơ hồ”, nhưng rất thường được đặt ra!
Và bài viết này coi Thiền là một từ chung mà ta thường
gặp, nghĩa là phạm trù của nó, không thuộc về riêng của
một tôn giáo hay tông phái nào cả.
Google
mệnh đề ‘Thiền là gì?” cho ra những trang kết quả tiếng
Việt với quá nhiều các câu trả lời khác biệt. Mỗi người
đứng ở những pháp môn khác nhau, ở những góc độ khác
nhau, cho nên những câu trả lời cũng khác nhau. Sau đây là
một số câu trả lời tìm thấy ngẫu nhiên trên Internet:
Của
trang Yoga VN:
Theo thuật ngữ Yoga, Thiền được gọi là “Dhyana” nghiã
là “dòng chảy của tâm trí”. Đây là một trạng thái tinh
khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì
ngăn trở, hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ về Ý Thức Vũ
Trụ.
Của
Answers.Yahoo.vn
: Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động
của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác
dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất
cân bằng chức năng cơ thể.
Của
Wiki
tiếng Việt: Tất cả các trào lưu
triết học Ấn Độ
đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung
lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt
là là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác
là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Đây là một
thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những
phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy
nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”,
“Giác ngộ”…
Của
Ajhan
sumedho-nhà sư tiểu thừa: Trong Phật
giáo, chữ Thiền được dùng để chỉ định hai cách thực
tập sau đây. Cách thực tập một gọi là ‘Thiền định’
(samatha), và cái thứ hai gọi là ‘Thiền
Minh Sát’ (Vipassana)…
Của
một
sư cô: Thiền là gì? Thiền là trạng
thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra
trước mặt hay xung quanh ta…
Của
một hòa thượng:
Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả,
vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải
thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt
ngoài kinh điển, hay “biệt truyền ngoài giáo điển”, chỉ
thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật “trực chỉ minh tâm,
kiến tánh thành Phật”.
Của
Krisnamurti:
Thiền không phải là phương tiện. Nó là cả hai: phương tiện
và cứu cánh. Thiền là một điều phi thường. Nếu có bất
cứ một sự bắt buộc, cố gắng bắt tư tưởng phải tuân
thủ, bắt chước, thì Thiền sẽ là một gánh nặng
Của
Osho
: Vậy Thiền không phải là chống lại hành động. Bạn không
cần phải thoát ly ra khỏi cuộc sống. Nó đơn thuần dạy
bạn một cách sống mới: Bạn trở thành trung tâm của cơn
xoáy lốc. Cuộc sống của bạn cứ tiếp diễn, nó cứ ngày
một mạnh mẽ thêm, với nhiều niềm vui sướng hơn, với
nhiều sáng tỏ hơn, nhiều cái nhìn hơn, nhiều sáng tạo hơn,
mà bạn thì vẫn đứng xa, chỉ là một người quan sát trên
đồi, đơn thuần thấy tất cả những điều đang xảy ra
quanh bạn.
Các
câu trả lời vừa liệt kê ở trên, cho thấy có rất nhiều
kiểu trả lời với những nội dung rất khác biệt. Vì thế,
vấn đề quả thực rất không đơn giản.
Câu
hỏi thiền là gì? Luôn là nỗi
bức xúc cho một người sơ tâm mới bước vào thiền. Vô
số sách về Yoga và Thiền định đã được xuất bản, và
hiện nay có thêm cả Internet, một khối tư liệu thật phong
phú của toàn thế giới. Nhưng nếu không khéo, càng đọc
càng lẫn lộn! Chỉ có người thực sự có thể nghiệm về
thiền mới có thể viết hoặc dịch những tài liệu về thiền
một cách đúng đắn và chính xác. Nếu người viết hoặc
dich sách hoàn toàn không có kinh nghiệm thực hành, thì bạn
sẽ nhận thấy ngay rằng cuốn sách luôn có biểu hiện rối
rắm khó hiểu. Sụ khó hiểu ít khi ở bản chất vấn đề,
mà chính ở tại người giải thích. Tôi không tin nhiều lắm
ở luận điệu cho rằng nội dung thiền định là không thể
diễn đạt, bất khả tư nghì. Hoặc là phát biểu, hai là
phải im lặng. Không thể cứ nói, cứ viết tràng giang, in
sách lấy tiền rồi cuối cùng lại kết luận là tri giả
bất ngôn! (biết thì không nói được) hoặc bất khả tư
nghì! (không thể nghĩ bàn). Như vậy phải chăng là chơi khăm
độc giả? Tôi nhớ có đọc rất nhiều luận điệu kiểu
“thiền thì không thể diễn đạt”,
“Đi đứng nằm ngồi cũng là thiền !”
hoặc “Thiền là nhướng mày chớp
mắt”. Hiện tại, trên đa số
sách báo, ta luôn gặp những lời giải thích đầy “phong
cách thiền” đại loại giống như vậy. Một thiền sư có
thể nghiệm thiền đầy đủ thì dù có dùng lời lẽ bình
dị mộc mạc thì người nghe vẫn hiểu, vẫn thấy nó là
ngôn ngữ trí huệ. Một người không có thể nghiệm hoặc
thể nghiệm quá ít, dù có xử dụng ngôn ngữ uyên thâm trác
tuyệt, thì trước sau cũng chỉ là loại “ngôn ngữ nhái”
rỗng tuếch. Cũng phải biết rằng, Đức Phật trong lúc giảng
dạy, ngài không dung thứ ngôn ngữ bác học lúc bấy giờ,
mà dùng ngôn ngữ bình dị của giới dân giả đó là tiếng
Pali. Phải biết rằng những thể nghiệm thiền, những định
chứng, đã từng được mô tả rất mạch lạc và rõ ràng
trong kinh điển Phật giáo. Đó là bốn định jhana và bốn
định dhyana. Tại sao, qua một thời gian dài “phát triển”,
thế hệ sau lại tránh né những mô tả cần thiết này. Tôi
để chữ “phát triển” trong ngoặc như một nỗi băn khoăn!
Bây giờ tài liệu trên Internet về kinh luận của PG Nguyên
thủy, PG Đại thừa, Mật tông, Thiền tông, Yoga v.v…quá đầy
đủ, cho nên việc tìm hiểu và so sánh giữa các loại “Thiền”
có phần dễ dàng hơn.
Câu
hỏi Thiền là gì phải được trả lời tùy theo nội dung
mà nó muốn ám chỉ. Nghĩa là câu trả lời phải tùy theo
từng tôn giáo hoặc pháp môn. Xin liệt kê sau đây một số
nội dung chính:
Thiền của
Đạo Phật
Gồm
có hai kỹ thuật chính là Chỉ (samatha) và Quán
(vipassana). Pháp Chỉ gọi là định chỉ hay cũng thường gọi
là thiền định. Thiền định là công phu làm dừng lại dòng
tâm thức, đưa đến trạng thái ngưng bặt và hoàn toàn yên
lặng của tâm. Cần phân biệt:
Thiền
của Phật giáo nguyên thủy: Jhana (chữ Pali), gồm
bốn bậc thiền là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Còn gọi là bốn định hữu sắc (rupa samadhi).
Thiền
của Phật giáo Đại thừa: Dhyana (chữ Sanskrit),
gồm bốn bậc là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô
sở hữu xứ và phi thưởng phi phi tưởng xứ. Còn gọi là
bốn định vô sắc (arupa dhyana).
Như
vậy, từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo đại thừa,
Thiền đã có sự thay đổi nội dung. Từ Phật giáo đại
thừa đến Thiền tông lại thêm một thay đổi nội dung lớn
hơn nữa. Trên sách báo chữ “Thiền” được sử dụng rất
rộng rãi, vì thế nếu không so sánh nó trong ngữ cảnh riêng
biệt thì dễ lẫn lộn. Có khi “Thiền” được dùng như
là một động từ:
“Thiền”
là động tác quay tâm vào trong, làm êm dịu rồi dừng bặt
những dòng ý nghĩ và cảm xúc đang tuôn chảy trong trí óc
của bạn: Ví dụ thiền “định” hay còn gọi là pháp định
chỉ tức Samatha (pháp ngưng lại dòng tâm thức).
”Thiền”
cũng là động tác quan sát theo dõi các đối tượng về thân
hay tâm: Ví dụ: “Thiền quán” tức Vipassana. Đối với thiền
Phật giáo, nên tránh dùng chữ “thiền” chung chung, mà nên
dùng chữ “thiền-định” hay “thiền-quán”
để thật rõ nghĩa.
“Thiền”
cũng được dùng như là một danh từ. Trong một số các tài
liệu, “thiền” có thể được dùng để:
Ám
chỉ một trạng thái ngưng bặt của mọi ý nghĩ và cảm xúc
nhưng với sự tỉnh thức hoàn toàn : (Samatha, Định
chỉ).
Ám
chỉ những trạng thái đặc biệt phát sinh từ sự yên tĩnh,
trong sáng và tỉnh thức của định (Samadhi). Ví
dụ Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
“Thiền”
trong ngôn ngữ bình thường có thể ám chỉ một kĩ thuật
hay phương pháp làm yên tâm. Ví dụ: thiền định chỉ, thiền
quán chiếu, thiền tĩnh, thiền động, Như lai thiền, Tổ sư
thiền v.v…
Có
người (ví dụ Krisnamurti) nói rằng thiền không cần đến
phương pháp và kĩ thuật, vì phương pháp hay kĩ thuật vận
dụng đến đầu óc (mind), cho nên chỉ làm chướng ngại việc
nhập thiền. Điều đó đúng! Nhưng Osho phân tích rằng, trước
khi đi đến trạng thái thiền, đầu óc có quá nhiều chướng
ngại (năm triền cái, the five hidrances), nên cần phải có kĩ
thuật để vượt những chướng ngại này. Phương pháp hay
kĩ thuật là để chuẩn bị cho giai đoạn trước thiền. Hoặc
ta cũng có thể nghe một kiểu nói rất “phong cách thiền”
là: thiền không có “động” cho nên không thể có “động
từ thiền”. Điều này đúng với tình trạng của thiền
chỉ (samatha) nhưng không đúng với thiền quán (vipassana). Ngay
trong trường hợp của chỉ (samatha), khi chuẩn bị bắt đầu
vào “chỉ” thì ta đã làm một động tác rồi! Tóm lại,
phân biệt danh từ, động từ, hay thế này thế nọ, cốt
làm sao cho người muốn tìm hiểu, nắm bắt cái khái niệm
chung nhất của chữ thiền, chữ mà ta thường đọc được
trên sách báo. Còn cưỡng bức ý nghĩa của chữ thiền theo
quan niệm riêng của từng môn phái chỉ là chuyện riêng của
môn phái đó!
Thiền của
Thiền tông
Dĩ
nhiên, Thiền tông cũng là Đạo Phật, nhưng nên tách phương
pháp thiền của Thiền tông thành một mục riêng, vì tính
cách đặc thù của pháp môn này. Rất nhiều sách, bài viết,
uyên bác cao siêu giải thích về phương pháp thiền của thiền
tông. Tuy nhiên, tất cả đều làm cho người đọc, khó hình
dung được thực sự bản chất thiền của Thiền tông là
gì! Người sơ tâm chẳng nên đi thẳng vào sách thiền của
Thiền tông, một môn phái đặc thù và khác biệt so với đạo
Phật truyền thống. Lý do là chữ “Thiền” của thiền tông
mang nội dung gần như là xa lạ với chữ “Thiền” của
các tông phái khác. Cũng nên biết rằng, khi một nhánh Phật
giáo đại thừa phát triển thành Thiền tông Trung quốc, thì
chữ thiền (Dhyana) của Đại thừa lại một lần nữa thay
đổi với một nội dung khác.
Thiền
của thiền tông không phải là
thiền định, không phải là jhana hay dhyana,
thiền của Thiền tông cũng không
hẳn là tọa thiền. Thiền của
Thiền tông nhắm vào mục đích kiến tánh để đốn ngộ,
cho nên phương pháp của nó là một đặc thù. Đây có thể
là “quán công án” hoặc “khán thoại đầu”,
cho nên nó có thể thực hiện ở bất cứ tư thế nào, hay
ở bất cứ nơi đâu. Đây có thể là thủ pháp đánh
và hét. Đây có thể là những câu hỏi đáp với ngôn
ngữ siêu dị thường. Mục đích trong phương pháp của Thiền
tông là nhằm phá hủy cái ngôn ngữ hình thức, vốn được
cho rằng không thể chuyên chở được nội dung của thực
tại. Truyền thống này đưa đến cách diễn đạt của Thiền
tông luôn lập dị trong mọi trường hợp.
Mục
đích của truyền đạt là làm sao cho người khác thấu hiểu.
Tại sao, nói về thiền thì cứ phải dùng cái loại văn chương
“trác tuyệt”, “phóng dật”, “đầy ẩn dụ”, và thường
là "rất lập dị" của thiền sư? Mà không phải là ngôn ngữ
bình dị thông thường (nếu có thể), vì người nghe bao giờ
cũng là người "còn đứng ngoài cửa", chưa phải là thiền
sư! Tại sao không để ý đến mục đích của truyền đạt.
Đức Phật đã từng dùng ngôn ngữ bình dân (Pali) để diễn
đạt ý tưởng của mình một cách hiệu quả cơ mà! Tiếng
Pali là tiếng linh thiêng dùng trong tôn giáo và nghi thức tế
lễ, được lớp người bình dân thời đó xử dụng. Trong
khi đó tiếng Sanskrit dùng cho giai cấp quí phái hoặc học
giả.
Thiền của
Yoga
Đạo
Phật xuất phát từ minh triết của Ấn độ. Thiền trong đạo
Phật cũng đã bắt nguồn từ Yoga. Thời đó Yoga là một trong
sáu phái triết học nổi tiếng của Ấn độ. Yoga có những
tông phái thực hành thiền để đạt cứu cánh giải thoát.
Pantajali
là người có công biên tập tất cả tài liệu về Yoga trong
giai đoạn từ thế kỉ thứ 05 đến thế kỉ thứ 03 trước
công nguyên.
Bây
giờ khi nói đến thiền, cũng có rất nhiều người liên tưởng
đến những phương pháp Yoga. Ngoài yoga rèn luyện khí lực
và cơ thể vật chất là Hatha yoga, còn có Yoga luyện tâm,
đó là Rahja yoga. Rahja yoga quan niệm Vật chất
không thể tách rời Ý thức hay ngược lại. Tâm và Vật là
một thực tại thống nhất, không thể tách rời. Sự tiến
hóa của tâm tất yếu phải đi liền với sự thay đổi khí
lực tức năng lượng cơ thể và ngược lại. Từ Rajha yoga
phát sinh rất nhiều kĩ thuật Yoga khác như: Kundalini yoga, Transcendental
yoga, Kriya yoga v.v…Tất cả những phương pháp này có thể
gọi là thiền của yoga.
Thiền của
Mật tông Phật giáo
Mật
tông Phật giáo bắt đầu ở Ấn độ, nhưng lại chỉ phát
triển ở Tây Tạng, nên nói đến Mật tông Phật giáo là
nói đến Mật tông Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chú trọng
đến thiến quán hơn thiền định (có thể tham
khảo cuốn Giải thoát trong lòng bàn tay do sư cô
Trí Hải dịch). Thiền của Mật tông hiển nhiên được phát
triển trên minh triết của Yoga hình thành trước đó. Một
trong những đối tượng quán của thiền Mật tông là Kundalini.
Có lẽ Kundalini yoga là của Yoga Ấn giáo hơn là của Mật
tông Phật giáo! Mật tông dùng thiền quán về luồng
hỏa xà Kundalini (tummo) làm một trong những
phương tiện để chuyển hóa tâm thức. Sáu
pháp của Naropa, đạo sư Mật
tông, được gọi là sáu yogas (six yogas of Naropa). Đến đây
ta thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa Yoga và Mật tông.
Và cũng thấy rằng thiền chỉ là phương tiện của nhiều
con đường.
Thiền của
Lão giáo
Còn
gọi là thiền của Đạo gia, hoặc cũng có khi
gọi thẳng là Đạo gia khí công. Vì sao lại có
thể gọi thiền là khí công? Vì bản chất của khí công cũng
là thiền quán trên một đối tượng cơ thể, đó là luồng
khí lực. Thiền của Lão giáo nhắm vào khai thông các kinh
huyệt chính như Nhâm và Đốc, khai thông luồng hỏa hầu...
Công phu thiền của Lão giáo đưa đến khai mở Huyền quan
khiếu, thành tựu thánh thai… Ta thấy có sự tương đồng
trùng khít giữa thiền của Lão giáo với thiền của Yoga hay
thiền của Mật tông, trên mặt nguyên lý: Chuyển đổi
của tâm phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi khí lực của
cơ thể. Dĩ nhiên đây không phải là chủ nghĩa duy
vật mà chỉ là duy “Một”. Cái Một không thể
tách rời thành hai “tâm” và “vật”.
Thiền là phương
tiện thực hành của nhiều tôn giáo khác.
Thiền
không hẳn là của riêng Thiền tông (Chan,
Zen) hoặc của riêng đạo Phật
hay Ấn giáo. Nhóm tôn giáo xuất phát từ Cựu ước như Do
Thái giáo, Hồi Giáo, Thiên chúa giáo hay nói tới từ “Mặc
Khải”. Mặc khải
(revelation) cũng chính là Thiền (meditation). Kinh Khải Huyền
(Apocalypse) mô tả những cõi giới hoàn toàn tương ứng vơí
một tam muội.
Thánh Jean de la Croix cũng mô tả thể nghiệm tâm linh của mình
(Ascension of Mount Carmel) giống như một hành giả thiền. Như
vậy thiền cũng tồn tại trong khu vực của các tôn giáo Do
thái, Hồi và Thiên Chúa, như một phương pháp tiếp cận Thượng
Đế. Thiền là phương pháp thực hành tâm linh rất phổ quát.
Cho nên một định nghĩa thiền hay một giải thích về thiền
càng mang tính phổ quát càng dễ được cộng đồng tiếp
thu.
Dù
có khác biệt về phương pháp và nội dung qua thời gian và
khu vực văn hóa địa lý, nhưng mục đích của thiền thì
không đổi. Để hiểu rõ thêm Thiền (meditation) là gì? Bạn
có thể đặt thêm câu hỏi:
Thiền
không phải là gì?
Thiền
không hẳn là “Trong không vọng
ngoài không động"
Bên
trong, tâm không vọng. Nhưng bên ngoài thì thân vẫn có thể
động. Có rất nhiều loại thiền “động” như thiền hành,
thiền quay tròn, thiền với những động tác đặc biệt (để
khích động Kundalini chẳng hạn…). Osho trình bày nhiều về
các loại thiền động (dynamic meditation). Thiền sinh có thể
được dẫn đến trạng thái nhập thiền khi nhún nhảy hoặc
lắc mạnh cơ thể theo nhịp điệu hoặc âm nhạc! Khi các
bộ lạc nhảy múa hoặc các đồng cốt đong đưa cơ thể
thì có lẽ tác dụng và hiệu ứng cũng nằm trong nguyên lý
thiền động này. Tập trung nội quán, mà đối tượng quán
là các động tác của thân thể, chính là bước đầu tiên
của Vipassana. Vipassana
là phương pháp thiền quán của đạo phật nguyên thủy. Đối
tượng quán của Vipassana là cơ thể vật chất, ý thức và
cảm xúc, xảy ra trong cơ thể. Ngày xưa tôi và vài người
bạn thân thường bơi sông Thanh Đa. Có lần bơi dọc sông,
tôi đã thử thiền trong lúc bơi.
Chính động tác đều đặn khi bơi, dẫn ta vào trạng thái
thiền rất nhanh và giữ trạng thái thiền một cách bền vững.
Sông thì vắng, nước thì mát. Thân tâm hòa vào dòng nuớc,
trở thành một dòng an lạc chảy trôi. Khi dứt cơn thiền
trong nước thì đã bơi được 05 km, tức nửa vòng bán đảo
Thanh Đa. Tôi cũng thử nhập vào trạng thái thiền trong
lúc chạy jogging. Hoàn toàn có
thể được. Có một tâm thức như đứng ở ngoài, thảnh
thơi nhìn xuống một thân xác nào đó đang hì hục chạy với
mồ hôi vất vả. Thiền có thể thực hiện trong tất cả
các động tác! Thiền động là một khái niệm không thể
phủ nhận. Dù khó có thể đi vào một định sâu, nhưng thiến
động hình như rất có lợi cho người sơ tâm, muốn biết
hương vị đầu tiên của thiền là gì! Không quên rằng: Thiền
hành (đi chậm rãi trong chánh
niệm) là phương pháp phổ biến trong thời Đức Phật, và
bây giờ thày Nhất Hạnh cũng đang phổ biến lại.
Thiền
không phải là tập trung
Sự
thực là như vậy. Đa số sách vở ngoài chợ nhầm lẫn thiền
là nổ lực tập trung. Không! Thiền là “thả lỏng”, không
phải “tập trung”. Dù là thiền quán hay thiền định, càng
tập trung, tâm càng náo loạn, giống như bạn cố kềm chế
một con ngựa chứng. Không phải nổ lực tập trung, mà chính
từ trạng thái thư dãn bạn đi dần vào yên lặng, vào các
loại thiền. Giống như khi tập bơi, càng thư dãn càng dễ
nổi, càng tập trung, càng mau chìm!
Thiền
không phải chỉ là ngồi thiền
Vì
có rất nhiều kiểu thiền không cần phải ngồi. Trái lại,
người thực hành có thể đi, đứng, quay, hoặc làm những
động tác đặc biệt khác. Đặc biệt với Thiền tông (Thiền
công án hoặc khán thoại đầu), thiền sinh có thể tham công
án hoặc khán thoại đầu trong bất cứ hoàn cảnh hoặc tư
thế nào. Thiền tông Trung quốc, từ Bồ Đề Đạt Ma truyền
xuống các tổ sư với một bí quyết “kiến tánh thành Phật”,
cho nên thiền là làm thế nào để kiến tánh, chứ không phải
gò ép trong tư thế ngồi! Theo quan điểm này, ngồi cũng được
mà không ngồi cũng được. Thậm chí trong giai thoại Thiền
tông, có một vị thiền sư "đắc đạo" trách một vị thiền
sư thường ngồi nhưng chưa "đắc đạo": Tại sao lúc sống
cứ ngồi không nằm rồi lúc chết lại cứ nằm không ngồi!
Các
Thiền sư hay nói bóng gió “đi
đứng nằm ngồi cũng là thiền".
Cách nói này gây ra hiểu lầm tai hại. Nhiều người sơ tâm
tưởng rằng không cần phải xử dụng các phương pháp thiền,
như thiền chỉ hay thiền quán, thiền động hay thiền tĩnh...Không
cần phải tham công án hay khán thoại đầu, chỉ sống tự
nhiên, đi đứng bình thường cũng… là thiền! Người có
trải nghiệm sẽ biết rằng, trạng thái “đi đứng
nằm ngồi cũng là thiền” là “kết
quả” có được sau khi thành
tựu, chứ không phải là “nguyên
nhân” sinh khởi trạng thái
thiền. Tóm lại “thiền không cần tọa thiền”
chỉ là đặc điểm của một vài pháp môn, giữa rất nhiều
pháp môn. Pháp môn nào thì chỉ thích ứng và khế hợp với
riêng căn tạng đó.
Chuyện
thêm về “Đi đứng nằm ngồi cũng là thiền”. - Có một
buổi tối, trên căn gác, tôi ngồi và đạt được trạng
thái thiền. Tâm trống không, tỉnh táo, thân thể nhẹ nhàng,
trạng thái vô cùng an lạc. Tuy nhiên cũng đến lúc phải xả
thiền và đi ngủ. Thường thì sau khi xả thiền, cảm giác
an lạc sẽ biến mất. Hôm đó quá luyến tiếc cảm giác an
lạc tuyệt vời này, tôi tìm cách xả thiền thật khẽ. Từ
từ bỏ tay chân ra khỏi tư thế thiền định một cách nhẹ
nhàng. Thật bất ngờ trạng thái an lạc của thiền vẫn còn
nguyên. Khi tôi đứng dậy và đi lại, trạng thái thiền vẫn
vững chắc. Tôi thực hiện các động tác, nhưng trạng thái
thiền vẫn không đổi. Sáng hôm sau, trong lúc làm việc, tôi
vẫn thấy mình sống trong sự an lạc và tỉnh thức của thiền.
Nghĩa là, tôi như là ai đó, đang nhìn thấy và sở hữu thân
xác này. Đồng thời, tôi như là ai đó, hiện diện khắp
không gian xung quanh. Tôi nhìn thấy tôi. Tôi có thể quan sát
rõ, từng thao tác tôi làm, khi khám bệnh. Tôi thấy rõ cảm
xúc của tôi ngay khi nó vừa chớm dậy. Tình trạng này chỉ
kéo dài đến chiều ngày hôm đó. Về sau tôi mới biết tình
trạng ý thức này Phật học gọi là chánh niệm (right
mindfulness). Chánh niệm là những niệm tưởng (thoughts)
tất yếu phải xuất hiện khi con người đối ứng, giao tiếp
với môi trường và cảnh vật xung quanh. Ngoài những niệm
cần thiết đó ra, không có những niệm dư thừa nào khác,
không có những niệm vọng động. Khi luyện tập được chánh
niệm thì rõ ràng đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng có thể
trong thiền định. Nhưng: Ngồi
thiền vẫn là tư thế quen thuộc và hiệu quả nhất:
Tư
thế ngồì thoải mái vững chắc là điều kiện tốt để
thiền. Đứng thì dễ vọng động (trạo cử). Nằm thì dễ
buồn ngủ (hôn trầm). Những cơn định sâu và kéo dài
bắt buộc phải thực hiện trong tư thế ngồi. Đức
Phật đã từng nhập sâu vào thiền định với thời gian 45
ngày trong tư thế ngồi. Ở Trảng Bàng, Việt Nam, tôi có gặp
Hòa
thượng Thông Lạc, người cũng
nhập vào định của "đệ tứ thiền" (thiền của Phật giáo
nguyên thủy) 25 ngày trong tư thế ngồi. Chỉ ở tư thế ngồi
kiết già hoặc bán già, thiền sư mới không bị ngã (tới
trước hay sau) khi nhập sâu vào thiền định. Đối với thiền
tông, khi giữ được chính niệm một cách kiên cố, thiền
sư có thể đi, đứng, nằm, ngồi, trong trạng thái thiền.
Tuy nhiên rất nhiều pháp môn cần những định “sâu” hơn,
lúc đó ngồi vẫn là tư thế
cần thiết.
Thiền
không là lối đi tắt
Đây
là vấn đề còn mãi trong sự tranh luận về ý nghĩa giữa
pháp môn Đốn
(immediate) và pháp môn Tiệm
(gradual). Thiền tông cho rằng pháp môn của mình là Đốn giáo,
nghĩa là có thể dẫn môn sinh kiến tánh thành Phật rất nhanh.
Đốn
ngộ là ngộ rất đột ngột,
thường được diễn đạt là “hốt nhiên đại ngộ”. Cũng
trong lí luận đó, suy ra các pháp môn khác là Tiệm giáo, cần
thời gian rất lâu dài để đi đến chứng đắc.
Nói
rằng “đốn”, nhưng mỗi con người, ai cũng
đã từng tiến hóa qua bao nhiêu đời kiếp. Nói cách khác,
luôn luôn đã có một quá trình chuẩn bị của đời này hay
từ nhiều đời trước, trước khi đốn ngộ. Vậy thực có
một sự kiện gọi là “đốn” hay không!
Còn
“đốn ngộ” là sơ ngộ hay đại
ngộ. Nếu đốn ngộ là chứng đắc , (enlightenment),
là thành tựu (siddhi), thì phải xem xét vấn đề quả
vị (stage of attainment). Cái đích “Bồ tát” (Bodhisattva)
trong thiền tông cách xa với quả vị “A nậu đa la” (Anuttara)
là bao nhiêu. “Kiến tánh thành Phật” là lúc sơ ngộ hay
đại ngộ cũng thực sự còn là một vấn đề. Thiển nghĩ,
“thấy
tánh” là mới biết ngõ vào
thôi, còn “nhập tánh”
thì mới thành Phật được Tương tự như vậy Mật tông cũng
không phải là lối tu tắt như nhiều người thường nghĩ!
Mượn
lời nói của Osho: Một điều cần nhớ, rằng thiền là một
chuyến đi dài, không có ngõ tắt. Ai nói rằng có lối đi
tắt, tức người đó đã lừa dối bạn… Bởi vậy khi bắt
đầu hành thiền, bạn đừng kì vọng gì quá mức. Nếu không
kỳ vọng bạn sẽ không phải thất vọng. Thiền không phải
là những mùa hoa sáu tháng một lần. Thiền là cây đại thụ
phải cần thời gian để vươn rễ vào sâu lòng đất. Tôi
cũng đồng ý với Osho như vậy. Thiền không có lối đi tắt.
Tất cả đều phụ thuộc vào nghiệp, vào bộ gene của cơ
thể, vào cấu trúc bẩm sinh của sinh lý thần kinh. Bạn nhập
thiền dễ hơn người khác vì trước đó (kiếp trước) bạn
đã từng thực tập nhiều rồi. Bạn thiền có được kết
quả nhiều hay ít là vì bạn đã tiến hóa nhiều hay ít trên
con đường tiến hóa của vũ trụ kể từ thủa ban sơ.
Tóm
lại
Thiền
gồm nhiều phương pháp và mang nhiều nội dung khác biệt.
Nên hiểu Thiền như là phương tiện của nhiều tôn giáo,
của nhiều pháp môn. Thiền có thể là "Thuật" bước vào
Tâm. Thiền có thể là "Đạo" trong ý nghĩa tự thân của nó.
Thiền có thể là cách tiếp cận với Chúa trời của một
số các tôn giáo thần khải. Thiền có thể là cách điều
khiển khí lực và năng lượng của Yoga trong mục đích chuyển
hóa tâm linh. Thiền có thể là con đường truy tìm và thể
nhập với Phật tánh trong đạo Phật.
Phạm
Doãn 02/2008
Links:
Meditation
(wikipedia)
Như
lai thiền trong kinh tạng Pali (Nguyên Minh)
Đạt
ma tổ sư thiền (Tâm Diệu)
Linh
thoại Bồ Đề đạt Ma (Trúc Thiên)
Tổ
sư Thiền
Thiền
luận (Daisetz Teitaro Suzuki)
Krisnamurti
Hòa
thượng Duy Lực
Thiền
Tào Động
E-Books
of Osho
Định
nghĩa Thiền theo Osho
Thiền
động của Osho - Videoclip
Thiền
xoay tròn của Osho - Videoclip
Thiền
để kích động Kundalini -Videoclip
Bài
Viết Liên Quan:
Hiện
Tượng Osho, Hoàng Liên Tâm
Thiền
Tổ Sư
Thiền
Nguyên Thuỷ
03-12-2008
12:23:46